1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁI TÔI CHỮ TÌNH TRONG THƠ Ý NHI

118 692 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cái Tôi Chữ Tình Trong Thơ Ý Nhi
Tác giả Í Nhi
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University<br>Website: https://ussh.vnu.edu.vn
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 636 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiêng về cảm xúc trực quan, giàu tính mô tả…cứ chuyển dần thành dòng tâm tư…Hình tượng sinh động tươi rói chất sống… càng về sau càng được gia tăng những hàm ý tượng trưng để trở thành

Trang 1

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Cỏi tụi trữ tỡnh là một trong những khỏi niệm triết học cổ nhất,đỏnh dấu ý thức đầu tiờn của con người về bản thể tồn tại của mỡnh, từ đúnhận ra mỡnh là một con người khỏc với tự nhiờn, một cỏ thể độc lập khỏc vớingười khỏc Cỏi tụi trữ tỡnh thể hiện một cỏch nhận thức và cảm xỳc đối vớithế giới và con người thụng qua lăng kớnh cỏ nhõn của chủ thể và thụng quaviệc tổ chức cỏc phương tiện của thơ trữ tỡnh, tạo ra một thế giới tinh thầnriờng biệt, độc đỏo mang tớnh thẩm mĩ, nhằm truyền đạt đến người đọc

Cỏi tụi trữ tỡnh khỏc với cỏi tụi nhà thơ nhưng giữa chỳng lại cú mốiquan hệ trực tiếp và thống nhất với nhau Nhà thơ là nhõn vật chớnh, là hỡnhbúng trung tõm, là cỏi tụi bao quỏt trong toàn bộ sỏng tỏc Những sự kiện,hành động, tõm tỡnh và kớ ức trong cuộc đời riờng cũng in đậm nột trong thơ.Cỏi tụi của nhà thơ cú lỳc thể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riờng, trựctiếp giói bày những nỗi niềm thầm kớn Cỏi tụi của nhà thơ cũn hiện diện quacỏch nhỡn, cỏch nghĩ, qua tỡnh cảm, thỏi độ trước thế giới hiện thực Tuynhiờn, cỏi tụi trữ tỡnh trong thơ và cỏi tụi của nhà thơ khụng hề đồng nhất Cỏitụi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trự xó hội học, cũn cỏi tụi trữ tỡnh trongthơ thuộc phạm trự nghệ thuật Nghiờn cứu cỏi tụi trữ tỡnh là để thấy cỏi tụinhà thơ đó được nghệ thuật húa trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quỏttrong thơ, một thành tố trong thế giới nghệ thuật của tỏc phẩm

1.2 Cuộc khỏng chiến chống Mĩ cứu nước khụng chỉ ghi dấu nhữngchiến cụng vang dội trong lịch sử dõn tộc mà cũn sinh ra một thế hệ nhữngnhà thơ, nhà văn tài năng, giàu nhiệt huyết Khụng ớt những tờn tuổi đó xuấthiện và trưởng thành trong cuộc khỏng chiến như: Phạm Tiến Duật, NguyễnKhoa Điềm, Thu Bồn, Lưu Quang Vũ, Xuõn Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn,Bằng Việt, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, í Nhi… Bước vào thời kỡđất nước thống nhất, họ vẫn hoạt động khụng ngừng nghỉ, vẫn tiếp tục sỏng

Trang 2

tác để khẳng định Trong số đó, Ý Nhi nổi lên như một gương mặt xuất sắc,những thành công mà chị đạt được trong giai đoạn này đã để lại ấn tượng sâu

sắc trong lòng những độc giả yêu thơ Năm 1985, với tập thơ Người đàn bà ngồi đan, chị nhận được giải A của Hội nhà văn Việt Nam Không dừng lại ở

đó, chị đã trở thành một hiện tượng đáng chú ý trong nền thơ Việt Nam hiện

đại khi cho xuất bản một loạt các tập thơ: Ngày thường (1987), Mưa tuyết (1991), Gương mặt (1991), Vườn (1998) Đến nay, chị đã có khối lượng tác

phẩm khá phong phú – gồm hàng chục tập thơ in chung và in riêng

Độc giả nhớ đến chị bởi một giọng thơ mới lạ, giàu tính triết lí, suy tư,cách lập tứ chặt chẽ, với những hình ảnh, biểu tượng đầy sức gợi Là nhà thơ

có ý thức cách tân, sáng tạo, Ý Nhi không đi theo lối làm thơ “ồn ào, kể lể, dàn trải tâm tình”[12] của một thời mà sớm tìm đến một bút pháp chắc thực -

“rũ bỏ ảo tưởng lãng mạn” [12] để tạo nên một phong cách biểu hiện riêng,

có ảnh hưởng tích cực đến một số các nhà thơ trẻ cùng thời khác Luôn nhất

quán trong quan niệm sáng tác: “Về xúc cảm – phẩm chất cao nhất là sự thành thực Về hình thức cần đạt tới sự giản dị” [42] chị đã đem lại cho các

tác phẩm của mình những giá trị thẩm mĩ độc đáo gây dấu ấn trong lịch sử thơ

Trang 3

và chớnh xỏc hơn về sự vận động, đổi mới của thơ Việt Nam sau năm 1975.Kết quả nghiờn cứu sẽ giỳp chỳng tụi nõng cao trỡnh độ giảng dạy sau này.

2 Lịch sử vấn đề

Trờn thi đàn Việt Nam, í Nhi xuất hiện với một phong cỏch thơ riờngbiệt, độc đỏo, một cỏ tớnh thơ “lặng lẽ nhưng quyết liệt và bền bỉ, khụng ngừng tự ý thức nhằm tỡm kiếm cỏi “bản lai diện mục” của tõm hồn” [40].

Chớnh vỡ thế, thơ của chị dễ đi vào lũng người, gõy được cảm tỡnh cho độcgiả Với í Nhi, thơ luụn là một phần của tõm hồn, của tỡnh yờu và đặc biệt lànhững suy tư đối với cuộc đời

Chặng đường thơ í Nhi sớm bắt đầu từ trong khỏng chiến chống Mĩ.

Tuy nhiờn thời gian này chị chưa được cụng chỳng chỳ ý nhiều Cho đến năm

1985, sau thành cụng của tập thơ Người đàn bà ngồi đan, í Nhi đó tạo nờn

một phong cỏch riờng, một giọng điệu riờng, một cỏi tụi riờng của thi ca Việt

Nam hiện đại Với một giọng thơ mới lạ - “đương vào độ chớn” [47] chị đó

gúp một tiếng thơ độc đỏo, trầm lắng đầy suy tư nhưng khụng kộm phần tươimới cú ý nghĩa tớch cực đối với sự phỏt triển của thơ ca thời kỡ này Kể từ đõy,

đó cú nhiều cụng trỡnh và bài viết nghiờn cứu về thơ í Nhi của cỏc tỏc giả:Chu Văn Sơn, Lưu Khỏnh Thơ, Nguyễn Hoàng Sơn, Lờ Thị Hồ Quang,Nguyễn Thị Minh Thỏi, Ngụ Thị Kim Cỳc… Nhỡn chung, cỏc tỏc giả này đềuđỏnh giỏ cao thơ í Nhi, khẳng định giọng điệu thơ và vị trớ độc đỏo của thơchị

Đầu tiờn, phải kể đến tỏc giả Mó Giang Lõn với bài viết Người đàn bà ngồi đan ễng cho rằng hướng tỡm tũi và phẩm chất mới của thơ í Nhi là nội

tõm ễng cũng nhận ra lối tư duy giàu sỏng tạo, cõu thơ cú độ khỏi quỏt, độsõu và bỳt phỏp hồi tưởng cú mặt ở hầu khắp cỏc tỏc phẩm của chị Điều nàykhiến thơ chị tuy khụng dễ cảm nhận nhưng lại dễ thuyết phục người đọc bởinhững tỡnh cảm chõn thành và bản lĩnh nghệ thuật của người viết

Trang 4

Tiếp theo phải kể đến nhà phê bình Chu Văn Sơn, ông là người sớmquan tâm đến thơ Ý Nhi và cũng là người có nhiều bài viết về nữ tác giả này.

Trong bài viết Thơ của tâm hồn xao xác giữa ngày yên (báo Văn nghệ số 36 ngày 5/9/1987), tác giả nhận xét: “Đọc Ý Nhi, càng trở lại đây người đọc càng mừng vì thấy chị càng tự tin hơn trên con đường riêng của mình Bằng một nội tâm mạnh mẽ, chị đã đồng hóa được thế giới bên ngoài để làm thành một cái tôi lúc nào cũng dồi dào phong phú, một cái tôi lúc nào cũng xáo động như : “Cây trước thềm xao xác giữa ngày yên” [42] Cũng trong một bài viết khác của mình với nhan đề Mấy lời nhận xét về thơ Ý Nhi trên Tạp chí Nhà Văn, số 2/2002, ông chỉ ra: “Giày vò đeo đẳng Ý Nhi suốt mấy chục

năm qua trên mọi chặng đường thơ là một nỗi khát thôi, Nỗi khát Yên bình…

Và từ đó cái Tôi Ý Nhi có diện mạo riêng là kẻ khát yên bình Sống, đối với cái tôi ấy là lên đường tìm kiếm sự yên bình Càng bồn chồn càng khát bình yên Càng khao khát càng mơ tưởng yên hàn” [46]

Vẫn tác giả Chu Văn Sơn, trong bài nhận xét về tập thơ Ngày thường với tựa đề Sự giải tỏa bằng thơ (1992), ông cho rằng: “Ý Nhi đang gắng hình dung ra khuôn mặt tinh thần” [43] của các cá nhân trong cộng đồng chúng ta.

Và những khuôn mặt đó thật ra đều là những “bức tự họa” cái tôi của chính

tác giả Đấy cũng là ý kiến của Khánh Phương trong bài viết Ý Nhi một sự nghiệp không bao giờ hết dây dưa Phác họa về phạm vi hiện thực được phản ánh trong thơ Ý Nhi, tác giả cho rằng: “Chị thường soi mình vào nhiều kiểu người khác nhau trong xã hội để phần nào tự vẽ nên bức chân dung bản thân…nhà thơ luôn mong muốn là người khám phá sắc sảo với tất cả những góc cạnh trong cuộc sống” [38]

Nhận xét về hai tập thơ Mưa tuyết và Gương mặt sau khi được xuất bản (1991), tác giả Chu Văn Sơn lại có bài Đến với từng bông tuyết đăng trên Tạp chí Tác phẩm mới Trong bài viết này, ông nhận định: “Dòng tâm tình

Trang 5

nghiêng về cảm xúc trực quan, giàu tính mô tả…cứ chuyển dần thành dòng tâm tư…Hình tượng sinh động tươi rói chất sống… càng về sau càng được gia tăng những hàm ý tượng trưng để trở thành…biểu tượng trữ tình của riêng cái tôi kia” [44].

