Áp dụng quan điểm này trong đánh giá cảnh quan nhằm sử dụng hợp lýtài nguyên, bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình, đề tàikhông chỉ nghiên cứu các đối tượng địa lí về mặt h
Trang 1MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Vấn đề quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chobất kì lãnh thổ nào luôn là một nhiệm vụ quan trọng và có liên quan đến nhiềungành khoa học, trong đó khoa học địa lí giữ vai trò trọng tâm Kết quả đánhgiá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội là những tư liệu khoahọc quan trọng cho việc đề xuất các định hướng trong quy hoạch lãnh thổ
Trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, các dạng tàinguyên thiên nhiên ngày càng được khai thác một cách triệt để phục vụ nhữngmục đích khác nhau Sự khai thác này nhiều khi quá mạnh, vượt quá khả năng
tự điều chỉnh và phục hồi của các dạng tài nguyên, dẫn đến hậu quả to lớn là
sự suy thoái thiên nhiên và điều kiện môi trường sống của con người Chính
vì vậy vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý các điều kiện tự nhiên, tài nguyênthiên nhiên và bảo vệ môi trường là một vấn đề cấp bách và cần thiết
Quảng Ninh là một huyện tương đối lớn của tỉnh Quảng Bình với tổngdiện tích tự nhiên là 1.191,692km2 Từ sau đổi mới với nỗ lực của các cấp,các ngành và nhân dân địa phương, huyện Quảng Ninh đã có được hệ thống
cơ sở vật chất hạ tầng cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội Cáclĩnh vực kinh tế xã hội có bước phát triển đáng kể Cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Sự phát triển kinh tế đã góp phần nâng cao mức sống của người dân,Nhưng bên cạnh những mặt tích cực thì hoạt động kinh tế cũng đã gây rahàng loạt các vấn đề môi trường bức xúc Hơn thế nữa Quảng Ninh còn làmột huyện ven biển miền Trung thuộc dải đất hẹp của đất nước vẫn còn rấtnhiều khó khăn cả về tự nhiên cũng như về kinh tế Vấn đề đặt ra cần giảiquyết là phải vừa đảm bảo phát triển kinh tế xã hội vừa khai thác hợp lý tài
Trang 2nguyên và bảo vệ môi trường Trên thực tế các giải pháp về sử dụng hợp lý tàinguyên và bảo vệ môi trường ở đây chưa được đưa ra nên dẫn tới tình trạng làmặc dù đã sử dụng các tài nguyên nhưng hiệu quả kinh tế ở các địa bàn cụ thểvẫn chưa cao Vì vậy, để có cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tàinguyên và bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình trong thời
kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá tác giả chọn đề tài: "Đánh giá cảnh quan nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình".
II Mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa của đề tài
1 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu đánh giá các nhân tố thành tạo cảnh quan, thành lập bản
đồ cảnh quan huyện Quảng Ninh tỷ lệ 1/50.000
- Đánh giá tổng hợp cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo
vệ môi trường khu vực nghiên cứu
2 Nhiệm vụ của đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, cần thực hiện được các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích các nhân tố hình thành và tác động tới các đơn vị cảnh quancủa huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình
- Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnhquan huyện Quảng Ninh tỷ lệ 1: 50.000
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu, tiến hành đánh giá cảnh quan bằngphương pháp thang điểm tổng hợp huyện Quảng Ninh cho mục đích sử dụnghợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Đưa ra các kiến nghị sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trườnglãnh thổ huyện Quảng Ninh
Trang 33.1.Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện thêm về phươngpháp đánh giá cảnh quan nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môitrường áp dụng cho một huyện
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học chocông tác xây dựng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ nhằm sử dụnghợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của huyện Quảng Ninh tỉnh QuảngBình
- Cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về cấu trúc, chức năng,quy luật phân hóa của các cảnh quan tự nhiên
- Đề tài còn có ý nghĩa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọingười
III Phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Lãnh thổ nghiên cứu là huyện Quảng Ninh tỉnhQuảng Bình, một đơn vị hành chính cấp huyện, với diện tích tự nhiên là1.191,692 km2
2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan (điều kiện tự nhiên và tàinguyên thiên nhiên, đặc điểm dân cư - kinh tế xã hội) và ảnh hưởng của cácyếu tố đó đến việc thành tạo cảnh quan của huyện
- Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan phù hợp với đặc trưng lãnhthổ thành lập bản đồ cảnh quan
- Phân tích cấu trúc, chức năng của các đơn vị cảnh quan, đánh giácảnh quan cho ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị
Trang 4nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninhtỉnh Quảng Bình.
IV Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
1 Quan điểm nghiên cứu
1.1 Quan điểm phát sinh
Mỗi đơn vị địa lí tổng hợp trên lãnh thổ đều trải qua các tác động củacác nhân tố địa đới và phi địa đới Tác động tổng hợp của các nhân tố này đãtạo nên các địa hệ không giống nhau
Áp dụng quan điểm này trong đánh giá cảnh quan nhằm sử dụng hợp lýtài nguyên, bảo vệ môi trường huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình, đề tàikhông chỉ nghiên cứu các đối tượng địa lí về mặt hình thái mà còn chú trọngđến nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển của chúng, từ đó phân chialãnh thổ thành các đơn vị cảnh quan có sự giống nhau về biểu hiện bên ngoài,tương đồng về đặc điểm phát sinh Quan điểm này được áp dụng cho mọi cấpphân vị cảnh quan
1.2 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Các đơn vị cảnh quan là các địa tổng thể lãnh thổ tự nhiên, được cấuthành từ các hợp phần tự nhiên Các hợp phần này đều tồn tại và phát triểntheo một quy luật riêng của nó Sự tồn tại và phát triển của các hợp phần tựnhiên này chịu sự chi phối của các hợp phần tự nhiên khác và ngược lại
Trên thực tế, ở thời điểm hiện nay hầu hết các đơn vị cảnh quan đã bịbiến đổi, đôi khi là những biến đổi khá lớn dưới tác động của con người Do
đó nếu không hiểu biết được lịch sử phát sinh, tồn tại và phát triển của chúngthì chúng ta không thể lý giải được các hiện tượng trong thiên nhiên, cũngnhư không thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sử dụng, cải tạo vàbảo vệ môi trường
Trang 5Tuy nhiên người nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hiệntại mà phải thấy ở tương lai để có những dự báo cần thiết trong việc phát triểnkinh tế, do vậy cũng cần phải có quan điểm viễn cảnh.
