TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
Trang 2I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN CÔNG THUỘC KẾT CẤU HẠ TẦNG
1.1 Khái niệm
Theo khoản 2 Điều 4, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 quy định:
“Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và vùng đất, vùng nước, vùng biển gắn với các công trình kết cấu hạ tầng, bao gồm: hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị, hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin, hạ tầng giáo dục và đào tạo, hạ tầng khoa học và công nghệ, hạ tầng y tế,
hạ tầng văn hóa, hạ tầng thể thao, hạ tầng du lịch và hạ tầng khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là tài sản kết cấu hạ tầng).”
Ví dụ:
● Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (Hà Nội)
● Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (Kiên Giang)
● Đường cao tốc Bắc – Nam
● Cảng Hải Phòng
1.2 Đặc điểm
Tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích cho toàn xã hội, do đó ngoài cácđặc điểm chung của tài sản công, tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng còn có những đặcđiểm riêng sau đây:
- Thứ nhất, tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng tài sảnlại không được hưởng lợi trực tiếp từ tài sản mang lại, người được hưởng trực tiếp làngười được hưởng sự phục vụ từ tài sản
- Thứ hai, tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích côngcộng tham gia phục vụ tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lýnhà nước, khoa học, giáo dục đào tạo là tài sản phục vụ chung cho toàn xã hội (kháchẳn với tài sản công thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, tài sản công tại vào doanhnghiệp và các tài sản công ở lĩnh vực khác)
- Thứ ba, tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích côngcộng tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động quốc phòng, an
Trang 3ninh, quản lý nhà nước từng bộ phận giá trị tài sản bị hao mòn nhưng không bù đắpđược bằng tính khấu hao, vì giá trị hao mòn của tài sản chỉ góp phần tạo sự thuận lợi chocác hoạt động kinh tế, xã hội ; không được tính trong giá trị của một sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ cụ thể (trừ trường hợp tài sản công đó giao cho doanh nghiệp, hoặc do doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật ví dụ như: hạ tầng lưới điện quốc gia, hạ tầng đường sắt, )
1.3 Phạm vi tài sản
● Hệ thống các công trình giao thông vận tải
● Hệ thống công trình thủy lợi
● Hệ thống các công trình bưu chính viễn thông
● Hệ thống các công trình lưới điện quốc gia, công trình chiếu sáng, cấp thoát nước
● Các công trình văn hóa, thể dục, thể thao
● Các công trình kết cấu hạ tầng khác
1.4 Phân loại tài sản
Để thực hiện quản lý, khai thác, sử dụng tài sản thuộc các công trình kết cấu hạtầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng có hiệu quả, người ta thực hiện phân loạitài sản như sau:
a) Dựa theo đặc điểm phục vụ xã hội của công trình, người ta chia các công trình
kết cấu hạ tầng làm 2 loại:
(1) Các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, bao gồm: hệ thống các công trình giaothông, hệ thống các công trình thuỷ lợi, hệ thống các công trình bưu chính viễnthông, hệ thống các công trình lưới điện, công trình chiếu sáng, cấp thoát nước, cáccông trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật khác
(2) Các công trình kết cấu hạ tầng xã hội, bao gồm: hệ thống các công trình văn hoá,
di tích lịch sử, hệ thống các công trình thể dục, thể thao; hệ thống các công trìnhkết cấu hạ tầng xã hội khác
b) Dựa theo đặc điểm kỹ thuật, tính chất khai thác, sử dụng của công trình, người
ta chia các công trình kết cấu hạ tầng theo các chuyên ngành sau:
(1) Hệ thống các công trình giao thông vận tải, gồm: hệ thống các công trình giaothông đường bộ, bao gồm: hệ thống cầu đường bộ, bên xe, nhà ga, sau đó người
Trang 4ta lại phân loại tiếp: hệ thống quốc lộ, hệ thống tỉnh lộ, hệ thống giao thông nôngthôn, hệ thống hạ tầng đô thị (giao thông); hệ thống các công trình giao thôngđường sắt, bao gồm: đường sắt, cầu hầm đường sắt, nhà ga, các công trình khác; hệthống các công trình giao thông hàng không, đường không, bao gồm: cảng hàngkhông kể cả nhà ra sân bay, các công trình khác; hệ thống các công trình giaothông đường biển, bao gồm: hệ thống các công trình giao thông trên biển, hệ thốngcảng biển: cảng biển do trung ương quản lý, cảng biển do địa phương quản lý, hệthống công trình khác; hệ thống các công trình giao thông đường thuỷ (sông), baogồm cả cảng sông và các công trình khác.
(2) Hệ thống các công trình thuỷ lợi, các công trình bưu chính viễn thông như đã phânloại ở mục 1.3
(3) Hệ thống các công trình lưới điện quốc gia, chiếu sáng, cấp thoát nước, bao gồm:
hệ thống các công trình lưới điện quốc gia (hệ thống các công trình lưới điện đếncác tổ chức, hộ gia đình cá nhân dùng điện, chiếu sáng, cấp thoát nước ở đô thị) hệthống các công trình lưới điện chiếu sáng cấp thoát nước ở nông thôn; hệ thống cáccông trình lưới điện chiếu sáng, cấp thoát nước tại các khu công nghiệp, khu kinh
tế, khu công nghệ cao và các khu vực khác
(4) Hệ thống các công trình văn hoá, thể dục thể thao, bao gồm: hệ thống các côngtrình văn hoá, di tích lịch sử do trung ương quản lý; hệ thống các công trình vănhoá, di tích lịch sử do địa phương quản lý, hệ thống các công trình thể dục thể thao
do trung ương quản lý, hệ thống các công trình thể dục thể thao do địa phươngquản lý,
(5) Hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng khác gồm: hệ thống công trình xử lý chấtthải rắn, chất thải lỏng công trình bảo vệ môi trường, hạ tầng du lịch
1.5 Vị trí, vai trò của tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng
Tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng có
vị trí đặc biệt quan trọng của một quốc gia, là tài sản quốc gia, cơ sở vật chất kỹ thuật,biểu hiện sức mạnh kinh tế, quốc phòng an ninh của đất nước, được tích lũy qua nhiều thế
hệ của một dân tộc, nhiều công trình là di sản báu vật của quốc gia Tài sản kết cấu hạ
Trang 5tầng là điều kiện cơ sở vật chất không thể thiếu của mỗi quốc gia để đảm bảo cho sự pháttriển của đất nước.
Với vị trí đặc biệt trên đây, tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia lợi íchcông cộng giữ vai trò trọng yếu trên các mặt cơ bản sau đây:
1.5.1 Đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng làđiều kiện cần thiết không thể thiếu của mỗi quốc gia, là cơ sở vật chất của quá trình pháttriển kinh tế - xã hội Vì trước hết xét về mặt tư liệu sản xuất thì tài sản kết cấu hạ tầng làmột loại tư liệu sản xuất phục vụ chung sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành kinh tếquốc dân, thiếu nó hoặc chỉ cần các điều kiện phục vụ của nó thấp đi so với nhu cầu củanền kinh tế thì sản xuất chậm phát triển mà các điều kiện về giao lưu hàng hoá thông tinthị trường, cung cấp dịch vụ cũng bị “nghẽn mạch” Điều kiện kết cấu hạ tầng tốt sẽ gópphần cho sản xuất, lưu thông, dịch vụ thông tin thị trường, được thuận lợi mà còn giảmchi phí cho sản xuất, lưu thông Tuy phần lớn các tài sản kết cấu hạ tầng không trực tiếptham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, nhưng nó lại tham gia giải quyết những vấn
đề vĩ mô của nền kinh tế như phân bố lực lượng sản xuất, phân bố lao động và dân cư,phân bố các nguồn lực của nền kinh tế, tạo môi trường vĩ mô cho tăng trưởng kinh tế Đặcbiệt các công trình kết cấu hạ tầng thuộc lĩnh vực quốc phòng an ninh là cơ sở vật chấtcần thiết để bảo vệ quốc phòng an ninh của đất nước, điều kiện không thể thiếu của sựphát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Một số công trình kết cấu hạ tầng còn làphương tiện chuyển tải nguồn lực, phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tếnhư hệ thống công trình lưới điện quốc gia, hệ thống dẫn dầu, dẫn khí, hệ thống côngtrình thuỷ nóng có thể nói các hệ thống công trình hạ tầng này đã tham gia trực tiếp vàoquá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhiều công trình kết cấu hạ tầng trực tiếp phục vụ cáchoạt động xã hội góp phần phát triển các hoạt động xã hội như các công trình văn hoá, cáccông trình thể dục thể thao, Các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, lưới điện tuykhông trực tiếp phục vụ các hoạt động xã hội nhưng cũng không thể thiếu đối với các hoạtđộng xã hội, góp phần giao lưu văn hoá xã hội, mở mang dân trí, đặc biệt là mở mangdân trí ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao, biên giới, hảiđảo,
Trang 6Tóm lại, các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộngvừa có vai trò thực hiện phân bổ lực lượng sản xuất, phân bố lao động, phân bố dân cư,góp phần phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế phát triển kinh tế - xã hội, vừa trực tiếptham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vừa gián tiếp là điều kiện cần thiếtkhông thể thiếu được đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước.
1.5.2 Đối với quốc phòng, an ninh
Tài sản kết cấu hạ tầng là cơ sở vật chất, là điều kiện để bảo đảm quốc phòng, giữgìn an ninh, trật tự của đất nước, cụ thể như sau:
Tài sản kết cấu hạ tầng là những công trình quốc phòng, an ninh có vị trí then chốttrong việc tạo ra hành lang bảo vệ quốc phòng an ninh của đất nước Những công trìnhkết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, trên thực tế cũng là nhữngcông trình phòng thủ đất nước, góp phần giữ gìn nền độc lập tự do của đất nước, giữ vững
an ninh, trật tự xã hội Thực tế cho thấy những nước có tiềm lực quân sự mạnh đều có khảnăng ngăn chặn xâm lược từ bên ngoài, những nước mà lực lượng vũ trang yếu, cơ sở kếtcấu hạ tầng kém, nhất là các công trình phòng thủ đất nước thiếu và không đảm bảo độbền vững trong tình huống xảy ra chiến tranh lại thiếu vũ khí, khí tài hiện đại sẽ dễ bị cácnước đế quốc nhòm ngó, gây chiến tranh
Tài sản công thuộc các công trình kết cấu hạ tầng, là cơ sở vật chất, điều kiện đảmbảo cho các hoạt động nghiên cứu khoa học quốc phòng, huấn luyện, rèn luyện, giáo dục
và đào tạo lực lượng vũ trang là cơ sở hoạt động văn hoá nghệ thuật, truyền thanh,truyền hình, cơ sở hoạt động thể dục thể thao của lực lượng vũ trang, góp phần nâng caođời sống vật chất và tinh thần của lực lượng vũ trang nâng cao sức mạnh chiến đấu và bảo
vệ tổ quốc của lực lượng vũ trang
1.5.3 Đối với đời sống con người
Tài sản công nói chung có vị trí, vai trò rất lớn và ý nghĩa nhiều mặt đối với đờisống con người, tài sản thuộc các công trình kết cấu hạ tầng là điều kiện cơ sở vật chấttăng thêm phúc lợi xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống con người cả về vật chất lẫn tinhthần, cụ thể như sau:
- Tạo điều kiện cho mọi hoạt động đời sống của con người được diễn ra bình thường
và thuận lợi Tài sản thuộc công trình kết cấu hạ tầng là điều kiện, cơ sở đảm bảo cho mọi
Trang 7hoạt động về ăn, ở, đi lại, hội họp, học tập, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, của con người.Những hoạt động này của đời sống xã hội không thể thiếu cơ sở vật chất là các công trìnhkết cấu hạ tầng Các công trình kết cấu hạ tầng được xây dựng tốt và đáp ứng được nhucầu của đời sống con người là điều kiện để cải thiện và nâng cao chất lượng các hoạtđộng, nâng cao chất lượng cuộc sống con người Giao thông thuận lợi sẽ giảm thời gian
và chi phí cho việc đi lại, tạo điều kiện để con người tăng cường giao lưu học hỏi lẫnnhau Kết cấu hạ tầng lưới điện đảm bảo sẽ góp phần cung cấp điện cho sản xuất kinhdoanh và sinh hoạt của con người được ổn định và ngược lại Hệ thống cấp thoát nước tốt
sẽ góp phần đảm bảo tránh được nóng, tránh được thiếu nước, tránh được ngập úng,
- Góp phần nâng cao thể lực và trí tuệ của con người vì phần lớn những hoạt độngnhằm nâng cao thể lực và trí tuệ con người đều được diễn ra tại các cơ sở thể dục thể thao,
cơ sở hoạt động khoa học, cơ sở hoạt động văn hoá, Những công trình kết cấu hạ tầng
xã hội còn là cầu nối góp phần gắn kết cộng đồng gắn kết chặt chẽ các dân tộc anh emtrong một quốc gia
- Các công trình kết cấu hạ tầng xã hội thuộc các công trình văn hoá, di tích lịch sửchẳng những là niềm tự hào của mỗi công dân về đất nước, về truyền thống của cả mộtdân tộc mà còn là động lực tinh thần lớn lao có ý nghĩa đặc biệt khuyến khích họ vươn lêntrong lao động sản xuất, học tập, nghiên cứu để góp phần của mình vào công cuộc pháttriển đất nước
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG THUỘC KẾT CẤU HẠ TẦNG
2.1 Quản lý về mặt hiện vật
Duy tu, bảo dưỡng tài sản: là thực hiện những công việc đảm bảo cho tài sản luôn
giữ được hình thái, kỹ thuật, tác dụng, khả năng phục vụ theo đúng thiết kế ban đầu khiđưa tài sản vào sử dụng
Duy tu, bảo dưỡng tài sản được thực hiện bằng hai hình thức cơ bản:
● Thường xuyên: là việc làm thường xuyên của người khai thác, sử dụng tài sản Vídụ: công nhân thường xuyên kiểm tra đường, làm sạch đường
Trang 8● Định kỳ: mỗi một tài sản kết cấu hạ tầng đều có chu kỳ duy tu, bảo dưỡng toàn bộtài sản theo tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật nhất định.