Một nét đặc biệt trong thơ Ý Nhi đã được hầu hết các nhà nghiên cứuphát hiện và bàn luận đó là mạch nguồn thơ với những cảm xúc, suy tư là

những đối cực trong tâm trạng của chị Thông qua các bài thơ Người đàn bà ngồi đan, Về Thái Nguyên, Cát, Biển, Tiểu dẫn…phần lớn họ đưa ra những

nhận xét khá giống nhau về cảm hứng, kết cấu, nhịp điệu, những đối cực chóigắt và màu sắc triết lí đậm nét trong thơ

Tác giả Nguyễn Thị Minh Thái trong bài Thơ tình Thành phố Hồ Chí Minh có nhận xét: “Ý Nhi có một lối thơ kín đáo, dịu dàng và đắm đuối như hoa quỳnh hiếm hoi, nở muộn, chỉ nở một lần, thơm một lần và dâng hiến một lần vào thời khắc ngắn ngủi giữa đêm” [49] Cùng tác giả này trong Trò chuyện về thơ với Người đàn bà ngồi đan đã nói: “Ý Nhi tìm được giọng điệu riêng trên một tâm thế thanh thản và một tư thế gần gũi như “thiền”, nhà thơ

đã ngộ ra được hai điều cốt nhất của thi sĩ: bút pháp riêng và tính điệu riêng”

[50]

Để nhận xét về nghệ thuật trong thơ của Ý Nhi, Nguyễn Nhã Tiên đã

đưa ra nhận xét: “Chính sự kiệm lời trong thơ chị là một đặc trưng nổi bật một cá tính, tạo ra sự hẫng hụt để gợi sức liên tưởng, thâm sâu tất cả những

vị đắng cay hoặc ngọt ngào”.

Trong cuốn Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại, Lưu Khánh Thơ khi nhận xét về tập thơ Vườn đã nói: “Ý Nhi sử dụng một thứ ngôn ngữ văn xuôi chắt lọc đầy suy tưởng và hết sức kiệm lời…nhịp điệu trong thơ là nhịp điệu của tâm trạng chứ không phải của câu chữ” [52] Và

thành công nhất trong sáng tác của Ý Nhi là gia tăng chất nghĩ cho thơ Trong

Trang 6

bài viết Nỗi khắc khoải từ miền kí ức, tác giả Lưu Khánh Thơ cũng đã chỉ ra

cái khoảnh khắc của tâm trạng thơ Ý Nhi - khoảnh khắc được dồn nén bởi suy

tư và cảm xúc: “những nỗi niềm suy tư ẩn chứa trong những dòng thơ được viết bằng những xúc cảm dồn nén của tâm trạng” [52] Còn tác giả Thúy Nga

lại có một phát hiện mới mẻ, độc đáo về tập thơ này của Ý Nhi Với chị, tình

yêu và nỗi buồn ở đây là một thứ tình yêu: “đậm đặc không gào thét, không đau đớn vật vã, không gọi tên được, nhưng cứ âm ỉ trong lòng, cứ trong ngần như những giọt nước mắt lặng lẽ” [24].

Trong bài Thơ Ý Nhi, nhà thơ Hoàng Hưng nhận xét: “Thi pháp thơ Ý Nhi phơi bày trong bài thơ chủ chốt ấy của đời thơ chị Kìm nén hoặc để nguôi hết những cảm giác tức thời, những cảm xúc bột khởi, hờ hững với đời sống bản năng, thơ Ý Nhi là một kiểu trữ tình gián cách, những kí ức đã tinh lọc” [12].

Đồng quan điểm nêu trên, Nguyễn Hoàng Sơn trong Ý Nhi qua tuyển

thơ đã khẳng định : “Chị đã sớm dứt bỏ lối làm thơ ngòn ngọt, dễ dãi của một

thời, tìm tới một bút pháp chắc thực, hiện đại…” [48] Theo ông đó là: “một giọng thơ mới lạ, đương vào độ chín”, và chị thường sử dụng bút pháp này để

bộc lộ nội tâm

Nhà nghiên cứu văn học Hà Ánh Minh với bài viết Mạch đập thơ Ý Nhi dòng ưu tư chảy xiết in trên tạp chí Nha Trang, số 72 (2001) lại thêm vào một khẳng định rất giàu hình ảnh về phong cách thơ của chị: “Thơ Ý Nhi cũng như một dòng chảy nham thạch cuộn tròn đỏ dưới ánh nắng chiều Ý Nhi không những viết bằng ngôn ngữ của cảm xúc mà chủ yếu viết bằng ngôn ngữ của trí tuệ…” [22] Thơ chị không thể ngâm, chỉ có thể đọc, không trở thành lời bài hát mà sức trào dâng vẫn dào dạt Vẫn tác giả này với bài viết Lửa từ trái tim trần run rẩy đã khẳng định, Ý Nhi có lối tư duy khúc chiết, mạch lạc, cách diễn đạt giản dị, dễ hiểu,“những bài thơ không dễ trình bày trước đám

Trang 7

đông nhưng sẽ để lại nỗi nhớ sâu đậm trong lòng người đọc…” [21] Vấn đề

này cũng nhận được sự đồng tình của Ngô Thị Kim Cúc, tác giả khẳng định:

“Thơ chị rất ít chữ, càng ít từ bóng bẩy, những câu thơ như được nén lại, nhiều khi gây cảm giác tức thở Vì thế lúc đọc lên, chúng như được thả ra, ngân vang những hồi âm của một tâm trạng thẳm sâu, tâm trạng của một người từng trải biết kìm nén” [4]

Lê Hồ Quang trong bài Thơ Ý Nhi - Hành trình trong lặng lẽ (tạp chí Thơ, 3/2010) lại có lời viết: “Với Ý Nhi, những xúc cảm nồng nhiệt dường như luôn đi cùng ý thức tiết chế, ngọn lửa đam mê luôn song hành cùng niềm kiêu hãnh, sự truy vấn tỉnh táo, rạch ròi được nhìn nhận trong sự thấu đáo và cận nhân tình” [40] Người viết cũng cho rằng óc phân tích tỉnh táo của một tâm hồn nhạy cảm hội tụ trong Ý Nhi đã tạo nên chất “duy lí” độc đáo giữa một nền thơ ca Việt Nam hiện đại vốn nặng chất “duy tình”, “duy cảm” Mỗi

vần thơ của Ý Nhi càng đọc càng thấy hấp dẫn bởi sự nhẹ nhàng mà sâu lắngcủa nó Và cũng bởi thơ của chị không theo một khuôn khổ, không chịu sựràng buộc, gò bó nào Chị đã trải hồn mình vào thơ, đã sống thật với thơkhông hề giấu diếm

Như vậy có thể thấy rằng qua những bài viết nghiên cứu về thơ Ý Nhi,các nhà phê bình đã có đóng góp nhất định trong việc phát hiện những nét đặcsắc, độc đáo trong thơ Ý Nhi Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất trongviệc khẳng định những thành công trên bước đường sáng tác của nhà thơ,đánh giá chị là cây bút giàu tính sáng tạo, có phong cách riêng mới lạ, cảmhứng sáng tác phong phú, đặc sắc…Với chúng tôi, những ý kiến trên có ýnghĩa định hướng quan trọng và trên cơ sở những gợi ý đó, luận văn hi vọng

có thể làm rõ hơn về Cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi.

3 §èi tîng vµ ph¹m vi nghiªn cøu

Trang 8

Nguồn tư liệu mà chỳng tụi khảo sỏt là tất cả cỏc tập thơ đó xuất bảncủa í Nhi:

- Trỏi tim và nỗi nhớ (1974)

- Đến với dũng sụng (1978)

- Cõy trong phố chờ trăng (1981)

- Người đàn bà ngồi đan (1985)

- Thơ với tuổi thơ (2002)

4 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này, luận văn xỏc định những nhiệm vụ nghiờn cứu chớnhnhư sau:

- Tỡm hiểu về cỏi tụi trữ tỡnh trong thơ í Nhi qua những nguồn cảmhứng tiờu biểu và nghệ thuật thể hiện, từ đú cú thể thấy được sự đúng gúp củamột gương mặt thơ độc đỏo, riờng biệt, giàu cỏ tớnh

- Gúp phần làm sỏng tỏ phong cỏch thơ í Nhi và đúng gúp của chị vớinền thơ ca Việt Nam đương đại

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn phối hợp vận dụng nhiều phương phỏp nghiờn cứu, trong đúchủ yếu là sử dụng cỏc phương phỏp sau:

5.1 Phương phỏp thống kờ, phõn loại.

Phương phỏp này sẽ giỳp cho việc phõn tớch, nhận xột cú tớnh thuyếtphục dựa trờn những chứng cứ cụ thể, giỳp người nghiờn cứu tổng hợp được

Trang 9

những số liệu chứng minh cho cỏc nhận định, đỏnh giỏ dựa trờn những khảosỏt cụ thể.

5.2 Phương phỏp hệ thống.

Sử dụng phương phỏp này sẽ giỳp cho luận văn cú tớnh hệ thống và tớnhlogic cao

5.3 Phương phỏp so sỏnh đối chiếu

So sỏnh đồng đại và lịch đại để tỡm ra được những điểm chung và điểmriờng giữa thơ í Nhi với của cỏc nhà thơ khỏc Thấy được những nột độc đỏo,riờng biệt, những cỏch tõn của nhà thơ đối với truyền thống thơ ca dõn tộc

5.4 Phương phỏp phõn tớch tỏc phẩm

Khi phõn tớch tỏc phẩm cụ thể sẽ thấy được những nột độc đỏo, từ đú cú

cơ sở để đỏnh giỏ một cỏch chung nhất, khỏi quỏt nhất về cỏc đặc điểm thơcủa tỏc giả

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn được triển khai trong 3 chương:

- Chơng 1 Hành trỡnh vận động của cỏi tụi trữ tỡnh trong thơ í Nhi

- Chương 2 Cỏi tụi trữ tỡnh trong thơ í Nhi nhỡn từ phương diện nội

dung.

- Chơng 3 Cỏi tụi trữ tỡnh trong thơ í Nhi nhỡn từ phương diện nghệ

thuật.

