0 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I Tóm tắt vụ việc 2 II Một số vấn đề lý luận chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 3 2 1 Khái niệm 3 2 2 Đặc điểm hành vi t.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Tóm tắt vụ việc 2
II Một số vấn đề lý luận chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 3
2.1 Khái niệm 3
2.2 Đặc điểm hành vi thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 3
2.3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 5
III Phân tích vụ việc thực tiễn 5
3.1 Những vấn đề pháp lý liên quan trong vụ việc 5
3.1.1 Xác định vị trí độc quyền của Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) 5
3.1.2 Xác định hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của Vinapco 7
3.1.2.1 Hành vi áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp độc quyền 7
3.1.2.2 Hành vi lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng 8
3.1.2.3 Hành vi áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch tương tự dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác 9
3.1.3 Giai quyêt vụ việc 10
3.1.3.1 Thâm quyền giải quyết vụ việc 10
3.1.3.2 Trình tự, thủ tục điều tra và xử lý hành vi độc quyền của Vinapco 11
3.1.3.3 Hệ quả pháp lý đối với hành vi vi phạm của Vinapco 14
IV Những vướng mắc trong quy định pháp luật cạnh tranh liên quan đến vụ việc và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật cạnh tranh 15
4.1 Những vướng mắc trong quy định pháp luật cạnh tranh liên quan đên vụ việc 15
4.2 Kiên nghị hoàn thiện quy định pháp luật cạnh tranh 18
KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3MỞ ĐẦU
Từ sự tích tụ kinh tế trong quá trình cạnh tranh, từ những điều kiện tự nhiên củathị trường như yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự tồn tại của các rào cản gianhập thị trường, sự dị biệt của sản phẩm, sự bảo hộ của quyền lực nhà nước đã làmhình thành các doanh nghiệp có vị trí độc quyền Những doanh nghiệp này nắm giữquyền lực thị trường và thường có khuynh hướng khai thác quyền lực đó bằng cách tácđộng mạnh mẽ đến các yếu tố của thị trường (về giá cả, sản lượng, chất lượng ) đểtận thu lợi ích từ khách hàng, người tiêu dùng và triệt tiêu khả năng cạnh tranh của đốithủ nhằm duy trì vị thế của mình Hậu quả là, làm giảm động lực phát triển của nềnkinh tế, xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng, làm méo mó, giảm tính cạnh tranhcủa thị trường Về mặt lý thuyết, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường có khả năng làmcho vị thế độc quyền của doanh nghiệp suy yếu dần và cuối cùng bị triệt tiêu Nhưngchính những hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, doanh nghiệpđộc quyền dường như làm vô hiệu hóa cơ chế tự điều chỉnh của thị trường bằng việctạo ra những rào cản mở rộng kinh doanh hay rào cản gia nhập thị trường của đối thủcạnh tranh, khiến cho doanh nghiệp thống lĩnh né tránh được sức ép cạnh tranh từ cácđối thủ có thể làm lung lay vị thế độc quyền của nó hoặc lạm dụng quyền lực mạnhtrên thị trường của mình để bóc lột khách hàng, gây thiệt hại cho khách hàng Khi đó,
sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường ở mức độ nhất định là cần thiết để đảmbảo sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, là cơ sở quantrọng cho sự vận hành năng động, hiệu quả của nền kinh thị trường Sự can thiệp củanhà nước đối với thị trường được thực hiện thông qua nhiều công cụ khác nhau, trong
đó, pháp luật cạnh tranh được coi là công cụ quan trọng và hiệu quả nhất Để tìm ranhững giải pháp kiểm soát hành vi độc quyền là vấn đề vô cùng cần thiết để cải cáchmôi trường cạnh tranh ở Việt nam, nhất là với thời đại công nghệ và hội nhập quốc tế
như hiện nay Chính vì vậy mà chúng em chọn đề số 2 “Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền”.
Trang 4kê của Vinapco.
Đầu tháng 3/2008, do ảnh hưởng bởi biến động giá xăng dầu thế giới nên Vinapco
đã có Công văn số 446/XDHK-KDXNK mời đại diện của PA đến họp để xác định lạimức phí cung ứng mới Việc thương lượng diễn ra bằng các cuộc họp và công văn traođổi qua lại giữa Vinapco và PA Tuy nhiên, cả hai bên đều chưa có được sự đồngthuận về mức phí mới Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn số512/XDHK-VPĐN gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phícung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứvào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp Trong cáccuộc họp và các văn bản gửi Vinapco, PA bày tỏ quan điểm thừa nhận việc tăng phícung ứng khi chi phí thị trường tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bìnhđẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty hàng khôngViệt Nam (VNA), đồng thời đề nghị Vinapco và PA cùng kiến nghị Chính phủ và các
bộ liên quan xem xét, quyết định
Do không đạt được thỏa thuận về mức phí mới, ngày 28/3/2008, Vinapco có Côngvăn số 560/XDHK-KDXNK gửi PA qua đường fax yêu cầu PA chấp thuận bằng vănbản mức phí cung ứng mới là 750.000 đồng/tấn trước ngày 31/3/2008 Trường hợpVinapco không nhận được trả lời bằng văn bản theo thời hạn trên, Vinapco sẽ dừngcung ứng nhiên liệu cho mọi chuyến bay của PA cho đến khi PA chấp thuận
Ngày 31/3/2008, Vinapco có Công văn số 570/XDHK-KDXNK gửi PA thông báongừng tra nạp nhiên liệu cho mọi chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 01/4/2008 Ngày01/4/2008, Cục Hàng không Việt Nam đã có Công văn số 985/CHK-TC yêu cầu VNA
Trang 5chỉ đạo Vinapco không được đơn phương ngừng cung cấp xăng dầu nếu không đượcphép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ngay sau đó, Vinapco có Công văn số573/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo cung cấp nhiên liệu cho PA trong hai ngày 01
và 02/4/2008 Và ngày 02/4/2008, Vinapco có Công văn số 597/XDHK-KDXNK gửi
PA thông báo tiếp tục nạp nhiên liệu cho tất cả chuyến bay của PA từ 0h00 ngày3/4/2008
II Một số vấn đề lý luận chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
2.1 Khái niệm
Luật cạnh tranh đưa ra khái niệm chung về hành vi hạn chế cạnh tranh và địnhnghĩa thế nào là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền Theo đó, khoản 5Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 (gọi tắt là “LCT”), lạm dụng vị trí thống lĩnh, ví trí độc
quyền được định nghĩa như sau: “Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.”.
Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu, Giáo trình Luật Cạnh tranh Việt Nam được biênsoạn bởi Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm lạm dụng vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền được định nghĩa bằng việc so sánh hai xu hướng cơ bản trong phápluật các nước và các tổ chức quốc tế và đi đến kết luận pháp luật nước ta hiện nay theo
xu hướng thứ hai Đó là luật không đưa ra khái niệm về hành vi lạm dụng vị trí thốnglĩnh thị trường, vị trí độc quyền mà chỉ quy định một cách khái quát các dấu hiệu cấuthành của hành vi đồng thời có những quy định cụ thể liệt kê các hành vi bị coi là lạmdụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh
Ví dụ điển hình cho xu hướng này là pháp luật cạnh tranh của Canada Khoản 1Điều 79 Luật cạnh tranh Canada không đưa ra khái niệm mà quy định về ba dấu hiệucủa hành vi này: 1) Một hoặc một nhóm doanh nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểmsoát một loại hình hoặc một phân đoạn kinh doanh, dù trên toàn lãnh thổ Canada haybất kì khu vực nào đó của nó; 2) Đã hoặc đang thực hiện hành vi phản cạnh tranh đượcquy định trong luật cạnh tranh; 3) Hành vi đó đã, đang hoặc có khả năng làm cản trởhoặc hạn chế cạnh tranh trên thị tường một cách đáng kể Bên cạnh các dấu hiệu củahành vi được quy định trong Điều 79, Điều 78 Luật cạnh tranh Canada liệt kê 09 nhómhành vi phản cạnh tranh có thể bị cấm.1
2.2 Đặc điểm hành vi thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh thị trường hoặc có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan
1Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh Việt Nam, 2018, tr.162
Trang 6Chế định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnhtranh chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp đang có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vịtrí độc quyền nhưng không chống lại vị trí của chúng trên thị trường Vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từnhững điều kiện tự nhiên của thị trường như: Yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự
dị biệt của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường hoặc sự bảo hộ củaquyền lực nhà nước
Thứ hai, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc doanh nghiệp có vị trí
độc quyền đã thực hiện những hành vi mà pháp luật quy định là hạn chế cạnh tranhtrên thị trường
LCT 2018 nghiêm cấm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyềnthực hiện các hành vi được quy định tại Điều 27, trong đó có 06 hành vi áp dụng cho
cả trường hợp thống lĩnh và độc quyền và 02 hành vi chỉ áp dụng đối với các doanhnghiệp có vị trí độc quyền Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyềntrên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủcác dấu hiệu của hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng Khi chưa thể hoặcchưa có đủ chứng cứ cần thiết để kết luận về việc doanh nghiệp đã thực hiện một trong
số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể quy kết trách nhiệm về sự lạmdụng Dưới góc độ lí luận, hành vi lạm dụng mang trong mình không chỉ là những thủđoạn lợi dụng lợi thế do sức mạnh thị trường đem lại cho doanh nghiệp, mà còn lànguyên nhân gây ra những hậu quả không tốt cho tình trạng cạnh tranh trên thị trườnghiện tại hoặc tương lai
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh
tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan
Mỗi hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền được pháp luật quy địnhlàm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở những mức độ với những cách thức khácnhau
Dấu hiệu này cho thấy khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng và táchại của nó đối với thị trường Như đã phân tích, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạmdụng với mục đích duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc bóc lột khách hàng Các nhàhoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt làOECD) đã đưa ra nhiều khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong đó họcảnh báo rằng chỉ có thể chống lại sự lạm dụng quyền lực thị trường thành công khipháp luật và người thi hành nó xác định được những hành vi Cụ thế có thể gây hại chocạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thị trường liênquan Với cách tiếp cận tương tự, pháp luật cạnh tranh Canada đòi hỏi cơ quan cóthẩm quyền phải đánh giá tác động của hành vi phản cạnh tranh bằng việc chứng minh
Trang 72.3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền Thứ nhất, dựa trên đối tượng bị xâm hại, hành vi lạm dụng được phân chia thành
hai nhóm: Hành vi lạm dụng mang tính bóc lột và hành vi lạm dụng mang tính độcquyền
Thứ hai, nghiên cứu về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn
chế cạnh tranh, các lí thuyết cạnh tranh đưa ra nhiều kiểu hành vi khác nhau dựa trênmục đích và tính chất của chúng như: hành vi làm tăng chi phí của đối thủ để chiếmlĩnh thị trường, hành vi liên kết dọc để ngăn cản đối thủ tiềm năng hoặc chèn ép đốithủ yếu hơn, hành vi thâu tóm khách hàng, hành vi định giá huỷ diệt, hành vi phân biệtđối xử và chi phối các yếu tố khác trên thị trường như gíá, chi phối cung cầu Phápluật các nước sử dụng các kết quả nghiên cứu về tính chất và mục đích của từng nhómhành vi để xây dựng nên cấu thành pháp lí cho từng hành vi lạm dụng cụ thể
III Phân tích vụ việc thực tiễn
3.1 Những vấn đề pháp lý liên quan trong vụ việc
Trong vụ việc Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) ngừng tra nạpnhiên liệu hàng không cho hãng hàng không Pacific Airlines (PA), để xác định liệu vụviệc Vinapco lạm dụng vị trí độc quyền có được xử lý, giải quyết theo đúng quy địnhcủa LCT hay không, cần làm rõ các vấn đề sau:
- Xác định vị trí độc quyền của Vinapco;
- Xác định hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của Vinapco;
- Xác định thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật
và hệ quả pháp lý
3.1.1 Xác định vị trí độc quyền của Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco)
a Nhận diện doanh nghiệp có vị trí độc quyền
Công ty TNHH một thành viên Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) làdoanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trực thuộc Tổng công ty hàng không Việt Nam(VNA) Theo công văn số 985/CHK-TC ngày 01/04/2008, Cục hàng không (Bộ GTVT)khẳng định hiện nay Vinapco là doanh nghiệp độc quyền cung cấp xăng dầu hàngkhông tại các cảng hàng không, sân bay của Việt Nam
Trang 8Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 LCT 2018, phạm vi đối tượng áp dụng ở
đây bao gồm: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phâm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam” Như vậy, Vinapco thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
b Xác định vị trí độc quyền của Vinapco
Để xác định vị trí độc quyền của Công ty TNHH một thành viên Xăng dầu hàng
không Việt Nam – Vinapco, cần làm rõ các điểm sau: một, thị trường liên quan; hai,
thị phần và sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp đó
- Thị trường liên quan
Về thị trường sản phâm liên quan: cung cấp nhiên liệu bay cho các hãng hàng
không nội địa và hãng hàng không quốc tế
Về thị trường địa lý liên quan: Vinapco cung cấp sản phẩm trên trên địa bàn các
cảng hàng không dân dụng tại Việt Nam
- Thị phần và sức mạnh thị trường đáng kể
Về thị phần: Công ty TNHH Một thành viên Xăng dầu hàng không Việt Nam
(Vinapco) là đơn vị duy nhất cung cấp xăng dầu cho ngành hàng không tại Việt Nam,
do đó Vinapco nắm giữ 100% thị phần của lĩnh vực này (vào thời điểm trước năm
2009 khi vụ việc đang được xử lý)
Về sức mạnh thị trường đáng kể: Theo Điều 26 LCT 2018, để xác định sức mạnh
thị trường đáng kể của doanh nghiệp cần xem xét các yếu tố sau:
+ Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan: Vinapco
là đơn vị duy nhất kinh doanh xăng dầu tại cảng hàng không, cho tới thời điểm cụchàng không quyết định cấp giấy phép cho Petrolimex cung cấp xăng dầu cho máy bay(16/09/2009)2
+ Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp: Vinapco là doanh nghiệp 100%
vốn nhà nước có sức mạnh tài chính cũng như quy mô lớn Hàng năm, Vinapco nhậpmột triệu tấn nhiên liệu, nộp ngân sách gần một ngàn tỷ đồng, được Nhà nước giaotrách nhiệm dự trữ quốc gia về nhiên liệu bay.3
+ Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường đối với doanh nghiệp khác: Cục hàng
không Việt Nam xác nhận ngoài Vinapco chưa có doanh nghiệp nào khác được cấpGiấy phép cung cấp dịch vụ hàng không trong lĩnh vực xăng dầu hàng không
2 Cung ứng xăng dầu hàng không: Vinapco mất thế độc quyền, vinapco-mat-the-doc-quyen 191604.html
http://sdh1.neu.edu.vn/cung-ung-xang-dau-hang-khong-3Thế Lữ, TP Hồ Chí Minh chỉ đạo Thanh tra thành phố xem xét vụ việc, Ho-Chi-Minh-chi-dao-Thanh-tra-thanh-pho-xem-xet-vu-viec-37509.html
Trang 9+ Khả năng chuyển sang nguồn cung hoặc cầu đối với các hàng hóa, dịch vụ liên quan khác: Trên thị trường kinh doanh xăng dầu hàng không từ trước 2009 chưa có sự
xuất hiện của doanh nghiệp nào có thể coi là lựa chọn thứ hai cho các hãng hàngkhông
+ Các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh: Lĩnh vực cung ứng xăng dầu hàng không tại các sân bay dân dụng Việt Nam
thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước, do đó vào thời điểm trước năm 2009, Vinapco làdoanh nghiệp duy nhất được nhà nước chỉ định cấp phép cho kinh doanh ngành nghềnày
3.1.2 Xác định hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của Vinapco
LCT 2018 đã kế thừa tinh thần của LCT 2004, tại Điều 27 về hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh, vị trí độc quyền bị cấm Ngoài ra, do nghị định 116/2005/NĐ - CPhướng dẫn LCT 2004 vẫn còn hiệu lực một phần, bởi vậy có thể thấy nội dung các quyđịnh tại LCT 2018 và nghị định 116/2005/NĐ-CP vẫn còn giá trị pháp lý khi vận dụngvào phân tích các hành vi vi phạm cạnh tranh của Vinapco
Tại Quyết định số 11/QĐ-HĐXL, cơ quan cạnh tranh đã kết luận Vinapco thực
hiện hai hành vi vi phạm bao gồm: một, áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp có vị trí độc quyền và lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng và hai, lợi dụng
vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không
có lý do chính đáng Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu nhóm tác giả xin đưa ra một
số phân tích như sau:
3.1.2.1 Hành vi áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp độc quyền
Theo vụ việc trên, Vinapco đã buộc PA phải thanh toán phí cung ứng nhiên liệubay cho Vinapco với mức giá mới là 750.000/tấn, nếu không Vinapco sẽ dừng cungứng nhiên liệu cho mọi chuyến bay của PA cho đến khi PA chấp nhận yêu cầu củamình
4Độc quyền cung cấp xăng dầu hàng không – Ứng xử thế nào cho đúng luật?,
http://tintuc.vibonline.com.vn/doc-quyen-cung-cap-xang-dau-hang-khong-ung-xu-the-nao-cho-dung-luat.html
Trang 10Căn cứ tại Điều 32 Nghị định 116/2005/NĐ-CP và Điểm b khoản 2 Điều 27 LCT
2018 thì đây là hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp
có vị trí độc quyền, theo đó tại Điều 32 Nghị định 116/2005/NĐ-CP có giải thích là
“hành vi buộc khách hàng phải chấp nhận vô điều kiện những nghĩa vụ gây khó khăn cho khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng” Như vậy, để chứng minh hành vi
vi phạm của Vinapco cần chứng minh (i) Vinapco đã buộc PA phải chấp nhận vô điềukiện những nghĩa vụ và (ii) nghĩa vụ gây ra khó khăn cho PA trong quá trình thực hiệnhợp đồng
(i) Vinapco đã có hành vi buộc PA phải chấp nhận vô điều kiện nghĩa vụ (nghĩa
vụ của PA ở đây là thanh toán phí cung ứng nhiên liệu bay cho Vinapco với mức giámới là 750.000/tấn), mà mức phí này không phải kết quả của quá trình thỏa thuận giữahai bên Dấu hiệu này được chứng minh bằng việc Vinapco đã dừng thương lượng với
PA bằng việc đơn phương đặt thời hạn cuối cùng để buộc PA phải chấp nhận bằng vănbản mức phí cung ứng mới và đã ngừng cung cấp nhiên liệu bay cho PA khi PA khôngthực hiện theo
(ii) Những nghĩa vụ này gây khó khăn cho PA trong quá trình thực hiện hợp đồng.Nghĩa vụ mà Vinapco buộc PA chấp nhận là thanh toán với mức giá 750.000/tấn, nhưvậy phải chứng minh được rằng mức giá nói trên chắc chắn sẽ làm cho PA không thểhoặc khó có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng với Vinapco Tuy nhiên, đánh giá về việctăng giá xăng dầu của Vinapco, PA thừa nhận việc tăng phí cung ứng khi chi phí thịtrường tăng là hợp lý, ngoài ra cũng chưa từng đưa ra bình luận về sự hợp lý của mứcphí mà Vinapco đưa ra Thực tế, việc Vinapco ngừng cung cấp xăng dầu để buộc PAphải chấp nhận mức phí mới là nguyên nhân gây thiệt hại cho PA Như vậy, mức phiđược đưa ra không phải là nguyên nhân làm cho hợp đồng nói trên không thể thực hiện
và chưa chắc gây ra khó khăn cho PA trong quá trình thực hiện nếu không có hành vingừng cung cấp nguyên liệu của Vinapco
Do đó, hành vi của Vinapco chỉ thỏa mãn một dấu hiệu của hành vi này là buộc
PA chấp nhận nghĩa vụ vô điều kiện mà chưa thể kết luận nghĩa vụ đó gây khó khăncho PA trong quá trình thực hiện hợp đồng
3.1.2.2 Hành vi lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng
Theo vụ việc, Vinapco đã ngừng cung cấp nhiên liệu cho các chuyến bay của PAtrong ngày 1/4/2008
Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 27 LCT 2018 và Điều 33 Nghị đinh
116/2005/NĐ-CP có quy định về hành vi lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Trang 11Hội đồng xử lý đã kết luận rằng hành vi của Vinapco có đủ các dấu hiệu để xácđịnh có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợpđồng đã giao kết theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Nghị định trên, như vậy phảichứng minh được (i) Vinapco có hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồnggiao kết với PA; (ii) lý do đưa ra không liên quan trực tiếp đến các điều kiện cần thiết
để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng và (iii) Vinapco không phải chịu biện pháp chếtài nào
(i) Vinapco có hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng giao kết với
PA bằng việc ngừng cung cấp nhiên liệu bay Dấu hiệu này là rất rõ ràng, việcVinapco đơn phương dừng cung cấp nhiên liệu bay cho PA trong ngày 01/4/2008không chỉ là vấn đề trong quan hệ giữa hai doanh nghiệp mà còn gây thiệt hại nghiêmtrọng đến quyền lợi của các hành khách bị lỡ chuyến bay của PA trong ngày 01/4/2008.(ii) Lý do đưa ra không liên quan trực tiếp đến các điều kiện, theo hợp đồng số34/PA 2008, hai doanh nghiệp Vinapco và PA đã thỏa thuận rằng chỉ có một trườnghợp mà Vinapco có thể tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng, đó là do PA chậm thanhtoán Cho đến ngày 01/4/2008, PA chưa hề chậm thanh toán cho Vinapco Tình tiết vụviệc cũng cho thấy PA không có bất kỳ hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng nào
Do đó, việc Vinapco đưa ra lý do vì PA đã không chấp thuận mức phí mới màVinapco đưa ra, việc PA đã không có trả lời bằng văn bản trong thời hạn Vinapco ấnđịnh trước mặc nhiên là điều kiện để Vinapco áp dụng việc dừng cung ứng nhiên liệubay cho PA như đã nêu trong công văn gửi cho PA để yêu cầu chấp nhận mức phí mới,
là không phù hợp
(iii) Vinapco không phải chịu bất kì biện pháp chế tài nào sau khi thực hiện hành
vi tạm ngừng thực hiện hợp đồng ngày 01/04/2008 Điều này cũng được đại diện củaVinapco thừa nhận tại phiên điều trần
Như vậy, đã có đủ các căn cứ để xác định hành vi vi phạm điểm c khoản 2 Điều
27 LCT 2018 của Vinapco, việc phân tích các dấu hiệu để đi đến kết luận của Hộiđồng xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật
3.1.2.3 Hành vi áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch tương tự dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác
Vinapco áp đặt giá khác nhau cho PA và VNA trong khi PA và VNA đang là đốithủ cạnh tranh trực tiếp của nhau trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay.Theo điểm d khoản 1 Điều 27 LCT 2018 và Điều 29 Nghị định 116/2005/NĐ-CP,
xác định đây là hành vi áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch tương tự dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia,
mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác Mặc dù tại Quyết định số
Trang 12HĐXL, cơ quan cạnh tranh đã không ghi nhận hành vi này, tuy nhiên nhóm tác giả chorằng cần phân tích các điểm sau để làm rõ hơn (i) giao dịch giữa Vinapco với PA vàVNA là tương tự nhau; (ii) Vinapco đã có hành vi phân biệt đối xử giữa VNA và PA
và (ii) hệ quả dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến việc ngăn cản PA tham gia, mở rộngthị trường hoặc loại bỏ PA
(i) Vinapco cùng thực hiện cung ứng nhiên liệu hàng không cho cả VNA và PA,
có nghĩa là giao dịch mà Vinapco thực hiện với VNA và PA có cùng tính chất
(ii) Hành vi phân biệt của Vinapco trong khi điều chỉnh mức phí cung ứng nhiênliệu Vinapco chỉ điều chỉnh tăng giá cung ứng nhiên liệu đối với PA, trong khi VNAvẫn được hưởng giá thấp Điều này cho thấy Vinapco có sự phân biệt đối xử giữa PA
và VNA, áp đặt giá cả khác nhau cho PA và VNA đối với giao dịch có cùng tính chất.(iii) Việc Vinapco áp đặt giá khác nhau cho PA và VNA trong khi PA và VNAđang là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau trên thị trường vận chuyển hành kháchbằng máy bay, lại đặt trong bối cảnh Vinapco là công ty con của VNA thì không thểkhông nghĩ đến hành vi của Vinapco nhằm đặt VNA vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn
PA Quá trình thương lượng với Vinapco, PA cũng thể hiện quan điểm thừa nhận việctăng phí cung ứng khi chi phí nhiên liệu tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứngphải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa Điều này cho thấy việc PA từ chốimức giá mà Vinapco đưa ra không phải vì nó quá cao hay bất hợp lý, mà chủ yếu vì
PA thấy việc áp đặt giá như vậy sẽ tạo ra sự không bình đẳng trong cạnh tranh giữa PA
và VNA
Như vậy, có thể đi đến kết luận Vinapco đã có hành vi vi phạm trong việc áp đặtgiá cả nhiên liệu khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau, đối với hai đối tác củamình là VNA và PA
3.1.3 Giai quyêt vụ việc
3.1.3.1 Thâm quyền giải quyết vụ việc
Theo quy định của LCT 2004, sau khi nhận hồ sơ vụ việc do Cơ quan quản lýcạnh tranh điều tra, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh sẽ ra quyết định thành lập Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh để giải quyết vụ việc cạnh tranh Theo đó, Hội đồng xử lý vụviệc cạnh tranh quyết định mở phiên điều trần để xử lý vụ việc
So với Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018 đã thay đổi theo hướng sápnhập Cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh thành một cơ quan là Ủy banCạnh tranh Quốc gia Điều này sẽ khắc phục được những nhược điểm của mô hình hai
cơ quan theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004, từ đó giảm thiểu được thời gian giảiquyết vụ việc cạnh tranh nói chung và vụ việc lạm dụng vị trí độc quyền nói riêng