1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 1 Khái niệm độc quyền 3 2 Vị trí độc quyền của doanh nghiệp 7 3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 7 3 1 Tổng quan các quy định hi.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1 Khái niệm độc quyền 3
2 Vị trí độc quyền của doanh nghiệp 7
3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 7
3.1 Tổng quan các quy định hiện hành 7
3.2 Đánh giá quy định pháp luật cạnh tranh về xác định thị trường liên quan 9
3.3 Đánh giá quy định về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 10
4 Một số giải pháp 13
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2MỞ ĐẦU
Những năm vừa qua, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta đã làm phát sinh nhiều quan hệ kinh tế đa dạng, phức tạp, trong
đó có quan hệ cạnh tranh Việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh theo quyđịnh của Hiến pháp và pháp luật, đã tạo cơ sở pháp lý khuyến khích tự do cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh.Tuy nhiên, xu hướng phát triển của cạnh tranh thường dẫn tới độc quyền xét về bản chất của cạnh tranh, nếu không có sự định hướng và điều chỉnh, sẽ phát triển theo quá trình sau: từ cạnh tranh lành mạnh sang cạnh tranh không lành mạnh, đi tới cạnh tranh mang tính độc quyền, cuối cùng là xuất hiện độc quyền làm triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường và gây ra những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế và đời sống xã hội như: hạn chế, kiểm soát mức sản xuất, mức đầu
tư cải tiến kỹ thuật, nâng giá thu lợi nhuận độc quyền Chính vì vậy, Luật Cạnh tranh ra đời là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết nền kinh
tế, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, công bằng và hiệu quả giữa các doanh nghiệp
Để có thể hiểu rõ hơn quy định pháp luật về xác định doanh nghiệp có vị trị
độc quyền, em xin lựa chọn đề tài “Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền”
Trang 3NỘI DUNG
1 Khái niệm độc quyền
Độc quyền và cạnh tranh là hai hiện tượng có liên quan chặt chẽ với nhau Khi
có chủ trương thúc đẩy cạnh tranh để phát triển thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng thì độc quyền cần phải được loại bỏ Tuy nhiên, trong thực tế của tất cả các quốc gia, độc quyền vẫn tồn tại trong một số ngành và ở một mức độ nhất định, nó là yếu tố đảm bảo cho cạnh tranh phát triển và duy trì được hiệu quả kinh tế của toàn xã hội
Vậy, độc quyền là gì và pháp luật cạnh tranh của Việt Nam hiện nay nên điều
chỉnh vấn đề này như thế nào? Độc quyền kinh tế được hiểu là “ hiện tượng chỉ có
một số ít người độc chiếm thị trường khiến ở đó không có sự tự do cạnh tranh về phía cung” Trong kinh tế học, hiện tượng này được gọi là độc quyền tuyệt đối và là
biểu hiện của cạnh tranh không hoàn hảo Đó là hình thức cạnh tranh mà giá cả của hàng hoá trên thị trường bị chi phối bởi một hoặc một số nhà kinh doanh nhất định Thông thường, một thị trường độc quyền được biểu hiện qua 3 yếu tố như sau: Thứ nhất, toàn bộ thị trường đó được nắm giữ bởi một hoặc một số người bán nhất định Thứ hai, sản phẩm của nhà sản xuất được bán trên thị trường là duy nhất mà không có sản phẩm thay thế gần tồn tại Nói cách khác, đó là việc không tồn tại thị trường sản phẩm liên quan Thứ ba, tồn tại những rào cản để ngăn cản việc các doanh nghiệp khác kinh doanh trên thị trường liên quan Rào cản được coi là đặc trưng quan trọng nhất của một thị trường độc quyền bởi lẽ, nếu không có rào cản, các doanh nghiệp khác sẽ lập tức tham gia vào thị trường kinh doanh khi nhà độc quyền thực hiện chính sách tăng giá bán hoặc giảm chất lượng và số lượng sản phẩm Chính vì vậy, các nhà kinh doanh khi muốn trở thành độc quyền đều cần phải có một rào cản
Trang 4và nhờ vào đó để cản trở các đối thủ khác Rào cản thị trường được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có các hình thức phổ biến như sau:
- Các quy định của pháp luật về hạn chế cạnh tranh Đây là loại rào cản rất