Chơng 1 Hành trình vận động của cái tôi trữ tình

trong thơ ý nhi

Trang 10

1.1 Sự vận động của thơ Việt Nam sau năm 1975

1.1.1 Những biến động về thời đại

Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã thu non sông gấm vóc Việt Nam vềmột dải, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - nước nhà được hoàntoàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do Điều này tác động mạnh mẽ tớitoàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có lĩnh vực vănhọc nghệ thuật Tuy nhiên, đời sống thời hậu chiến cũng đặt ra nhiều tháchthức đối với con người nói chung và những nhà văn, nhà thơ nói riêng Bởi lẽnhững người nghệ sĩ luôn hoà mình trong những sự kiện lớn của đất nước củadân tộc Với những bước đi mới của lịch sử buộc họ phải nhận thức lại nhiềuvấn đề về thời đại cũng như các mối quan hệ nhân sinh sao cho phù hợp vớitính đa chiều, phức tạp đang hình thành trong xã hội lúc bấy giờ Không ngạcnhiên khi có nhiều người nghệ sĩ đã lúng túng trước những đổi thay như nhà

thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng viết: “Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật chẳng dễ dàng chi ”.

Năm 1986 là thời điểm quan trọng đối với lịch sử Việt Nam, sau 10năm vòng vo trong thời kì bao cấp, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đãđánh dấu một bước phát triển mới của dân tộc, đất nước thực sự có bướcchuyển mình đi lên Mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị xã hội đều đạtđược những thành tựu to lớn Nội dung quan trọng nhất của sự nghiệp đổi mới

là: “Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm trung tâm”

[23] đã tác động mạnh mẽ đến tất cả mọi người, trong đó có lực lượng nhữngngười cầm bút Và như một lẽ tất yếu, thời đại lịch sử - xã hội cụ thể đó đãlàm nảy sinh trong mỗi người nghệ sĩ kiểu tâm trạng xã hội tương ứng Họ ýthức được vai trò sáng tạo của mình trong công cuộc “thay da đổi thịt” của đấtnước Họ nhận thức rõ điều kiện sống còn để tạo nên những giá trị đích thựctrong văn hóa, văn nghệ chính là sự say mê sáng tạo không ngừng nghỉ của

Trang 11

mình Họ hiện hữu với trách nhiệm trước cuộc đời hiện tại, khẳng định niềmtin vào tương lai của đất nước

Bước sang nền kinh tế thị trường, công cuộc công nghiệp hóa hiện đạihóa đang hối hả tràn vào nhịp sống của xã hội đã mang đến một yêu cầu bứcthiết cho văn hóa, văn nghệ là hướng tới con người Điều này đã thức tỉnh sự

ý thức của mỗi cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm chú ý nhiều hơn đến số phận củatừng con người cụ thể, không né tránh mất mát, không say với chiến thắng màbiết cảm nhận chia sẻ những vấp váp, khó khăn của con người trước sự đổithay của thời đại Nói như PGS TS Nguyễn Đăng Điệp, đây chính là thời kì:

“ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niệm mới về nghệ thuật” Ông cũng nhấn mạnh thêm: “Văn nghệ, trong tình hình mới đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều sự thật đau lòng Theo đó, cá tính sáng tạo của nhà thơ cũng được giải phóng triệt để hơn” [6]

Chủ trương mở cửa hội nhập quốc tế với tinh thần dân chủ và ý thức

“nhìn thẳng vào sự thật” đã tạo đà cho đời sống kinh tế - xã hội của người

dân được cải thiện Bên cạnh đó, nó như tiếp thêm sức mạnh làm khởi sắc nền

văn học nghệ thuật mà ở đó “cảm giác bế tắc và chán nản là cảm giác khá nổi bật trong tâm trạng nhiều người” (Nguyễn Đăng Điệp) Có những đổi

thay tích cực trong quan niệm về chức năng của văn học, về mối quan hệ giữavăn học và đời sống, giữa nhà văn và bạn đọc, cũng như sự thưởng thức vănhọc… Việc tìm kiếm, thể nghiệm cách tiếp cận thực tại, các thủ pháp và bútpháp nghệ thuật được phát huy mạnh mẽ Đồng thời, cá tính và phong cách cánhân của mỗi người nghệ sĩ được đề cao

Từ bước ngoặt lịch sử trên, đất nước chuyển sang một thời kì mới vớinhững bước phát triển mới Đặc biệt đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thầncủa nhân dân được cải thiện đáng kể Một kỉ nguyên mới được mở ra Cũng

từ đây, một chặng đường mới của nền văn học Việt được bắt đầu Và thực tế

Trang 12

đã chứng minh, trong giai đoạn này, thơ ca nước nhà đã chuyển mình mạnh

mẽ, tiến những bước dài trên con đường hiện đại hóa, hội nhập nền văn họccủa nhân loại

1.1.2 Sự vận động của thơ Việt nam sau 1975 - Sự đổi mới trong tư duy

Khi nước nhà hoàn toàn độc lập, đời sống thường nhật của nhân dânthay đổi một cách sâu sắc, mạnh mẽ, và toàn diện Trong những đổi thay đókhông thể không kể đến sự thay đổi của văn học nghệ thuật Thời kì mới với

tinh thần “đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật” [10]

đã tạo cơ sở tư tưởng cho hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng

và phát triển mạnh mẽ Tư tưởng này bén rễ, ăn sâu vào đời sống văn học ở

nhiều cấp độ đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn mới về hiện thực, chủđộng, tìm tòi hơn để vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đờisống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệuquả nghệ thuật mới Đây chính là động lực quan trọng để mỗi người nghệ sĩtạo nên những giá trị mới của nghệ thuật thi ca hiện đại

Trên thực tế, sau 1975, Văn học Việt Nam đã có một hành trình mớivới nhiều tìm tòi đột biến cả về nội dung và hình thức đặc biệt là sự thay đổi

về tư duy Khái niệm đổi mới là tiêu chí được đề cao trong trong giai đoạnnày Và thơ cũng không nằm ngoài sự vận động đó Trăn trở trước thời cuộc,trăn trở trước yêu cầu phải đổi mới triệt để trong tư duy sáng tác đã làm daydứt tâm hồn không ít các nhà thơ Vấn đề này đã được tác giả Bùi Minh Quốc

mạnh dạn đưa ra trong bài viết Cuộc sống hôm nay và trách nhiệm của thơ.

Ông cho rằng: “Thơ cần phải mở rộng khai phá ra mọi đề tài của đời sống xã hội cũng như thế giới nội tâm sâu kín của con người, nhưng trước hết thơ không thể quay lưng lại với yêu cầu bức bách hiện nay của cuộc đấu tranh xã hội…” Ông cũng nhấn mạnh: “Vấn đề sinh tử của cuộc sống cũng là vấn đề sinh tử của thơ” [41]

Trang 13

Nhìn lại quá trình phát triển của thơ ta nước ta trong giai đoạn trước

-giai đoạn 1945 – 1975 ta thấy: “trong -giai đoạn đầy biến động này, những bước ngoặt của lịch sử, những đảo lộn trong xã hội, những khó khăn và mất mát riêng tư dễ làm cho biết bao tiếng nói thơ ca tắt đi trong xót xa, thầm lặng” [8] Tuy nhiên thực tế lại chứng minh điều ngược lại Những biến cố và

sự kiện trọng đại của đất nước đều được phản ánh trong văn thơ Và hầu hếtcác tác phẩm ở giai đoạn này đều bị chi phối bởi một hoàn cảnh lịch sử cótính đặc thù, những giá trị văn hóa xã hội được thiết lập trên cơ sở cộng đồng,tập thể và dân tộc Ý thức của cái Tôi công dân trỗi dậy Cảm hứng yêu nước,cảm hứng thời đại đã đem đến những mạch nguồn sáng tác mới cho ngườinghệ sĩ Họ say sưa với chế độ mới, con người mới và xã hội mới với một thái

độ tự hào thiết tha, rạo rực:

Cho tôi sinh giữa những ngày diệt Mỹ, Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi

(Chế Lan Viên)Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, có những nhà văn, nhà thơkhông hề ngại ngần, nuối tiếc dứt bỏ thời kì thăng hoa rực rỡ nhất, thời kì của

cái tôi mới trỗi dậy mang đậm chất nhân văn: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất” (Xuân Diệu), cái thời mà thơ ca của họ làm xao động hàng triệu trái tim

bạn đọc để hòa vào dòng chảy của cách mạng Họ ý thức được rằng, cái tôithuần túy mong manh đơn lẻ sẽ không còn thực sự trọn vẹn quý giá khi Tổquốc bị xâm lăng… Vì lẽ đó cái tôi ấy bật khởi, tự giác hòa vào cái chung,sống giữa cái chung, tạo ra sức mạnh mới cùng cuộn chảy trong lòng dântộc…

Trang 14

Tuy có những mặt tích cực nhưng không thể không nói đến những hạnchế của nền thơ ca thời kì này Hoàn cảnh lịch sử xã hội gắn liền với cuộcchiến tranh vệ quốc đã dẫn đến việc đề cao quá mức thuộc tính phản ánh hiệnthực Vấn đề hình thức nghệ thuật bị hiểu một cách phiến diện hẹp hòi cũngnhư sự tìm tòi sáng tạo của cá nhân bị coi nhẹ Bản chất hiện thực chưa đượckhai thác và thể hiện một cách sâu sắc và phong phú như vốn có một phầncũng vì quan niệm phản ánh ấu trĩ và thô sơ này Đời sống nội tâm, tinh thầncủa con người cá nhân không được chú ý đúng mức thậm chí những biểu hiệncủa tình cảm riêng tư có khi còn bị đồng nhất với chủ nghĩa cá nhân cực đoan.Văn học nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng đã không phản ánh được mộtcách toàn vẹn và khách quan hiện thực tâm hồn con người Bên cạnh đó,những ngang trái, bất công trong xã hội, những bi kịch mất mát đau thương,những tình cảm riêng tư, khao khát bản năng trong đời sống cá nhân… tronggiai đoạn này cũng bị coi như là điều “húy kị” cần phải né tránh Các vănnghệ sĩ bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu,

bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn của hoàn cảnh lịch sử lúc

bấy giờ Nói một cách khác: “cả lối tư duy, cả vật liệu tư duy và kết quả là cả sản phẩm của nó đều mang dấu ấn của hiện thực một thời đại nhất định, xác nhận một tọa độ không - thời gian nhất định, nghĩa là phản ảnh hiện thực thời đại ấy” [7]

