(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trường Đại học Cần Thơ
Trang 1NGUYỄN VĂN THÁI
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN
VÀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2NGUYỄN VĂN THÁI
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN
VÀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Thái
Trang 4MỤC LỤC
Trang bìa
Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án
Danh mục các biểu bảng, biểu đồ, hình vẽ trong luận án
MỞ ĐẦU 1
Mục đích nghiên cứu: 3
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của sinh viên ngành GDTC trường ĐHCT 3
Mục tiêu 2: Xác đinh các biện pháp nâng cao NLCM và NVSP cho sinh viên ngành GDTC trường ĐHCT 3
Giả thuyết khoa học của luận án: 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và các Nhà giáo dục về GDTC 4
1.2 Các đặc điểm phát triển thể chất của sinh viên 7
1.2.1 Các đặc điểm về phát triển lứa tuổi sinh viên 7
1.2.2 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi sinh viên 8
1.2.3 Những đặc điểm phát triển sinh lý cơ bản lứa tuổi 18-22 13
1.2.4 Những đặc điểm phát triển tâm lý cơ bản lứa tuổi 18-22 của sinh viên 16
1.3 Thực tiễn công tác đào tạo GV GDTC tại trường ĐHCT 20
1.4 Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm 23
1.4.1 Khái niệm về năng lực và đặc điểm của năng lực 23
1.4.2 Năng lực chuyên môn (Professionnal competency) 25
1.4.3 Khái niệm và đặc điểm về NVSP 26
1.5 Điểm lược một số công trình nghiên cứu có liên quan 30
Có thể điểm lược một số công trình có liên quan sau đây 31
CHƯƠNG 2 34
Trang 5ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.2 Khách thể nghiên cứu: 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu 34
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu 35
2.2.3 Phương pháp kiểm tra y học [43] 35
2.2.4 Phương pháp kiểm tra tâm lý 39
2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 40
2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 52
2.2.7 Phương pháp toán học thống kê 52
2.3 Tổ chức nghiên cứu: 55
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 57
3.1 Đánh giá thực trạng NLCM và NVSP của SV ngành GDTC trường ĐHCT 57
3.1.1 Xác định nội dung cấu thành và tiêu chí đánh giá NLCM TDTT của SV ngành GDTC Trường ĐHCT 57
3.1.2 Xác định nội dung cấu thành và tiêu chí đánh giá năng lực NVSP của SV ngành GDTC trường ĐHCT 64
3.1.3 Đánh giá thực trạng NLCM của SV ngành GDTC Trường ĐHCT 78
3.1.4 Đánh giá thực trạng NL NVSP của SV ngành GDTC Trường ĐHCT 86
3.2 Xác định các biện pháp nâng cao NLCM và NVSP cho SV ngành GDTC trường ĐHCT 99
3.2.1 Xác định các biện pháp nâng cao NLCM cho SV ngành GDTC trường ĐHCT…… ………101
3.2.3 Kết quả thực hiện các biện pháp nâng cao NLCM và NVSP cho SV ngành GDTC trường ĐHCT 112
3.2.4 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao NLCM và NVSP cho SV ngành GDTC trường ĐHCT 117
Trang 63.2.5 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao năng lực NVSP ccủa SV ngành
GDTC trường ĐHCT 132
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 140
A Kết luận 140
B Kiến nghị 140
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8n Số lượng
Trang 957
Bảng 3.2 Xác định các tiêu chí đánh giá hình thái cơ thể (n=80) 58 Bảng 3.3 Xác định các tiêu chí đánh giá chức năng sinh lý (n=80) 59 Bảng 3.4 Xác định các tiêu chí đánh giá chức năng tâm lý (n=80) 60 Bảng 3.5 Xác định các tiêu chí đánh giá năng lực thể lực (n=80) 61
Bảng 3.6 Xác định các nội dung đánh giá năng lực học các môn thể
Trang 10cho SV (n= 80) Bảng 3.16 Thực trạng đặc điểm hình thái cơ thể của SV (n=30) 79
Bảng 3.18 Thực trạng đặc điểm tâm lý của SV ngành (n=30) 80
Bảng 3.20 Thực trạng năng lực học môn chạy 100m SV 9N=30) 82 Bảng 3.21 Thực trạng năng lực học môn bóng chuyền SV (n=30) 83 Bảng 3.22 Thực trạng năng lực học môn bóng đá của SV (n=30) 84 Bảng 3.23 Thực trạng năng lực học môn cầu lông của SV (n=30) 85 Bảng 3.24 Thực trạng năng lực giao tiếp sư phạm của SV (n=30) 87 Bảng 3.25 Thực trạng năng lực diễn đạt bằng lời nói của SV (n=30) 88 Bảng 3.26 Thực trạng năng lực soạn giáo án của SV (n=30) 89
Bảng 3.28 Thực trạng năng lực thị phạm động tác của SV (n=30) 93
Bảng 3.29 Thực trạng năng lực ứng xử tình huống sư phạm của SV
Bảng 3.31 Thực trạng năng lực đánh giá môn học của SV (n=30) 97 Bảng 3.32 Xác định các biện pháp nâng cao NLCM cho SV (n=80) 100
Bảng 3.33 Xác định các biện pháp nâng cao năng lực NVSP cho SV
Bảng 3.34 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao NLCM tác
Bảng 3.35 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao NLCM tác
Bảng 3.36 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao NLCM tác
Bảng 3.37 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao NLCM tác 119
Trang 11động đến chức năng tâm lý của SV ngành GDTC
Bảng 3.38 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao năng lực học
Bảng 3.39 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao năng lực học
môn bóng chuyền của SV ngành GDTC Trường ĐHCT 121
Bảng 3.40 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao năng lực học
môn bóng đá của SV ngành GDTC Trường ĐHCT Sau 128
Bảng 3.41 Đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao năng lực học
Bảng 3.42 Đánh giá năng lực giao tiếp sư phạm của SV (Điểm) 132 Bảng 3.43 Đánh giá năng lực diễn đạt bằng lời nói của SV 134 Bảng 3.44 Đánh giá sự tiến bộ năng lực soạn giáo án của SV 135 Bảng 3.45 Đánh giá sự tiến bộ năng lực giảng dạy của SV Sau 135
Bảng 3.47 Đánh giá năng lực xử lý tình huống sư phạm của SV Sau 137
Bảng 3.49 Đánh giá năng lực đánh giá môn học của SV Sau 138
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 So sánh sư phát triển năng lực học chạy 100m giữa SV
Biểu đồ 3.2 So sánh sư phát triển năng lực học môn bóng chuyền giữa
Biểu đồ 3.3 So sánh sư phát triển năng lực học môn bóng đá giữa SV
Biểu đồ 3.4 So sánh sư phát triển năng lực học môn cầu lông giữa SV
Biểu đồ 3.6 So sánh năng lực diễn đạt bằng lời nói của SV 134 Biểu đồ 3.7 So sánh sự tiến bộ năng lực soạn giáo án của SV 136 Biểu đồ 3.8 So sánh sự tiến bộ năng lực giảng dạy của SV 136 Biểu đồ 3.9 So sánh năng lực thị phạm động tác của SV Sau 137 Biểu đồ 3.10 So sánh năng lực xử lý tình huống của SV Sau 137
Biểu đồ 3.12 So sánh năng lực đánh giá môn học của SV Sau 138
Trang 13đi phù hợp Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dư ng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.”[26]
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số 2653 QĐ-BGDĐT ngày
25 7 2014 về kế hoạch hành động của ngành Giáo dục triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết số 29 của BCH TWĐ [10] Điều đó chứng tỏ rằng Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác giáo dục và đào tạo
Chất lượng đào tạo là điều kiện quyết định thương hiệu” của cơ sở đào tạo nói chung và của Đại học Cần Thơ nói riêng Trường ĐHCT, là một trong 10 trường Đại học trọng điểm của quốc gia ĐHCT, được thành lập vào ngày 31 tháng 03 năm 1966, tọa lạc tại phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ có tổng diện tích
là trên 81 hecta Trải qua chặng đường hơn 45 năm phát triển, ĐHCT được xem là Đại học hàng đầu của khu vực Đồng bằng sông Cửu long Hiện ĐHCT có 14 khoa, 3 viện nghiên cứu, 01 trung tâm Giáo dục Quốc phòng và 01 Bộ môn GDTC trực thuộc