thường gặp, nó tạo ra sự độc quyền hợp pháp cho các doanh nghiệp Vấn đề cần xem xét ở đây là tính hợp lý của các rào cản thị trường do pháp luật tạo ra Trong những hoàn cảnh nhất định, Chính phủ ở hầu hết các quốc gia đều cần thiết phải sử dụng rào cản do pháp luật tạo ra để đảm bảo phát triển kinh tế, bảo vệ người tiêu dùng hoặc bảo hộ sản xuất trong nước Trong những trường hợp đó, sự tồn tại của các rào cản thị trường là hợp lý Chẳng hạn, việc nhà nước chỉ cho phép một hoặc một số doanh nghiệp được hoạt động trong các lĩnh vực mà nhà nước cần giữ độc quyền như các ngành thuộc an ninh, quốc phòng hay những ngành dịch vụ công ích hoặc những ngành có tác động mạnh và ảnh hưởng đến đời sống của toàn bộ xã hội như: cấp, thoát nước, nắm giữ mạng lưới truyền tải điện quốc gia, mạng lưới đường sắt tàu hoả Trong những trường hợp này, pháp luật cần thiết phải tạo ra các rào cản thị trường
Nhìn chung bất cứ quốc gia nào cũng thừa nhận sự tồn tại của rào cản thị trường do pháp luật tạo ra, bởi lẽ đây là một trong các điều kiện để đảm bảo lợi ích
xã hội và lợi ích quốc gia Tuy thế, cũng có những rào cản mà sự tồn tại của nó là bất hợp lý và cần phải được loại bỏ ở nước ta đã có những rào cản bất hợp lý như vậy tồn tại Bên cạnh đó, những quy định của Chính phủ về việc đấu thầu hay chỉ định quota trong một số trường hợp cũng là biểu hiện của các rào cản do pháp luật tạo ra trong nền kinh tế thị trường
- Cắt giảm giá bán hàng hoá Nhờ vào sức mạnh tài chính và kinh nghiệm
kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp giảm giá tới mức làm cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường cũng như các doanh nghiệp khác là đối thủ đang kinh doanh trên thị trường không đủ sức cạnh tranh và phải rút lui khỏi thị trường đó Kết quả là
Trang 5doanh nghiệp sẽ giành phần thắng trong cuộc đua về giá - Độc quyền tự nhiên
(Natural Monopoly) Hiện nay, khái niệm này chưa được hiểu một cách chính xác
trong một số sách báo ở nước ta Nhiều người cho rằng, hiện tượng một doanh nghiệp kinh trên thị trường, bằng nhiều biện pháp và chiến lược khác nhau, doanh nghiệp
đó giành phần thắng trong cuộc đua cạnh tranh và trở thành độc quyền được gọi là độc quyền tự nhiên Hiểu như vậy là không chính xác đứng về mặt kinh tế học cũng như theo quy định thông thường của pháp luật các nước trên thế giới Trường hợp này được gọi là độc quyền là kết quả của quá trình kinh doanh chứ không phải độc quyền tự nhiên Độc quyền tự nhiên phải được hiểu là hiện tượng xảy ra trên thị trường khi toàn bộ sản phẩm của thị trường đó nếu được cung cấp bởi một doanh nghiệp thì sẽ ở mức giá thấp hơn so với việc có hai hay nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp sản phẩm đó Điều này là do tính chất của sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ được cung cấp quyết định Nói cách khác, độc quyền tự nhiên là mô hình tối ưu trong một số lĩnh vực khi mà chỉ cần một nhà sản xuất là đủ khả năng cung cấp sản phẩm cho thị trường với hiệu quả kinh tế cao nhất Vì thế, nếu cho phép các nhà cung cấp
khác tham gia vào thị trường sẽ dẫn tới sự “ cạnh tranh lãng phí” Ví dụ như trong
ngành sản xuất và kinh doanh điện, việc có nhiều nhà sản xuất điện cạnh tranh trên thị trường sẽ làm giảm giá bán điện và nâng cao chất lượng điện được cung cấp Tuy thế, trong một quốc gia thì không nhất thiết mỗi nhà sản xuất điện phải xây dựng một
hệ thống dây truyền tải riêng biệt Đó là điều không thể làm được đối với tất cả các doanh nghiệp vì nó đòi hỏi chi phí rất lớn cũng như gây ra sự lãng phí không cần thiết Chính vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất điện chỉ cần sử dụng một hệ thống đường truyền tải là đủ Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp nắm giữ hệ thống truyền tải điện sẽ trở thành nhà độc quyền và hiện tượng đó gọi là độc quyền tự nhiên Những ví dụ khác về độc quyền tự nhiên có thể tìm thấy trong các ngành như vận tải đường sắt, đường hàng không hay viễn thông Trong các trường hợp này độc quyền
Trang 6tự nhiên tồn tại ở chỗ chỉ cần một nhà cung cấp đường ray, một nhà cung cấp nhà ga sân bay và tương tự như vậy chỉ cần một doanh nghiệp cung cấp đường trục viễn thông là đủ Các yếu tố mà ở đó độc quyền tự nhiên tồn tại được gọi là các “phương tiện thiết yếu” Người ta gọi đây là độc quyền tự nhiên bởi vì có một lý do “tự nhiên” cho độc quyền tồn tại, đó là bản thân sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải có một mức độ kinh tế nhất định mới có thể cung cấp được sản phẩm đó ở hiệu qủa cao nhất