Như một lẽ tất yếu: “khi tiếng nói sử thi lắng xuống, thì tiếng nói thế sự

vang lên”, sau 1975, tinh thần “phản tỉnh” đã trỗi dậy mạnh mẽ trong thơ ca

Việt Nam nhằm hướng tới một quan niệm đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và đachiều hơn về hiện thực đúng như tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã nhận định:

“Cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc sống thời chiến tranh Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho

Trang 15

thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước

và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm” Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái nhìn phi sử thi Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho nghệ thuật giai đoạn này thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975” [6] Điều này thật không phải bàn

cãi, bởi nó gắn với những thay đổi mạnh mẽ của bối cảnh xã hội lúc bấy giờ.Hơn nữa đời sống lịch sử, cộng đồng, đời sống cá nhân được đặt ra như mộtvấn đề xã hội cần thiết Giờ đây, nhà thơ nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cánhân, nói lên tiếng nói cá nhân, không còn tránh né những vần đề mà trước

đây người ta còn ngại đề cập: “Vượt qua mọi sự cấm kỵ văn học sau 1975 nói thật to cái sai, cái xấu và cả cái ác trong nội bộ chúng ta, giữa chúng ta với nhau” (Lã Nguyên) Tính chất đa chiều của hiện thực được thể hiện một cách

tối ưu nhất Hiện thực được phản ánh trong cái nhìn toàn vẹn, phong phú vàphức tạp như chính bản thân đời sống Nó không chỉ dừng lại ở việc mô tảnhững điều xảy ra bên ngoài cuộc sống mà còn soi rọi từng góc khuất trongtâm hồn con người Như vậy, sự thức tỉnh trở lại của ý thức cá nhân đã mở racho văn học nhiều hướng khám phá mới về cuộc sống Hàng loạt đề tài mới,chủ đề mới được khai thác một cách triệt để với quan niệm sáng tác cũng

hoàn toàn đổi mới, đúng như nhận định: “Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học là hạt nhân

cơ bản của tư tưởng nhân bản” [9] Và trách nhiệm của những người cầm bút

là phải nói lên được cái toàn vẹn và sâu sắc đó trong các sáng tác của mình

Một nền thơ nhân đạo, giàu tính nhân văn, mang chất hiện thực, không

né tránh sự thật đã đặt lên vai người nghệ sĩ những trách nhiệm nặng nề Giờđây con người được xem là xuất phát điểm, là đích cuối cùng của văn học,

Trang 16

vừa là điểm quy chiếu, vừa là thước đo của mọi vấn đề trong xã hội đúng với

cái khái niệm “Văn học là nhân học” của Maxim Gorky Con người trong

văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mốiquan hệ: con người xã hội, con người với lịch sử, con người của gia đình, giatộc, con người với phong tục, với thiên nhiên với những người khác và vớichính mình Con người cũng được văn học soi chiếu, khám phá nhiều bìnhdiện Văn học cảm thông thấu hiểu và nâng đỡ con người nhưng đồng thờicũng đòi hỏi cao ở con người và luôn chú ý thức tỉnh sự tự ý thức của conngười để hướng tới cái thiện, cái đẹp và sự hoàn thiện nhân cách Muốn làmđược điều đó đòi hỏi những người nghệ sĩ phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong

cách cảm, cách nghĩ, đồng thời “xác lập với nhau cái ý thức về tư thế, tư cách

xã hội của nhà văn là nhà văn hóa của dân tộc Nhà văn phải nhìn thẳng vào

sự thật, nói và viết sự thật, không chiều theo ai, càng không được tự nuông chiều mình” [5].

Nói như vậy có nghĩa, thơ ca giờ đây không chỉ là “chữ đẹp”, những chữ “ngọt ngào” đã được sử dụng “quen tay đến nhẵn mòn sờn rách” mà phải là “những chữ lấm lem đứng dậy từ đời thực”- (thơ Lưu Quang Vũ) Và

nhiệm vụ cấp bách của nhà văn lúc này là dùng văn chương làm vũ khí sắcbén đóng góp vào công cuộc làm đẹp, làm giàu cho đất nước Phát huy cao độ

tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh và lương tri của người cầm bút Họ “không được quyền chỉ vỗ tay hoan hô mà còn phải cảnh tỉnh, không có quyền chỉ chào đón những người anh hùng đang có đầy triển vọng mà còn phải nhìn thấy trước và báo động về nguy cơ của cái xấu đang về đích trước hay cùng một lúc với cái đẹp Đó là nghĩa vụ xã hội độc đáo của văn học” [55]

Do bị chi phối bởi ý thức xã hội mới, ý thức thẩm mĩ mới đầy tinh thầntrách nhiệm mà thơ sau 1975 mang đậm màu sắc duy lí, với cảm hứng nhân

Trang 17

văn sâu sắc Nói cách khác, nét nổi bật của thơ trong giai đoạn này là sựkhẳng định con người cá tính, trong đó con người không tự thoả mãn, tự bằnglòng mà luôn trên hành trình tìm kiếm các giá trị tinh thần.

Trước 1975, cả nền thơ thống nhất trong cái tôi trữ tình chính trị, cáitôi công dân, cái tôi nhân danh cộng đồng dân tộc, ý thức đại chúng dườngnhư trùm lấp ý thức cá nhân Nói như tác giả Lã Nguyên thì đây là thời kì

mà:“Văn học sử thi đặt ra những vấn đề mang tầm vóc lịch sử, liên quan tới vận mệnh và sự sống còn của cả một dân tộc …Văn thơ nhìn cuộc sống hiện tại bằng con mắt của tương lai, con mắt của cháu con, hậu bối” [26] Trong

con mắt của tương lai, hiện tại không còn là hiện tại như vốn dĩ, mà đã hoáthành mộtquá khứ tuyệt đối, quá khứ lí tưởng:

Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng Trông lại ngàn xưa, trông tới mai sau Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu (Bài ca xuân 61- Tố Hữu)

Và dù muốn hay không, tác phẩm của nhà thơ cũng đã đại diện choquan điểm thẩm mĩ của một thời kì lịch sử nhất định, một bộ phận xã hội nhấtđịnh xuất phát từ ý thức chính trị nhất định

Khác với những con người “sử thi lớn lao” quên mình vì tập thể, vì

cộng đồng trong thơ ca giai đoạn trước 1975, con người trong thơ ca thời đổimới trở về với đời thường Ý thức về cái tôi đã có sự thay đổi, điều chỉnh và

bổ sung tích cực Con người tự ý thức, tự nhận thức về thế giới chủ quan củamình với một cái nhìn mới mẻ đa chiều và đa diện trước hiện thực đời sống.Điều này hầu như vắng mặt, hầu như không thấy trong văn học giai đoạntrước 1975 Những công việc tưởng chừng như nhỏ bé, bình thường nhất cũngđược người nghệ sĩ khai thác triệt để trong các sáng tác của mình Ngay cả

Trang 18

những nhược điểm, những hạn chế của con người đều không xa lạ trong cáctrang viết… Văn học đi sâu vào cuộc đời riêng tư thầm kín, với những uẩnkhúc éo le, những bi kịch nội tâm giằng xé,… nhìn nhận sự việc trong nhiềumối quan hệ đa dạng Mọi vấn đề của từng cá nhân, từng cá thể đang đượcthức tỉnh và tôn trọng Với những tiền đề lịch sử xã hội mới, thơ Việt nam sau

1975 “cái tôi đã trở lại với đúng nghĩa của nó, thường nhật và giản dị, của chính mình, do mình chịu trách nhiệm, không vay mượn, không che đậy, dám công khai thừa nhận cả những mặt tối, mặt che khuất, mặt chưa hoàn thiện của mình bên cạnh những phẩm chất khác” [25]- một cái tôi nhân văn thẩm

mĩ mới với chiều sâu của nội cảm và giàu chất duy lí

Chính sự muôn màu muôn vẻ của thế giới nội tâm đã tạo nên tính đadạng, phong phú, sinh động trong quan niệm và thị hiếu thẩm mĩ của mỗi nhàthơ Họ điều chỉnh thái độ thẩm mĩ của mình và chủ trương lí giải cuộc sốngbằng lăng kính chủ quan, lăng kính cá nhân thông qua những trải nghiệm vànhận thức riêng, trên cơ sở đó mà phân tích, cắt nghĩa về cuộc đời:

Ký hiệu đời tôi là một chấm xanh xanh ngắt

Ký hiệu thơ tôi là sự minh bạch trong rắc rối đến không cùng Thế mới là tôi

Thế mới là đời Thế mới là thơ Tất cả hoà nhập như ánh sáng trộn cùng bụi

(Phùng Khắc Bắc)

Có thể khẳng định, nhu cầu xã hội và cá nhân làm thức tỉnh cái tôi trữtình của người làm thơ Những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật đã đemlại những sản phẩm nghệ thuật mang tinh thần đổi mới Đó là những sáng tạomang đậm màu sắc của chủ thể, là những sản phẩm rất riêng tư, rất độc đáokhông lặp lại, chỉ là đơn nhất Trong thơ của chúng ta hôm nay trỗi dậy không

Trang 19

chỉ những mô tip, chủ đề vĩnh cửu như: tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình,tình yêu thiên nhiên… mà còn làm thức tỉnh những suy ngẫm về hạnh phúc

và bất hạnh, đau khổ, về thời cuộc, được thua, thành bại, mất còn, sự hữu hạncủa con người và sự vô hạn của thời gian Hãy lắng nghe họ tâm sự: “Em muốn giang tay giữa trời mà hét/ Yêu anh… đại lộ hay khúc quanh/ Nào có nghĩa gì” (Phạm Thị Ngọc Liên), hay “Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy/ Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi”(Hoàng Phủ Ngọc Tường)…

Đây cũng là giai đoạn mà hoạt động sáng tác của nữ giới khởi sắc Họnhanh chóng hòa nhịp vào sự đổi thay của đất nước, của xã hội, tích cực tham gia vào tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc Nhiều gương mặt thơ nữvới những cá tính sáng tạo mới mẻ, mạnh mẽ và độc đáo đã trỗi dậy Có thể

kể ra đây một số những nhà thơ nữ tiêu biểu như: Xuân Quỳnh, Ý Nhi, PhạmThị Ngọc Liên, Vi Thùy Linh, Đoàn Thị Lam Luyến… Và thơ nữ quyền trởthành một bộ phận riêng của nền văn thơ nước nhà Nó tuyệt đối không imắng, vắng bóng và hiện diện đơn lẻ nữa Với mỗi nhà thơ lại có một phongcách sáng tác riêng, một bản sắc riêng không hề nhầm lẫn Tuy nhiên, ngườiđọc có thể nhận thấy ý thức phản kháng, khát khao tự khẳng định mình, khátkhao được sống, được yêu… bùng nổ mạnh mẽ trong các sáng tác của họ Từ

Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi, Tự hát - Xuân Quỳnh, Đào thoát - Phương Lan, Em muốn giang tay giữa trời mà hét - Phạm Thị Ngọc Liên đến Rừng Yêu – Vi Thùy Linh … Tất cả đều mạnh mẽ khẳng định bản sắc cái tôi và

niềm tin cá nhân: “Họ ý thức sâu thẳm và mãnh liệt rằng mình là một nửa nhân loại Chính họ đã và đang góp phần tạo nên lịch sử thế giới Chứ không

bị đẩy ra bên mép rìa xã hội hay đứng ngoài lề văn học như đã từng nữa.”