Khai thác và sử dụng tài sản: là quá trình sử dụng công trình kết cấu hạ tầng dựa
trên tiêu chuẩn về kỹ thuật, chất lượng, mục đích phục vụ,
Ví dụ: khi đưa một hệ thống kênh mương vào hoạt động thì những chỉ tiêu nó phải đảmbảo là lượng nước tưới, tiêu và diện tích tưới, tiêu,
● Hình thức: Đặt hàng khai thác, đấu thầu, chỉ định thầu khai thác,
● Cơ quan quản lý tại Việt Nam: Các bộ, cục, tổng cục, các tập đoàn, công ty
● Nội dung quản lý khai thác sử dụng là quá trình duy tu bảo dưỡng tài sản
2.2 Quản lý tài chính đối với tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng
2.2.1 Phạm vi quản lý tài chính
Quá trình khai thác, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng cũng đồng thời phải thực hiệnviệc duy tu, bảo dưỡng tài sản; chi phí đảm bảo cho việc duy tu, bảo dưỡng tài sản thuộccông trình kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng tùy thuộc vào đặcđiểm khai thác, sử dụng của mỗi loại công trình; do đó phải thực hiện chế độ quản lý chophù hợp Mặt chính của vấn đề khai thác, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng là sự phục vụphát triển kinh tế – xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của đời sống
xã hội; do đó để bù đắp cho chi phí đầu tư xây dựng công trình, chi phí vận hành Nhànước thực hiện một khoản thu vào tổ chức cá nhân hưởng lợi từ sự phục vụ của công trìnhkết cấu hạ tầng như: phí giao thông, thủy lợi phí, Tuy nhiên, cũng có trường hợp Nhànước không tổ chức việc thu phí mà thực hiện đấu thầu khai thác, khoán khai thác hoặccho thuê quyền khai thác, Trong trường hợp này, người trúng thầu, được nhận khoán sẽ
tổ chức thu phí Như vậy, trong suốt quá trình khai thác, sử dụng tài sản thuộc công trìnhkết cấu hạ tầng, nhà nước phải thực hiện quản lý tài chính quá trình khai thác, sử dụng tàisản đồng thời với quản lý là quá trình duy tu, bảo dưỡng tài sản, quá trình đó thuộc phạm
vi quản lý tài chính đối với tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng
2.2.2 Nội dung quản lý tài chính công trình kết cấu hạ tầng
i Hệ thống đường bộ
Căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật về duy tu bảo dưỡng đường bộ
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trên cơ sở đó xác định mức chi cho công
Trang 9tác duy tu bảo dưỡng Hàng năm, cơ quan nhà nước chuyên ngành chịu trách nhiệm quản
lý đường bộ lập dự toán trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét đã đưa vào dựtoán ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước Trên cơ sở
dự toán được duyệt, cơ quan nhà nước chuyên ngành chịu trách nhiệm quản lý đường bộ
tổ chức đấu thầu duy tu, bảo dưỡng hoặc quyết định chọn hoặc giao trách nhiệm cho tổchức thực hiện duy tu bảo dưỡng (việc cấp phát và quản lý kinh phí được thực hiện theoquy định của pháp luật về NSNN)
Áp dụng đấu thầu khai thác công trình giao thông đường bộ là hình thức bán quyềnkhai thác hoặc cho thuê quyền khai thác gắn với trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng đường bộtrong một thời gian nhất định Người trúng thầu khai thác phải thực hiện thu phí theo quyđịnh của Nhà nước, thực hiện duy tu, bảo dưỡng công trình theo quy định của NN
ii Hệ thống đê điều và công trình thủy lợi
Hàng năm, Nhà nước phải sử dụng tiền từ ngân sách và động viên nhân dân đónggóp để đầu tư gia cố, tôn tạo, bồi đắp bảo dưỡng đê điều Quản lý tài chính trong quá trìnhnày có thể chia thành 2 loại chủ yếu sau:
● Đối với nhiệm vụ thường xuyên: Quá trình này được thực hiện bởi 1 tổ chức hoạt
động như 1 doanh nghiệp công ích hoặc 1 đơn vị sự nghiệp Nhà nước cấp kinh phícho họ để thực hiện nhiệm vụ Ngoài ra, Nhà nước còn áp dụng hình thức đấu thầu,người trúng thầu cũng phải thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định của Nhà nước
● Đối với nhiệm vụ không thường xuyên hoặc nhiệm vụ gia cố, bồi đắp, nâng cấp có khối lượng công việc lớn: chi phí nhiều thì thực hiện theo quy định về quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản, trong đó những phần việc có thể huy động sự đóng góp củanhân dân thì Nhà nước đứng ra huy động nhân dân đóng góp
Ở Việt Nam, hệ thống công trình thủy lợi bao gồm: các công trình đầu mối, cáctrạm bơm, hệ thống kênh mương, Việc khai thác hệ thống các công trình thủy lợi và thuthủy lợi phí, do tổ chức được giao khai thác đảm nhiệm Quá trình khai thác công trìnhthủy lơi cũng tương tự như khai thác công trình đường bộ: khai thác, sử dụng đồng thờigắn với duy tu, bảo dưỡng
iii Hệ thống cảng (hàng không, cảng biển, cảng sông), nhà ga
Trang 10Cũng bao gồm 2 nội dung: quản lý tài chính quá trình khai thác, sử dụng và quản
lý tài chính quá trình duy tu, bảo dưỡng công trình
Để trang trải các chi phí vận hành công trình và các chi phí khác, Nhà nước thựchiện thu các khoản phí Ngoài các khoản phí, Nhà nước còn cho các tổ chức trực tiếpquản lý công trình được thu một số khoản lệ phí đối với các hoạt động phục vụ trực tiếpcho các đối tượng được hưởng sự phục vụ
iv Hệ thống công trình văn hóa, di tích lịch sử
Các tổ chức được giao trực tiếp quản lý các công trình này được ngân sách nhànước cấp kinh phí hoạt động như một số đơn vị sự nghiệp công hoặc doanh nghiệp côngích của Nhà nước Số phí (nếu có thu) mà họ thu được cũng dùng vào chi tiêu cho việcquản lý công trình Kinh phí mà Nhà nước cấp cho tổ chức bao gồm cả kinh phí duy tu,bảo dưỡng thường xuyên; phần kinh phí này được lập dự toán theo nhu cầu hàng năm
v Hệ thống đường sắt, hệ thống điện lưới quốc gia, hệ thống hạ tầng bưu chính viễn thông quốc gia
Quá trình khai thác, sử dụng các công trình này đều liên quan chặt chẽ đến hoạtđộng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải đường sắt, sản xuất và cungcấp điện, lĩnh vực bưu chính viễn thông Trong quá trình khai thác, mọi chi phí đảm bảovận hành, chi phí về duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, các chi phí khác cho công trình đềuđược tính vào chi phí của doanh nghiệp, tính vào giá trị của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
vi Hệ thống các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung
Theo quy định tại Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 4/5//2013 của Bộ Tài chínhquy định về việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tậptrung thì trước hết những công trình đó phải là tài sản công, Nhà nước đại diện chủ sởhữu Công trình đó do đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, ủy ban nhân dân cấp xãđược cơ quan nhà nước có thẩm quyển giao quản lý toàn bộ hoặc một số công việc củaquá trình quản lý vận hành công trình Pháp luật quy định cho thuê quyền khai thác côngtrình hoặc chuyển nhượng công trình Việc cho thuê quyền khai thác và chuyển nhượngđều được thực hiện theo phương pháp đấu giá
vii Hệ thống các công trình cấp nước sạch đô thị, sản xuất và kinh doanh nhà
không phải là sản xuất nông nghiệp
Trang 11Nhà nước giao cho các doanh nghiệp công ích, công ty TNHH một thành viên thựchiện quản lý, khai thác công trình để cấp nước cho các đối tượng được phục vụ Nhà nướcquy định giá bán nước, doanh nghiệp phải hạch toán đủ chi phí trong quá trình khai thác,vận hành công trình, thu tiền nước đã cấp cho các tổ chức, cá nhân để bù đắp chi phí khaithác, vận hành, bao gồm cả chi phí bảo hành, sửa chữa thường xuyên Chi phí cải tạo,nâng cấp, sửa chữa lớn hàng năm được ngân sách nhà nước cấp theo dự toán ngân sách đãđược phê duyệt.
Tài sản kết cấu hạ tầng nói chung và kết cấu hạ tầng giao thông vận tải nói riêng lànền tảng vật chất có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia Việc có kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ, thông suốt sẽ tạo tiền đề và là độnglực cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững
PHẦN III THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG THUỘC KẾT CẤU
HẠ TẦNG TẠI VIỆT NAM
3.1 Hệ thống hạ tầng giao thông
3.1.1 Tổng quan về tài sản kết cấu hạ tầng giao thông:
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã quan tâm và tập trung nhiều nguồn lực đểđầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trên cả nước với quy mô như sau:
- Tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có chiều dài khoảng 570.448 km (gồm 3 hệthống chính: 21.109 km quốc lộ do Trung ương quản lý; 583 km đường cao tốc đã đưavào khai thác, chưa kể các tuyến đường cao tốc đang xây dựng sẽ đưa vào khai thác trongthời gian tới; 548.756 km hệ thống đường địa phương) và trên 28 ngàn cây cầu lớn nhỏcác loại Hệ thống tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên nước ta hiện đang đảmnhận khoảng 90% về vận tải hành khách và 70% về vận tải hàng hóa trong toàn bộ hệthống giao thông vận tải của cả nước
- Tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa có chiều dài khoảng 41.900 km;trong đó, khoảng 26.600 km (chiếm 63,33%) đã được đưa vào quản lý, khai thác (baogồm đường thủy nội địa quốc gia và đường thủy nội địa địa phương), 3.200 km đườngthủy ven biển và hàng trăm cửa sông vịnh kín Trên các tuyến đường thủy nội địa có 255
Trang 12cảng thủy nội địa, 8.506 bến thủy nội địa, chủ yếu do tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng,khai thác, dựa vào điều kiện tự nhiên là chính và nhiều công trình phụ trợ.
- Tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt có chiều dài hơn 3.000 km, 287 ga, 1818cầu lớn nhỏ, 39 hầm, 5.735 điểm giao cắt giữa đường bộ với đường sắt và các công trìnhphụ trợ lớn Mặc dù là phương thức vận tải có nhiều lợi thế, tuy nhiên trong thời gian qua,
hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt không được đầu tư phát triển mở rộng, mà còn bị thuhẹp do tháo gỡ một số tuyến Vì thế, năng lực vận tải hiện nay đạt rất thấp (chỉ đạt khoảng4,5% tổng lượng vận tải hành khách và khoảng 1,8% tổng lượng vận tải hàng hóa)
- Tài sản kết cấu hạ tầng giao thông hàng hải có 44 cảng biển; 251 bến cảng với87.549,6m dài cầu cảng; 41 tuyến luồng hàng hải vào cảng quốc gia công cộng và 10tuyến luồng, luồng vào cảng chuyên dùng, 94 đèn biển và các công trình, thiết bị phụ trợ.Trong tổng số 44 cảng biển, Nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa 12 cảng biển và 29 cảngbiển do tư nhân đầu tư, chỉ còn 03 cảng biển (An Thới, Cái Mép - Thị Vải và Cái Lân) doNhà nước đầu tư, quản lý và khai thác
- Tài sản kết cấu hạ tầng giao thông hàng không gồm có 22 cảng hàng không, sân bay(gồm 03 cảng hàng không quốc tế và 19 cảng hàng không nội địa) Các cảng hàng không,sân bay được chia theo 03 khu vực: Bắc - Trung - Nam, mỗi khu vực có 01 cảng hàngkhông quốc tế đóng vai trò trung tâm và các cảng hàng không nội địa vây quanh tạo thànhmột Cụm cảng hàng không
3.1.2 Thực trạng quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông
Ở Việt Nam, tài sản kết cấu hạ tầng giao thông cơ bản bao gồm: đường bộ, hàngkhông, đường sắt, hàng hải và đường thủy nội địa Đây là những tài sản công có giá trị rấtlớn; thực hiện chức năng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Thế nhưng LuậtQuản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 (là văn bản luật cao nhất lần đầu tiên đượcban hành ở Việt Nam về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước) lại không có các quy định cụthể để điều chỉnh đối với nhóm tài sản này Nhằm khắc phục, Luật Quản lý, sử dụng tàisản công năm 2017 đã bổ sung chế độ quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng (trong đó
có hạ tầng giao thông), cụ thể:
Giai đoạn trước ngày Luật Quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực thi hành
Trang 13Giai đoạn này chưa có văn bản quy phạm pháp luật chung để quy định những nguyên tắcthống nhất trong quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông dưới góc
độ một loại hình TSC (chỉ có lĩnh vực giao thông đường bộ quy định tại Nghị định số10/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ) nên cơ chế về quản lý, sử dụng các loạitài sản kết cấu hạ tầng giao thông còn hạn chế cụ thể:
- Việc quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng giao thông mới chỉ thông qua các văn bảnpháp luật chuyên ngành (luật và các văn bản dưới luật) do đó, mới chỉ quy định được một
số nội dung liên quan đến tài sản như: Khái niệm, phân loại, cơ quan quản lý, các yếu tốvận hành về kỹ thuật mà chưa quy định cụ thể về: (i) Đối tượng được giao quản lý, đốitượng sử dụng của tài sản; (ii) Hạch toán, kế toán; (iii) Các hình thức khai thác, xử lý tàisản
- Chưa có khung pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh để triển khai áp dụng các phương thức khaithác tiên tiến có hiệu quả đối với loại tài sản này như cho thuê quyền khai thác tài sản,chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản… Thực tế này, phần nào ảnh hưởngtới việc xã hội hóa, thu hút các nguồn lực ngoài Nhà nước đầu tư vào lĩnh vực này
- Quy định hiện hành về việc bảo trì tài sản hiện nay vẫn thực hiện theo hình thức đặthàng, giao kế hoạch theo khối lượng, chưa bắt kịp với các phương thức tiên tiến như: Bảotrì theo chất lượng đầu ra; đấu thầu bảo trì công khai minh bạch, đánh giá theo chất lượng
và tiết kiệm kinh phí
Giai đoạn từ ngày Luật Quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực thi hành
Những nội dung nguyên tắc và đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kếtcấu hạ tầng (trong đó có hạ tầng giao thông) đã được quy định cụ thể trong Luật Quản lý,
sử dụng TSC Đây là một bước tiến mới, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần tăngcường quản lý chặt chẽ có hiệu quả hệ thống TSC là kết cấu hạ tầng giao thông, tạo nềntảng phần thực hiện các đột phá chiến lược đã được đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XI
Cụ thể, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và 04 Nghị định quy định việc quản
lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông hàng hải, hàng không, đườngthủy nội địa, đường sắt quốc gia (Nghị định số số 43/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018; Nghịđịnh số 44/2018/NĐ-CP ngày 13/3/2018; Nghị định số 45/2018/NĐ-CP ngày 13/3/2018;Nghị định số 46/2018/NĐ-CP ngày 14/3/2018) đã tạo nên những cơ sở quan trọng sau:
Trang 14- Tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước chủ động thực hiện quyền quản lý; có sự phân công,
phân cấp rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan; tách bạch chức năng quản lýcủa cơ quan nhà nước với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đổi mới phương thức bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng theo hướng ngoài phương thức
truyền thống là bảo trì theo khối lượng đã có thêm phương thức bảo trì theo tiêu chí chấtlượng thực hiện; đồng thời, quy định việc đấu thầu bảo trì tài sản, được đảm bảo côngkhai, minh bạch và tăng hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước
- Đổi mới phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng thu hút sự
tham gia của các thành phần, nhằm tăng cường hiệu quả khai thác như: Cho thuê quyềnkhai thác tài sản; chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản và khai thác quỹ đất
để tạo vốn phát triển tài sản kết cấu hạ tầng giao thông; qua đó, khuyến khích đầu tư vàolĩnh vực hạ tầng giao thông, tạo nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển
- Quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng giao thông theo vòng đời tài sản (từ khi hình
thành đưa vào sử dụng, khai thác đến khi xử lý: thu hồi, điều chuyển, thanh lý tài sản),đảm bảo công khai, minh bạch và hiệu quả
Một số kết quả đạt được:
Đến nay, nguồn thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đạt được kết quả nhưsau:
- Nguồn thu phí sử dụng đường bộ của Quỹ bảo trì đường bộ tăng dần qua các năm, cụthể: năm 2014 là 4.924 tỷ đồng; năm 2015 là 5.703 tỷ đồng; năm 2016 là 6.388 tỷ đồng;năm 2017 là 7.174 tỷ đồng; năm 2018 là 8.003 tỷ đồng Theo lộ trình, với nguồn thu phíkết hợp với các phương thức bảo trì hiệu quả sẽ giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nướctrong bố trí nguồn vốn phục vụ bảo trì
- Thu phí sử dụng, tiền thuê tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt có xu hướng giảm dần quacác năm, cụ thể: năm 2014 là 408 tỷ đồng; năm 2015 là 385 tỷ đồng; năm 2016 là 304 tỷđồng; năm 2017 là 309 tỷ đồng Nguồn thu này chỉ bù đắp được khoảng 30% nhu cầu cầnthiết cho công tác quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt, còn lại ngân sách nhà nướchàng năm phải cấp bổ sung
- Thu phí nhượng quyền khai thác cảng vụ hàng không được đẩy mạnh và tăng dần quacác năm, cụ thể: năm 2014: 185 tỷ đồng, năm 2015 là 224 tỷ đồng, năm 2016 là 278 tỷ
Trang 15đồng; năm 2017 là 367 tỷ đồng; năm 2018 là 424 tỷ đồng Thu phí bay qua vùng trời năm
2016 là 1.638 tỷ đồng; năm 2017 là 1.782 tỷ đồng; năm 2018 là 2.010 tỷ đồng Thu giádịch vụ hạ cất cánh năm 2017 là 1.991 tỷ đồng, năm 2018 là 2.434 tỷ đồng
- Thu phí cảng vụ đường thủy nội địa (phí trọng tải tàu sông, tàu biển; lệ phí ra vào tàusông, tàu biển) cơ bản ổn định, năm 2014 là 50 tỷ đồng, năm 2015 là 48 tỷ đồng, năm
2016 là 57 tỷ đồng, năm 2017 là 60 tỷ đồng, năm 2018 là 85 tỷ đồng
- Thu phí đảm bảo hàng hải, phí hoa tiêu hàng hải và phí cảng vụ hàng hải cũng ghi nhận
sự chuyển biến như: năm 2014 là 1.953 tỷ đồng, năm 2015 là 2.324 tỷ đồng, năm 2016 là2.915 tỷ đồng; năm 2017 là 2.348 tỷ đồng, năm 2018 là 2.574 tỷ đồng
Giải pháp tăng cường công tác quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông
Kết quả đạt được về công tác quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông nêu trên
đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong xây dựng chính sách, chế độ và sự nỗ lực đầu
tư xây dựng, phát triển hạ tầng giao thông trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạnhẹp
Trang 16Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc lựa chọn mô hình quản lý, sử dụng như thế nào đểphát huy hiệu quả khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đảm bảo phù hợp với điềukiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và điều kiện cụ thể của hệ thống kết cấu hạ tầnggiao thông là hết sức quan trọng Đối với Việt Nam, trong điều kiện nguồn vốn ngân sáchđầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông còn hạn chế, việc tăng cường công tác quản lý, khaithác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đang là vấn đề quan trọng đặt ra khi xây dựng,hoàn thiện cơ chế, chính sách và trong quá trình tổ chức thực hiện; khẳng định vai tròquản lý của Nhà nước trên cả phương diện quản lý vĩ mô và nhà đầu tư đối với hạ tầnggiao thông.
Về quy hoạch tổng thể
Kết cấu hạ tầng giao thông không tồn tại độc lập mà nó tồn tại vì sự phát triển kinh tế - xãhội, bảo vệ môi trường và hội nhập quốc tế Vì vậy, việc quản lý, sử dụng và khai thác tàisản phải gắn với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, lãnh thổ, đặc biệt quy hoạch tổngthể tài sản kết cấu hạ tầng giao thông phải là một trong các giải pháp quan trọng
Quy hoạch tổng thể để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng giao thông cần phải theo hướng:
Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, xây dựng cácquy hoạch phù hợp với tình hình mới, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đồng bộ tài sảnkết cấu hạ tầng giao thông
Về cơ chế, chính sách
Để đẩy nhanh tiến độ và đảm bảo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện, cùng vớicác quy định tại Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017 và hướng dẫn tại 04 Nghị định củaChính phủ thì trách nhiệm của Bộ Giao thông Vận tải và UBND cấp tỉnh phải tích cực ràsoát, phân loại tài sản để giao cho đối tượng quản lý phù hợp với quy định; đồng thời, BộTài chính, Bộ Giao thông Vận tải khẩn trương trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc banhành theo thẩm quyền đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện đểtăng cường công tác quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, cụ thể:
- Trước mắt, Chính phủ xem xét ban hành ngay Nghị định thay thế Nghị định số10/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khaithác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ để đảm bảo đồng bộ chính sách khi triểnkhai thực hiện Luật Quản lý, sử dụng TSC Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải khẩn
Trang 17trương ban hành các thông tư hướng dẫn Nghị định như: (i) Thông tư quy định chế độ kếtoán tài sản kết cấu hạ tầng giao thông; (ii) Quy định chế độ, quy trình bảo trì tài sản kếtcấu hạ tầng giao thông.
- Trong thời gian tới, cần có sự tổng kết, đánh giá quá trình triển khai thực hiện chínhsách đã ban hành để có hướng đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời; việc hoàn thiện cơ chếđảm bảo tính thống nhất, tính phù hợp với đặc thù từng nhóm tài sản để việc quản lý đượcchặt chẽ và có hiệu quả, phù hợp với mô hình quản lý theo xu hướng xã hội hóa là hết sứccần thiết
tế của Ngành để sắp xếp, tổ chức lại bộ máy quản lý tài sản kết cấu hạ tầng giao thôngphù hợp, tinh gọn và hiệu quả
Về tổ chức thực hiện và công tác thanh tra, kiểm tra
- Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, tập huấn chính sách quản lý, sử dụng vàkhai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông nhằm tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quảkhai thác, sử dụng tài sản
- Tăng cường chỉ đạo, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra đối với các cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quy định của pháp luật về quản lý, khai thác tài sảnkết cấu hạ tầng giao thông; kịp thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo hoạtđộng giao thông an toàn và hiệu quả
3.1.3 Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu quản lý kết cấu hạ tầng giao thông trong thời gian tới:
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021) đã xác định Phát triển kết cấu hạtầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thị làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnhxây dựng nông thôn mới là 1 trong 10 phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh
Trang 18tế - xã hội trong giai đoạn 2021-2030 Trong đó, đối với việc phát triển kết cấu hạ tầngcần:
- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầngđồng bộ với một số công trình hiện đại
- Tập trung đầu tư các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, nhất là về giaothông, năng lượng và hạ tầng số để khắc phục cơ bản những điểm nghẽn cho phát triển,tăng cường kết nối với khu vực và thế giới
- Tập trung phát triển mạng lưới đường bộ cao tốc, đầu tư, nâng cấp các cảng hàng không,đặc biệt là cảng hàng không trọng điểm Đến năm 2030, phấn đấu cả nước có khoảng5.000km đường bộ cao tốc, trong đó đến năm 2025, hoàn thành đường bộ cao tốc Bắc -Nam phía Đông Xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành và mở rộng Cảng hàngkhông quốc tế Nội Bài
- Đầu tư nâng cao năng lực của hệ thống cảng biển
- Quan tâm đúng mức phát triển giao thông đường sắt, triển khai xây dựng một số đoạnđường sắt tốc độ cao Bắc - Nam
- Kết nối đồng bộ hệ thống giao thông với các khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng hàngkhông, cảng biển
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh, giải quyết các điểm nghẽn về hạ tầng giao thông Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầnggiao thông cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền núi phía Bắc và các vùng khó khănkhác
3.2 Hệ thống thủy lợi
3.2.1 Thực trạng hiện nay
Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứanước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khácphục vụ quản lý, khai thác thủy lợi Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các côngtrình thủy lợi đang được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng: 5.194 trạm bơmđiện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũđầu vụ hè thu ở Đồng bằng sông Cửu Long, cùng với hàng vạn km kênh mương và côngtrình trên kênh