MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Những vấn đề lý luận về xung đột pháp luật 1 1 1 Khái niệm tư pháp quốc tế 1 1 2 Khái niệm xung đột pháp luật 2 II Nguyên nhân và phạm vi xuất hiện xung đột pháp luật 3 2.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Những vấn đề lý luận về xung đột pháp luật 1
1.1 Khái niệm tư pháp quốc tế 1
1.2 Khái niệm xung đột pháp luật 2
II Nguyên nhân và phạm vi xuất hiện xung đột pháp luật 3
2.1 Nguyên nhân làm phát sinh xung đột pháp luật 3
2.2 Phạm vi có xung đột pháp luật 7
III Đánh giá nội dung vấn đề nguyên nhân và phạm vi phát sinh xung đột pháp luật 9
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng hiện này, các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động nói chung không chỉ dừng lại giữa các chủ thể trong cùng một quốc gia, mang cùng một quốc tịch nữa mà các quan
hệ này ngày càng được mở rộng về phạm vi chủ thể, đối tượng cũng như căn cứ xác lập thực hiện và chấm dứt Nói cách khác, các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng về mặt số lượng và phức tạp về mặt tính chất Để có cái nhìn sâu sắc và rõ ràng hơn về ngành luật tư pháp quốc
tế nói chung và vấn đề nguyên nhân và phạm vi phát sinh xung đột pháp luật nói
riêng, tôi xin được đi sâu tìm hiểu vấn đề thuộc đề bài số 20: “Phân tích nguyên nhân và phạm vi có xung đột pháp luật và nêu ý kiến cá nhân về các vấn đề đó”
NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận về xung đột pháp luật
1.1 Khái niệm tư pháp quốc tế
Trên bình diện quốc tế, “Tư pháp quốc tế” được gọi với những cái tên khác nhau như “Private International Law” hay “Conflict of Laws”, những danh từ này được sử dụng để chỉ chung một ngành luật đặc thù điều chỉnh các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài sử dụng hai phương pháp là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
Đặt tên cho ngành luật này là “Tư pháp quốc tế” hay “International Private Law” để phân biệt bản thân nó với một ngành luật khác có mối quan hệ nhất định là “Công pháp quốc tế” hay “International Pubic Law” Trong khi công pháp quốc tế điều chỉnh những quan hệ mang màu sắc chính trị giữa các quốc gia thì tư pháp quốc tế điều chỉnh những quan hệ mà nội dung “có tính chất dân sự” có yếu tố nước ngoài
Trang 3Tại Việt Nam, tư pháp quốc tế có các loại nguồn sau đây: pháp luật quốc gia (gồm Hiến pháp, các đạo luật và văn bản dưới luật), các điều ước quốc tế song phương và đa phương và tập quán quốc tế (điển hình là Incoterms 2020)
1.2 Khái niệm xung đột pháp luật
Trong khoa học pháp lý, cụ thể là trong tư pháp quốc tế, khái niệm “xung đột pháp luật” được nhắc đến như là một giá trị mang tính cốt lõi và xuyên suốt cũng như có tầm quan trọng to lớn Khái niệm này đặt ra nhiệm vụ cho ngành luật tư pháp quốc tế chính là nghiên cứu và giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật xảy ra giữa những hệ thống pháp luật khác nhau trong quá trình tương tác khi điều chỉnh các nhóm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế (gọi chung là quan hệ tư pháp quốc tế) chính là cơ sở làm cho các quan hệ này liên quan tới ít nhất hai quốc gia, hai hệ thống pháp luật khác nhau mà các quốc gia dù lớn nhỏ khác nhau đều phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản mà Luật quốc tế hiện đại đã xác định, nghĩa là các
hệ thống pháp luật trên thế giới đều bình đẳng với nhau Tuy nhiên, sự bình đẳng này làm phát sinh vấn đề đó là trong các quan hệ Tư pháp quốc tế, các hệ thống pháp luật này đều có thể được áp dụng điều chỉnh cùng một vấn đề Nhưng có một sự thật là việc áp dụng nhiều hệ thống pháp luật vào giải quyết cùng một vấn đề là việc bất khả thi do tính riêng biệt của mỗi hệ thống pháp luật Vì vậy vấn đề “lựa chọn hệ thống pháp luật nào để áp dụng vào điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế ?” trở thành yêu cầu cốt lõi và xuyên suốt của ngành luật Tư pháp quốc tế
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận: “Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng
có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế”
Trang 4Tuy vậy, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, xuất hiện những hiện tượng như các quy định pháp luật trong cùng một hệ thống pháp luật xung đột với nhau, hay quy định của hệ thống pháp luật của các bang trong cùng một quốc gia xung đột với nhau Dù mang màu sắc xung đột nhưng các hiện tượng này không được coi là xung đột pháp luật mà đúng hơn chúng là sự chồng chéo giữa các ngành luật và các văn bản pháp luật quốc gia
Tóm lại, về mặt nội dung và bản chất của xung đột pháp luật được xác định đó là sự khác biệt giữa hai hay nhiều hệ thống pháp luật của một quốc gia, chứ không phải sự khác nhau về cùng vấn đề giữa các ngành luật trong cùng một hệ thống pháp luật của một quốc gia hay giữa các hệ thống pháp luật của các bang trong cùng quốc gia
II Nguyên nhân và phạm vi xuất hiện xung đột pháp luật
2.1 Nguyên nhân làm phát sinh xung đột pháp luật
2.1.1 Nguyên nhân khác quan
2.1.1.1 Sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật
Căn cứ vào tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của quốc gia mà giai cấp thống trị hay Nhà nước xây dựng nên những quy định pháp luật phù hợp với điều kiện của nước mình Bởi điều kiện, tình hình nội bộ của mỗi quốc gia là không giống nhau, vì vậy các quy định pháp luật của mỗi quốc gia sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm:
- Yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội
Phải thừa nhận rằng chế độ sở hữu là một bộ phận của cơ sở hạ tầng, được hình thành dựa trên một nền tảng kinh tế nhất định và có mối quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầng trong đó pháp luật là một cấu thành quan trọng Mỗi một quốc gia sẽ được tạo dựng trên cở sở chế độ sở hữu khác nhau, có những quốc gia mà ở đó xuất hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, cũng có những quốc gia được tạo dựng dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Dựa trên một
Trang 5chế độ sở hữu nhất định mà pháp luật cũng được hình thành để phản ánh chính xác và tương xứng với chế độ sở hữu của quốc gia đó
Ví dụ Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó chế
độ sở hữu xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân và không ai có quyền sở hữu tư nhân về đất đai, điều này
được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và được cụ thể hóa trong Luật Đất đai: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”
Ngược lại, một số Nhà nước khác lại cho phép sở hữu tư nhân về đất đai,
ví dụ như ở Hoa Kỳ, nơi mà Luật đất đai quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân về đất đai; các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Hay như ở Pháp, hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu nhà nước đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng Tài sản công cộng bao gồm cả đất đai công cộng có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
- Không dừng lại ở đó, xung đột pháp luật xuất hiện bởi lí do đối với cùng một vấn đề pháp lí, các nhà làm luật ở mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau; dẫn đến việc áp dụng và giải thích pháp luật không giống nhau Nguyên nhân của điều này chính là sự đa dạng trong quan điểm chính trị, hệ tư tưởng, phong tục tập quán, tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
Trang 6Điển hình như với cùng vấn đề cho phép kết hôn đồng giới Vào năm
2019, trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã có 28 quốc gia/vùng lãnh thổ chính thức công nhận hôn nhân đồng giới, bao gồm: Áo Argentina, Bỉ, Bồ Đào Nha, Brasil, Canada, Colombia, Đan Mạch, Đài Loan, Đức, Ecuador, Hà Lan, Hoa Kỳ, Iceland, Ireland, Luxembourg, Malta, México (chỉ một số bang), Na Uy, Nam Phi, New Zealand (trừ Niue, Tokelau và Quần đảo Cook), Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Úc, Uruguay, Vương quốc Anh (trừ Bắc Ireland) Trong khi đó vẫn có hơn 80 quốc gia/vùng lãnh thổ coi hành vi đồng tính luyến ái là tội phạm, một số còn áp dụng hình phạt tử hình đối với những người có hành vi đồng tính luyến ái Số quốc gia/vùng lãnh thổ còn lai có chính sách trung dung, không coi đồng tính luyến ái là bất hợp pháp nhưng cũng không công nhận hôn nhân đồng tính
Điều này xảy ra do ở mỗi quốc gia hay nhóm quốc gia, hệ tư tưởng, đức tin, tôn giáo và tư duy lập pháp được hình thành từ lịch sử phát triển của quốc gia đó không đồng nhất; vì vậy cách nhìn nhận vấn đề của họ đối với vấn đề hôn nhân đồng giới không thể giống nhau, kết quả là quy định của pháp luật – hay chính là tiếng nói của người dân ở quốc gia này với vấn đề trên có thể trái ngược với quy định về vấn đề tương tự ở quốc gia khác
2.1.1.2 Sự hiện diện của yếu tố nước ngoài
Một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng không thể được coi là quan hệ tư pháp quốc tế nếu không có sự giao lưu dân sự giữa các chủ thể tư đến từ các quốc gia khác nhau, mang quốc tịch khác nhau, vì vậy để hiện tượng xung đột pháp luật phát sinh, buộc phải có sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài Bởi lẽ, nếu một quan hệ dân sự chỉ diễn ra với các chủ thể có cùng quốc tịch, với đối tượng của quan hệ nằm và căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ dân sự chỉ nằm trong phạm vi quốc gia thì mọi sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật không trở thành vấn đề và từ đó không có căn cứ để phát sinh xung đột
Trang 72.1.2 Nguyên nhân chủ quan – Có sự thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài của nhà nước
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy có một số quan hệ đặc thù phát sinh
mà dù hệ thống pháp luật các nước là khác nhau và yếu tố nước ngoài có hiện diện, tuy nhiên không có xung đột pháp luật, đó là các quan hệ thuộc lĩnh vực luật công, cụ thể là quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài Vì vậy, yếu tố quan trọng nhất quyết định đến việc xung đột pháp luật có tồn tại hay không không phải là sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài kể trên mà là việc liệu
có sự thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài của nhà nước hay không?