(Inrasara) Không thể phủ nhận, những đóng góp của một số nhà thơ nữ tronggiai đoạn này đã góp phần tạo ra những điểm mới của tư duy nghệ thuật thơViệt Nam, tạo nên những giá trị thẩm mĩ mới Chưa bao giờ khát vọng tìmdiện mạo riêng, giọng điệu lại tha thiết như hiện nay Những nhà thơ nữ hôm

Trang 20

nay đang vượt thoát khỏi mặc cảm thân phận, vượt thoát khỏi trở lực nếp nhàđầy quy ước gò bó của ngôn ngữ Việt, sẵn sàng vươn tới nơi chốn sự vô ngạitrong cõi sáng tạo Những đổi mới trong quan niệm về vai trò của chủ thểsáng tạo trên đã đem lại những thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận về đờisống nghệ thuật diễn tả trong thơ Việt Nam sau 1975

Vừa tiếp nối thơ truyền thống, đồng thời bằng vốn sống và nhận thứcthẩm mĩ phong phú tích lũy trong quá trình sáng tạo cá nhân, các nhà thơkhông ngừng tìm tòi và nỗ lực cách tân thi pháp thơ Nếu trước năm 1975, thơchủ yếu sử dụng thi pháp truyền thống với những quy phạm nghệ thuật,những nguyên tắc thẩm mĩ đã được hình thành từ trước và trở nên bền vữngqua nhiều thời kì văn học, thì nay thơ không tuân thủ cấu trúc cú pháp thông

thường Nó là cách viết “đập vụn mình ra mà ghép lại”, “xé toang mình ra

mà kết cấu” (Nguyễn Lương Ngọc) Nhu cầu tìm một lối viết mới tương ứng

với những thay đổi trong nhận thức quan niệm về thơ trở nên cấp thiết Nhữngcâu thơ êm ái, du dương, mượt mà trước đây nhường chỗ cho những câu thơ

tự do, không vần, lắm lúc theo lối vắt dòng tự nhiên kêu gọi sự tiết chế giatăng chất trí tuệ, tưởng tượng:

xuân hạ thu đông

đi jiữa mùa em jó lộng thu cùng

đi jiữa mùa xuân

jó lạnh xuân mùa thay áo

mùa sương em sương ngượng ngỡ ngàng ngấp nghé

(Đặng Đình Hưng)

Trang 21

Sự sáng tạo mang đến một luồng không khí mới mẻ cho thơ Muốn làmđược điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự cách tân Tuy nhiên cách tânkhông có nghĩa là chối bỏ tuyệt đối những kinh nghiệm vốn có trong thơtruyền thống Nhiệm vụ của họ là vừa sáng tạo làm mới cho thơ đồng thờiphải biết phá vỡ những quy phạm truyền thống

Vừa tiếp nối nền thơ ca truyền thống vốn có, vừa không ngừng tìm tòi

và nỗ lực cách tân thi pháp thơ mới, trên thực tế có không ít những nhà thơ đãkhẳng định được tên tuổi của mình Những nhà thơ đầu tiên đặt nền móng cho

“ngôi nhà cách tân thơ” không thể không kể đến: Trần Dần, Lê Đạt, ĐặngĐình Hưng, Hoàng Cầm, Dương Tường Sau này có thêm Vi Thùy Linh,Inrasara, Phan Huyền Thư, Nguyễn Bình Phương… “Trong “ngôi nhà chung”

đó, mỗi người nghệ sĩ đều có những chân dung thơ ca riêng phản ánh phong cách sáng tác của mình” (Nguyễn Việt Chiến) Tuy chưa tạo được những

đỉnh cao nghệ thuật như ta vẫn trông đợi, song với sự thay đổi về tư duy nghệthuật, sự nhận thức toàn diện hơn về bản chất thơ ca và cấu trúc thể loại, mỗingười nghệ sĩ đều đang cố gắng tìm tòi cho mình một lối đi riêng, tạo đàmạnh mẽ cho sự phát triển của thơ ca dân tộc trong chặng đường sắp tới

1.2 Hành trình thơ Ý Nhi – hành trình truy vấn tâm hồn

Hành trình thơ thường bắt đầu từ chiều sâu thẳm thế giới bản ngã củanhà thơ hướng về thế giới sự sống của con người Hành trình của nhà thơchính là sự vượt thoát chuẩn mực ngôn ngữ xã hội nhằm tạo dựng thế giớingôn từ và hình tượng thi ca mang phong cách riêng mình Đấy là một hànhtrình vắt kiệt mình để sáng tạo, không dễ dàng và luôn phải tiếp tục, bởi nócũng là hành trình truy tìm ý nghĩa của cuộc sống, của khát vọng và lí tưởng

Và một khi thế giới nội tâm sâu thẳm của người nghệ sĩ được thể hiện bằngchất liệu ngôn từ không thiếu cả tính nhạc và tính họa của thi ca, khi nhữngcảm xúc, tư tưởng được thăng hoa qua ngôn từ, vần điệu, có thể nói, đó cũng

Trang 22

lúc con người đã tìm được sự “cân bằng” nội tại, tìm thấy tiếng nói trác tuyệtngân vang lên từ trong lòng, từ trong tâm thức của mỗi cá nhân

Hành trình thơ Ý Nhi chính là hành trình khám phá thế giới bên ngoài

và khám phá bản ngã của chính mình Trong cuộc sống hiện đại căng thẳng

ngày hôm nay, con người “cần đến thơ như một sự nương tựa tinh thần”

[47] Vì vậy đọc thơ chị, ta không chỉ cảm nhận được cái tôi phong phú củangười nghệ sĩ: vừa yếu đuối, bơ vơ, buồn rầu, vừa mạnh mẽ, kiêu hãnh, phứctạp … mà còn có thể cùng tác giả tự trải nghiệm việc đi tìm cái tôi “mongmanh” của mỗi cá nhân đang lẩn khuất đâu đó trong tâm hồn

1.2.1 Một tâm hồn mạnh mẽ quyết liệt, nhưng cũng đầy nữ tính

Ý Nhi được xem là người có đời sống nội tâm sâu sắc, phong phú.Chị vốn là người ưa quan sát và chiêm nghiệm cuộc sống Chính những dòngthơ dung dị nhưng chở nặng những suy tư về cuộc sống và con người đã tạonên dấu ấn riêng của thơ chị Đây là một giọng thơ có cá tính riêng và độcđáo Nếu trong những tập thơ đầu tay, Ý Nhi thường thể hiện cảm xúc mộtcách hồn nhiên, cảm tính thì càng về sau thơ chị càng nghiêng về tính triếtluận, suy tư đậm nét của một tâm hồn mạnh mẽ quyết liệt nhưng cũng đầy nữtính Nó xuất phát từ một trái tim nồng ấm, luôn khao khát thấu hiểu, để đồngcảm và chia sẻ hơn với con người và với cuộc đời Nói như tác giả Lê Thị Hồ

Quang: “trong thơ Ý Nhi một niềm tin và sức mạnh nội tại mãnh liệt Cho nên nhà thơ không ngần ngại khi tự trình bày trước độc giả bằng những đường nét thẳng thừng, gai góc, không tô vẽ và có thể làm giật mình ai đó bởi tính chất “đối mặt” quyết liệt và không khoan nhượng của nó” [40]

Thông thường, trong cuộc sống, người phụ nữ hay được miêu tả yếuđuối, dịu dàng… Nhưng trong một số sáng tác của Ý Nhi, chúng ta đã thấy rõ,tính quyết liệt không khoan nhượng của chị đã được đẩy lên đến độ cao tuyệtđối:

Trang 23

Tôi là đứa trẻ muốn kêu to lên để nghe thấy đời mình trong biển

là người đàn bà tìm về kết cục tôi đang tìm về kết cục

tôi đang đứng kề bên cái vạch nhỏ xíu của thủy chung và phản trắc, của tan vỡ và hi vọng của hằn thù và tha thứ.

( Biển chiều)

Ngôn ngữ thơ không cầu kỳ, hoa mỹ mà rất giản dị, chân thành nhưchính nỗi lòng của Ý Nhi Tịếng thơ chính là tiếng lòng của chị, tiếng thổnthức của tâm tư trước những phức tạp của hiện thực Những va đập, nhữngmất mát những khó khăn mà chị trải qua, chứng kiến trong cuộc sống đã làmcho chị có một cái nhìn gai góc, quyết liệt trước cuộc đời:

Lòng đố kị được dấu kín dưới những từ ngữ đẹp đẽ

sự phản trắc được giải thích bằng những lí lẽ sắc sảo ham muốn bình thường được che đậy bằng những câu chuyện

bông đùa

và nỗi sợ hãi hầu như vô nguyên cớ

( Nhà thơ và cái hồ nhỏ)

Những cảm giác và tiếp nhận cụ thể trong tình yêu, cũng không kémphần mãnh liệt, đã được tác giả bộc lộ trong khá nhiều bài thơ mà trong đó cónhững câu gay gắt, đối chọi của một tâm trạng nữ nhi muốn thể hiện mìnhmạnh mẽ và đầy cá tính:

Tôi đã qua bao nhiêu rào chắn

để đến được cùng anh

để được áp khuôn mặt mình nơi bờ vai thân thuộc

Trang 24

Cùng anh tôi có thể đối chọi

có thể hòa nhập với cả thế gian này ( Không đề)

Tuy nhiên, dù có mải mê bung phá và say sưa với cuộc đời đến đâu, sẽ

có lúc, người phụ nữ lại sẽ tự lắng lại, tự nghe mình, tự đánh giá lại những gìđược mất trong đời, sau bao nghiệt ngã của số phận và sau bao bùng nổ khátvọng Chúng ta hãy cùng bình tĩnh lắng nghe những lời bộc bạch, những điềuthổ lộ đầy vun vén, đầy chua xót của một người đã trải qua tất cả, đã đi hầunhư khắp đất nước, để rồi khi trở về, đợi chờ sự tha thứ, đợi chờ lời an ủi,niềm vui và nồng nhiệt tưởng chừng hết sức bình dị:

Tôi cách xa nơi này hai mươi năm thiếu nữ đã là người đàn bà ở tuổi bốn mươi cam chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản đem cho và nhận về, kiếm tìm và đánh mất đơn giản và rối ren, lớn lao và cạn hẹp ( Về Thái Nguyên)

Từ thực tại, Ý Nhi luôn nhìn nhận quá khứ bằng bút pháp hồi tưởng,đối sánh với thực tại để tìm ra mạch nối quá khứ - hiện tại trong sự đa chiềucủa cuộc sống Với giọng triết luận tâm tình trực diện, Ý Nhi đã chạm khắc

chân dung của một người phụ nữ “đời thường”: “loay hoay trang sách cũ…/ quần của con cần xuống gấu/ gạo hết, lo xếp hàng… đấu tranh cho sự cân bằng của giá cả” Trước cuộc đời, người đàn bà phải đối diện với biết bao lo

toan vất vả Họ phải vượt lên mọi thử thách, mọi cám dỗ của đời thường đểluôn giữ những giá trị tinh thần tốt đẹp Đó cũng chính là người phụ nữ vớibản tính chân thật, bản lĩnh không hề tô vẽ mà chị đã xây dựng nên trong

Trang 25

những trang thơ của mình Với một tính cách mạnh mẽ và dám sống hết mình

đã thể hiện ngay từ chủ kiến dứt khoát trên của tác giả, thơ chính là người,đúng là như vậy!

1.2.2 Một tâm hồn giàu trí tuệ và triết lí độc đáo.

Có một nhà phê bình đã từng viết: “một tác phẩm thơ cũng trở thành trác tuyệt Vậy cái gì đã làm nên giá trị và sức sống của một thi phẩm? Đó chính là sự hài hoà thẩm mỹ giữa trí tuệ và cảm xúc; giữa cái ảo và cái chân; giữa hình thức và nội dung Trong đó, tính triết lý là một phương diện cần có

để làm giàu nhận thức, liên tưởng và suy tưởng của con người” Thật vậy,

triết lí là sự ý thức về đời sống trên những phương diện mang tính khái quát,phổ quát Nếu như chất trí tuệ khiến nhà thơ có xu hướng nhìn nhận hiện thựctrong sự phân chia, tách bạch khá rạch ròi thì tính triết lí lại đưa đến chongười nghệ sĩ cách nhìn nhận về cuộc đời trong sự tổng hợp, khái quát, nhằmtìm ra quy luật có tính phổ biến của nó Thực ra giữa trí tuệ và triết lí khôngtồn tại tách rời, ngược lại, chúng kết hợp chặt chẽ trong nhau, bổ sung chonhau, đem lại một nhãn quan nhận thức mang đậm tính duy lí tỉnh táo Vớimột hồn thơ ưa ngẫm nghĩ như Ý Nhi, thì chất chất trí tuệ và triết lí dườngnhư là một cảm hứng sáng tạo có tính phổ quát, chi phối hầu hết các sáng táccủa chị

Trên bước đường khát khao sáng tạo của mình, có những lúc Ý Nhithường ưu tư và hoài nghi về sự hiện hữu của mọi thứ trong cuộc sống Chị

đã bất lực nhìn lại gương mặt sầu muộn của mình và không khỏi nghi vấn vềnhững kinh nghiệm sống Và khi đó, nhu cầu được “nghĩ” và được “hiểu” vềcuộc đời, về người khác khiến nhà thơ không ngần ngại nhập vai vào đốitượng, để phân tích cho ra cái bản chất thực sự của vấn đề, để “truy vấn” tậncùng đời sống nội tâm của họ Thơ Ý Nhi, do vậy nhiều khi là tiếng nói độcthoại nội tâm của chính nhân vật:

Trang 26

Họ đã nói bao điều họ không hề nghĩ

ta đã nghĩ bao điều mà không nói

Họ cứ ra đi, ra đi, ra đi

và ta không níu giữ nghĩ cho cùng nào ta có gì để đem cho họ nghĩ cho cùng

trên đường kia, họ bước dễ dàng hơn.

(Dương Bích Liên, mùa đông 1988)

Có thể hình dung bài thơ như là lời tự sự của chính người họa sĩ kì tàinày với bao thâm trầm và chua xót, ngậm ngùi qua ngôn ngữ thơ Ý Nhi

Không tếu táo, hài hước, hay bông đùa như một số nhà thơ thuộc thế hệtrẻ hơn, thơ Ý Nhi thường nghiêng về những nỗi ưu tư nghiêm trang trĩu nặngnỗi niềm Chị ít khi bày tỏ cảm xúc ồn ào, trực diện mà thường nghiêng vềnhững nỗ lực nhận thức, tra vấn không ngừng Ngay cả khi muốn bộc lộ cảmxúc, thì những cảm xúc đó luôn chứa đầy chất duy lí sâu sắc:

Nhiều khi ta làm hỏng đời mình như đứa trẻ vụng về

nhiều khi ta đơn độc nhiều khi số phận buộc ta phải nhìn thấy bộ mặt thật của

ai đó buộc ta do dự khi đặt chân lên con đường

dường như ta ít ngạc nhiên hơn nghĩ cho cùng

nào ta có gì để đem cho họ khó đau đớn hơn

Trang 27

nhưng cũng chẳng khôn ngoan hơn mấy nỗi.

(Gửi bạn)

Dường như, tâm trạng của nhà thơ vẫn là tâm trạng của một người

“đang đứng kề bên cái vạch nhỏ xíu” Và cái còn lẩn khuất trong tâm trạng chị vẫn là nỗi âu lo: “không thể nắm giữ/ không thể lìa bỏ” Điều đó giải

thích vì sao Ý Nhi đặc biệt nhạy cảm trước những lằn ranh giới mong manh

giữa: sống/ chết, mất/ còn, hạnh phúc/ bất hạnh, vinh quang/ nhục nhã Đây

chính là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về cuộc đời trong tính hai mặt cộngvới những rung động trầm tĩnh, nhạy bén và linh cảm độc đáo dựa trên sựtrừu tượng bất giác có thấm đượm cảm giác trực quan của nhà thơ:

Một người làm thơ trẻ

da tái xanh vì thiếu ăn đang viết những câu thơ đầy dự cảm thi đàn hôm nay

chật ních những kẻ bất tài, những kẻ lỗi thời

họ giống như những người đàn bà không biết mình đã qua thì xuân sắc

cứ tô vẽ, nói cười, dở mọi trò ngạo ngược.

(Hà Nội, tháng 5.1987)

Đọc thơ chị, dường như chỉ nhìn thấy bức tranh đời sống với những chitiết ngắn gọn và khách quan, nhưng ít ai biết được, thực ra, đằng sau đó làmột thái độ đánh giá nghiêm khắc và có tính phê phán của một cái tôi giàuchất duy lí Giờ đây, giữa bộn bề cuộc sống thời hậu chiến, con người ít quantâm đến cái chung mà nghĩ về bản thân nhiều hơn, toan tính cũng nhiều hơn.Tuy nhiên, Ý Nhi luôn có một góc nhìn riêng về cái sôi động và ồn ào củacuộc sống mới để từ đó soi mình vào cuộc đời

Trang 28

Có thể nói, thơ chị là một dòng chảy không ngừng nghỉ của chất trí tuệ

và tính triết lí được bắt đầu từ những góc nhìn của một người phụ nữ mangđầy tâm trạng, những suy nghĩ nghịch lí khó cắt nghĩa, khó gọi tên

1.3 Nỗi khát khao được thể hiện bản thân

Ý Nhi là nhà thơ của hạnh phúc đời thường Thơ chị là tiếng lòng củamột tâm hồn luôn luôn khao khát thể hiện bản thân, gắn bó hết mình với cuộcsống hàng ngày, trân trọng, nâng niu và chăm chút cho hạnh phúc bình dị,giản đơn nhất

1.3.1 Xúc cảm nồng nhiệt, sự đam mê cùng niềm kiêu hãnh

Thơ Ý Nhi giàu tâm trạng Nếu thơ ca là sự tự thể hiện ở mức cao nhấtcái tôi trữ tình của nhà thơ, thì ở Ý Nhi đặc điểm bản chất này của thơ càngđược bộc lộ nổi bật Nhiều bài thơ hay của chị là sự bộc lộ của một tâm trạng.Bắt đầu từ một xao động hoặc nhẹ nhàng, kín đáo, hoặc da diết, sôi nổi, từ đócảm xúc thơ trào lên, tứ thơ được hình thành, ngôn từ và âm điệu kịp thời nẩy

nở Người đọc tìm thấy nhà thơ trong các bài thơ với những tâm trạng thật củachị trong mỗi bước vui buồn của cuộc sống

Được thương yêu, được là chính mình, sống đúng bản chất của mình

luôn là khao khát cháy bỏng trong tâm hồn chị Với bài thơ Tim con gái, Ý

Nhi tìm về tuổi thiếu nữ ban sơ như là một sự ngậm ngùi cho số phận ngườithiếu nữ si tình, ngậm ngùi cho mối tình đơn phương Nhưng cùng với sựngậm ngùi là sức mạnh tiềm ẩn của tình yêu Tình yêu có thể làm cho người

ta rụt rè, nhút nhát, nhưng tình yêu cũng có thể giúp người ta đứng dậy đểkhẳng định mình Bài thơ giống như nhịp tim thổn thức: có lúc êm dịu, có lúcnức nở, có lúc dồn nén, có lúc lắng sâu:

Tim con gái, trái tim ngần ngại chẳng đủ tin để gánh phong trần thương yêu chút đã dừng chân lại

Trang 29

kẻo xa xôi lại bảo "không gần"

Khi đã yêu, trái tim chịu tội biết rằng sầu sẽ úa bờ môi ngày lại tháng tim yêu hằng đợi một bóng hình vẫn mãi xa xôi

(Tim con gái)

Dường như lí lẽ trái tim, lời của trái tim bao giờ cũng tha thiết và sâu

xa, ý vị, và càng nồng nàn hơn khi nó được rung lên từ trái tim người con gái

Tự bản thân ngôn từ cứ ngân lên những cung bậc, nỗi niềm xúc cảm Khi tráitim biết thổn thức trước một ai đó, nó cũng nhận ra rằng tình cảm nơi mìnhchỉ là đơn phương một phía, xót xa, nghèn nghẹn thật khó tả Chẳng có gì khổ

sở bằng tình đơn phương: thương một mình, nhớ một mình, và hy vọng mộtmình Vẫn biết, yêu có thể làm con tim héo úa nhưng loài người vẫn khôngthể ngừng yêu Một trái tim tuy bé nhỏ, thơ ngây, sâu kín trong lồng ngực khiyêu lại đủ sức gói gọn nỗi nhớ nhung của những ngày tháng chờ đợi và dồnnén dung lượng tình yêu của cả một đời người Bằng tất cả sự nhạy cảmcủa lứa tuổi đôi mươi, bằng một trái tim biết khóc, biết cười, biết yêu và biết

xả thân vì tình yêu, Ý Nhi đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu thương và khẳngđịnh cho cái tôi nồng nàn nhất

Người con gái đang yêu trong thơ Ý Nhi rất trân trọng và khao kháttình yêu Cũng chính vì lẽ đó mà thơ chị đầy ắp những cảm xúc đan xen nhau.Trong cuộc đời đầy những biến động này, tình yêu quả thật là một điều gì đómong manh, khó nắm bắt, bao giờ nó cũng kèm theo nỗi khắc khoải khôngyên Nhưng không phải vì thế mà trái tim của người con gái đang yêu trở nênchai sạn Nó suốt đời âm ỉ một ngọn lửa nồng nhiệt, đam mê và cả niềm kiêuhãnh:

Trang 30

Đã nhiều lần thường là vào các buổi sáng

Có thể nói, Ý Nhi không có những bài thơ tình ấn tượng như XuânQuỳnh nhưng đọc lên ta có thể thấy được sự nồng nhiệt trong đó Từ góckhuất riêng tư ấy, chị mở ra với thế sự, với việc đời Và nhân vật trữ tìnhtrong thơ Ý Nhi vẫn giữ được tình yêu là trên hết: tình yêu con người, tìnhyêu cuộc sống thăng hoa, tái sinh trong con mắt tác giả:

Dẫu trễ muộn cuối cùng ta đã đến

ôi hoa quỳ hoa quỳ thân yêu Xin nhận về hồn ngân nga reo

Trang 31

hồn phơi lá mở xanh ngây chiều hồn tuôn thác trắng lưng chừng núi

ơi hoa quỳ hoa quỳ thân yêu ơi

(Cùng hoa quỳ)

Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng ra mà đón nhận tất

cả, cảm nhận tất cả Sự sống ngồn ngộn đang phơi bày, thiên nhiên hữu tìnhxinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì Lời thơ cuộntrào sắc màu, cuộn trào sức sống Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho nhữngcảm xúc thăng hoa của Ý Nhi, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái giao hòa mãnhliệt, đắm say trước cái phới phới trong cảnh vật, trong đất trời Qua cái nhìnmới mẻ và cách diễn đạt đa chiều giàu cảm xúc Niềm khao khát yêu thương

và mong muốn bộc lộ thật nhiều những cảm xúc xuyên suốt bài thơ, nó cònđấy, phập phồng, tha thiết trong từng câu, từng chữ

Có lẽ, một trong những hi vọng và giấc mơ về hạnh phúc của Ý Nhi là

sự bình yên trong tâm hồn Trong thơ của mình, không dưới một lần nhà thơ

đã thử đi tìm cái sự yên bình đó cho riêng mình nhưng càng tìm chị càng bị

xoáy sâu vào khoảng trống vô định và mênh mang… Chỉ khi gặp anh, được yêu anh, được giấu mình trong tình yêu của anh, người con gái mới biết

sự yên bình của mình thật gần gũi và ấm áp: sự yên bình của yêu thương vàchia sẻ, sự yên bình khi biết mình đang được chở che và hạnh phúc và là mộtkhoảng lặng mà mình đã đợi chờ, hi vọng biết bao:

Giữa tuần trăng giữa giấc chiêm bao mắt hạnh phúc giữa chừng ngấn lệ

Trang 32

Anh cầm tay em anh nhé

xin cho phố dài heo may ( Trung thu)

Người nghệ sĩ đa cảm bước ngược giấc mơ để tìm về những cảm xúc

cũ của ngày mùa thu với những cơn gió heo may nhè nhẹ thổi theo những

hoài bão vào giấc mơ Và trong chiêm bao của mình, em thấu hiểu và muốn thấu hiểu thêm những khoảng lặng tâm hồn vốn đã được anh cất giữ sâu thật

1.3.2 Nỗi ưu tư nghiêm trang trĩu nặng nỗi niềm

Tâm hồn là nơi chất chứa khôn cùng của nỗi niềm, có thể là quá khứ, làhiện tại và đôi lúc là những nghĩ suy của tương lai, có những suy tư hiện mặthình hài, có những niềm riêng ẩn tàng nỗi nhớ Để một lúc nào đó muốn tràolên căng vỡ, nhưng rồi có lúc chìm lắng xuống như một ký ức gói cất vào xaxưa

“Với Ý Nhi, những xúc cảm nồng nhiệt dường như luôn đi cùng ý thức tiết chế, ngọn lửa đam mê luôn song hành cùng niềm kiêu hãnh, sự truy vấn tỉnh táo, rạch ròi được nhìn nhận trong sự thấu đáo và cận nhân tình Điều này cho phép tác giả dễ dàng khách quan hóa thế giới nội tâm, giúp chị nhìn thấu sự "giản đơn và rối ren, lớn lao và cạn hẹp" trong chính mình” (Lê Hồ

Quang) Và khả năng tồn giữ những mảnh đời sống, những hình ảnh của thế

Trang 33

giới ở đâu đó, ở tận trong sâu thẳm của tâm hồn mà có thể nhiều lúc nhà thơkhông hề nghĩ đến và tưởng như đã quên đi, bỗng hiện ra đánh thức nhữngtâm sự sâu kín, riêng tư trĩu nặng nỗi niềm:

Rồi em nhớ miên man tới bến sông chiều tới cơn mưa trên mái đầu trần

tới chiếc võng đơn sơ ngoài hiên vắng lời bản tình ca cầu ước sum vầy.

Rồi em muốn được ra đi như thế

ra đi mà tràn đầy biết ơn

ra đi

mà từ đôi mi đã khép còn lăn chảy giọt nước mắt hân hoan

(Vườn I)

Đâu phải tất cả đều trở thành ngôn ngữ nên nỗi niềm riêng tư như mộttiếng nấc không lời Dẫu cho nỗi niềm ấy có hiện hữu như những gì có thểnắm giữ được Ai biết? Hoạ chăng là chính mình! Nhưng cũng chỉ là chiếcbóng, nhìn thôi để tiếng nấc ngẹn ngào tuột hút vào muôn nẻo xa xăm Để lúcnào đó ký ức hiện lên ngơ ngác, xốn xang Lúc ồn ào như đợt sóng lòng gàogọi, lúc lặng im như sỏi đá không lời Sự thể nghiệm chỉ là vô nghĩa khi tâmhồn nặng trĩu ưu tư:

Để chiếc nhẫn ai đánh rơi được nhặt lại

và dịu dàng chói chang

Để con tàu trẻ thơ chạy qua các luống hoa thành chuyến tàu tốc hành đưa người đến miền cây lá

khác

Trang 34

Để cỏ

có thể xanh tựa hồ nước mắt

để dấu chân người

Một con chim họa mi vừa chết mất đi tiếng hót của nó buồn tủi một ít niềm vui, một ít nỗi buồn

Tôi đem xác chim chôn dưới gốc tường vi đang độ hoa cùng với những đóa hoa rực rỡ

cùng một ít sướng vui một ít muộn phiền

(Chuyện ở vườn)

Phải nói cái vươn tới chiều sâu của thơ Ý Nhi hình thành rõ ý thức mà

Trang 35

nhà thơ luôn quan tâm qua ngẫm suy và phát hiện, khi đi giữa những nămtháng cuộc đời Chị thường lắng dừng trước những góc nhìn, những mối liên

hệ hàm chứa sức vang động của vạn vật Trước cuộc sống đang diễn ra quanhmình, Ý Nhi luôn để tâm quan sát và dường như trước những sự vật, hiệntượng chạm đến kỷ niệm, chạm đến miền xúc cảm là hồn thơ trong chị lại

ngân rung Đó là: “đốm nắng vàng sau những tán cây kia/ yên ả cháy, yên ả làm ngọn lửa” hay “một chút gì như đốm nắng trên tường vôi cũ/ một chút

gì như tiếng chim khuyên/ nơi vườn hoang”… bỗng lay động tới những kỷ

niệm da diết của một thời xa vắng Có khi trước ánh ngày đang dần tắt, tác giảlại liên hệ đến những trải nghiệm của đời người và của chính mình:

Ngỡ vui buồn của bao ngày tháng qua kết đọng lại trong buổi chiều thầm lặng cao chót vót trên tầng cây đốm nắng

đủ cho lòng se lại trước mùa đông

(Chiều)

Ý Nhi cứ từ từ đi giữa cuộc đời với nỗi ưu tư mang nặng nỗi niềm nhưvậy Nó giàu triết lí tình đời, giàu thao thức cảm thương thể hiện một cá tính

Nó để lại nơi con tim người đọc cái kết đọng của sự băn khoăn

Cái đáng quý nhất trong thơ là sự chân thật Thơ của chị nhiều khi nhưmột lời trò chuyện tâm tình, khẽ khàng khiến người nghe phải gần lại mớithấy hết được những gì nhà thơ muốn nói ẩn vào trong mỗi dòng thơ Chịluôn luôn nói thật, nói hết, nói đến tận cùng những tình cảm của mình Đôikhi những cảm xúc đó được bật trào thể hiện quá thật và khá rõ:

Cái đốm lửa hy vọng chập chờn nơi khúc ngoặt những ý nghĩ về rủi, may, còn, mất

những tính toán chi li và sự nhầm lẫn khôn cùng những phép tắc ngặt nghèo và cái trớ trêu ngoại lệ

Trang 36

những giá trị không cân bằng luôn đổi chỗ cái đã vỡ tan, cái mới dựng lên

tất cả mọi điều đều xa khuất

Tôi là đứa trẻ muốn kêu to lên để nghe thấy lời mình trong biển.