1.3 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lí tự nhiên là việc nghiên cứucác đối tượng trong tổng hòa các mối quan hệ giữa chúng với nhau Các đốitượng địa lí có mối quan hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thống nhất Do vậykhi nghiên cứu không thể tách rời các đối tượng nghiên cứu ra khỏi mối quan
hệ với các đối tượng khác
Quan điểm tổng hợp đã được đề xuất từ rất lâu và trở thành kim chỉnam cho mọi quá trình nghiên cứu địa lý Theo A.E Fedina, quan điểm nàychú ý tới sự phát sinh và sự phân hóa lãnh thổ, kiến trúc hiện đại của môitrường địa lý Vì vậy, nghiên cứu các đơn vị lãnh thổ nhất thiết phải đượcxem xét trên quan điểm tổng hợp
Đối với ngành địa lí khi nghiên cứu và đánh giá tài nguyên ở một lãnhthổ nào đó cần phải dựa trên cơ sở các kết quả phân tích đồng bộ, toàn diện vềcác điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên với quy luật phân hóa củachúng cũng như các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các hợp phần củathể tổng hợp địa lí Đây được xem là tiêu chuẩn hàng đầu để xem xét, đánhgiá giá trị khoa học của công trình nghiên cứu
Vì vây, nghiên cứu đánh giá tổng hợp lãnh thổ được sử dụng như mộtcông cụ đắc lực phục vụ cho việc quy hoạch lãnh thổ và sử dụng hợp lý tàinguyên và bảo vệ môi trường
1.4 Quan điểm lãnh thổ
Bất kỳ một đối tượng địa lí nào đều gắn với một không gian cụ thể.Trong không gian đó các đối tượng địa lí phản ánh những đặc trưng của lãnhthổ, phân biệt lãnh thổ này với lãnh thổ khác Với mỗi một lãnh thổ nhất định
Trang 6các đối tượng địa lí có quy luật hoạt động riêng gắn bó và phụ thuộc chặt chẽvào đặc điểm của lãnh thổ đó Trong mỗi lãnh thổ luôn có sự phân hóa nội tạiđồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với lãnh thổ xung quanh về cả tự nhiên lẫnkinh tế - xã hội
Quan điểm này được vận dụng trong việc xác định không gian phạm vilãnh thổ nghiên cứu của đề tài và vận dụng triệt để trong nghiên cứu sự phânhóa cảnh quan khu vực nghiên cứu Trên cơ sở đó đưa ra ý kiến đánh giá, kiếnnghị sử dụng hợp lý đối với từng loại cảnh quan cho các mục đích cụ thể
1.5 Quan điểm sinh thái môi trường
Trong các công trình nghiên cứu về bất cứ một lãnh thổ nào, đặc biệt làcác công trình nghiên cứu về nông - lâm nghiệp thì vấn đề sử dụng hợp lý tàinguyên và bảo về môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhất
Quan điểm sinh thái môi trường chỉ ra rằng, khi xem xét một cá thểsinh vật nào đó ta phải đặt nó trong mối quan hệ với các nhân tố của môitrường xung quan, giữa các cá thể cùng loài hoặc khác loài Bởi vì môi trườngxung quanh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và tồn tại của sinh vật Ápdụng vào đề tài nghiên cứu, tác giả đã xem xét toàn diện các nhân tố liên quanđến chủ thể đánh giá, từ đó tìm các chỉ tiêu đánh giá cụ thể
Quan điểm sinh thái môi trường còn giúp cho việc quy hoạch hợp lýlãnh thổ nhằm mục đích phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông - lâmnghiệp nói riêng theo hướng bảo vệ môi trường sinh thái là một trong ba nộidung của sự phát triển bền vững
1.6 Quan điểm hệ thống
Theo B Canber (Ixasenko), hệ thống được hiểu là một thể hoàn chỉnhphức tạp có tổ chức, tổng hợp và phối hợp các vật thể, các bộ phận tạo thànhmột thể hoàn chỉnh thống nhất
Trang 7Mỗi hệ thống vừa là một cấp đơn vị nhỏ của một hệ thống lớn hơn nó,nhưng đồng thời lại có khả năng phân chia thành những cấp nhỏ hơn Trongmỗi hệ thống đều tồn tại hai mối quan hệ: mối quan hệ giữa các thành phầntrong một hệ thống (quan hệ nội tại) và mối quan hệ của hệ thống đó với các
hệ thống khác (quan hệ bên ngoài) Các mối quan hệ này luôn gắn bó chặt chẽvới nhau tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh
Với quan điểm hệ thống thì các điều kiện tự nhiên trên một lãnh thổluôn luôn có tác động qua lại và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nênmột hệ thống động lực hở, tự điều chỉnh và có trạng thái cân bằng động Cáctác động bên ngoài luôn làm thay đổi trạng thái cân bằng động đó Nếu tácđộng ở mức độ cho phép thì hệ thống này tự điều chỉnh để giữ cân bằng.Trong trường hợp tác động quá mức thì hệ thống không thể tự điều chỉnhđược, mất cân bằng, suy thoái và cuối cùng bị hủy diệt
Vận dụng quan điểm này trong đề tài nghiên cứu thì huyện Quảng Ninhđược coi là một hệ thống trong đó có sự tương tác giữa các hợp phần tự nhiêncũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội Cho nên mỗithành phần của hệ thống đó phải được nghiên cứu tổng hợp trong mối liên hệbiện chứng với các hiện tượng và thành phần khác trong hệ thống về khônggian lãnh thổ, thời gian và động lực phát sinh Mỗi một đơn vị cảnh quan củahuyện Quảng Ninh là một đơn vị của cấp lớn hơn và nó lại bao gồm các cấpđơn vị thấp hơn Khi nghiên cứu cần xem xét nó trong hệ thống và mối quan
hệ qua lại mật thiết giữa các yếu tố thành tạo cảnh quan của huyện
1.7 Quan điểm phát triển bền vững
Năm 1987, Ủy ban môi trường và phát triển bền vững của Liên HợpQuốc đã đưa ra khái niệm về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sựphát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại của con người nhưng không tổnhại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Trang 8Năm 1992 hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về “Môi trường vàphát triển” tổ chức tại Riode Janeiro(Braxin) với sự tham gia của nhiều nước
đã nhất trí rằng: “ Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêucầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đápứng yêu cầu của chính họ” và phát triển bền vững phải là mục tiêu của toànnhân loại trong thế kỷ XXI
Mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững là thỏa mãn yêu cầu căn bảncủa con người, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái,bảo đảm tương lai ổn định Phát triển bền vững thực hiện và đảm bảo sự liênđới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia, giữa hiện tại và tương lai Phát triểnbền vững có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ Muốn phát triển bền vữngphải lồng ghép được 3 thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: pháttriển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đây là nguyên lý chung
để hướng sự phát triển bền vững của các lĩnh vực trong nền kinh tế
* Các tiêu chí cơ bản của phát triển bền vững
Sự phát triển bền vững của một lãnh thổ phải được đảm bảo một cáchthống nhất và đồng thời trên 3 lĩnh vực:
- Bền vững về kinh tế: thể hiện một cách khái quát ở sự ổn định và khôngngừng gia tăng sức sản xuất của lãnh thổ, tổng sản phẩm phải ngày một tănglên
- Bền vững về mặt xã hội: thể hiện bằng sự phân chia thu thập và phúclợi xã hội Xã hội bền vững phải là một xã hội trong đó phát triển kinh tế phải
đi đôi với công bằng xã hội
- Bền vững về môi trường thể hiện: sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên và điều kiện môi trường, xã hội Trong đó đề cao vấn đề bảo vệ môitrường như một điều kiện sống còn cho sự phát triển của xã hội loài người
Trang 9Quan điểm này chi phối định hướng đánh giá và kiến nghị sử dụng cácloại cảnh quan trong khu vực nghiên cứu của đề tài Phát triển bền vững đượccoi là tiêu chí ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đánh giá cảnh quan cho cácmục đích cụ thể.
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1.Phương pháp thu thập, xử lí số liệu thống kê
Đề tài thu thập tài liệu, số liệu, các báo cáo, các thông tin, website liênquan Đó là các tài liệu về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lí, địa chất, địa hình,thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật, các tai biến thiên nhiên; các số liệukinh tế xã hội: dân số, diện tích, lao động, hiện trạng sử dụng đất, và cácthông tin về biến động dân số, kinh tế - xã hội
Các số liệu, tài liệu thống kê, phân tích, chọn lọc phù hợp với yêu cầucủa đề tài Trên cơ sở đó, lập đề cương chi tiết cho công tác thực địa để kiểmchứng, bổ sung, cập nhật tài liệu, bảo đảm tính đúng đắn và chính xác hoá củaviệc điều tra, nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên địa lí lãnh thổ, phù hợpvới mục đích nghiên cứu
2.2 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý Gis
Phương pháp bản đồ là phương pháp thể hiện nội dung của các nhân tốtrên bản đồ chuyên đề Công việc chuẩn bị bản đồ cho nghiên cứu cảnh quanbắt đầu từ việc thu thập, phân loại, biên tập, thành lập, đánh giá bản đồchuyên đề về các hợp phần tự nhiên của lớp vỏ cảnh quan trái đất, về đặctrưng hình thái của các địa tổng thể tự nhiên, làm cơ sở cho việc xây dựng hệthống phân loại và thành lập bản đồ chuyên đề
Ngoài ra, phương pháp bản đồ còn là phương pháp hữu hiệu để thể hiện
sự phân bố không gian các phương án quy hoạch và thiết kế lãnh thổ, đồngthời giúp cho các nhà quản lý đưa ra những quyết định về tính chất sử dụng
Trang 10lãnh thổ một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn so với việc đọc các bảngthống kê dài.
Với những tính năng của Gis cho phép khai thác được nhiều thông tinquan trọng Gis là công cụ đắc lực cho việc nghiên cứu định tính và địnhlượng nhiều thông số cần thiết Đây là một phương pháp đòi hỏi người sửdụng phải nắm vững chuyên môn và một số phần mềm trong tin học Trongquá trình ứng dụng phương pháp này chúng ta sẽ thu được một số kết quả khảquan cho phân tích và tổng hợp cảnh quan nhằm mục đích sử dụng hợp lýlãnh thổ
2.3 Phương pháp phân tích cảnh quan
Trong cảnh quan học, phân tích cảnh quan là một vấn đề quan trọng vàcần thiết, bao gồm việc phản ánh thực trạng về cấu trúc cảnh quan, chức năngcủa chúng cũng như các vấn đề liên quan khác Đặc biệt trong giai đoạn hiệnnay vấn đề này được tiếp cận với nhiều cơ sở và phương pháp mới, đáng kểnhất là phương pháp liên ngành và sử dụng cách tiếp cận hệ thống cấu trúc,tiếp cận sinh thái để xác định cấu trúc, chức năng cảnh quan nói chung trongviệc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn
2.4 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Cảnh quan là các đơn vị lãnh thổ địa lí tự nhiên có một hệ thống phứctạp của các hợp phần cấu thành (cấu trúc đứng) và một hệ thống đơn vị sinhthái cấp nhỏ hơn và cấp lớn hơn (cấu trúc ngang) Có thể nói một hệ thốngđược tạo nên bởi nhiều hệ thống nhỏ và các hệ thống nhỏ này được cấu tạobởi các hệ thống nhỏ hơn chúng
Phương pháp tiếp cận hệ thống được áp dụng trong nghiên cứu mốiquan hệ giữa các hợp phần trong cấu trúc đứng cũng như cấu trúc ngang của
Trang 11các loại cảnh quan nhằm xác định tính ổn định và sự biến động của các loạicảnh quan đó.