Trang 14trường ĐHCT thực hiện nhiệm vụ đào tạo 85 ngành bậc Đại học, 35 ngành bậc Thạc
sĩ, 14 ngành bậc Tiến sĩ, với số lượng 30.000 sinh viên chính qui tập trung tại trường
Năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định số 1027 ĐH&SĐH, cho phép Đại học Cần Thơ mở ngành đào tạo Sư phạm Thể dục (nay là GDTC) với chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm là 80 [3] Trải qua 10 năm đào tạo trường ĐHCT đã đào tạo cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long một đội ngũ GV GDTC cần thiết cho khu vực Đồng thời trải qua 10 năm đào tạo, chương trình đào tạo có nhiều thay đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Công tác đánh giá người học vẫn chưa được khảo sát, tổng kết rút kinh nghiệm, cho nên việc khảo sát, đánh giá, nâng cao NLCM và NVSP ho SV ngành GDTC là cấp thiết cần phải được tiến hành
QĐ-BGD&ĐT-Liên quan đến đề tài nghiên cứu ta không thể không đề cập đến LA tiến sĩ Nguyễn Hùng Cường, năm 2010 nghiên cứu về năng lực thể chất và một số giá trị sinh học của sinh viên trường Đại học TDTT I [19] Tác giả đã đánh giá một cách khá đầy
đủ và chi tiết năng lực thể chất của sinh viên trường Đại học TDTT I, năng lực đảm bảo cho mọi hoạt động vận động nói chung và cho lĩnh vực TDTT nói riêng Đặc biệt
là LA tiến sĩ của Kiều Tất Vinh, năm 2009 nghiên cứu xác định những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên cao đẳng trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội [71] Qua nghiên cứu tác giả đã xây dựng được 3 nhóm giải pháp nhằm bồi dư ng năng lực sư phạm cho sinh viên Dù rằng tác giả đã thực hiện và giải quyết khá thành công các mục tiêu đã đề ra, tuy nhiên đề tài vẫn còn lẫn lộn giữa đánh giá năng lực sư phạm và đánh giá năng lực chuyên môn, cũng như trong việc phân phối chương trình đào tạo về chuyên môn
NLCM và NVSP là chìa khóa của giáo viên GDTC để họ thực hiện thành công nhiệm vụ GDTC của mình góp phần vào công tác giáo dục toàn diện về đức – trí – thể
- mỹ cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thúc đẩy nâng cao tầm vóc con người Việt Nam trong tương lai Để thực hiện được sứ mạng cao cả đó và đồng thời nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành GDTC nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung, là một giảng viên của trường tôi chọn cho mình đề tài:
“Nghiên cứu nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục thể chất trường Đại học Cần Thơ”
Trang 15Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu nâng cao NLCM và NVSP cho SV ngành GDTC trường ĐHCT là nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo GV của ngành GDTC nói riêng và nâng cao chất lượng đào tạo của trường ĐHCT nói Chung, qua đó giúp SV đảm bảo tốt chuẩn đầu ra của chương trình ngành GDTC và thích ứng nhanh chóng với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp
Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, LA cần giải quyết các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng NLCM và NVSP của SV ngành GDTC trường
ĐHCT
Mục tiêu 2: Xác đinh các biện pháp nâng cao NLCM và NVSP cho SV ngành
GDTC trường ĐHCT
Giả thuyết khoa học của luận án:
NLCM và NVSP của SV ngành GDTC trường ĐHCT hiện nay còn hạn chế
B i vậy giả thuyết rằng: Nếu làm rõ ưu điểm, nhược điểm NLCM và NVSP của SV ngành GDTC trường ĐHCT, cũng như nghiên cứu nhu cầu của xã hội một cách khoa học sẽ là cơ sở, điều kiện có ý nghĩa thiết thực trong việc xác lập các biện pháp nâng cao NLCM và NVSP cho SV ngành GDTC trường ĐHCT thì chắc chắn rằng sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ GV GDTC đáp ứng nhu cầu thực tiễn đa
dạng của xã hội và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và các Nhà giáo dục về GDTC
Với tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ Tịch, Đảng và Nhà nước ta không ngừng tạo điều kiện thuận lợi để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực
Trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, sức khỏe của nhân dân, của dân tộc được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, được coi là một nhân tố lớn nhằm tăng cường sức chiến đấu để chiến thắng đế quốc Mỹ Bởi vậy Đảng đã nhấn mạnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiệm vụ to lớn và cấp bách của toàn Đảng, toàn dân ta là phải ra sức bảo vệ và bồi dư ng sức khỏe của cán bộ và nhân dân một cách toàn diện để sản xuất và chiến đấu thắng lợi
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, các chỉ thị của Ban Bí thư Trung Ương Đảng về công tác thể dục thể thao và giáo dục thể chất, luôn quan tâm đến tình hình sức khỏe của thế hệ trẻ
- Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thư X có yêu cầu là phải Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi
dư ng các giá trị văn hóa trong HS, SV, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”[24]
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định
về những quyền cơ bản của công dân Việt Nam là "Thanh niên được gia đình, Nhà
nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc" [29, mục 2, điều
37]
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, năm 2006, cũng đã đề cập đến việc Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”[24]
Trang 17Để thực hiện đường lối đổi mới giáo dục của Đảng, bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số 43 2007 QĐ-BGDĐT ngày 15 08 2007 về Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ [4] Đồng thời Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành quyết định số 65 2007 QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007, về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, góp phần thúc đẩy các trường Đại học, Cao đẳng nhanh chóng thực hiện đổi mới công tác đào tạo nâng cao chất lượng đào tạo để khẳng định thương hiệu đào tạo của mình" [5].Tiếp theo đó ngày 19 08 2008, Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số
53 2008 QĐ-BGDĐT, của bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đánh giá, xếp loại thể lực HS, SV đã chứng tỏ nền giáo dục Việt nam đang hướng đến đào tạo con người phát triển toàn diện [7]
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, năm 2011, một lần nữa lại nhấn mạnh là phải Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo Đầu tư hợp lý, có hiệu quả, xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế” [25] Một lần nữa Đảng ta xem công tác giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu cho việc phát triển đất nước
Song song với đó Đảng ta cũng rất quan tâm đến công tác TDTT Chính
vì thế Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành quyết định số 08-NQ/TW ngày 01 12 2011, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020
Tiếp tục thúc đẩy công tác đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số 57 2012 TT-BGDĐT,
Trang 1827 12 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo quyết định số 43 2007 QĐ-BGDĐT, 15 08 2007" [4]
Nghị quyết 29-NQ TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là cương lĩnh chính trị toàn diện và sâu sắc, đã đánh giá thực trạng và đưa ra các định hướng cơ bản cho việc đổi mới giáo dục Quan điểm chỉ đạo mang tính đột phá ở đây là Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [26]