(Biển chiều)

Dường như, ở bài thơ này, những khoảng sáng tối, đậm nhạt của haimặt đối lập trong đời sống nội tâm của nhân vật trữ tình được giãi bày rõ rànghơn, logic hơn trong sự khẳng định bản thể mạnh mẽ Trực giác của tác giảthơ dường như nhạy bén hơn, đi xa hơn, chạm đến được khoảng mở của sựgiải tỏa cảm xúc Đôi lúc người đọc còn thấy trúc trắc bởi cái vẻ gì đó liêutrai, mất mát thật gần mà cũng thật xa Trong sự mơ hồ của cảm nhận, mọithứ vẫn ẩn hiện xung quanh, có những điều tưởng như đã mất đi để rồi hiệnhữu không ngờ, có nỗi niềm thành tên, có niềm riêng im bặt lặng lẽ như thángngày trốn sâu trong góc khuất riêng ta, để bất chợt một ngày nào đó hiện lên

ồn ào như đợt sóng lòng gào gọi Những câu chữ không hề dửng dưng màhàm chứa bao suy tư, bao nỗi niềm gợi mở trong lòng người đọc Bất kì aicũng từng qua những phút giây như thế, nhưng không phải ai cũng có sự lắngnhìn để ngẫm nghĩ, để thấm thía hơn về cuộc đời, để rồi có lúc bật lên lời tựthú với chính bản thân

Khác với nhiều tác giả, Ý Nhi rất ít khi cao giọng, bởi những bài họcchị có được là dựa trên những trải nghiệm cá nhân sâu sắc và riêng tư không

ít những xót xa, đắng chát Kinh nghiệm sống cho chị nhận ra những quy luậtcủa cuộc đời với những diện mạo đa chiều, phức tạp của Những suy tư về nócũng đem lại cho nhà thơ một cái nhìn nghiêm trang đầy lắng đọng Sự bấttrắc của cuộc đời trở thành nỗi niềm thường xuyên xuất hiện như nỗi ám ảnh

Trang 37

thường trực trong chị Nó khiến người đàn bà này trăn trở, dằn vặt khao khát,

lo âu, trông đợi về một điều gì đó thật khó nắm bắt, khó gọi tên

Tiểu kết: “Với một nghệ sĩ, một nhà thơ, hành trình sáng tạo đồng thời

cũng chính là hành trình tìm kiếm cái diện mạo chân thật của bản ngã” [40].

Có thể nói, hành trình vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi là conđường đi tìm và thể hiện tiếng nói nội tâm đầy xúc cảm, sâu sắc, thấm đẫmchất nhân văn của nhà thơ Nó chi phối mọi cách cảm, cách nghĩ của chị vềcuộc đời, về nghệ thuật Thông qua cái tôi trữ tình ấy, độc giả nhận thấy đây

là người nghệ sĩ có những quan niệm nghệ thuật chân chính và sự lao độngnghệ thuật nghiêm túc

Trang 38

Ch¬ng 2 C¸i t«i tr÷ t×nh trong th¬ ý Nhi nh×n tõ ph¬ng diÖn néi dung

Thơ là tiếng nói của cảm xúc Nhưng cảm xúc không thể diễn tả bằngmột thứ ngôn ngữ nào khác ngoài ngôn ngữ nghệ thuật - ngôn ngữ thơ Chẳngvậy mà Sóng Hồng đã từng nói: “Thơ là thơ nhưng đồng thời là họa, là nhạc,

là chạm khắc theo một cách riêng”, còn nhà thơ lãng mạn Pháp Đuybêlây(thế kỉ XIII) quan niệm: “Thơ là người thư kí trung thành của trái tim đacảm” Suy cho cùng thơ trữ tình theo một quan niệm chung nhất là sự thể hiệntrực tiếp những cảm xúc, suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trướccác hiện thực đời sống Đồng thời thông qua việc tổ chức các phương tiện thơtạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo mang đậm màu sắc cá nhân,mang những giá trị chân - thiện – mĩ, thể hiện khát vọng sống và những giá trịcủa cuộc đời

Trong một buổi nói chuyện với phóng viên của tạp chí Văn học nghệ

thuật, nhà thơ Ý nhi đã tâm sự: “tâm niệm sâu sắc nhất của tôi chính là: Mình thật sự chỉ nên viết khi nào mình cảm thấy có nhu cầu (từ nội tâm) mà thôi… Không có bất cứ một áp lực nào đối với tôi cả” Thật vậy, không làm thơ theo

các đơn đặt – xu hướng sáng tác của một số nhà thơ trong giai đoạn này, Ý

Nhi làm thơ vừa để “phục vụ thơ” vừa đểtrút lòng mình trên trang giấy

Là con gái của nhà nghiên cứu tuồng Hoàng Châu Ký và là vợ của giáo

sư Nguyễn Lộc – nguyên trưởng khoa Ngữ văn – Đại học Quốc gia TP HồChí Minh, Ý Nhi vừa có một vốn văn hóa dồi dào vừa có một cuộc đời nhànnhã, êm ả, thanh bình Bản thân chị lại là một người thẳng thắn, thích ở ẩn, ítgiao du tiếp xúc với mọi người, không dễ dàng cởi mở với người khác Tất cảnhững điều trên đã giải thích cho phong cách thơ của chị sau này Không đao

to búa lớn, không triết lý cao siêu, hay làm bộ cách tân dữ dội, thơ chị đằmthắm, điềm đạm như tính cách chủ nhân của nó Chính vì thế mà cái tôi trữ

Trang 39

tỡnh trong thơ í Nhi luụn thống nhất suốt chặng đường sỏng tỏc Nú luụn làcỏi tụi lặng lẽ, chậm rói và hết sức yờn bỡnh.

2.1 Cái tôi tha thiết yêu thơng đắm đuối.

Phải khẳng định một điều: í Nhi là một người nghệ sĩ cú tỡnh yờu thiếttha yờu thương đắm đuối Khụng tin ư? Hóy đọc những vần thơ, bài thơ củachị thỡ sẽ rừ Trong thơ í Nhi, người đọc dễ dàng nhận ra những tỡnh cảmnồng nàn của tỏc giả dành cho quờ hương, cho đất nước, người thõn, cho bạn

bố, cho đồng nghiệp cho cả những vật tưởng chừng vụ tri vụ giỏc nhất Tất cảđều gợi trong chị lũng trắc ẩn vừa thầm kớn lại vừa tinh tế, sõu sắc

2.1.1 Cảm xúc về quê hơng đất nớc

Quờ hương trong thi ca, õm nhạc, hội họa là một chủ đề lớn luụn khơidậy những nguồn cảm hứng sỏng tạo của người nghệ sĩ Bởi lẽ tỡnh yờu quờhương là tỡnh yờu gia đỡnh, yờu ngụi làng, yờu gúc phố, là khắc sõu những cõu

ca, lời ru của mẹ, là chan chứa, thấm thớa trong lũng sự cơ cực của cha Vớinhà thơ í Nhi cũng vậy, tỡnh yờu quờ hương, đất nước đó trở thành cảm hứngnổi bật bao trựm lờn rất nhiều cỏc sỏng tỏc của chị Hàng loạt cỏc địa danh củađất nước được chị núi đến trong thơ sao mà nghe thiết tha, gắn bú!

í Nhi sinh ra ở mảnh đất Quảng Nam – “mảnh đất chưa mưa đó thấm/ rượu hồng đào chưa thắm đó say”, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, chị cựng

gia đỡnh đó phải sơ tỏn đến nhiều nơi, đó đi qua nhiều vựng đất: Hải Phũng,

Hà Nội, Đà Lạt, Quảng Bỡnh, Tuy Hũa, Phỳ Yờn, Thỏi Nguyờn… Những kỉniệm về tuổi thơ, những mộng mơ của thời trẻ trờn những mảnh đất ấy đó trởthành những kớ ức khụng thể phai mờ trong cuộc đời chị

Từ “hàng thụng, đồng ruộng” của mảnh đất miền Trung nơi tỏc giả

yờu mến:

Chỉ mỡnh tụi nhận biết Quảng Bỡnh

và chợt hiểu, đõy miền ta yờu mến

Trang 40

sau xa cách im lặng, không hò hẹn bỗng sững sờ, chính đất của mình đây.

(Quảng Bình)

Đến những băn khoăn, trăn trở, những tiếc nuối khôn nguôi khi bỏ lỡhơn một lần cơ hội trở lại với mảnh đất cố đô:

Một lần nữa Sông Hương ngày mờ sương cầu Tràng Tiền lẻ nhịp chỉ hiện ra sau ô cửa con tàu ( Qua Huế)

Khó mà nghĩ rằng, có một ai đó đã từng sống ở Hà Nội mà không trảilòng với nó Ý Nhi cũng vậy, gần ba mươi năm gắn bó với thủ đô, bởi thế mà

chị yêu Hà Nội, yêu đến lạ Chị nói: “Hà Nội vốn có một vẻ đẹp, một sức quyến rũ đặc biệt đối với người làm thơ, ngay cả khi ngang qua hoặc chưa tới” Tất cả cảnh vật, con người nơi đây đều tạo cho chị nhiều cảm xúc Từ một Hà Nội với những hình ảnh đẹp, man mác hoài cảm:

Trên mặt hồ xanh trên vòm cây cuộn sóng trên sương lam

trên ngói nâu lặng ngủ…

(Hà Nội một ngày nào)

Đến một Hà Nội - bức tranh với những đường nét “góc cạnh”, những mảng màu sáng - tối đậm chất hiện thực của cuộc sống:

Giá gạo cao chóng mặt người ta đánh số đề và chơi xổ số đường phố la liệt hàng ăn

la liệt hàng mĩ phẩm

Ngày đăng: 19/03/2014, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Boris Pasternak trên bìa tạp chí "Time", 15/12/1958 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time
2. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
3. Nguyễn Bảo Chân (2005), “Thơ Ý Nhi: Nơi nỗi buồn nương náu”, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, (9), (Ngày 8 -3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Ý Nhi: Nơi nỗi buồn nương náu”, "Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Bảo Chân
Năm: 2005
4. Ngô Thị Kim Cúc (2002), “Nhà thơ Ý Nhi: Sự run rẩy của số phận”, Thanh niên, (54), (Ngày 23 -2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Ý Nhi: Sự run rẩy của số phận”", Thanh niên
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Năm: 2002
5. Phan Cự Đệ (1987), “Mấy ý kiến về đổi mới tư duy trong lý luận, phê bình văn học”, Văn nghệ quân đội, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về đổi mới tư duy trong lý luận, phê bình văn học”", Văn nghệ quân đội
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1987
6. Nguyễn Đăng Điệp (2006), “Thơ Việt nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh”, Nghiên cứu văn học, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh”", Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w