1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích điểm mới của luật cạnh tranh 2018 về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền

16 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích điểm mới của luật cạnh tranh 2018 về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Hà Nội University of Law
Chuyên ngành Luật Cạnh tranh
Thể loại Bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 644,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT CẠNH TRANH Phân tích điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018 về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền Hà Nội, 2021 HỌ TÊN MSSV LỚP NHÓM M.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: LUẬT CẠNH TRANH

Phân tích điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018 về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Đặt vấn đề 1

I.Những vấn đề lý luận chung 1

1.Khái niệm 1

2.Đặc điểm 2

3.Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền 3

II.Quy định của pháp luật hiện hành về lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền 4

1.Về cách xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền/ thống lĩnh 4

2.Xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh 5

3.Xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp 7

4.Quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/ độc quyền 9

5.Xử phạt vi phạm hành chính 10

III Hạn chế còn tồn tại và phương hướng giải pháp hoàn thiện…… 12

Kết luận 13

Danh mục tài liệu tham khảo 14

Trang 3

1

Đặt vấn đề

Sau thời gian triển khai thi hành Luật Cạnh tranh 2004 bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế bất cập Đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, quy định của Luật Cạnh tranh 2004 đã không còn phù hợp; đòi hỏi bức thiết cần ban hành luật cạnh tranh mới để điều chỉnh những vấn đề trên Luật cạnh tranh 2018 được Quốc hội ban hành đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc đặt ra trong nền kinh tế thị trường đồng thời cũng thể hiện tư duy tiến bộ của nhà làm luật Quy định của Luật Cạnh tranh

2018 bên cạnh việc kế thừa còn có sự chỉnh lý, bổ sung so vơi quy định của Luật Cạnh tranh 2004

Trong phạm vi bài viết này chúng ta sẽ tập trung làm rõ “điểm mới của Luật

Cạnh tranh 2018 về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền”

I Những vấn đề lý luận chung

1 Khái niệm

Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được xem là một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định tại Luât Cạnh tranh 2018

Nếu như trước đây, Luật Cạnh tranh 2004 chỉ quy định một cách khái quát các dấu hiệu cấu thành của hành vi đồng thời có những quy định cụ thể liệt kê các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh mà không đưa ra định nghĩa cụ thể về hành vi này Vì vậy mà trong quá trình thực tiễn áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các doanh nghiệp không tránh khỏi tình huống khó xử

Việc đưa ra định nghĩa cụ thể về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền theo chúng tôi là phù hợp với quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Đặc biệt quy định này cũng phù hợp với Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc và Luật mẫu về cạnh tranh của

Trang 4

2

UNCTAD Theo đó hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh.1

Quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 đề cập: “Lạm dụng vị

trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”

Quy định trên đề cập đến doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và doanh nghiệp có vị trí độc quyền Vậy nên hiểu như thế nào về các doanh nghiệp này? Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan

Từ những phân tích trên có thể hiểu lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền là hành vi của các tổ chức kinh doanh lớn lợi dụng khả năng tài chính, kinh tế, xã hội để đàn áp các tổ chức kinh doanh khác nhằm mục đích làm giảm khả năng phát triển của các doanh nghiệp này và thậm chí tìm cách loại bỏ các doanh nghiệp này ra khỏi thị trường kinh doanh

2 Đặc điểm

Một là, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan Với việc nắm giữ vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường hay còn gọi là khả năng chi phối các quan hệ trên

1 Mục B đoạn 1 Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc; Tổ chức thương mại và phát triển Liên hợp quốc, Luật mẫu về cạnh tranh tr 52

Trang 5

3

thị trường và việc thực hiện hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan đã được xác lập

Hai là, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc doanh nghiệp có vị trí độc

quyền đã thực hiện những hành vi mà pháp luật quy định là hạn chế cạnh tranh trên thị trường.Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủ các dấu hiệu của hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết để kết luận về việc doanh nghiệp dã thực hiện một trong số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng

Ba là, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm

cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan

3 Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền

- Đối với chính doanh nghiệp

Việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền sẽ đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích trước mắt; doanh nghiệp nắm giữ vị thế trên thị trường tạo ra sức mạnh có khả năng gây hạn chế cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Hành vi trên không chỉ gây thiệt hại cho những doianh nghiệp trên thị trường liên quan mà ngay cả chính bản thân doanh nghiệp thực hiện hành vi

vi phạm cũng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành; mất đi niềm tin với khách hàng và đối tác kinh doanh của mình

- Đối với hoạt động quản lý của nhà nước

Việc thực hiện hành vi lạm dung vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường không chỉ gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước Mục tiêu tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các doanh nghiệp có cơ hội phát triển có nguy cơ sẽ bị phá

vỡ Bên cạnh đó khả năng thu hút đầu tư, nguồn vốn của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam sẽ giảm đi

Trang 6

4

II Quy định của pháp luật hiện hành về lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền

1 Về cách xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền/ thống lĩnh

Thứ nhất, xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018 để xác định một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:

- có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo tại Điều 26;

- hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan

Trong khi đó quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004 lại đề

cập: “ Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị

phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” Như vậy quy định của Luật Cạnh tranh 2004

xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh dựa trên hai yếu tố là thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Theo quy định tại Điều 22 Nghị định 116/2005/NĐ-CP khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp được xác

định dựa vào một hoặc một số căn cứ như: Năng lực tài chính của doanh

nghiệp; Năng lực tài chính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp; Năng lực tài chính của công ty mẹ; Năng lực công nghệ; Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; Quy mô của mạng lưới phân phối…

Theo đó, pháp Luật Cạnh tranh 2004 của nước ta đặt doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh, tức là không đặt doanh nghiệp trong mối tương quan so sánh với doanh nghiệp khác trên thị trường Trong khi đó ở các nước trên thế giới, quy

mô hệ thống phân phối của doanh nghiệp bị điều tra sẽ được đem so sánh với phần còn lại của thị trường từ đó mà cơ quan cạnh tranh có đánh giá chính xác hơn về sức mạnh trên thị trường của doanh nghiệp Có thể thấy quy định về đánh giá vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh 2004 còn

Trang 7

5

khá cứng nhắc và khó khả thi trong việc xác định hành vi gây phản cạnh tranh

và trong một số trường hợp không phản ánh đúng tương quan cạnh tranh trên thị trường

Quy định của Luật Cạnh tranh 2018 cũng phù hợp thực tiễn hơn khi cho phép đánh giá sức mạnh thị trường đáng kể để xác định một doanh nghiệp chiếm thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan nhưng nếu có sức mạnh về tài chính, quy mô về vốn, lợi thế về công nghệ…được xác định có sức mạnh thị trường đáng kể thì được xác định là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Quy định tại Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018 và Điều 12 Nghị định 35/2020/NĐ-CP đề cập đến việc xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp còn căn cứ dựa trên tương quan với các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh

Như vậy có thể thấy quy định của Luật Cạnh tranh 2018 trong việc xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã phần nào khắc phục được những bất cập trong quy định của luật 2004

Thứ hai, về vấn đề xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền

Theo quy định tại Điều 25 Luật Cạnh tranh 2018: “Doanh nghiệp được coi

là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan” Quy

định này về cơ bản là kế thừa quy định tại Điều 12 Luật Cạnh tranh 2004

2 Xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

Thứ nhất, quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004 trong việc

xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường tối đa là 4 doanh nghiệp Song có thể thấy, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay sự tham gia của của các doanh nghiệp trên thị trường rất lớn không chỉ dừng lại

ở con số 4 Ở thời điểm năm 2008, nếu chúng ta không có cơ sở để khẳng định 19 doanh nghiệp bảo hiểm cùng kí vào một văn bản thỏa thuận nâng Biểu phí vật chất xe ô tô mà các doanh nghiệp trên cùng đồng loạt nâng giá mặc dù không có thỏa thuận trước thì nên xử lý như thế nào? Bởi trên thực tế

Trang 8

6

hành vi của 19 doanh nghiệp này không thể xem xét như hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

Nhằm mục đích khắc phục bất cập trên, nhóm doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018 có xu hướng mở rộng từ 5 doanh nghiệp trở lên Đây được xem là môt quy định hợp lý, theo đó Luật Cạnh tranh 2018 không giới hạn số lượng doanh nghiệp có khả năng lạm dụng vị trí thống lĩnh Như vậỵ chỉ cần đáp ứng số lượng doanh nghiệp và thị phần nắm giữ trên thị trường thì đủ điều kiện để hình thành nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh theo quy định tại Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018

Thứ hai, có thể thấy sự thay đổi trong quy định về nhóm doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh của Luật Cạnh tranh 2018 so với quy định tại Điều 11 Luật

2004 Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004 khi đề cập đến nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh nếu đáp ứng đủ điều kiện sau:

Một là, cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh

Hai là, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan

Trong khi đó, theo quy định tại Luật Cạnh tranh 2018 việc xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh căn cứ vào việc cùng hành động gây tác động hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật Cạnh tranh; Hoặc có tổng thị phần thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 24