2.5 Phương pháp đánh giá tổng hợp
Trong nghiên cứu tổng hợp vùng cho mục đích sử dụng hợp lý tự nhiênthì một trong những phương pháp quan trọng thường được áp dụng là phươngpháp đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên
Áp dụng phương pháp này có thể dễ dàng xác định mối quan hệ và tácđộng tương hỗ của các yếu tố và các thành phần tự nhiên cũng như giữa cáctổng thể tự nhiên với nhau, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ trong tổ chứckhông gian cấu trúc, động lực của cảnh quan với đặc trưng phân hoá của cácdạng sử dụng tài nguyên một cách có quy luật và hiệu quả trên lãnh thổ
Với phương pháp này, một mặt sẽ xác định rõ bản chất các đơn vị cảnhquan trong một hệ thống tự nhiên chung và đồng thời đưa ra được những kếtluận chính xác về việc bố trí các ngành sản xuất, kinh tế phù hợp theo từngvùng
2.6 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp thực địa là phương pháp truyền thống, hết sức quan trọngđối với tất cả các ngành nghiên cứu tự nhiên
Trong nghiên cứu khoa học địa lí nói chung quá trình thực hiện phươngpháp khảo sát thực địa được chia làm 3 giai đoạn:
a Giai đoạn chuẩn bị:
- Xác định mục đích để từ đó vạch ra được kế hoạch thực hiện đề tài
- Xác định tỉ lệ bản đồ phạm vi nghiên cứu và các dụng cụ cần thiếtkhác
- Thu thập và nghiên cứu đánh giá các tài liệu, bản đồ liên qua đến đềtài như: bản đồ địa chất, bản đồ địa hình, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thực vật,
Trang 12bản đồ hiện trạng sử dụng đất, số liệu khí tượng thuỷ văn, số liệu thống kêdân số, kinh tế - xã hội
b Giai đoạn thực địa:
- Kiểm tra và khẳng định các kết quả đạt được từ quá trình nghiên cứuhay tính toán trong phòng
- Khảo sát theo các tuyến lộ trình đã vạch sẵn để nắm được cấu trúcngang và đặc trưng định tính của các đơn vị thành tạo cảnh quan
- Tại điểm nghiên cứu, tiến hành trắc đạc các yếu tố địa hình (độ dốc,chiều dài sườn, mương xói ) các dạng vi địa hình và tìm hiểu động lực pháttriển của chúng, nghiên cứu các đặc điểm thổ nhưỡng, thảm thực vật hiện tại,thực hiện các quan trắc vi khí hậu, nhiệt độ đất, dòng chảy mặt, nước ngầm vàlượng đất bị xói mòn Những số liệu đo đạc, quan trắc ở điểm nghiên cứu là
cơ sở để đánh giá đặc trưng định lượng cảnh quan
- Ngoài những tài liệu tự nhiên thu thập trực tiếp từ các tuyến thực địacần thu thập các tài liệu về kinh tế - xã hội, các dự kiến phát triển cải tạo thiênnhiên và những mốc biến động của các yếu tố tự nhiên trong lịch sử cácnguồn tài liệu của địa phương
c Giai đoạn viết báo cáo
Sau quá trình thực địa, việc nghiên cứu trong phòng gồm:
- Tiến hành tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích đánh giá các nhân tố hìnhthành cảnh quan, xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan
- Lựa chọn các đơn vị chỉ tiêu của các đơn vị cảnh quan Thành lậpbảng chú giải chính thức và bản đồ dựa vào các số liệu đã thu thập được
- Viết báo cáo trong đó cần nêu bật được các đặc điểm chung, quy luậtphân bố, quá trình phát sinh, động lực phát triển của các đơn vị cảnh quan
- Kiến nghị, đưa ra các đề xuất sử dụng hợp lý tự nhiên và bảo vệ môi
Trang 13V Kết quả chính của đề tài
- Đưa ra và làm rõ các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Quảng Ninhtỉnh Quảng Bình
- Xây dựng được hệ thống phân loại cảnh quan khu vực nghiên cứu mộtcách hợp lý, đưa ra chỉ tiêu các cấp trong phân loại hệ thống cảnh quan củahuyện và xây dựng bản đồ cảnh quan
- Làm rõ các đặc điểm cảnh quan huyện Quảng Ninh, trên cơ sở đóđánh giá được chức năng cảnh quan và đánh giá cảnh quan cho một số ngànhkinh tế trên quan điểm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Đưa ra một số đề xuất và kiến nghị
VI Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của nghiên cứu cảnh quan
Chương 2: Thành lập bản đồ cảnh quan huyện Quảng Ninh, tỉnh QuảngBình tỉ lệ 1/50.000
Chương 3: Đánh giá cảnh quan nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
Trang 15PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của nghiên cứu cảnh quan 1.1 Cơ sở lí luận đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
1.1.1 Khái niệm cảnh quan
Theo S.V Kalexnik (1959): “Cảnh quan địa lí là một bộ phận nhỏ của
bề mặt trái đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác, được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và bản thân là một sự kết hợp các hiện tượng và đối tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật được hiểu một cách điển hình trên một khoảng không gian rộng lớn và có quan hệ mọi mặt với lớp vỏ địa lí”.
Theo N.A Xolsev (1962): “Cảnh quan địa lí là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một khí hậu đồng nhất và bao gồm một tập hợp dạng địa lí, chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian; tập hợp này chỉ thuộc riêng cho cảnh quan địa lí đó”
Ở Việt Nam, GS Vũ Tự Lập được coi là người đầu tiên xác định hoànchỉnh cấu trúc không gian của cảnh quan địa lí và đưa ra những định hướng
cơ bản nghiên cứu về cảnh quan ở nước ta Theo ông: “Cảnh quan địa lí là một địa tổng thể, được phân hóa ra trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lí và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”.
Trang 16Về bản chất, cảnh quan là một tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa có tínhđồng nhất vừa có tính bất đồng nhất Tính đồng nhất của cảnh quan được hiểu
ở chỗ là một lãnh thổ mà trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chấtcủa mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất.Tính bất đồng nhất được thể hiện ở 2 mặt: Cảnh quan bao gồm nhiều thànhphần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật) tạonên; mỗi thành phần của cảnh quan tồn tại ở nhiều dạng khác nhau (địa hình
âm và địa hình dương, sự khác nhau giữa đỉnh và sườn ngay trên một quảđồi) Cho nên khi nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phải xuất phát từ quanđiểm tổng hợp và quan điểm hệ thống
Trong nghiên cứu cảnh quan để phục vụ cho thực tiễn sản xuất thì cảnhquan vẫn được xem xét ở cả 3 khía cạnh là: như đơn vị địa tổng thể (theo kháiniệm chung), đơn vị phân kiểu (theo khái niệm loại hình), đơn vị cá thể (theokhái niệm cá thể)
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu cảnh quan
Đôcutsaev, nhà bác học Nga vĩ đại được coi là người sáng lập họcthuyết cảnh quan Ông cũng là người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợpnghiên cứu các điều kiện tự nhiên khi cho rằng cần phải “tôn trọng và nghiêncứu toàn bộ thiên nhiên thống nhất toàn vẹn và không chia cắt, chứ khôngtách rời chúng ra từng phần” Mặc dù Đôcutsaev không nêu lên một tên gọicho môn khoa học mới, song các học trò của ông và những người theo ôngcũng hiểu và cho rằng quan điểm của ông đã tạo nên bản chất của địa lí hiệnđại
Đưa khái niệm “cảnh quan” vào trong khoa học là L.S.Becgơ vào năm
1913 khi ông nêu lên rằng, chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu địa lí.Ông xác định cảnh quan thiên nhiên như là một miền, trong đó đặc điểm địa
Trang 17thể toàn vẹn, thống nhất, cân đối và lập lại một cách điển hình trong phạm viđới ấy trên Trái Đất.
Khoa học cảnh quan trên thế giới đã phát triển từ rất sớm và kế thừanhững nền tảng lý luận của hai trường phái cơ bản là Liên Xô và các trườngphái khác như Anh, Đức (Tây Âu)
- Sự phát triển cảnh quan học ở Liên Xô:
+ Giai đoạn đầu (khoảng những năm thứ XX): chưa có những tổng hợp
lý luận lớn, song quan điểm cảnh quan đã bắt đầu thâm nhập sâu vào các thực
tế nghiên cứu lãnh thổ
+ Thời kì sau (năm thứ 30 và bắt đầu năm thứ 40 trước đại chiến áiquốc): Những cuộc nghiên cứu thực địa trong các năm này đã cung cấp nhữnggương thành công mới trong việc sử dụng phương pháp cảnh quan để giảiquyết những nhiệm vụ kinh tế quan trọng
Trong giai đoạn này, L.G.Ramenxki lần đầu tiên giải thích vấn đề nàymột cách cặn kẽ hơn cả Nhà bác học này đã nêu lên rằng, cảnh quan là hệthống lãnh thổ khá phức tạp, bao gồm những thể tổng hợp thiên nhiên cơ bảnkhác nhau, nhưng liên hệ với nhau một cách có quy luật và phát triển như một
thể toàn vẹn Những thể tổng hợp tự nhiên cơ bản đó ông gọi là “bì diện”,
được hình thành ở bên trong cảnh quan, ở những vị trí khác nhau L.G
Ramenxki mang vào khoa học danh từ “cảnh khu” mà ông coi đó là đơn vị
lãnh thổ trung gian, là sự hợp lại các cảnh diện, thích nghi với các dạng địahình độc lập, với các bộ phận riêng biệt của bãi bồi sông rộng…Ở ông có thểtìm thấy những nguyên tắc cơ bản của hình thái học cảnh quan Sau đó S.V.Kalexnik phát triển quan điểm về cảnh quan, như là một lãnh thổ độc đáo vàtoàn vẹn, thống nhất về mặt phát sinh, mặc dầu về mặt hình thái khác nhau
+ Thời kì phát triển sau chiến tranh của cảnh quan học Xô Viết đượcđánh dấu bằng sự mở rộng mạnh mẽ những cuộc trác hội thực địa cũng như
Trang 18về sự tăng cường nghiên cứu lý luận Thời điểm này cũng đã tiến hành vẽ bản
đồ cảnh quan trên thực địa Sự mở rộng những cuộc nghiên cứu cảnh quanthực địa có một ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thiện sâu hơn lý thuyếtcảnh quan
+ Từ năm 1955, sự phát triển cảnh quan đạt được những tiến bộ đặcbiệt đáng chú ý khi hội địa lý Liên Xô triệu tập một hội nghị chuyên đề vềcảnh quan học ở Lêningrat Hội nghị đã thúc đẩy sự phát triển nghiên cứucảnh quan và đặt cơ sở đầu tiên cho sự hoàn thiện có điều hòa phối hợp nhữngvấn đề quan trọng nhất của cảnh quan
+ Hiện nay, trọng tâm của việc nghiên cứu khoa học cảnh quan là tiếnhành các cuộc nghiên cứu thực địa, xây dựng các bản đồ cảnh quan, cũng nhưphân vùng địa lý tự nhiên đất nước, thực hiện nhiệm vụ phục vụ nền kinh tếquốc dân, xuất bản, báo chí khoa học…
- Sự phát triển cảnh quan học ở các nước Tây Âu:
+ Anh: Ngay từ đầu thế kỉ XX, quan niệm về cảnh quan đã được nêulên bởi nhà địa lý A Ghebecxon, ông viết rằng, đã đến thời kỳ không nên nóitới sự phân bố địa lý của các hiện tượng địa lý riêng biệt mà nên nói về phân
bố tổng hợp thể của chúng
+ Đức: Một trong những nhà lý luận cảnh quan đầu tiên là I Patxaghe(1866 - 1958) đã viết hàng loạt những công trình lý luận, cũng như đặc trưngcác đới cảnh quan trên trái đất Patxaghe coi đới như là một đơn vị cảnh quanlớn, ông chia đới ra làm các miền cảnh quan và cuối cùng là cảnh quan
+ Ba Lan: Sự quan tâm tới các vấn đề cảnh quan xuất hiện chủ yếudưới ảnh hưởng các công trình của các nhà địa lí Xô Viết Năm 1959, giáo sưCônđratxơki đã đưa ra phân loại các cảnh quan Ba Lan và lập bản đồ cảnhquan tỷ lệ 1/1.000.000
Trang 19Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới về cảnh quan đặc biệt là củacác nhà địa lý Xô Viết có giá trị cao về mặt lý luận Tuy nhiên trong điều kiệnthiên nhiên nhiệt đới gió mùa của nước ta thì khi vận dụng những lý luận vàkinh nghiệm thực tiễn này cần phải lựa chọn các chỉ tiêu cho phù hợp vớithực tế, với các tập quán khai thác lãnh thổ cổ truyền của các cộng đồng dân
cư ở nước ta
Một trong những công trình tiêu biểu về nghiên cứu cảnh quan ở trong
nước là tác phẩm “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự Lập.
Đây được coi như là giáo trình cơ bản cho sinh viên chuyên ngành cảnh quan.Tác giả đã trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cảnhquan, hệ thống phân vị và phân loại cảnh quan; khái quát đặc điểm của tất cảcác mặt tự nhiên và phân tích mối quan hệ giữa chúng trên lãnh thổ Miền BắcViệt Nam Trong tác phẩm này, tác giả đã nhấn mạnh rằng nghiên cứu cảnhquan không những chỉ là sự kế thừa, phân tích có chọn lọc các kết quả nghiêncứu chuyên ngành, mà còn là độc lập nghiên cứu từ khảo sát thực địa cho đếnphân tích các tài liệu, tư liệu thu thập được
Năm 1997, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng,
Nguyễn Ngọc Khánh, trong cuốn Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ đã miêu tả chi tiết các
quy luật và đặc điểm đặc trưng các tổng hợp thể tự nhiên (các cảnh quan)nhiệt đới, gió mùa Việt Nam, trên cơ sở một hệ thống phân loại được nghiêncứu gần đây, tương đối thống nhất cho toàn lãnh thổ, đồng thời theo các miền,các vùng cảnh quan riêng biệt Đặc biệt là các tác giả đã đề cập khá đầy đủ vềnhững biến đổi của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dưới các tácđộng, các hoạt động sản xuất của con người, đưa ra các giải pháp, các hướngtiếp cận khoa học tin cậy sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Trang 20Cuốn “Đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái” của
Nguyễn Cao Huần cũng là một tài liệu có tính khái quát và lý luận cao Tácgiả đã đề cập đến mô hình đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan, giới thiệucác phương pháp truyền thống và hiện đại từ phương pháp đánh giá định tính,bán định lượng đến định lượng và phương pháp đánh giá tự động
Cùng với các công trình lý luận về nghiên cứu cảnh quan và đánh giácảnh quan là hàng loạt các bản đồ cảnh quan khu vực được thành lập: Bản đồcảnh quan Việt Nam 1:1000.000 (Phạm Hoàng Hải); Bản đồ cảnh quan sinhthái (Nguyễn Văn Vinh chủ biên); Loạt bản đồ cảnh quan khu vực và của cáctỉnh tỉnh cũng được các tác giả này thành lập ở các tỷ lệ khác nhau (Bắc Ninh,Thái Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, Đồng bằng sông Hồng, NamĐịnh Điều đặc biệt ở các công trình của các tác giả này là đã đưa chỉ tiêuthảm thực vật hiện đại (đã bị biến đổi) vào hệ thống phân loại để phù hợp với
xu thế trên Thế Giới hiện nay Đó là các nghiên cứu tự nhiên dưới góc độcảnh quan sinh thái, lấy tiêu điểm là tác động của con người và thảm thực vật
Ở đây có nét khác biệt so với các hệ thống phân loại trước thiên về các yếu tố
tự nhiên, mang tính phát sinh nhiều hơn
1.1.3 Bản chất đánh giá cảnh quan
Cảnh quan là một tổng thể phức tạp với các cấp phân vị khác nhau.Đánh giá cảnh quan thực chất là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên chomục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch…)
Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnhthổ nghiên cứu cho các mục đích thực tiễn cụ thể có ý nghĩa khoa học và thựctiễn lớn Trên thế giới, phải kể đến các công trình nghiên cứu của các nhà địa
lí tổng hợp tham gia vào quy hoạch các vùng lãnh thổ của Liên Xô cũ nhưcộng hòa Ucraina, cộng hòa Liên Bang Nga, các nước cộng hòa Pribantich,
Trang 21Việt Nam cũng đã tiến hành đánh giá tổng hợp cho các vùng Đông Nam Bộ,đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên, Tây Bắc, Hòa Bình, Sơn La, ThanhHóa…
Trong đánh giá tổng hợp cần phải xác định được đối tượng đánh giá,mục đích và nội dung đánh giá, đồng thời lựa chọn phương thức đánh giá chophù hợp Đây là những cơ sở khoa học đầu tiên và quan trọng của công tácđánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nói chung
- Đối tượng của đánh giá tổng hợp không chỉ là các đơn vị tổng hợp tựnhiên, các thành phần, các yếu tố riêng biệt của tự nhiên, xã hội mà là tổnghòa của chúng trong mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa các hệ thống tựnhiên và các hệ thống kinh tế xã hội
- Mục đích đánh giá: Các điều kiện tự nhiên, các dạng tài nguyên thiênnhiên rất phong phú, đa dạng, mức độ sử dụng chúng cho các mục đích cũngrất khác nhau và kết quả đánh giá tổng hợp chúng cũng biểu thị mức độ “thíchhợp” khác nhau cho mục đích sử dụng
Cho nên, tùy theo mục đích đánh giá cụ thể sẽ có được một kiểu đánhgiá biểu thị từng giai đoạn đánh giá theo yêu cầu từ thấp đến cao:
+ Đánh giá chung: là giai đoạn đánh giá sơ bộ, ban đầu trên cơ sở cáckết quả nghiên cứu tự nhiên, tài nguyên theo các vùng lãnh thổ mang tínhđịnh hướng chung của các mục đích thực tiễn khác nhau
+ Đánh giá mức độ “thuận lợi” hay “thích hợp” của các điều kiện tựnhiên, tài nguyên thiên nhiên đối với các ngành sản xuất và đánh giá kinh tế
kỹ thuật lại đề cập sâu hơn đến giá trị và hiệu quả kinh tế của các ngành sảnxuất đó
-> Kiểu đánh giá được phổ cập nhất trong những thập kỷ gần đây là kiểu đánhgiá mức độ thuận lợi của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên theo mức
độ “thuận lợi” hay “thích hợp” của nó cho các dạng khác nhau
Trang 22- Phương pháp đánh giá: Đánh giá tổng hợp là đánh giá cho một đốitượng phức tạp, các đơn vị tổng hợp thiên nhiên lãnh thổ luôn luôn biến đổitheo không gian và thời gian Cho nên hệ thống các phương pháp đánh giátổng hợp cũng hết sức đa dạng bao gồm: phương pháp mô hình chuẩn (môhình hóa tối ưu), phương pháp bản đồ, phân tích, tổng hợp, so sánh định tính
và phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số Các phương pháp này cóthể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau theo từng giai đoạn và với từngmục tiêu cụ thể
Nhìn chung, đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiênnhiên là một công việc hết sức phức tạp Nó xác định được tiềm năng tự nhiêntrong mối liên quan chặt chẽ với các đặc trưng của một thể chế xã hội, trình
độ, mức độ nhận thức khoa học - kỹ thuật của xã hội đó, thông qua việc sửdụng khai thác các dạng tài nguyên, các điều kiện tự nhiên của lãnh thổ Nộidung của đánh giá tổng hợp có thể được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Nội dung đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢPXác định mức độ thích hợp của các thể tổng hợp tự nhiên đối với các mục tiêu
thực tiễn cụ thể
Đề xuất các kiến nghị sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Trang 23nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụthể Đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản(NCCB) và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường(SDHLTN và BVMT):
NCCB ĐGCQ SDHLTN và BVMT
1.1.4 Hệ thống các phương pháp đánh giá
Mỗi thể tổng hợp lãnh thổ là một hệ thống hoàn chỉnh của 2 hệ thống:
tự nhiên và kinh tế xã hội Để phục vụ cho công tác quy hoạch, tổ chức lãnhthổ thì việc đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cóvai trò vô cùng quan trọng Tuy nhiên mỗi lãnh thổ khác nhau lại có nhữngđặc thù riêng nên cũng có nhiều phương pháp đánh giá khác nhau Cụ thể:
- Phương pháp đánh giá tổng hợp: Đây là phương pháp đánh giá xétđến tất cả các yếu tố tự nhiên và mối liên quan mật thiết với nhau cũng như sựphụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố con người, thông qua các hoạt động kinh tế.Phương pháp này phức tạp hơn và việc đánh giá đều dựa trên những tính toánđịnh lượng, được thực hiện thông qua các giai đoạn: xác định hệ thống cácđơn vị đánh giá; lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu cho từng đối tượng đánhgiá; đánh giá mức độ thích nghi sinh thái của từng đơn vị cảnh quan trên lãnhthổ nghiên cứu Đánh giá tổng hợp dựa trên các phép phân tích về thích nghisinh thái, sự bền vững xã hội, bền vững môi trường và hiệu quả kinh tế
- Phương pháp đánh giá thành phần: là phương pháp đánh giá cho cácmục đích sử dụng khác nhau như: đánh giá các điều kiện sinh – khí hậu phục
vụ phát triển du lịch, đánh giá đất cho việc phát triển trồng các loại cây côngnghiệp dài ngày… Ở phương pháp này, các thành phần tự nhiên được táchbiệt ra khỏi mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Do đó, đánh giá này thường được
sử dụng trong các ngành khoa học bộ phận
Trang 24Ngoài 2 phương pháp đánh giá cảnh quan cơ bản trên thì tùy thuộc vàomức độ chính xác còn có thể phân chia các phương pháp đánh giá cảnh quanthành:
- Phương pháp đánh giá định tính: là sự phân chia các cảnh quan thànhcác mức độ “tốt”, “xấu” khác nhau dựa vào cảm nhận chủ quan hoặc nhữngphân tích đánh giá theo một cơ sở khoa học nhất định Các kết quả đánh giáchỉ dựa trên tính chất bên trong của mỗi cảnh quan, bỏ qua dòng vật chất –năng lượng đầu vào và đầu ra, đặc biệt là chưa xét đến yếu tố con người cũngnhư khoa học – kĩ thuật được áp dụng Xây dựng các thang đánh giá phântheo cấp, có thể là 3 cấp (tốt – trung bình – xấu), hoặc 5 cấp (tốt – khá – trungbình – kém – rất kém), cũng có thể chia thành nhiều cấp hơn nữa tùy theotừng lãnh thổ nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá định lượng: Phương pháp này còn gọi là đánhgiá kinh tế, đánh giá dựa trên kết quả phân tích các thông số của dòng chi phí– lợi ích, kết quả đánh giá thường biểu thị bằng các chỉ số định lượng như: giátrị hàng hóa, năng suất, sản lượng…Do là phải phân tích các thông số cho nênphương pháp này gặp một vài khó khăn trong việc thu thập các số liệu Bởi vìkhông phải lúc nào việc thu thập các số liệu cũng được như mong muốn.Không chỉ có vậy, mà thực tế là không phải lúc nào cũng có thể tiến hànhđánh giá kinh tế được, nhất là đối với những lãnh thổ chưa được khai thác.Khi đó phương pháp này mang tính không khả thi, và người ta sẽ chuyển sangdùng phương pháp đánh giá định tính
- Phương pháp đánh giá bán định lượng: Đối với lãnh thổ rộng lớn và
số liệu nghiên cứu chưa đầy đủ thì việc nghiên cứu định lượng sẽ vô cùngphức tạp Để khắc phục điều này người ta đã vận dụng phương pháp bán địnhlượng, kết hợp kết quả đánh giá phân tích định lượng với phân cấp đối tượng
Trang 25Như vậy, dù là sử dụng phương pháp đánh giá cảnh quan nào thì chúng
ta cũng đều thấy rằng đó là việc làm cần thiết cho những mục đích sử dụng cụthể hay tổng hợp
1.1.5 Đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường
Cơ sở khoa học quan trọng của việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường trước hết phải được lựa chọn từ các đặc điểm đặc trưng của tựnhiên, các điều kiện môi trường, sinh thái lãnh thổ Sử dụng các kết quảnghiên cứu cảnh quan và nhất là qua bản đồ cảnh quan ở các tỉ lệ khác nhau
sẽ cho một phương thức tiếp cận tổng hợp nhất, tương đối gần gũi, xác thựcvới hiện trạng tự nhiên mỗi vùng
Qua việc phân tích các quy luật hình thành, đặc điểm phân hoá khônggian và thời gian, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mốiquan hệ và tác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần của tự nhiêncũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau và đặc biệt là việc đánh giátổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽ cho phép xác định mức độ “thích hợp nhất”,
“tương đối thích hợp”, “không thích hợp” của mỗi đơn vị lãnh thổ cho từngngành sản xuất, từng dạng tài nguyên
Quá trình phân tích cảnh quan, miêu tả các đặc điểm của từng đơn vịtrong hệ thống phân loại cảnh quan, đã làm sáng tỏ không chỉ các đặc điểmchung, riêng của các cảnh quan đó, mà còn tiến hành đánh giá một cách địnhtính và làm rõ những đặc điểm chức năng của chúng
Trên cơ sở nắm bắt, hiểu biết có hệ thống các quy luật và đặc điểmchung của tự nhiên; qua nghiên cứu các đơn vị cảnh quan, quy luật phân hoáchúng theo không gian mỗi vùng, đặc biệt là động lực phát triển của chúngtheo thời gian, trong đó có tính đến những tác động cả chủ quan và kháchquan của các quá trình tự nhiên, cũng như của con người, sẽ có thể hoạch định
Trang 26được một chiến lược lâu dài Chiến lược này tương đối phù hợp với hiệu quảcao nhất của việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của mỗivùng, đồng thời bố trí hợp lý các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cácngành sản xuất theo lãnh thổ.
Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá cảnh quan ở mỗi lãnh thổ cần chútrọng đến yếu tố con người, các đặc điểm chung của điều kiện kinh tế xã hội
và nhân văn Vì ngoài việc xem xét, đánh giá đúng tiềm năng các nguồn lực
tự nhiên thì yếu tố con người luôn có ý nghĩa hết sức to lớn, là động lực quantrọng thúc đẩy quá trình phát triển xã hội, khống chế và tác động lên các quátrình tự nhiên, đặc biệt vai trò điều tiết, sử dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên ở từng lãnh thổ
1.2 Cơ sở thực tiễn.
Trong quá trình khai thác, sử dụng tự nhiên cho phát triển kinh tế, conngười nơi đây đã can thiệp mạnh mẽ vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên,tạo ra sức ép nặng nề lên các khả năng vốn có của các hệ tự nhiên
Mặc dù là một trong những huyện còn diện tích rừng khá lớn Nhưngviệc sử dụng tài nguyên rừng ở đây còn nhiều vấn đề chưa hợp lý Việckhoanh vùng rừng sản xuất từ mép đường Hồ Chí Minh (nhánh tây) trở lênbiên giới Việt Lào đã tạo điều kiện cho các đơn vị khai thác rừng một cáchbừa bãi Trong khi khu vực này phần lớn là rừng nguyên sinh và còn là nhữngđiểm xung yếu đầu nguồn của các con sông
Năm 2008, rừng đầu nguồn sông Long Đại, một trong những vùng rừngnguyên sinh hiếm hoi còn lại của huyện được chắn bởi dãy đá vôi Rào Trù đồ
sộ tưởng chừng không thể bị xâm phạm cũng đã bị các đối tượng lâm tặc khaiphá tan hoang: hàng loạt cây gỗ bị đốn hạ, gốc cây ứa nhựa đỏ, bột cưa phủdày như lá rừng…
Trang 27Hậu quả của việc phá rừng đầu nguồn làm mất lớp phủ thực vật là hàngnăm, người dân Quảng Ninh nói riêng và người dân Quảng Bình nói chungphải gánh chịu những trận lũ lịch sử, nước ngập mênh mông, thiệt hại lớn vềngười và của.
Không chỉ vậy, trong những năm gần đây các hiện tượng vi phạm vềmôi trường trên địa bàn huyện có chiều hướng gia tăng như: ô nhiễm môitrường nước, không khí, đất đai ở các khu vực chế biến mủ cao su, chế biếnlâm sản; đổ chất thải bừa bãi; xử lý chất thải nguy hại không đúng quy định…
Trong tương lai, cùng với mục tiêu phát triển kinh tế của toàn tỉnh, nềnkinh tế của Quảng Ninh cũng sẽ có những thay đổi Điều đó đồng nghĩa vớicảnh quan môi trường tiếp tục biến đổi, cân bằng tự nhiên bị ảnh hưởng và cóthể kéo theo hàng loạt các vấn đề khác
Trước thực tế đó, việc đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tàinguyên thiên nhiên cho các mục tiêu cụ thể làm cơ sở cho quy hoạch, sử dụnghợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở đây là nhiệm vụ hết sức cần thiết
Trang 28Chương 2: Thành lập bản đồ cảnh quan huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng
Bình tỷ lệ 1/ 50.000 2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan
2.1.1 Vị trí địa lí
Quảng Ninh là huyện nằm ở phía nam tỉnh Quảng Bình Với hệ tọa độđịa lí từ 17o14’ đến 17o26’ độ vĩ Bắc và từ 106o17’ đến 106o48’ độ kinh Đông.Phía Bắc giáp huyện Quảng Trạch và thành phố Đồng Hới, phía Nam giáphuyện Lệ Thủy, phía Tây giáp cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Đônggiáp biển Đông
Diện tích toàn huyện: 1191,692km2
Dân số: 86.845 người (2010), mật độ 73 người/km2
Huyện có vị trí địa lí, kinh tế, quốc phòng quan trọng Có các tuyếnđường xuyên Việt, đường quốc lộ đi ngang, cùng với các tuyến đường nộihuyện thuận lợi cho phát triển kinh tế
Huyện Quảng Ninh gồm thị trấn Quán Hàu và 14 xã: Lương Ninh, VõNinh, Duy Ninh, Gia Ninh, Hải Ninh, Tân Ninh, Vĩnh Ninh, Hàm Ninh, HiềnNinh, Xuân Ninh, An Ninh, Trường Xuân, Trường Sơn Trong đó xã TrườngSơn có diện tích lớn nhất, bao gồm toàn bộ núi rừng Trường Sơn ở phía tâycủa huyện
2.1.2.Đặc điểm địa chất, địa hình
a Địa chất
Trong phạm vi lãnh thổ huyện các thành tạo địa chất có tuổi từPaleozoi hạ đến Đệ tứ
- Hệ Ocdovic thượng – silua hạ (O3 – S1): Thành phần thạch học gồm:
đá phiến serisit, cát kết, cát bột kết, cát kết dạng quaczit, cuội kết đa khoáng,
đá phun trào trung tính và axit
Trang 29- Hệ Silua thượng – devon hạ (S2 – D1): Thành phần thạch học có: Cátkết ít khoáng hạt nhỏ, đá phiến sét, ít bột kết màu xám lục…
- Hệ Devon hạ (D1): Thành phần thạch học cấu tạo nên hệ chủ yếu làcát kết thạch anh dạng quaczit, đá phiến sét thạch anh, sét vôi, bột sét vôi, đávôi sinh vật chứa san hô…
- Hệ Devon trung – thượng (D2-3): Thành phần thạch học chủ yếu là đávôi, đá vôi sét, đá vôi silic màu đen
- Hệ Cacbon hạ (C1): Thành phần thạch học gồm: đá phiến sét, phiếnsét than, phiến sét silic màu đen xen ít vôi chứa san hô đã được xác định
- Hệ Cacbon – Pecmi (C - P): Thành phần thạch học đơn điệu chủ yếu
là đá vôi màu xám xẫm, xám sáng phân bố dày có cấu tạo trứng cá kết tinhyếu chứa phong phú hóa thạch đá trùng lỗ, trùng thoi
- Hệ Kreta thượng (K2): Thành phần thạch học phần dưới chủ yếu làcác trầm tích hạt thô gồm cuội kết, cát kết xen lớp kẹp sỏi kết, sạn kết cònphần trên là các trầm tích hạt mịn gồm bột kết xen ít cát kết và sét kết
Hệ Đệ tứ: Các thành tạo phân bố chủ yếu trên dải đồng bằng ven biển
Có nguồn gốc khá đa dạng: tàn tích, sườn tích, sông, sông – lũ, sông - biển,biển, gió
+ Trầm tích tàn tích, sườn tích Pleistoxen sớm – giữa (QI-II): Phân bốdưới dạng các đồi thoải kéo dài phương tây bắc - đông nam Các trầm tíchnày là sản phẩm phong hóa của đá gốc bao gồm cát, sét, sỏi, tảng lăn, laterit
+ Trầm tích sông – lũ tuổi Pleistoxen sớm – giữa (apQI-II): nằm lót đáyđồng bằng Thành phần thạch học gồm: cuội, sỏi lẫn dăm sạn, bột, sét màuvàng, xám đen
+ Trầm tích biển tuổi Pleistoxen muộm (mQIII): Bắt gặp ở khu vựcđồng bằng và lộ ra trên mặt tạo các thềm cao 10 – 15m có thành phần mịngồm: sét, bột sét loang lổ
Trang 30+ Trầm tích sông – biển tuổi Holoxen giữa (amQIV2): Phân bố dọc venbiển ở độ cao 4 – 5m Thành phần gồm: bột sét, ít cát màu vàng, xám xanh,xám đen chứa mùn thực vật.
+ Trầm tích biển – gió tuổi Holoxen muộn (mvQIV3): Phân bố ven bờbiển có hướng song song với đường bờ tạo đê cát tự nhiên cao 5 – 10m, đôichỗ cao 15 – 20m Thành phần chủ yếu là cát thạch anh đồng nhất màu trắng
b Địa hình
Địa hình huyện Quảng Ninh có tính phân bậc khá rõ nét theo hướngthấp dần từ tây sang đông và trùng theo phương của các cấu trúc địa chất Địahình huyện Quảng Ninh bao gồm các bậc sau:
- Bậc địa hình 800 – 1200m: Đây là bậc địa hình khá phổ biến phân bố
ở phía tây thượng nguồn sông sông Long Đại Ở thượng nguồn sông LongĐại, các bề mặt san bằng này bắt gặp trên bề mặt đỉnh của các khối núi: ĐộngVàng Vàng (1250m), Động Tri (1001m), núi Thu Lù (928m), đỉnh Ba Rền(1137m), đỉnh U Bò (1009m) Chúng là đường chia nước chính của các hệthống sông suối cấp III và IV Các bề mặt san bằng có dạng hẹp kéo dài theophương của các dãy núi và trên bề mặt còn được bảo tồn vỏ phong hóa khátốt
- Bậc địa hình 400 – 700m: Phân bố dọc theo trung lưu thung lũng sôngLong Đại tạo thành mực địa hình khá rộng lớn Trong bình đồ hiện tại chúngbiểu hiện dưới dạng các bề mặt trước núi kéo dài dọc theo các thung lũngsông và thuộc hệ thống các bề mặt đường chia nước cấp III Các bề mặt này
bị biến đổi mạnh do quá trình rửa trôi xói rửa
- Bậc địa hình cao 100 – 250m: Đây là bề mặt đỉnh của các đồi cao vànúi thấp dao động độ cao từ 100 – 300m phân bố rộng rãi ở vùng đồi phía tây
- Bậc địa hình cao 40 – 60m: Phân bố hạn chế ở phía tây của các đồng
Trang 31- Bậc địa hình cao 20 – 30m: Phân bố lẻ tẻ nằm tiếp giáp với các bề mặtđồng bằng thấp Đây là các bề mặt thềm mài mòn biển bậc III, thềm sông bậcII.
- Bậc địa hình <10m: Bao gồm toàn bộ địa hình đồng bằng thấp cónguồn gốc tích tụ sông, sông – biển, biển – đầm lầy, biển Trong bậc địa hìnhnày có thể phân ra hai phụ bậc địa hình: 5 – 10m và <5m
2.1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn.
a Khí hậu
Huyện Quảng Ninh thuộc miền khí hậu đông Trường Sơn Mặc dù cónền nhiệt năm khá cao, nhưng Quảng Ninh vẫn có mùa đông hơi lạnh chính vìvậy mà sự phân hóa nhiệt độ năm còn khá lớn
Biến trình năm của nhiệt độ có một cực đại và một cực tiểu, cực đạivào tháng VII và cực tiểu vào tháng I Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhấtđạt khoảng 29 – 30oC, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất đạt khoảng 18 –
19oC Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên sự chênh lệch nhiệt độ trongnăm giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khá lớn
Độ ẩm không khí khá cao và biến động khá mạnh trong năm Các thángđầu và giữa mùa hè (tháng V đến tháng VIII) có độ ẩm thấp nhất, do ảnhhưởng của thời tiết khô nóng Ngược lại vào các tháng IX – IV độ ẩm lại khácao
Chế độ mưa ẩm khá phong phú nhưng thể hiện sự phân hóa rõ rệt theomùa:
+ Mùa mưa: từ cuối hè sang thu và kéo dài đến tận đầu đông (tháng 9đến tháng 3) Lượng mưa rất lớn cho nên dẫn tới thừa nước và có thể gây lũlụt, ngập úng
Trang 32+ Mùa khô hạn: từ nửa cuối mùa đông kéo dài đến giữa mùa hè (tháng
4 đến tháng 8) hầu như không mưa dẫn đến thiếu nước, tình trạng khô hạnkhá trầm trọng
Huyện Quảng Ninh nói riêng và tỉnh Quảng Bình nói chung là nơi chịuảnh hưởng khá nặng nề của các hiện tượng thời tiết đặc biệt như: bão, mưalớn gây ngập úng, lụt lội hay khô nóng gây hạn hán…
b Thủy văn
Mạng lưới thủy văn của huyện khá dày đặc, với mật độ trung bình 0,8 1km/km2 Địa hình của huyện bị chia cắt bởi 2 con sông chính và nhiều phụlưu Sông Long Đại (Đại Giang) bắt nguồn từ phía Tây và sông Kiến Giangchảy qua huyện Lệ Thủy đã hợp lưu tại ngã ba Trần Xá (Hàm Ninh) thànhsông Nhật Lệ đổ ra biển Đông
-Lượng dòng chảy năm phân bố không đều trong năm Mùa lũ và mùacạn của dòng chảy tương ứng với mùa mưa và mùa khô trong năm Các sôngsuối nhỏ trong huyện hầu như toàn bộ lượng dòng chảy năm là dòng chảy lũ
Trong mùa mưa, ở vùng đồi núi sông suối có khả năng tập trung nướcrất nhanh, nhưng lũ không kéo dài do khả năng thoát nước tốt Mùa lũ tậptrung vào các tháng X, XI, XII và chiếm 60 – 80% tổng lượng dòng chảy cảnăm Vào mùa này sông ngòi thường có lũ đột ngột gây úng lụt trầm trọng ởvùng cửa sông Những dòng lũ ác liệt này thực sự là thiên tai nguy hiểm ảnhhưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Mà nguyên nhân là
do sự chi phối của gió mùa, địa hình chia cắt, hướng địa hình và nhất là dogió bão kết hợp với các hình thái thời tiết gây nên
Do địa hình lưu vực ngắn và dốc, lượng nước phong phú nên sông ngòicủa huyện cũng có tiềm năng về thủy điện và giao thông đường thủy
2.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng, sinh vật
Trang 33Các nhóm đất chính ở huyện Quảng Ninh gồm:
- Đất xám cơ giới nhẹ lẫn đá nhiều ở nông (Xa_skl): chua, nghèo chấtdinh dưỡng thường bị khô hạn Nên phần lớn trên đó là cây bụi, chỉ có một ítdiện tích là trồng màu (sắn)
- Đất xám bạc màu có tầng loang lổ sâu (Xab_l2): có chất dinh dưỡngthấp nhất, nhưng lại có giá trị nông nghiệp vì phần lớn đất này nằm ở địa hìnhbằng thoải, thoáng khí, thoát nước, dễ canh tác và thích hợp với nhu cầu sinhtrưởng phát triển của nhiều cây trồng cạn
- Đất xám feralit (Xf): chua, nghèo bazo và các chất dễ tiêu, độ phìnhiêu trung bình Một phần đất xám feralit còn hoang hóa dưới thảm cỏ hoặccây bụi, diện tích còn lại được che phủ bằng thảm rừng và các cây trồng (câytrồng cạn) Một số loại cây đang được chú trọng phát triển trên loại đất nàynhư: cao su, xoài, mía, dứa…
- Đất xám kết von nông (Xfe_l): đất có tầng mỏng, có nhiều kết von,nghèo dinh dưỡng Phần lớn diện tích còn đang bỏ hoang hóa, thực vật tựnhiên trên đó chủ yếu là sim, mua, cây lùm bụi Chỉ có ít diện tích đã đượctrồng thông, bạch đàn trám hoa vàng…
- Đất xám mùn trên núi (Xu): là loại đất tốt, có độ phì tự nhiên khá,nhưng đất ở cao, địa hình hiểm trở, đi lại rất khó khăn
* Đất phèn (Sj)
Trang 34Được hình thành do sản phẩm bồi tụ phù sa với vật liệu sinh phèn (xácthực vật chứa lưu huỳnh: Pyrite) phát triển mạnh ở môi trường đầm mặn, khóthoát nước).
Đất phèn có thành phần cơ giới nặng, phản ứng rất chua, hàm lượngmùn và đạm trung bình Đất này được sử dụng trồng một vụ lúa nhưng năngsuất còn thấp nên cần có biện pháp khắc phục phù hợp (tưới tiêu, ém phèn,thoát phèn, thâm canh…)
Có 2 loại đất phèn cơ bản là: Đất phèn hoạt động sâu (Sj2) và đất phènhoạt động nông mặn trung bình và ít (Sjl_m)
* Đất phù sa
Hình thành trên các trầm tích sông suối, có 3 loại đất phù sa cơ bản là:Đất phù sa trung tính ít chua glay nông (P_gl), đất phù sa chua glay sau(Pc_g2), đất phù sa chua điển hình (Pc_h) Trong đó đất phù sa trung tính ítchua là loại đất tốt nhất
Quỹ đất phù sa của huyện đã được sử dụng hết để phát triển các câylương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày Trong đó cây lúa là phổbiến và ổn định hơn cả
* Đất mới biến đổi (CM)
Có 2 loại là: đất mới biến đổi chua điển hình (CMc_h) và đất mới biếnđổi chua glay nông (CMC_gl)
Đây là loại đất có thành phần cơ giới nặng, có độ phì nhiêu trung bình.Đất được sử dụng để trồng lúa 2 vụ
* Đất tầng mỏng chua điển hình (Ec)
Hình thành trong điều kiện địa hình chia cắt, dốc, thảm thực vật chephủ mặt đất đã bị chặt phá và do hậu quả của nhiều năm canh tác quảng canh,không có bảo vệ đất, không có biện pháp và công trình phòng chống xói mòn,
Trang 35Đất rất chặt cứng và nghèo dinh dưỡng, tầng đất mịn rất mỏng(<30cm), đất có phản ứng chua nhiều Đây là loại đất xấu nhất, cần phải phủxanh bằng thảm thực vật đa dạng phù hợp với môi trường sinh thái để có thểbảo vệ môi trường, giữ ẩm, giữ mùn và phục hồi độ phì cho đất.
- Đất cát biển trung tính ít chua điển hình (C_h) và đất cát biển trungtính ít chua glay nông (C_gl): đều nghèo dinh dưỡng và có thành phần cơ giớirất nhẹ Thích hợp cho trồng chuyên màu, lúa và màu hoặc chuyên lúa
Đối với đất cát cần đảm bảo tưới tiêu, bón phân, có đai rừng chắn cáttrôi…
b Sinh vật
Hệ thực vật của huyện Quảng Ninh nằm trong khu vực đa dạng sinhhọc Bắc Trường Sơn, nơi có hệ thực vật đa dạng và độc đáo Trong đó cónhiều loại gỗ quý như: lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu…dưới tán rừng cócác loại cây có giá trị như: song mây, trầm kỳ, sa nhân, các dược liệu quý và
Trang 36nhiều loài thú quý hiếm như: hổ, báo, hươu đen, trĩ sao, gà lôi, các loài bò sát,móng guốc khác.
Rừng đầu nguồn sông Long Đại là một trong những rừng nguyên sinhhiếm hoi còn lại ở phía nam của tỉnh Quảng Bình Vùng rừng này được baobọc bởi dãy núi đá vôi hiểm trở ở Rào Trù Trong rừng là những cây gỗ cao,thẳng tắp có khu vực thuần gỗ Sú Sú mọc ken dày, càng gần đỉnh dốc mật độcàng dày, có cây cao vài chục mét, đường kính gốc 70 – 90cm
Ở những vùng đất đã khai thác để sản xuất nông nghiệp có thảm câytrồng khá phong phú Các cây ngắn ngày gồm có: lúa nước, ngô, khoai, sắn,đậu tương, lạc, mía, dứa…Các cây dài ngày chủ yếu là cao su, cây ăn quảđược trồng với quy mô nhỏ trong các vườn hộ gia đình
Năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp là 99.924,03ha chiếm 83,9% diệntích đất tự nhiên toàn huyện Trong đó đất có rừng sản xuất là 45.932,34ha(46%), đất có rừng phòng hộ là 53.991,69ha (54%)
Tuy nhiên việc khai thác nguồn tài nguyên thực vật quá mức, nhất làthảm thực vật rừng đầu nguồn của sông Long Đại đã có ảnh hưởng rất lớnđến các vấn đề môi trường như: sự cạn kiệt tài nguyên, lũ lụt và hạn hán…
2.1.5 Dân cư và lao động
Năm 2010 dân số toàn huyện Quảng Ninh là 86.845 người, mật độ dân
số trung bình là 73 người/ km2 ở mức trung bình so với các huyện khác trongtoàn tỉnh Trong đó có tới 95% (82.542 người) là dân cư nông thôn và 5%(4.303 người) dân cư thành thị Cơ cấu giới tính trên địa bàn huyện tương đốiđồng đều với 49,9% nam và 50,1% nữ
Trang 37Dân số huyện Quảng Ninh qua các năm
Biểu đồ 2.1 Dân số huyện Quảng Ninh qua các năm
Huyện có 2 dân tộc chính đó là Kinh và Vân Kiều, trong đó người Kinhchiếm 96,6% Dân tộc Vân Kiều chiếm 3,4% và sống tập trung chủ yếu ở 2 xãTrường Xuân và Trường Sơn Phần lớn người Vân Kiều sống ở vùng sâu,trình độ văn hóa mặc dù đã được nâng lên nhưng nhìn chung còn thấp, vẫncòn tồn tại những hủ tục lạc hậu, đời sống phụ thuộc nhiều vào khai thác sảnphẩm tự nhiên từ rừng
Năm 2010, tổng số lao động của huyện đang làm việc trong các ngànhkinh tế là 44.495 người chiếm 9,8% so với toàn tỉnh Với đặc thù là mộthuyện thuần nông nên lao động ở đây chủ yếu tập trung trong ngành nôngnghiệp
Trang 38Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Quảng Ninh (2010) chia
theo xã
Diện tích (km 2 ) Dân số trung bình
(người)
Mật độ dân số người/km 2 )
(Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Quảng Ninh năm 2010)
2.1.6 Đặc điểm kinh tế xã hội
2.1.6.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Quảng Ninh năm 2010
Bảng 2.2 Cơ cấu sử dụng đất của huyện Quảng Ninh năm 2010
Tổng diện tích đất tự nhiên 119.169,19 100
Trang 391.1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 8.138,95 7.5%
1.2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 404,18 5.99% 1.2.5 Đất sông suối và mặt nước
chuyên dung
(Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Quảng Ninh năm 2010)
Phần lớn đất của huyện được sử dụng trong nông nghiệp Trong đó chủyếu là đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, đất phi nông nghiệp chiếm
tỉ lệ nhỏ hơn và đất chưa sử dụng là chiếm tỉ lệ ít nhất (3,3%) Nếu như năm
2009 toàn huyện vẫn còn 5.046,31ha đất chưa sử dụng thì sang năm 2010diện tích đó đã giảm xuống còn 3.943,5ha
2.1.6.2 Nông lâm nghiệp
a Nông nghiệp
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp phân theo ngành kinh tế
huyện Quảng Ninh (Giá so sánh 1994)
Trang 40(Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Quảng Ninh năm 2010)
Cây lúa vẫn là cây lương thực chính của huyện Diện tích trồng lúa toànhuyện vẫn tiếp tục được mở rộng Nhưng năng suất và sản lượng lại có xuhướng giảm
Năm 2010, xã có diện tích trồng lúa nhiều trong huyện là: An Ninh(1.656,6ha), Vạn Ninh (1.210,4ha), Tân Ninh (772,0ha), Gia Ninh (689,9ha)
…và ít hơn cả là xã Trường Sơn với 97,0ha
- Cây công nghiệp: Diện tích trồng cây công nghiệp có những biếnđộng khác nhau
+ Cây hàng năm: Diện tích trồng Lạc, Vừng, Mía từ năm 2008 đến nay
có xu hướng giảm Trong đó giảm mạnh nhất là diện tích trồng Mía từ 6hanăm 2009 xuống chỉ còn 0,8ha năm 2010 Diện tích gieo trồng giảm, sảnlượng của các loại cây này năm 2010 cũng giảm hơn so với năm 2009
+ Cây lâu năm: So với cây hàng năm thì diện tích cây lâu năm củahuyện trong những năm qua ít biến động hơn Mặc dù diện tích ít biến độngnhưng sản lượng lại giảm nhẹ Chỉ có diện tích cây Cao su là tăng mạnh, năm
2009 có 40,5ha sang năm 2010 diện tích đó đã tăng lên 91,5ha (tăng gấp đôi)
+ Cây ăn quả chính của huyện là: Cam, Chanh, Ổi, Dứa, Chuối, Mít…Diện tích và sản lượng cây ăn quả trong những năm qua hầu như không có sự