Và do vậy, độc quyền tự nhiên là rào cản được hình thành tự nhiên trong thị trường Việc xác định rõ ranh giới của độc quyền tự nhiên là điều rất quan trọng trong việc xác định độc quyền của một số ngành nhất định ở nước ta, việc chưa phân định rõ ràng đã dẫn đến độc quyền của các ngành như viễn thông, điện lực, đường sắt, hàng không Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ ở phần tiếp theo Ngoài các rào cản phổ biến như trên, trong thực tế còn tồn tại nhiều loại rào cản khác như: quảng cáo và tiếp thị sản phẩm để xây dựng nhãn hiệu hàng hoá khiến cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường không thể đưa sản phẩm của mình tới khách hàng; hay một loại rào cản khác là việc doanh nghiệp nắm giữ độc quyền là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất v.v Như vậy, không phải mọi rào cản đều là xấu và cần phải loại bỏ, bởi vì có những rào cản là do nỗ lực kinh doanh của doanh nghiệp (như đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị, đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu để hạ giá thành sản phẩm và đưa ra sản phẩm mới) tạo nên Chính vì thế, trong những trường hợp này, pháp luật không thể cấm việc doanh nghiệp trở thành độc quyền được mà chỉ đưa ra các quy định để doanh nghiệp đó không thể lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền của mình để gây hạn chế cạnh tranh và làm tổn hại đến lợi ích người tiêu dùng
Trang 72 Vị trí độc quyền của doanh nghiệp
Điều 25 Luật Cạnh tranh quy định: “Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc
quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.”
Theo Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không
có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan Dưới góc độ lý thuyết, vị trí độc quyền đã loại bỏ khả năng
có sự tồn tại của cạnh tranh trên thị trường liên quan bởi tại đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp đang được xem xét hoạt động Do đó, khi xác định
vị trí độc quyền, cơ quan cạnh tranh chỉ cần:
– Xác định thị trường liên quan;
– Xác định số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường
Nếu kết luận đưa ra là chỉ có một doanh nghiệp duy nhất thì doanh nghiệp đó
có vị trí độc quyền Các bước phân tích về doanh thu, doanh số… để xác định tổng thị phần của thị trường sẽ không còn cần thiết Khi vị trí độc quyền được tạo lập hợp pháp thì công quyền không thể trừng phạt hay xóa bỏ vị trí đó Nhà nước và pháp luật chỉ có thể trừng phạt doanh nghiệp khi chúng sử dụng vị trí độc quyền như một lợi thế trong các quan hệ thị trường hay đặt các chủ thể khác vào tình trạng bất lợi
3 Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền
3.1 Tổng quan các quy định hiện hành
Hiện nay, quy định về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền được cụ thể trong Luật Cạnh tranh, Nghị định 35/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh, Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh Việt Nam sử dụng cách tiếp cận vi phạm mặc nhiên để đánh giá doanh nghiệp
Trang 8có vị trí thống lĩnh, độc quyền cũng như các hành vi bị coi là lạm dụng và hình thức
xử lý vi phạm
Điều 25 Luật cạnh tranh quy khái niệm doanh nghiệp có vị trí độc quyền, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan
Về các quy định cấm, pháp luật cạnh tranh Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của các doanh nghiệp thống lĩnh, doanh nghiệp độc quyền, tuy nhiên cấm tất cả các hành
vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp này Theo cách tiếp 2 cận vi phạm mặc nhiên, Điều 27 Luật cạnh tranh liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để điều chỉnh Cách tiếp cận quy định về vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, thị trường liên quan cũng như hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền… của pháp luật cạnh tranh Việt Nam như trên có một số điểm mạnh, đặc biệt đối với các cơ quan tranh còn non trẻ Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định hiện tại cũng đã phát sinh một số điểm bất cập, cần xem xét đánh giá để hoàn thiện
Luật Cạnh tranh sau khi đi vào hoạt động, về cơ bản đã tạo được hành lang pháp lý quan trọng, giúp tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng Đây là tiền đề quan trọng đảm bảo hoạt động kinh doanh bình đẳng, bền vững cho các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội
Bên cạnh đó, Cục Quản lý cạnh tranh cũng thường xuyên tiến hành các hoạt động điều tra phục vụ việc xác định hành vi lạm dụng độc quyền để yêu cầu Viện kiểm sát tiến hành quy trình tố tụng, tuy nhiên các vụ việc được đưa ra điều tra chính thức chưa nhiều theo quy định của pháp luật cạnh tranh
Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ phía: các cơ quan cạnh tranh, từ nhận thức của các doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh còn hạn chế và từ các quy định của Luật Cạnh tranh, cũng như hoạt động thực thi các quy định đó
Trang 93.2 Đánh giá quy định pháp luật cạnh tranh về xác định thị trường liên quan
Cũng như các nước trên thế giới, việc xác định thị trường liên quan của pháp luật cạnh tranh Việt Nam dựa trên hai yếu tố đó là khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung
Các tiêu chí xác định thị trường liên quan của Luật cạnh tranh Việt Nam là được quy định rất cụ thể tại Nghị định 35 Tuy nhiên việc quy định này chỉ phù hợp với hàng hóa nhưng không xác định được đối với dịch vụ, do vậy, cơ quan cạnh tranh không thể áp dụng tiêu chí này để xác định đặc tính của dịch vụ, do đó, không đảm bảo đầy đủ các yếu tố xác định thị trường liên quan theo quy định của luật
Bên cạnh đó, cách thức xác định khả năng thay thế cho nhau về giá, pháp luật cạnh tranh Việt Nam sử dụng một hình thức đơn giản của phép thử SSNIP (small but significant and non-transitory increase in price: mức tăng giá tối thiểu đủ để khách hàng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế khác) được các cơ quan cạnh tranh trên thế giới công nhận rộng rãi trong việc xác định thị trường liên quan Tức là, phép thử này kiểm tra khả năng thu lợi nhuận của nhà độc quyền từ việc tăng giá sản phẩm dịch vụ từ 5-10% và trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm, trường hợp doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận mặc dù sản lượng bán ra giảm thì thị trường sản phẩm liên quan được xác lập Ngược lại, trường hợp nhà độc quyền không thể thu lợi từ việc tăng giá thì thị trường sản phẩm liên quan sẽ được mở rộng hơn
Trên thực tế, với điều kiện của nước ta, số lượng vụ việc sử dụng phép thử SSNIP thuần túy là rất ít do khó khăn về mặt thu thập dữ liệu thị trường và sự tốn kém trong việc tổ chức lấy ý kiến người tiêu dùng
Trang 103.3 Đánh giá quy định về xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền
Luật cạnh tranh của Việt Nam xác định doanh nghiệp độc quyền dựa vào hai yếu tố đó là thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp Theo đó, một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
Theo quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh 2018 khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định dựa vào một hoặc một số căn cứ như: mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận; rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ; giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ
cơ sở hạ tầng thiết yếu; tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hành hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên quan khác; gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
Như vậy có thể thấy rằng,theo Luật Cạnh tranh hiện hành thì thị phần là tiêu chí để xác định sức mạnh của doanh nghiệp, điều đó được hiểu là khi một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp đạt được một ngưỡng thị phần nhất định thì được coi là có vị trí thống lĩnh trên thị trường.Việc xác định doanh nghiệp có hành vi phản cạnh tranh hay không căn cứ vào thị phần của doanh nghiệp đó tại thời điểm thực hiện hành vi phản cạnh tranh và xem xét trong khoảng thời gian tính theo tháng, theo quý hoặc theo năm
Các nước trên thế giới đều lấy tiêu chí thị phần để đánh giá sức mạnh thị phần của doanh nghệp Tuy nhiên, ngưỡng thị phần cụ thể để xác định sức mạnh thị phần của doanh nghiệp lại không được quy định cụ thể, mà căn cứ vào sự so sánh thị phần