Đây được xem là một quy định hợp lý, để xác định nhóm doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh Mặt khác quy định này cũng tạo điều kiện để xử lý hành vi vi phạm của các doanh nghiệp, cụ thể như nhóm doanh nghiệp gồm 3 doanh nghiệp mà có tổng thị phần chưa tới 65% trên thị trường liên quan cùng hành

Trang 9

7

động gây tác động hạn chế cạnh tranh trong khi đó các thị phần của các doanh nghiệp còn lại rất nhỏ thì lại không có cơ chế để xử lý theo luật 2004; thời điểm Luật Cạnh tranh 2018 ra đời đã thóa gỡ những vướng mắc trên, theo đó chỉ cần xác định nhóm doanh nghiệp trên cùng hành động gây tác động hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 thì đủ căn cứ để xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

Thứ ba, Luật Cạnh tranh 2018 cũng mở rộng quy định về nhóm doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh không bao gồm doanh nghiệp có thị phần ít hơn 10% trên thị trường liên quan- quy định tại khoản 3 Điều 24 Trong quan điểm của các nhà làm luật thì khả năng hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp

có thị phần ít hơn 10% là không đáng kể và khả năng tác động của các doanh nghiệp này đến hoạt động trên thị trường rất nhỏ

Đơn cử trường hợp, 5 doanh nghiệp A, B, C, D và E cùng hoạt động sản xuất bút bi Trong đó doanh nghiệp A nắm giữ 25% thị phần sản xuất bút bi,

B nắm giữ 28%, thị phần của C trên thị trường sản xuất bút bi là 30%, D nắm giữ 9% và 8% còn lại là thị phần của E Nếu theo quy định tại khoản 3 Điều

24 Luật Cạnh tranh 2018 thì ba doanh nghiệp B, C và D không thể trở thành nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường dù có tổng thì phần trên 65% trong thị trường liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018 Mặc dù đáp ứng điều kiện về tổng thị phần nhưng trong nhóm ba doanh nghiệp trên thì thị phần của doanh nghiệp D lại ít hơn 10% vì thế vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 24

3.Xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp

Trên thực tế, có trường hợp mặc dù doanh nghiệp nắm giữ 30% thị phần trên thị trường liên quan nhưng không hề có sức mạnh vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh hoặc khách hàng Cụ thể, một thị trường có ba doanh nghiệp đứng đầu, các doanh nghiệp này lần lượt nắm giữ 50%, 30% và 20% thị phần Trong trường hợp này, dù nắm giữ 30% thị phần, cũng không thể có sức

Trang 10

8

mạnh vượt trội so với đối thủ hiện đang giữ 50% thị phần; do đó, không thể coi là có vị trí thống lĩnh trên thị trường Ngược lại, cũng tồn tại những thị trường trong đó có 01 doanh nghiệp đứng đầu nắm giữ 20% thị phần; 80% thị trường còn lại thuộc về các doanh nghiệp chỉ nắm giữ 1%-2% thị phần Như vậy, doanh nghiệp đứng đầu thị trường, mặc dù không nắm giữ tới 30% thị phần, nhưng lại có sức mạnh thị trường vượt trội so với phần còn lại của thị trường, hoàn toàn có khả năng đưa ra những quyết định có ảnh hưởng tới toàn thị trường

Khi đề cập đến vấn đề này quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh

2004 sử dụng thuật ngữ “khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng

kể”; và được quy định cụ thể tại Điều 22 Nghị định 116/ 2005/ NĐ-CP Như

đã đề cập ở trên, quy định của Luật Cạnh tranh 2004 chỉ mới đặt doanh nghiệp trong trạng thái tĩnh, tức là không có sự so sánh với các doanh nghiệp khác Vì thế mà việc xác định “khả năng gây hạn chế cạnh tranh” theo những

cơ sở trên là không thực sự phù hợp và chính xác

Quy định mới tại Luật Cạnh tranh 2018 đã thay thế thuật ngữ trên bằng

“sức mạnh thị trường đáng kể” và được xác định tại Điều 26 Theo đó để xác định sức mạnh thị trườngđán kể của doanh nghiệp cần căn cứ vào các yếu tố sau2:

Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan;

Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp;

Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường đối với doanh nghiệp

khác;

Khả năng nắm giữ, tiếp cận, kiểm soát thị trường phân phối, tiêu

thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn cung hàng hóa, dịch vụ;

Lợi thế về công nghệ, hạ tầng kỹ thuật;

2 Xem thêm: khoản 1 Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018

Ngày đăng: 21/11/2022, 15:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w