Trái ngược với các quan hệ luật công, quan hệ dân sự theo nghĩa rộng là các quan hệ đời thường mà các chủ thể trong đó bình đẳng với nhau về quyền
và nghĩa vụ Chính yếu tố này làm phát sinh vấn đề bình đẳng trong lựa chọn luật áp dụng; mỗi cá nhân, tổ chức mang quốc tịch khác nhau với sự bình đẳng
sẽ có quyền yêu cầu áp dụng hệ thống pháp luật gắn bó với mình nhất để đảm bảo quyền lợi chính đáng của mình Nói cách khác, yếu tố bình đẳng và tự nguyện tham gia quan hệ dân sự giữa các chủ thể với nhau trong quan hệ luật tư chính là cơ sở để đặt ra vấn đề bình đẳng trong luật pháp giữa các nước
Hơn nữa, việc cho phép lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng không ảnh hưởng đến các vấn đề nhạy cảm của quốc gia như chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay trật tự, trị an xã hội Vì vậy Nhà nước thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài vào các quan hệ tư pháp quốc tế
Trong khi ở chiều ngược lại, đối với các quan hệ luật công như đất đai, hình sự và hành chính, việc cho phép một hệ thống pháp luật khác được điều chỉnh các quan hệ luật công diễn ra ở nước mình sẽ làm xáo trộn trật tự quản lí
xã hội Các quan hệ luật công này được bảo vệ nghiêm ngặt và tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, một khi các quan hệ này bị xâm phạm thì bất kể là
Trang 8người mang quốc tịch nào, đang cư trú ở đâu đều phải bị xử lí theo quy định của pháp luật quốc gia nơi quan hệ bị xâm phạm
Tổng kết lại, yếu tố khác biệt về hệ thống pháp luật cũng như sự hiện diện của yếu tố nước ngoài sẽ là vô nghĩa trong việc làm căn cứ phát sinh xung đột pháp luật nếu Nhà nước không thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài Nếu như hai yếu tố đầu là điều kiện cần thì yếu tố cuối cùng kia chính là điều kiện đủ cũng là yếu tố quyết định sự tồn tại của xung đột pháp luật
2.2 Phạm vi có xung đột pháp luật
Tìm hiểu phạm vi xuất hiện xung đột pháp luật chính là trả lời cho câu hỏi “Trong các quan hệ như thế nào thì xuất hiện xung đột pháp luật và có trường hợp ngoại lệ nào không?”