Tóm lại: vấn đề con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tâm hồn và trong sáng về đạo đức, là mô hình nhân cách mà Đảng và nhà nước ta quan tâm xây dựng, nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, để
tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta trở thành một nước dân giàu, nước
mạnh,xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” sánh ngang với các nước tiên tiến trên thế
giới [25]
GDTC cũng như các mặt giáo dục khác, về bản chất là một quá trình sư phạm với đầy đủ những đặc trưng cơ bản của nó Sự khác biệt chủ yếu của GDTC với các hình thức giáo dục khác ở chỗ GDTC là quá trình hướng đến việc hình thành kỹ năng
kỹ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực, hoàn thiện về hình thái và chức năng của cơ thể, qua đó trang bị cho con người kiến thức về mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và hoạt động tinh thần Như vậy GDTC được xem như là một mặt hoạt động tương đối độc lập của quá trình giáo dục, có quan hệ một cách khách quan với các mặt giáo dục khác: đạo đức, thẩm mỹ, tri thức, lao động trong giáo dục con người toàn diện
Các Mác quan niệm giáo dục có ba điều: một là giáo dục trí óc, hai là giáo dục thể chất và ba là giáo dục kỹ thuật Về vị trí của TDTT trong tương lai, C.Mác đã nhấn
mạnh: Trong nền giáo dục của xã hội tương lai, lao động và khoa học sẽ chiếm địa vị
ngang nhau TDTT, lao động chân tay và lao động trí óc sẽ phải bổ trợ cho nhau bởi
vì đó là phương pháp duy nhất để phát triển con người toàn diện và cũng là biện pháp đáng tin cậy nhất để tăng cường sức sản xuất của xã hội” [15]
Trang 19Những tư tưởng của Các Mác, Ph Ăng ghen, V.I.Lê nin trong việc giữ gìn sức khỏe cho nhân dân lao động đã tạo điều kiện cho chúng ta hiểu đúng đắn hơn tính chất của GDTC trong xã hội
Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vai trò sức khỏe đối với vận mệnh đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam đã luôn luôn chú trọng đến việc tăng cường và mở rộng các hoạt động TDTT, đặc biệt là GDTC cho thanh thiếu niên
GDTC xuất hiện cùng với xã hội và mang bản chất của xã hội và do đó tuân theo những qui luật của xã hội Trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại càng cao thì GDTC càng được nâng lên để đáp ứng nhu cầu của con người làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ của chính bản thân mình
Với mục tiêu góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh
tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa về mọi mặt, có sức lực cường tráng, có năng lực hoạt động chuyên môn độc lập, sáng tạo, có tư tưởng đạo đức, tác phong lành mạnh, trong sáng đáp ứng được nhu cầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, GDTC đã trở thành nội dung quan trọng không thể thiếu trong chương trình đào tạo
của các trường đại học, cao đẳng và chuyên nghiệp
1.2 Các đặc điểm phát triển thể chất của sinh viên
Thể chất là chỉ chất lượng cơ thể Đó là những đặc trưng ổn định, có tính tổng hợp bao gồm yếu tố hình thái cơ thể, chức năng tâm – sinh lý và tố chất thể lực được biểu hiện trên cơ sở di truyền và hậu dư ng Di truyền là điều kiện tiên thiên cho sự phát triển thể chất con người, có quan hệ mật thiết với sự mạnh yếu về thể chất của họ Nhưng di truyền chỉ đưa ra những khả năng ảnh hưởng về thể chất và suy cho cùng thể chất mạnh yếu của con người phần lớn phụ thuộc vào hậu thiên, có quan hệ mật thiết
với các điều kiện, hoàn cảnh, dinh dư ng, giữ gìn vệ sinh và tập luyện [36 , tr 295]
1.2.1 Các đặc điểm về phát triển lứa tuổi sinh viên
Quá trình phát triển thể chất thực chất là quá trình phát triển về hình thái, thể lực và các chức năng của cơ thể con người Các yếu tố này không những bị chi phối bởi tác động của yếu tố di truyền mà còn chịu ảnh hưởng lớn của đời sống kinh tế, xã hội và môi trường Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có tính chất
Trang 20không đồng đều, trong đó yếu tố lứa tuổi và giới tính có ảnh hưởng quyết định đến quá trình phát triển thể chất của người trưởng thành [30]
Quá trình phát triển của cơ thể theo lứa tuổi có hai đặc điểm sinh lý cơ bản Một
là phát triển không đồng đều xen kẽ với các thời kỳ phát triển nhanh và các thời kỳ phát triển tương đối chậm và ổn định Hai là phát triển không đồng bộ, các cơ quan và
hệ cơ quan phát triển không đồng thời với nhau, có cơ quan phát triển nhanh, có cơ quan phát triển chậm Nhìn chung là quá trình phát triển đi lên
Ðặc biệt ở lứa tuổi này về cơ bản các hệ thống cơ quan chức năng quan trọng của cơ thể đã hoàn thiện Chiều cao ngưng phát triển vì phần sụn nằm ở đầu xương đã được cốt hóa Nhưng cơ thể lại phát triển mạnh theo bề ngang và tăng trọng lượng Cơ bắp phát triển mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập luyện thể dục thể thao nhất là sức mạnh, sức bền Cơ thể con người là một bộ máy có năng lực hoạt động rất cao, nếu được tập luyện thể dục thể thao một cách thường xuyên, có khoa học và có hệ thống sẽ góp phần hoàn thiện các khả năng chức phận của cơ thể, nâng cao sức khỏe, nâng cao năng lực lao động cho con người Ở lứa tuổi này con người đã tự lập, chí hướng nghề nghiệp đã hình thành rõ nét [30]
1.2.2 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của lứa tuổi sinh viên
Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất lượng của cơ thể biểu hiện trong từng điều kiện cụ thể của đời sống, lao động, học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động TDTT Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của các tố chất thể lực TDTT là biện pháp để nâng cao khả năng vận động góp phần cải tạo thể chất con người
Các nhân tố về trạng thái chức năng của hệ thần kinh, chất lượng của các cơ quan vận động và chức năng của các cơ quan đảm bảo năng lượng cho cơ thể hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đến các tố chất thể lực Hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất vận động [30]
Có năm tố chất thể lực (tố chất vận động) cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý TDTT
Trang 21và lý luận và phương pháp TDTT về tố chất thể lực chúng tôi đi sâu phân tích đặc điểm của từng tố chất thể lực [52]
- Tố chất sức nhanh:
Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ thể vận động tốc độ nhanh,
là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó qui định đặc tính tốc độ động tác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: tốc độ phản ứng, tốc
độ động tác, tần số động tác Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các hình thức sức nhanh là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập nhau, đặc biệt là thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau
Ðộ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần
số cao làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số động tác Tốc độ co cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Các bó cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A có khả năng tốc độ cao Tốc độ co cơ còn chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP (Adenozin Tri Photphat) và CP (Creatin Photphat) Ðây là nguồn năng lượng có sẵn trong cơ giúp cho quá trình co cơ được thực hiện nhanh Tố chất nhanh mang tính chất di truyền, phụ thuộc vào các quá trình hóa học trong cơ, vào tần số động tác và quá trình tâm lý [ 30,
tr 401,402]
Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 tuổi đến 13 tuổi, nếu không được tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nâng cao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hết sức chú
ý đến đặc điểm của lứa tuổi, mới đem lại kết quả như mong muốn [30 , tr 461]
- Tố chất sức mạnh
Trang 22Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng cơ bắp Trong bất kỳ một hoạt động nào của con người đều có sự tham gia của hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi
độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học có trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh [30 , tr 397, 398]
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận có
ý nghĩa trong việc phân loại sức mạnh Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế
độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan nhau
Trên cơ sở đó, sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh - tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung [30]
Trong hoạt động nói chung và hoạt động TDTT nói riêng sức mạnh luôn có có quan hệ với các tố chất thể lực khác nhất là sức nhanh và sức bền Do đó sức mạnh được phân ra thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền Sức mạnh cũng là điều kiện rất quan trọng
để nâng cao thành tích thể thao Tuổi sinh viên là tuổi rất thuận lợi cho cơ bắp phát triển sức mạnh Vì vậy trong quá trình tập luyện, rèn luyện tố chất sức mạnh cần được chú ý sao cho phù hợp nhất để phát triển sức mạnh một cách tốt nhất
Theo quan điểm của Bùi Trọng Toại và Đặng Hà Việt, thì sức mạnh tốc độ hay công suất phát lực là một chức năng sức mạnh tối đa, muốn phát triển sức mạnh tốc độ phải phát triển sức mạnh tối đa (tr7, dòng 7) [55]
- Tố chất sức bền
Trang 23Sức bền là khả năng khắc phục mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời gian dài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập luyện đạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ động tác…) trong thời gian vận động kéo dài Sức bền còn đảm chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tập luyện
Trong sinh lý TDTT, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài từ hai ba phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho cơ hoạt động bằng con đường ưa khí Sức bền được chia thành nhiều loại [30, tr 404]
Phân loại sức bền dưới những góc độ khác nhau
Sức bền chung: biểu thị khả năng con người trong các hoạt động kéo dài có thể
từ vài chục phút đến hàng giờ, với cường độ thấp, có sự tham gia phần lớn của hệ cơ
Sức bền chuyên môn: là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật
Sức bền tốc độ: là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động nhanh nhất trong một thời gian nhất định
Sức mạnh bền: là khả năng duy trì hoạt động với một trọng lượng mang vác lớn
Nói chung sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể lực nên có mối quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh [30] Tuổi sinh viên khi tập luyện sức bền đòi hỏi sự nổ lực rất lớn không những bằng cơ bắp mà còn bằng ý chí khắc phục khó khăn để vượt qua gian khổ Ở tuổi này có thuận lợi trong nhận thức
và ý thức tự giác tập luyện cao, hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việc tập luyện TDTT Cho nên giáo viên cần lưu ý việc giáo dục nhận thức cho sinh viên hiểu rõ được chức năng, tác dụng của mỗi bài tập khi tập luyện
Sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tập hàng ngày Ðối với lĩnh vực TDTT nó là cơ sở thiết yếu để giúp vận động viên gặt hái thành tích thể thao cao trong hoạt động chuyên môn của mình để, đồng thời đó cũng là
Trang 24cơ sở để giúp sinh viên bền bĩ, dẻo dai trong việc học tập rèn luyện chuyên môn nghề nghiệp của mình
- Tố chất mềm dẻo
Theo Giáo sư, Tiến sĩ, Lê Văn Lẫm, Mềm dẻo là năng lực hoạt động với biên
độ rộng của các khớp Độ mềm dẻo có liên quan tới các mặt như cấu trúc của khớp, dây chằng và gân, đàn tính cơ và độ linh hoạt của cơ cấu tổ chức sụn, điều kiện bên ngoài, trạng thái cơ thể [36 , tr 212]
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Mềm dẻo được phát triển rất sớm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng, đặc biệt là lứa tuổi 11 đến 14, khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh Có thể tập mềm dẻo khi tập thể dục sáng, trong giờ khởi động Các động tác làm tăng độ linh hoạt của các khớp có tác dụng tích cực để chuẩn bị bước vào phần trọng động, đồng thời còn ngăn ngừa được chấn thương trong tập luyện Tuổi trưởng thành tập luyện mềm dẻo rất khó khăn vì xương, cơ, khớp, dây chằng và hệ thần kinh đã phát triển hoàn chỉnh
Vì vậy, khi tiến hành giáo dục tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ động tác, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp để phòng ngừa chấn thương cho người tập Tuy nhiên nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao
- Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động)
Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khả năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Về bản chất, khéo léo
là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp, vì vậy, nó có liên quan với việc hình thành kỹ năng vận động
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động nhất định Năng lực này được xác định trước tiên là ở khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin) và được hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức mạnh, sức nhanh và sức bền
Trang 25Năng lực phối hợp vận động còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện, cũng cố và vận dụng các kỹ thuật vận động Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khác nhau cơ bản
Kỹ xảo thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, còn năng lực phối vận động
là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau
Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độ phát triển của các tố chất khác như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các vùng não khác nhau, do đó hoàn thiện sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như cơ đối kháng [30 , tr 413]
1.2.3 Những đặc điểm phát triển sinh lý cơ bản lứa tuổi 18-22
- Hệ thần kinh
Hệ thần kinh trung ương bao gồm đại não và tủy sống Trong cơ thể, hệ thần kinh trung ương đảm nhiệm chức năng: Điều khiển hoạt động của tất cả các mô, các
cơ quan và phối hợp chúng thành một chỉnh thể thống nhất, đảm bảo sự thích nghi của
cơ thể với môi trường sống Sự điều khiển hoạt động của các cơ quan còn được thể hiện bằng con đường thể dịch, thông qua qua các chất chứa trong máu và các chất dịch Tuy nhiên, hệ thần kinh đóng vai trò chủ yếu trong việc điều hòa chức năng, kể
cả chức năng phức tạp nhất là các quá trình tâm lý [30, tr 50]
Người trưởng thành, hệ thần kinh có hơn 10 tỷ nơron Các tế bào thần kinh không sản sinh ra mới mà chỉ suy thoái theo thời gian, nhưng mỗi người trong đời không ai có thể sử dụng hết nguồn vốn trí tuệ của mình Hay nói cách khác, có những khả năng đặc biệt tiềm ẩn trong mỗi cá thể mà vì điều kiện, môi trường sống đặc thù của công việc có khi đến hết cả đời vẫn chưa sử dụng đến
Ðối với sinh viên, hệ thần kinh trung ương đã hoàn thiện về cơ chế tế bào Hưng phấn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp thông tin cao và sâu sắc, dễ thành lập phản xạ và cũng khó phai mờ; Hệ thần kinh thực vật hoạt động mạnh, tình cảm, tâm lý, cảm xúc thể hiện rõ nét trước và sau thi đấu thể thao
Trang 26Trong huấn luyện thể thao, thường dùng các chỉ tiêu tâm lý như: loại hình thần kinh, thời gian phản xạ, khả năng trí tuệ, khả năng xử lý thông tin, khả năng chú ý…
để tuyển chọn, đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên Theo các nhà tuyển chọn thể thao Trung Quốc, chỉ số về hoạt động của hệ thần kinh có hệ số di truyền khá cao, khoảng 84 – 90% Tuy nhiên các đặc điểm đó vẫn chịu sự chi phối của hoàn cảnh
tự nhiên, xã hội, giáo dục và tính tích cực của chủ thể, đồng thời chúng luôn có sự tác động tương hỗ nhau Quyết định chức năng thần kinh trung ương là do ba đặc trưng chủ yếu của quá trình thần kinh mà Paplôp đã chỉ ra: cường độ hưng phấn và ức chế, tính cân bằng của quá trình hưng phấn và ức chế, tính linh hoạt (chuyển đổi giữa quá trình hưng phấn và ức chế) [52]
- Hệ tuần hoàn
Mạch đập: Tim của nam mỗi phút đập 65 – 75 lần, của nữ 70 – 80 lần Trong tập luyện, nhất là các hoạt động điền kinh như chạy tốc độ, chạy cự ly trung bình, và các bài tập thể lực, bắt mạch là phương pháp dùng để kiểm tra chức năng của hệ tim mạch, đánh giá được tình trạng cơ thể và lượng vận động [30, tr261]
Huyết áp: bình thường huyết áp tối đa từ 100mmHg – 130mmHg, dưới 100mmHg là huyết áp thấp, trên 130mmHg là huyết áp cao Ðối với người Việt Nam bình thường huyết áp tâm thu trên 140mmHg và huyết áp tâm trương trên 90mmHg là huyết áp cao Huyết áp tối thiểu từ 65mmHg – 85mmHg là trung bình Chỉ số huyết áp
là chỉ số tương đố ổn đinh Trong quá trình huấn luyện thể thao thì chỉ số huyết áp ít thay đổi [30, tr 265]
Hệ tim mạch là bộ phận cấu thành của hệ thống vận chuyển oxy, bao gồm: tim, động mạch, tĩnh mạch và mao mạch Ngoài chức năng vận chuyển oxy đáp ứng cho nhu cầu của tế bào, hệ tim mạch còn vận chuyển và cung cấp các dinh dư ng như: hoocmon, vitamin, nguyên tố vi lượng, khoáng chất, nước… Hệ tim mạch còn đảm bảo nhiệm vụ đào thải chất cặn bã sau quá trình chuyển hóa, trao đổi chất tại tế bào
Người trưởng thành tim nặng khoảng 270 gram, mỗi lần co bóp lưu thông máu vào khoảng 60 – 70ml Đối với vận động viên chạy cự ly dài nhịp tim chậm, lưu lượng khoảng 100 – 120ml Lưu lượng máu phụ thuộc vào kích thước tim và trạng thái cơ thể (lưu lượng máu khi nằm lớn hơn khi ngồi) Lưu lượng máu còn phụ thuộc vào
Trang 27trình độ tập luyện TDTT Trong tập luyện TDTT, lưu lượng máu phút tỉ lệ với cường
độ vận động, đại lượng này có thể lên đến 30 – 32 lít phút, nhưng không vượt quá 37 lít phút Lưu lượng máu qua tim của một người bình thường sống 60 năm vào khoảng 140.000m3 [30]
- Hệ vận động
Vận động cơ thể là sự di chuyển của một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể trong không gian theo thời gian do hoạt động của các cơ quan vận động Cơ thể vận động được là nhờ có xương, khớp làm điểm tựa, cơ bắp sản sinh ra lực tác dụng Nhờ các hình thức vận động như lao động, học tập, chiến đấu và tập luyện TDTT mà con người
có thể tiến hành trao đổi chất; Vì vậy cơ quan vận động rất quan trọng đối với cơ thể
con người [30]
Hệ vận động chiếm 70% trọng lượng cơ thể Bộ xương người hoàn chỉnh có
205 – 206 xương liên kết tạo thành, chiếm 18% (nam), 16% (nữ), 14% (trẻ sơ sinh) trọng lượng toàn cơ thể
Sau 17 tuổi chiều cao phát triển chậm lại, 18 – 20 tuổi thì kết thúc sự cốt hóa bộ xương và xem như đã kết thúc sự phát triển về chiều dài Tuy nhiên trên thực tế con người có thể phát triển chiều cao đến tuổi 25 Ở nam, chiều cao có hệ số di truyền là 75%, trong khi đó ở nữ là 92% [30] Nếu tập luyện TDTT thường xuyên thì mức độ linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi nhưng yếu tố quyết định lựa chọn động tác trong tập luyện TDTT là phải dựa vào khả năng giải phẫu, sinh lý của các khớp xương
Ở lứa tuổi 18 – 22, cơ bắp đã phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sức mạnh, sức bền và làm cho cơ thể có năng lực hoạt động cao Tập luyện TDTT có phương pháp khoa học, có hệ thống sẽ làm tăng lực co cơ, tăng số lượng và tiết diện ngang cũng như tăng độ đàn hồi của cơ [30] Khả năng sinh học của cơ thể trưởng thành chín mùi thích ứng với việc tập luyện tất cả các môn thể thao đặc biệt là môn bóng với lứa tuổi đạt phong độ cao nhất từ 18 – 25, trong khi các môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, bơi lội thành tích cao nhất đạt được là từ 15 – 18 tuổi
Trang 281.2.4 Những đặc điểm phát triển tâm lý cơ bản lứa tuổi 18-22 của sinh viên
Theo tiến sĩ Vũ Thị Nho Sự chín muồi về mặt sinh lý, thể chất: nghĩa là sự hội
tụ đầy đủ những điều kiện sinh học để làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ, cũng như làm một người lao động thực thụ trong gia đình và xã hội, có đầy đủ những quyền hạn
và nghĩa vụ của một người công dân: đi bầu cử, ứng cử, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi, hoạt động của mình” [41]
Những đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên bị chi phối bởi những đặc điểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà trong đó họ sống và hoạt động Ðây là một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị trực tiếp cho việc tham gia vào cuộc sống tinh thần của xã hội Những đặc điểm phát triển tâm lý ở những thanh niên SV rất phong phú đa dạng và không đồng đều Sự phát triển này phụ thuộc vào những nét cơ bản như:
Sự thích nghi của SV với cuộc sống và hoạt động mới: Trong thời gian ở
trường Ðại học – Cao đẳng, SV phải thích nghi với hoạt động học tập, hoạt động xã hội cũng như các sinh hoạt trong đời sống tập thể của SV Quá trình thích nghi này tập trung chủ yếu ở các mặt như: nội dung học tập mang tính chuyên ngành, phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứu khoa học, môi trường sinh hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế, nội dung và cách thức giao tiếp với thầy, cô giáo, bạn bè và các tổ chức xã hội phong phú, đa dạng Sự thích ứng này đối với mỗi SV không hoàn toàn như nhau, tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý cá nhân và môi trường sống cụ thể của
họ qui định
Mức độ thích nghi này có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công trong học tập của
họ, bởi vậy có ý nghĩa chi phối khá rõ rệt Ở đây người sinh viên gặp một loạt các mâu thuẫn cần giải quyết như: Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng của SV với khả năng, điều kiện để thực hiện ước mơ đó; Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định; Mâu thuẫn giữa lượng thông tin rất nhiều trong xã hội hiện tại với khả năng và thời gian có hạn
Ðể phát triển, SV phải biết giải quyết tất cả các mâu thuẫn đó một cách hợp lý Với mọi SV điều này không dễ vượt qua Ở đây, một mặt người SV phải tích cực hoạt
Trang 29động, biết sắp xếp thời gian, mặt khác việc tổ chức dạy và học ở các trường đại học, cao đẳng cần hỗ trợ giúp SV giải quyết các mâu thuẫn trên
Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ lứa tuổi 18-22 của SV: Hoạt động nhận thức
của sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng thẳng, cường độ cao và
có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động trí tuệ này vẫn lấy những sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở Song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế, uyển chuyển, linh động tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề Bởi vậy đa số SV lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén những vấn đề mà thầy,
cô giáo trình bày Họ thường ít thỏa mãn với những gì đã biết mà muốn đào sâu, suy
nghĩ để nắm vấn đề sâu và rộng hơn
Ðiều rất quan trọng là SV phải tìm ra phương pháp học tập mới ở bậc ĐH Phương pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành khoa học mà họ theo đuổi Không tìm ra được cách học khoa học SV không thể đạt được kết quả học tập như mong muốn vì khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo họ phải lĩnh hội những năm ở bậc đại học là rất lớn và rất đa dạng
Sự phát triển động cơ học tập lứa tuổi 18-22 ở SV: Ðộng cơ học tập chính là
nội dung tâm lý của hoạt động học tập Ðộng cơ này bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Có thể là những yếu tố tâm lý của chính chủ thể như hứng thú, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng sống Cũng có thể đó là những yếu tố nằm ngoài chủ thể như yêu cầu của gia đình, xã hội Ðộng cơ học tập cũng có thể nảy sinh do chính hoạt động và những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của hoạt động mang lại
Những nghiên cứu về động cơ học tập của SV cho thấy trong cấu trúc thứ bậc động cơ của SV thường biểu hiện như sau:
Ðộng cơ nhận thức được xếp ở vị trí thứ nhất, động cơ nghề nghiệp xếp ở vị trí thứ hai, động cơ có tính xã hội xếp ở vị trí thứ ba, động cơ tự khẳng định xếp ở vị trí thứ tư, động cơ có tính cá nhân xếp ở vị trí thứ năm Thứ bậc của các động cơ này thường không phải cố định mà cũng biến đổi trong quá trình học tập ở bậc đại học Thứ bậc này cũng không phải như nhau ở các loại SV có trình đô học lực khác nhau và các trình độ khoa học khác nhau [41]
Trang 30Ðời sống xúc cảm, tình cảm lứa tuổi 18-22 của SV: Tuổi SV là thời kỳ phát
triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động
và trong đời sống của SV Ðặc điểm của nó là có tính hệ thống và bền vững so với thời
kỳ trước đó Hầu hết SV biểu lộ sự chăm chỉ, say mê của mình đối với chuyên ngành
Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách lứa tuổi 18-22 ở SV: Những phẩm
chất nhân cách như: tự đánh giá, lòng tự trọng, tự tin, sự tự ý thức được phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi sinh viên Chính những phẩm chất nhân cách bậc cao này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực của
những tri thức tương lai
Phẩm chất định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, ý thức và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằm vươn tới những giá trị đó
Ðịnh hướng giá trị của SV liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách và kế hoạch đường đời của họ Với SV, những ước mơ, hoài bão, những lý tưởng của thanh xuân dần dần được hiện thực, được điều chỉnh trong quá trình học ở bậc ĐH
Quá trình diễn biến khả năng lao động trí óc lứa tuổi 18-22 của SV: Diễn biến
khả năng làm việc ngày, đêm của con người phục thuộc vào nhịp sinh học, dưới ảnh hưởng của các yếu tố ngoại môi và nội môi (môi trường bên ngoài và nhịp hô hấp, nhịp tim …) Ðối với SV trong một ngày làm việc phải trải qua thời kỳ chuẩn bị từ 10 – 40 phút để thích ứng với công việc, tiếp theo là trạng thái sẵn sàng làm việc đạt mức tối ưu rồi giảm dần chuyển sang mệt mỏi và phải nghỉ ngơi để hồi phục Mức độ hồi phục phụ thuộc vào việc tổ chức hoạt động học tập và sinh hoạt hợp lý của từng SV
Trang 31Trong một tuần ở đầu tuần, thứ hai là giai đoạn thích ứng, giữa tuần từ thứ ba đến thứ năm là khả năng làm việc đạt mức cao nhất và sau đó giảm dần nhưng đôi khi cũng có đột biến ở ngày thứ bảy Trong từng học kỳ khả năng làm việc cũng diễn ra giai đoạn thích ứng từ một đến ba tuần, sau đó chuyển sang giai đoạn ổn định từ hai tháng đến hai tháng rư i rồi chuyển sang giảm dần vào giai đoạn cuối học kỳ Giữa các tuần, các học kỳ nếu SV biết sử dụng các môn thể thao để rèn luyện sức khỏe kết hợp với nghỉ
ngơi tích cực thì khả năng làm việc đạt hiệu quả cao được tăng lên
Một số đặc điểm về tính cách và khí chất của lứa tuổi 18-22 của SV
- Tính cách là một tổng thể bao gồm những tính chất tâm lý tương đối cố định
và vững chắc của một cá nhân và là cái xác định các đặc điểm quan hệ xã hội của cá nhân đó, biểu hiện ở cách cư xử và thái độ của cá nhân đối với con người và thế giới xung quanh [41]
Căn cứ vào hướng hoạt động tính cách của con người mà phân thành hướng nội hay hướng ngoại
SV có tính cách thuộc kiểu hướng ngoại thường có biểu hiện là hăng hái, sôi nổi, rất hòa hợp, thích kết bạn và giao tiếp, không ưa đọc sách và nghiên cứu một mình, dễ bị kích động, thích đùa, thích thay đổi, tự do lạc quan, thích vận động, không
tự kiểm tra chặt chẽ, sống tình cảm, ít để bụng
Theo kiểu hướng nội, SV thường có biểu hiện là rất trầm tĩnh, điềm đạm, yêu sách, thích làm việc một mình, thường giữ khoảng cách với mọi người trừ một số rất ít bạn thân SV hướng nội thường có kế hoạch làm việc, cân nhắc kỹ càng trước khi hành động, không phản ứng vội vàng, không thích nhộn nhịp, giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách thận trọng, bình tĩnh, không dễ quên chuyện cũ, là người đáng tin cậy nhưng thường bi quan
- Khí chất là một tổng hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân thể hiện tốc độ, cường
độ, độ ổn định… của hoạt động tâm lý của con người [46] Khí chất tương đối ổn định,
là hệ quả của di truyền và hoàn cảnh, có thể cải biến trong điều kiện nhất định Đặc điểm của khí chất thể hiện rõ nhất qua cảm xúc ngôn hành (ngôn ngữ, hành vi…) Khí chất cũng có quan hệ mật thiết với năng lực nhận thức Những người thuộc loại hình
Trang 32khí chất khác nhau thì năng lực chú ý, cảm thụ, độ rộng của tri giác, tính linh hoạt của
tư duy cũng không giống nhau
Các nhà tâm lý học đã phân chia các loại khí chất một cách quy ước thành 4 loại khí chất như sau: sôi nổi, linh hoạt, điềm tĩnh, ưu tư [83]
1.3 Thực tiễn công tác đào tạo GV GDTC tại trường ĐHCT
Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, trong đó giáo dục thể chất là một mặt quan trọng trong nội dung giáo dục con người phát triển toàn diện, tích cực góp phần bồi dư ng và nâng cao sức khỏe, cải tạo thể chất nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dư ng nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Mục tiêu của đào tạo đội ngũ GV GDTC trình độ ĐH là phải có phẩm chất chính trị - đạo đức và nhân cách XHCN, có khả năng giảng dạy môn học GDTC và tổ chức các hoạt động TDTT trong nhà trường [89]
Yêu cầu của quá trình đào tạo là nắm vững hệ thống kiến thức giáo dục chuyên ngành, thành thạo kỹ chiến thuật và phương pháp HL ở một môn thể thao trong phong trào thể thao quần chúng; nắm vững kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản một số môn thể thao phổ biến trong nhà trường [89]
Mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra ngành GDTC ở trường ĐHCT theo hệ thống tín chỉ [89]
Mục tiêu đào tạo
- Đào tạo GV GDTC có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có sức khỏe, góp phần vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phát triển toàn diện con người, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đào tạo GV GDTC có có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo
- Đào tạo GV GDTC có đủ NLCM và khả năng NVSP đảm bảo được những yêu cầu đổi mới về: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy và học, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học các môn GDTC ở trường THPT, cao đẳng, ĐH… đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục về qui mô, chất lượng, hiệu quả phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 33- Đào tạo GV GDTC có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
- Đào tạo cử nhân GDTC có đủ kiến thức và khả năng tiếp tục theo học các chương trình đào tạo sau đại học và phát triển nghiên cứu khoa học
Chuẩn đầu ra
Kiến thức
Khối kiến thức giáo dục đại cương
- Hiểu biết cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức khỏe, có kiến thức về giáo dục quốc phòng đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Nhớ cơ bản về pháp luật đại cương, khoa học xã hội và nhân văn, vận dụng thành thạo các kỹ năng cần thiết trong quá trình làm việc và học tập
- Hiểu biết về khoa học tự nhiên, đáp ứng việc tiếp thu các kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và khả năng học tập ở trình độ cao hơn
- Nhớ cơ bản về tiếng Anh tiếng Pháp tương đương trình độ A2 Quốc gia
- Hiểu biết cơ bản về tin học và khai thác sử dụng Internet
Khối kiến thức cơ sở ngành
- Hiểu biết về ngành học, mục tiêu, những yêu cầu về nghề nghiệp
- Nắm được kiến thức cơ bản về NVSP
- Có năng lực vận dụng các kiến thức khoa học tự nhiên để làm việc trong ngành TT nói chung và ngành GDTC nói riêng
Khối kiến thức chuyên ngành
- Hiểu biết cơ bản kiến thức về lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn, khoa học
tự nhiên có liên quan nhằm nắm vững và vận dụng kiến thức chuyên ngành GDTC
- Nắm vững cơ bản hệ thống kiến thức chuyên ngành, thành thạo kỹ chiến thuật
và phương pháp HL, tổ chức thi đấu và phương pháp trọng tài ở một số môn Thể thao phổ biến trong phong trào thể thao quần chúng, cũng như nắm vững kiến thức cơ bản
và kỹ năng vận động cần thiết ở một số môn Thể thao trong nhà trường THPT
- Có khả năng phân tích, đánh giá môn học GDTC
Trang 34- Hiểu biết cơ bản các môn thể dục được tổ chức dạy chính khóa trong trường
phổ thông
- Hiểu biết cơ bản về khoa học giáo dục, tâm lý học, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý
học sư phạm nhằm làm cơ sở lý luận cho các công tác giáo dục và dạy học trong nhà trường
- Hiểu biết cơ bản quá trình phát triển sinh lý theo lứa tuổi - giới tính và đặc điểm thích nghi của lứa tuổi với hoạt động thể lực
- Nắm được các phương pháp, thủ thuật giảng dạy đặc thù của môn học GDTC nhằm phát huy tính tích cực, phát triển tư duy và rèn luyện phát triển các tố chất thể lực của HS qua đó phát hiện và bồi dư ng tài năng TT
- Hiểu biết về chức năng và cách sử dụng các trang thiết bị TDTT phục vụ công tác giảng dạy
- Vận dụng kiến thức để tham gia nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực GDTC và TDTT
Kỹ năng
- Có kỹ năng thực hiện chương trình, tổ chức giảng dạy và kiểm tra đánh giá
môn học GDTC cho HS – SV trong các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
- Có kỹ năng thực hành các môn TT trong chương trình đào tạo
- Có kỹ năng trong tổ chức và quản lý các hoạt động thể dục thể thao của nhà trường
- Có kỹ năng triển khai và thực hiện công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực GDTC
- Có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với HS và đồng nghiệp đảm bảo thực hiện được mục tiêu giáo dục và xử lý tốt các tình huống sư phạm trong quá trình giảng dạy, quản lý, giáo dục HS, SV Khi tốt nghiệp ra trường, SV phải đạt tiêu chuẩn vận động viên cấp II ở môn thể thao nâng cao và tiêu chuẩn vận động viên cấp III ở 02 môn thể thao phổ tu tự chọn
- Ngoại ngữ: Giao tiếp thông dụng bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp Đọc và hiểu các tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp
Trang 35- Tin học: Sử dụng các phần mềm văn phòng cơ bản như Word, Excel, point, khai thác và sử dụng Internet
Power-Thái độ
- Có lập trường tư tưởng vững vàng, có đạo đức và nếp sống lành mạnh, say mê nghề nghiệp; nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là đường lối của Đảng trong lĩnh vực TDTT
- Có tính tự chủ, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao với công việc được giao
- Có ý thức tổ chức, kỷ luật; chấp hành tốt các quy định của nhà nước và của nhà trường
- Có tinh thần đoàn kết, thái độ thân thiện, hợp tác với đồng nghiệp và cá nhân trong và ngoài đơn vị
Vị trí làm việc của người học sau khi tốt nghiệp
- Sau khi tốt nghiệp SV có khả năng làm công tác giảng dạy môn học GDTC ở các bậc học thuộc hệ thống Giáo dục quốc dân; là cán bộ chuyên môn trong các cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan quản lý xã hội về TDTT; hoặc tổ chức hướng dẫn hoạt động TDTT cho mọi người tại các đơn vị TDTT cơ sở, các câu lạc bộ TDTT…
Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường
- SV sau khi tốt nghiệp có thể tiếp tục học sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) thuộc đúng chuyên ngành hoặc học chuyển đổi một số học phần để học chuyên ngành khác thuộc khối ngành TDTT tại các trường
1.4 Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm
1.4.1 Khái niệm về năng lực và đặc điểm của năng lực
1.4.1.1 Khái niệm về năng lực
Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng la tinh competentia”, có nghĩa là gặp
g Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu là: “Khả năng thực hiện có hiệu quả và có
trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở vận dụng hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”[83]
(WEINERT 2001)
Trang 36Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái
độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” Hoặc Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức,
kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” [9]
Theo Jean M.Williams Năng lực có nghĩa rằng một khi một kỹ năng đã được học các tiềm năng hoặc khả năng được biểu hiện với tính chuyên nghiệp rất cao” [80 tr13, dòng 23] Theo Nguyễn Tôn Nhan và Phú Văn Hẳn thì năng lực là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó, như năng lực làm việc [56 tr719, dòng 14]
Từ đó có thể hiểu: Năng lực là khả năng và sự sẵn sàng thực hiện thành công các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề trong các tình huống xác định cũng như các tình huống thay đổi trên cơ sở vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính tâm lý khác như động cơ, ý chí quan niệm giá trị, suy nghĩ thấu đáo và ứng xử có trách nhiệm của cá nhân
Có nhiều cách phân loại các năng lực theo các cách tiếp cận khác nhau Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Việc
mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể
Năng lực phương pháp (Methodical competency)
Đó là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức; Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận giải quyết vấn đề
Năng lực xã hội (Social competency)
Đó là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau gắn liền với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác; Nó được tiếp nhận qua việc học tập giao tiếp [20 tr68, dòng 32-35]
Trang 37Năng lực cá thể (Induvidual competency)
Đó là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử; Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc-đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm [20 tr69, dòng 1-6]
1.4.1.2 Đặc điểm của năng lực [83]
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên
cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện
Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một
sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực
Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào
Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực, có người có năng lực về điện, có người
có năng lực về lái máy bay, có người có năng lực về TT
1.4.2 Năng lực chuyên môn (Professionnal competency)
NLCM là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác Nó
Trang 38được tiếp nhận qua việc học nội dung chuyên môn và chủ yếu gắn với các khả năng nhận thức và tâm lý vận động [20 tr68, dòng 21-25]
NLCM (năng lực đặc thù) là năng lực thuộc một lĩnh vực chuyên môn xác định, cần thiết cho việc giải quyết các tình huống gắn với chuyên môn đó; Ví dụ năng lực kỹ thuật là: thiết kế kỹ thuật, sử dụng kỹ thuật, giao tiếp kỹ thuật, đánh giá kỹ thuật
NLCM là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực
tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học, thể thao
NLCM GDTC là năng lực thực hiện các kỹ năng vận động như điền kinh, thể dục, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông v v để rèn luyện nâng cao sức khỏe
Năng lực chung và NLCM có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung
là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được NLCM Ngược lại sự phát triển của NLCM trong những điều kiện nhất định lại
có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung
Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải
có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài NLCM tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà
nó phải được giáo dục phát triển và bồi dư ng ở con người Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh
ở mỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi người
Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau, có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình độ trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoa học, thể thao Đó là những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhất đinh mới có thể đạt kết quả
1.4.3 Khái niệm và đặc điểm về NVSP
1.4.3.1 Khái niệm về NVSP
Nghiệp vụ: Từ điển tiếng việt của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam,
Viện khoa học vùng Nam bộ cho rằng: Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một
Trang 39nghề” [56] Theo Nguyễn Tôn Nhan và Phú Văn Hẳn [56] và Nguyễn Như Ý [75] Sư
phạm là khoa học về giáo dục và giảng dạy trong trường học” NVSP là công việc chuyên môn của nghề dạy học Theo Đào Ngọc Dũng và cộng sự Nghiệp vụ sư phạm GDTC gồm: lập kế hoạch giảng dạy chương trình môn GDTC của bậc phổ thông, soạn bài giảng dạy môn GDTC phổ thông, làm công tác chủ nhiệm lớp và tổ chức làm trọng tài thi đấu các môn tt trong chương trình học” [27, tr 30-42] Theo Kiều Tất Vinh NLSP người giáo viên GDTC là tổ hợp các phẩm chất về kiến thức, nhân cách và NVSP chuyên ngành GDTC đảm bảo cho hoạt động dạy học và giáo dục đạt chất lượng và hiệu quả theo mục tiêu đào tạo” [71, tr 32]
Phẩm chất và NL NVSP của người giáo viên GDTC chính là trình độ năng lực chuyên môn TDTT và yêu cầu cần đạt được là khả năng ứng dụng các kiến thức đã được đào tạo vào thực tiễn giảng dạy môn GDTC và tổ chức các hoạt động giáo dục khác có liên quan NL NVSP của người giáo viên GDTC không những cần nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác GDTC trong trường học, đam mê với nghề nghiệp, mà còn phải có kiến thức về nhiều môn khoa học liên quan đến giáo dục và sư phạm để làm nền tảng cho kiến thức chuyên ngành như lý luận và phương pháp TDTT, lý luận và phương pháp thể dục thể thao trường học một cách sâu sắc và toàn diện nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục và giảng dạy môn GDTC
1.4.3.2 Đặc điểm của nghiệp vụ sư phạm
Về kiến thức chuyên môn
Có khả năng thiết kế chương trình dạy, giáo án giảng dạy, bài giảng và các tài liệu bổ trợ trong giảng dạy; Nắm vững các kiến thức cơ bản cần truyền đạt trong mỗi giáo án, các kiến thức nâng cao liên quan đến các bài giảng, các mục tiêu của mỗi giáo án; Nắm vững và sử dụng được các phương pháp truyền thụ kiến thức và kỹ năng cho mỗi giáo án
Về năng lực hiểu người học
Nắm vững được nhu cầu học tập và rèn luyện của từng người học trong lớp; Nắm vững được điểm mạnh, điểm yếu trong thực hiện hành động của từng người học
Trang 40trong lớp; Nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi của người học; Nắm bắt được cách thức tiếp nhận thông tin của các đối tượng người học
Về phương pháp truyền thụ kiến thức
Có khả năng khuyến khích người học tham gia tích cực vào bài giảng
Có khả năng truyền được cảm hứng học tập cho người học
Có khả năng giảng giải các vấn đề một cách đơn giản, dễ hiểu
Có khả năng tạo lập một không khí học tập tích cực trong lớp học
Có năng lực hướng dẫn người học tự khám phá, tự học, tự rèn luyện
Có thể giải đáp các thắc mắc của người học một cách đơn giản, dễ hiểu
Có khả năng thị phạm động tác đúng và đẹp
Về đánh giá người học
Theo Nguyễn Như Ý ghi trong Đại từ điển tiếng việt Đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị” [75 tr474, dòng 11], còn theo Nguyễn Công Khanh thì Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, hình thành những nhận định, phán đoán kết quả công việc, theo những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [34 tr20, dòng 28]
Đánh giá trong giáo dục xuất hiện khi có một người tương tác trực tiếp hay gián tiếp với người khác nhằm mục đích thu thập và lý giải thông tin về kiến thức, hiểu biết, kỹ năng và thái độ của người đó.” [34 tr21, dòng 21]
Như vậy đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống các thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả trong giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo
Đánh giá đúng năng lực của người học cần được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, cần có thái độ xây dựng tích cực khi đánh giá người học và tiến hành đánh giá người học một cách thường xuyên
Về quan hệ giao tiếp với người học
Theo Nguyễn Như Ý viết trong Đại từ điển tiếng việt Giao tiếp là trao đổi tiếp xúc với nhau” [75 tr626, dòng 1] Giao tiếp giữa con người với con người trong hoạt