Như đã đề cập đến ở trên, đối với các quan hệ luật công như luật hình sự
và hành chính, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật không tồn tại do không xuất hiện xung đột pháp luật Có được điều này là do Nhà nước không cho phép được
áp dụng bất kỳ hệ thống pháp luật nào khác ngoài hệ thống pháp luật của quốc gia đó
Giả sử một quan hệ pháp luật hình sự phát sinh và Nhà nước thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài vào điều chỉnh vấn đề này, khi đó xung đột pháp luật sẽ xuất hiện, nghĩa là sẽ có khả năng pháp luật hình sự của Việt Nam không được lựa chọn để giải quyết mà thay vào đó là pháp luật hình sự của một quốc gia khác Hệ quả của việc này có thể là quan hệ xã hội đặc biệt trên, được xác định là sự ổn định của an ninh chính trị, trật tự trị an xã hội, sẽ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật của hệ thống pháp luật của quốc gia khác – với những quan điểm rất khác về chính trị và trật tự an toàn xã hội Khả năng cao quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như lợi ích của Nhà nước (gọi chung là những giá trị cốt lõi và nền tảng của quốc gia) sẽ không được bảo đảm trong trường hợp này, tệ hơn có thể là đe dọa đến an ninh, phòng thủ quốc gia
Trang 9Ví dụ ông An Seong Hyeon (41 tuổi, quốc tịch Hàn Quốc) bị tuyên phạt
1 năm 6 tháng tù giam vì tội mua dâm người dưới 18 tuổi1, mặc dù mang quốc tịch Hàn Quốc nhưng ông An Seong Hyeon do đã xâm phạm quan hệ pháp luật hình sự Việt Nam, tức là đã làm tổn hại đến trật tự trị an xã hội, vì vậy phải chịu chế tài hình sự và trải qua trình tự, thủ tục tố tụng hình sự theo pháp luật Việt Nam mà không được phép xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự và chịu
sự trừng phạt của luật hình sự theo hệ thống pháp luật Hàn Quốc
Vì lẽ trên, đối với quan hệ pháp luật hình sự trong trường hợp trên nói riêng và các quan hệ luật công nói chung, không chỉ Việt Nam mà bất kì nhà nước của quốc gia nào cũng đều không cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài vào điều chỉnh quan hệ luật công Do điều kiện quan trọng nhất làm phát sinh xung đột pháp luật không xuất hiện, có thể khẳng định phạm vi xuất hiện xung đột pháp luật không bao gồm các quan hệ luật công
Ngược lại, ở quan hệ luật tư, như đã phân tích ở phần trên, các nguyên nhân, điều kiện cần và đủ để xuất hiện xung đột pháp luật , vì vậy xung đột pháp luật xuất hiện ở hầu hết các quan hệ luật tư Điều này xuất phát từ khái niệm
“bình đẳng”, bao gồm bình đẳng giữa các hệ thống pháp luật và bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự mở rộng Theo các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế hiện đại, các quốc gia không phân biệt quy mô, tầm ảnh hưởng đều độc lập và bình đẳng với nhau, điều này có nghĩa không cho phép phân biệt thứ tự cao thấp đối với các hệ thống pháp luật quốc gia khác nhau nên khi quan hệ tư pháp quốc tế xuất hiện thì các hệ thống pháp luật liên quan đều có thể được áp dụng để điều chỉnh
Xét đến sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ
tư pháp quốc tế; không chỉ ở Việt Nam mà trên bình diện thế giới, nguyên tắc chung và quan trọng nhất của giao lưu dân sự chính là sự tự nguyện cam kết,
1 Xét xử vụ người Hàn Quốc mua dâm thiếu nữ 17 tuổi ở Đà Nẵng, Báo Thanh niên, 09/09/2000
Trang 10thỏa thuận và bình đẳng với nhau, được pháp luật bảo hộ các quyền nhân thân
và tài sản Vì vậy, trong quá trình giao lưu dân sự, các cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch khác nhau có quyền yêu cầu được bảo vệ các quyền dân sự của mình bằng hình thức áp dụng hệ thống pháp luật gắn liền với quốc tịch của mình
Hơn nữa, do bản chất “bình dân” của các quan hệ này không làm ảnh hưởng tới các giá trị căn bản của xã hội và các giá trị công mà nhà nước cho phép được áp dụng nước ngoài vào điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế
Tuy nhiên, tôi lại khẳng định “xung đột pháp luật xuất hiện ở hầu hết các quan hệ luật tư” Điều này xuất hiện bởi đặc thù của một số quan hệ khiến cho
nó chỉ có thể được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật duy nhất Quan hệ pháp luật mà tôi đang đề cập đến chính là quan hệ về sở hữu trí tuệ; quan hệ mà được phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào thì chỉ được bảo hộ bởi hệ thống pháp luật nước đó và trong phạm vi quốc gia Do chỉ được bảo hộ bởi một hệ thống pháp luật duy nhất nên trong quan hệ sở hữu trí tuệ không xuất hiện xung đột pháp luật Điều này là kết quả tính chất lãnh thổ của quan hệ sở hữu trí tuệ; trong công ước Berne 1886 tính chất này được thể hiện dưới dạng nguyên tắc bảo hộ độc lập
Như vậy, xung đột pháp luật chỉ nảy sinh trong phần lớn các quan hệ dân
sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, ngoại trừ quan hệ sở hữu trí tuệ và các quan hệ đặc thù khác như đã phân tích ở trên
III Đánh giá nội dung vấn đề nguyên nhân và phạm vi phát sinh xung đột pháp luật
Sau khi đã phân tích và làm rõ các vấn đề cơ bản và quan trọng của ngành luật tư pháp quốc tế gồm nguyên nhân và phạm vi phát sinh xung đột pháp luật, tôi xin rút ra một vài nhận định, đánh giá như sau về hai vấn đề này
Thứ nhất, về khía cạnh nguyên nhân làm xuất hiện xung đột pháp luật, nội dung này giúp ta hiểu được vì sao trong quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố