Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô bin xơn ngoài đảo hoang của Đi phô – Ngữ văn 9 Dàn ý 1 Mở bài Giới thiệu nhân vật và đoạn trích 2 Thân bài 1 Bức chân dung tự họa của nhân vật Rô bin sơn trong Rô bin[.]
Trang 1Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô –
Ngữ văn 9 Dàn ý
- Diện mạo của Rô-bin-sơn không thể tả, không đen lắm, râu để dài
2 Con người của Rô-bin-sơn sau bức chân dung:
- Có tinh thần lạc quan yêu đời
- Nghị lực phi thường, dũng cảm
- Lao động sáng tạo và có những sáng kiến trong lao động
- Rô-bin-sơn đã vượt qua thời tiết khắc nghiệt, những hoàn cảnh khó khăn để thể hiện bản thân mình
- Chống chọi để có cuộc sống tốt hơn
Trang 2Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
1)
Con người, mi là ai? Câu hỏi ấy giúp cho nhân loại tự ngắm mình trong những trường hợp biến dạng đến dường như không phải là con người Rô-bin-xơn rơi vào một trong những nghịch cảnh không bình thường như thế Hơn mười năm ròng rã sống trên hoang đảo, bị cắt đứt mọi liên lạc với con người, anh có còn là chàng thanh niên hai mươi bảy tuổi quê ở miền Yoóc-sai nữa hay không? Thử thách vượt qua sức tưởng tượng này là một phép thử có hồi âm, một thông điệp không bi quan
mà ngược lại
Bản năng sống không cho phép con người bất lực khoanh tay Dù thế nào, bằng cách nào cũng phải sống Quyết tâm ấy, ý chí ấy có khả năng diệu kỳ biến không thành có Nếu nghị lực là phẩm chất số một ở con người thì tại nơi đảo hoang này,
ở Rô-bin-xơn nó luôn luôn toả sáng Để định cư nơi đầu sóng ngọn gió, nơi góc bể chân trời xa lạ, những điều đầu tiên không thể không nghĩ đến: căn lều che nắng che mưa, cái ăn cái mặc hằng ngày Căn lều chắc được dựng lên từ cây cối trong rừng bằng chiếc cưa nhỏ và chiếc rìu con mà lúc nào Rô-bin-xơn cũng đeo lủng lẳng bên người Còn cái ăn chắc nhờ vào săn bắn và hái lượm, hình thái tự cung tự cấp sơ khai của người nguyên thuỷ cách đây hằng mấy chục ngàn năm nhờ khẩu súng trên vai cùng hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém Nhưng, những điều đó không phải "kỳ cục" Cái dị hình, dị tướng làm cho người ta "hoảng sợ", hoặc "phá lên cười sằng sặc" là ở hình ảnh của một thứ "người rừng" hay con gấu cô đơn Bắc Cực
Cách ăn mặc của Rô-bin-xơn quả thật là như thế Thông thường quần áo được may bằng vải vóc hay len dạ tuỳ thuộc vào thời tiết ấm lạnh mỗi mùa, nhưng căn cứ vào cách ăn mặc của anh, ta cứ ngỡ thời gian ở đây không luân chuyển Trái đất hình như đã ngừng quay để chỉ còn có một mùa đông lạnh giá quanh năm Thôi thì mũ, giày, quần áo từ đầu đến chân chỉ có một thứ vật liệu đặc sản: da dê Sự dung hòa giữa cái có ích và cái đẹp không còn Cái mũ chỉ là một thứ để đội đầu với hình thù
vượt khỏi khái niệm quy ước "to tướng cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì", dính liền
với nó rất lôi thôi là một mảnh da rủ xuống phía sau "vừa để che nắng, vừa để chắn không cho mưa hắt vào cổ"
Cả hai chức năng cần đến hai loại trang phục, nhưng Rô-bin-xơn chỉ cần đến một
chiếc mũ đa năng Cố tình làm chiếc mũ như thế, anh có một dụng ý riêng "ở miền khí hậu này, chẳng gì tai hại bằng nước mưa luồn trong áo thấm vào da thịt" Áo
và quần cũng thế, nghĩa là không cần kiểu mốt Chúng lại không ăn khớp với nhau Hình như cái áo thì quá dài (khoảng lưng chừng hai bắp đùi) còn quần lại quá ngắn, quần là dạng "quần loe" nhưng chỉ đến đầu gối mà thôi Lại nữa, vì quần được may bằng da một con dê đực già trông nó khó mà phân biệt được quần dài hay quần ngắn vì "lông dê thõng xuống mỗi bên đến giữa bắp chân" Đôi giày dưới
Trang 3chân thì cũng như chiếc mũ trên đầu, không biết gọi là gì cho đúng vì giày đi
không có tất, gọi nó là đôi ủng thì có lẽ đúng hơn vì dây của cái gọi là giày ấy không xỏ lỗ nơi mu bàn chân mà lên tới bắp chân
Sự luộm thuộm không chỉ thế Nó còn là đặc điểm trong cách trang bị trên người, lỉnh kỉnh như một cái nhà kho di động Không đeo kiếm và dao găm như những nhà quý tộc thời Đôn Ki-hô-tê, về góc độ này mà quan sát, người ta có thể nhầm anh với người thợ sơn tràng với "lủng lẳng bên này một chiếc cưa nhỏ, bên kia một chiếc rìu con" Nhưng có lẽ anh là thợ săn với đầy đủ súng khoác trên vai và hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn Cũng có thể nghĩ anh là một thổ dân da đỏ vào rừng trèo cây, đào củ với chiếc gùi đeo ở sau lưng Biết vượt lên mọi thử thách, khó khăn, Rô-bin-xơn đã tồn tại, dù hình thức của sự tồn tại hoang dã, thô sơ gần như một con người ở vào thời tiền sử
Nhưng, tất cả chỉ là cái dáng dấp bên ngoài, đằng sau những nét "hết sức kỳ cục" trên đây vẫn là một con người đang sống Danh hiệu con người cao quý, con người viết hoa được anh trân trọng giữ gìn Vì sao Rô-bin-xơn rất chú ý đến bộ ria, một
bộ râu ria nếu để nó thả sức mọc dài phải đến "hơn một gang tay"? Ý thức về con người, mà ở đây là một người đàn ông cường tráng và đầy nam tính đã nhắc nhở Rô-bin-xơn, không cho phép anh tùy tiện, buông thả rất dễ bị coi thường cho dù anh không có nhu cầu giao tiếp với ai
Và trên thực tế là ngoài anh ra, ở đây trên chốn đảo hoang không một bóng người Thậm chí cái cách "xén tỉa" thật cẩn thận, kĩ càng như một người khó tính, vì bộ ria
mà anh muốn có là "một cặp ria mép to tướng kiểu Hồi giáo như ria vài gã Thổ Nhĩ Kỳ tôi gặp ở Xa-lê" Với gương mặt đầy hãnh diện ấy, Rô-bin-xơn có thể tự hào cũng như nước da sạm màu nắng gió của vùng đất "khoảng chín hoặc mười độ
vĩ tuyến miền xích đạo" vẫn trông được, nghĩa là "nó không đến nỗi đen cháy như các bạn có thể nghĩ" Đó là niềm vui duy nhất lúc này mà Rô-bin-xơn tự cảm nhận được Ý nghĩ ấy khoẻ khoắn, trong trẻo biết bao Đó mới là chân dung con người đích thực
Về nghệ thuật, đây là một bức chân dung tự hoạ, nó đảm bảo tính chân thực, khách quan Đọc một đoạn văn không dài, ta vẫn có thể hình dung được một con người
cụ thể đến từng chi tiết Bức vẽ chân dung ấy gắn với hoàn cảnh sống đầy rẫy gian truân khi một mình sống trên hoang đảo Nhưng, một mặt khác, do sự đồng cảm và tài năng của người kể chuyện, bức tranh chân dung ấy rất sinh động, như có linh hồn Ấn tượng mà chúng ta có thể cảm nhận được là nhờ ở giọng văn, một giọng văn không đơn điệu, một chiều mà vô cùng đa dạng Chẳng hạn như miếu tả cách
ăn mặc và trang bị của Rô-bin-xơn có ý vị hài hước, cường điệu, bông phèng, nhưng đoạn văn miêu tả diện mạo, gương mặt lại rất nghiêm trang, trân trọng Chính sự đa dạng về giọng điệu của trích đoạn trên góp phần tạo nên một tính cách nhân vật không hời hợt mà có chiều sâu, vừa sôi nổi vừa trầm tư, vừa có những nét trần tục vừa có những nét thiêng liêng như một vị thánh Những hàm nghĩa đa tầng
Trang 4ấy, trong nhiều trường hợp được thể hiện bằng cách so sánh Khi thì nhà văn so sánh bộ ria theo kiểu Hồi giáo của mình trước cái nhìn của người Ma-rốc và người Anh (người Ma-rốc không để ria theo kiểu người Thổ, còn bộ ria ấy sẽ làm cho mọi người khiếp sợ nếu ở nước Anh)
Cũng là cái cười, nhưng có nhiều cung bậc Người nhìn tranh (bức chân dung tự hoạ) rất có thể vì ngạc nhiên hay hoảng sợ mà "phá lên cười sằng sặc", còn người được vẽ trong tranh Rô-bin-xơn, thì chỉ "mỉm cười" khi đứng lặng mà ngắm nghía bản thân Một đoạn văn ngắn nhưng thật là đặc sắc
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
2)
Đ Đi-phô (1660 – 1731) là đại văn hào của Vương quốc Anh, sống ở cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII Những độc giả yêu văn khắp nơi trên thế giới đều biết đến tên tuổi của Đ.Đi-phô qua kiệt tác Rô-bin-xơn Cru-xô Đặc biệt, hình ảnh của nhân vật Rô-bin-xơn trong trích đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của tiểu thuyết này
đã đọng lại trong tâm hồn người đọc nhiều suy nghĩ và cảm xúc
Rô-bin-xơn là một chàng trai thích hoạt động, ưa phiêu lưu, say sưa đến những miền đất lạ, bất chấp sóng to, gió lớn và bao nỗi gian nan, nguy hiểm khác Rô-bin-xơn xuống tàu ở Hơn, theo bạn đi Luân Đôn bằng đường biển Cuộc hành trình không gặp may mắn, con tàu bị đắm chìm ở Y-ac-mao Thế nhưng, tai họa ấy không làm chàng nản lòng Cha mẹ khóc lóc, bạn bò can ngăn vẫn không lay
chuyển được quyết tâm của chàng – chàng làm quen với một viên thuyền trưởng tàu buôn; lần này rời bến ở Ghi-nê Chuyến đầu tiên thuận buồm xuôi gió Chuyến thứ hai gặp cướp biển, Rô-bin-xơn bị bắt làm nô lệ ở Xa-lê, hai năm sau trốn thoát sang Bra-xin lập trang trại trồng trọt Chàng vẫn không hề nao núng; vài nằm sau nghe lời các bạn rủ rê, chàng xuống tàu đi Ghi-nê dự định thực hiện một chuyên buôn bán, trao đổi lớn Nào ngờ, tàu gặp bão lớn, mất phương hướng rồi bị đánh đắm Các thủy thủ trên tàu đều mạng vong Ngoại trừ Rô-bin-xơn một mình sống sót trôi giạt vào một đảo hoang không có dấu chân người
Trong trích đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, nhà văn kể chuyện Rô-bin-xơn ở trên đảo hoang vào khoảng từ năm thứ 9 đến năm thứ 15 (tính từ ngày bị đắm tàu)
Trang 5Trước tiên, chúng ta thấy Rô-bin-xơn là một chàng trai có ý chí và nghị lực phi thường Sớm gặp hoàn cảnh bất hạnh nhưng anh không nản chí, tuyệt vọng Mặc
dù sống cô đơn, không bạn bè, không người thân, nhưng anh “không ngồi rỗi, bằng lòng với những thứ mình đã có” Anh say sưa làm việc đến quên cả mệt mỏi, nhọc nhằn Anh luôn luôn được hưởng “cái thú hoàn thành một kết quả lao động mà trước kia mình phải bó tay”, nhờ phương pháp và tư tưởng tích cực: “Không còn nghĩ ngợi vẩn vơ” Tính siêng năng, tháo vát đã giúp anh ngày càng “lành nghề trong nhiều ngành thủ công” Anh trở thành thợ nặn rất khéo; ngoài bát đĩa, chum vại, bình vò thường dùng để cất trữ mọi thứ lương ăn, anh còn nặn được một cái tẩu hút thuốc, một công trình tuyệt mĩ đối với anh và anh lấy làm thích thú
Anh cũng trở thành một tay đan giỏi Anh dùng miên liễu – một loại cây nhỏ, cành mềm rủ xuống, đan nhiều đồ dùng như: thúng (để mỗi lần săn bắn được hoặc kiếm được thức ăn thì bỏ vào thúng quẩy về nhà); bồ đựng thóc,… Ngoài ra, anh còn nảy thêm sáng kiến khác: chăn nuôi Anh cảm thấy cần phải nuôi dê để cải tạo bừa
ăn vì nguồn thực phẩm ngày càng cạn kiệt Anh tâm sự: “Trong khoảng một năm rưỡi, tôi đã có một đàn mười hai con dê vừa lớn vừa nhỏ Hai năm sau, số dê lên tới bốn mươi ba con và tôi bắt đầu giết thịt để ăn Tôi làm thêm tất cả năm chuồng nữa nhỏ hơn, mỗi chuồng có nhiều ngăn để lúc cần thì bắt dê cho tiện”
Dường như chưa bằng lòng với năng lực sáng tạo của chính mình, anh ngẫm nghĩ đến chuyện vắt sữa dê – dù anh “nghĩ đến hơi muộn” Nghĩ là làm; anh bắt tay ngay vào công việc Có ngày anh vắt được bảy tám chai sữa! Do đó, việc thừa sữa uống là rất bình thường Nhưng chưa dừng lại ở đây, anh cố công “thử làm bơ và pho mát” Thất bại là mẹ của thành công Sau vài lần bị hỏng, anh đã được như ý Giờ đây, bữa ăn của anh vừa dồi dào nguồn thực phẩm, vừa ngon, vừa có nguồn giá trị dinh dưỡng cao Thế nên, anh thốt lên bằng niềm tự hào mãnh liệt: “Các bạn thử nghĩ, một mình trên một hòn đảo hoang vắng mà bữa sáng có sữa tươi, bxa ăn thường ngày có bánh mì, bánh bột gạo tẻ, thịt dê, trứng rùa, bơ và pho mát, tráng miệng thì có các thứ hoa quả, nhất là nho tươi, nho khô, thiết tưởng cũng thịnh soạn, không kém ở những khách sạn bình thường tại các thành phố lớn”
Trang 6Mặt khác, chúng ta thấy Rô-bin-xơn là một chàng trai có lòng yêu đời tha thiết Phải là một con người ham sống mới tồn tại được ở một nơi cách biệt hoàn toàn với thế giới con người như thế Một thân, một mình giữa nơi hoang đáo, anh vẫn muốn sống đàng hoàng, sống cho ra sống, sống một cách mạnh mẽ, đẹp đẽ, dũng cảm, sáng tạo, vượt lên trên mọi hiểm nguy, thiếu thốn Như vậy, quan niệm
“sống” của anh không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa sâu xa về mặt triết học (phần nhiều nghiêng về mặt triết học)
Ngày lại ngày, anh lạc quan “chu du trong địa hạt của mình giống như một người
đi dạo phố ở thời hiện đại” Dù không có ai nhìn ngắm (ngoại trừ anh) nhưng anh vẫn cứ “diện” theo sở thích của mình Anh mặc một bộ quần áo bằng da rất kì lạ, kì
lạ đến nỗi giá có người nào trông thây “nếu không kinh sợ thì cũng bò ra mà
cười!” Cái áo chẽn bằng da dê, “tà áo chấm ngang đầu gối” Quần thì ngắn nhưng
“rộng thùng thình, may bằng tấm da lông một con dê xồm, lông dê dài lê thê,
buông thõng xuống đên gần mắt cá, thành ra quần đùi mà cũng không khác quần dài” Còn cái mũ cũng được làm bằng da dê “cao lêu đêu trông thật không ra cái hình thù gì” Đã vậy, thắt lưng cũng làm bằng da lông Riêng cái tư thế của anh chẳng khác nào một nhân vật trong truyện xưa đang phòng thủ: “Một cái cưa và một cái búa ở hai bên hông Một sợi dây da vòng qua cổ sang phía tay trái, đeo lủng lẳng hai cái túi hình dáng lạ lùng, một cái túi đựng thuốc súng, một túi đựng đạn ghém Sau lưng cõng một cái gùi, vai mang súng và trên đầu là cái dù xoè ra, bao che tất cả thân mình” Bởi trang phục như vậy nên khuôn mặt của anh “rám nắng, đen sạm lại”, râu “đâm ra như cái chổi xể”, trên mép lại để một cặp ria theo kiểu người Thổ Nhĩ Kì “vừa dài vừa rậm khác thường”
Rõ ràng, cách trang phục càng “tô đậm thêm nét cổ quái” vào diện mạo của anh – đúng như anh tự nhận xét là lệ bộ kì dị ấy đã khiến con chó người bạn thân của anh
tỏ vẻ “kinh ngạc và khiếp sợ Nó nghi nghi hoặc hoặc, chạy nép vào một góc nhà đứng nhìn ra, có ý dò xem cái con vật quái dị kia là bạn hay là thù” Ấy vậy mà anh không hề cảm thấy đau khổ, tủi thân Trái lại, anh kế cho chúng ta nghe bức chân dung tự họa của mình bằng giọng điệu vui tươi, pha lẫn những tiếng cười Chẳng những thế, anh còn tự nhận mình là một vị “chúa đảo” Có thể khẳng định rằng, giữa nơi hoang vu, vắng bóng dáng thân thương của con người, chất hoang
Trang 7dã đã nổi dậy lấn chiếm con người, hoang dã hóa con người nhưng chàng trai bất hạnh Rô-bin-xơn đã giành được chiến thắng, chiến thắng một cách vinh quang, vĩ đại, một chiến thắng mà đến 300 năm sau, trên hành tinh này chưa có người thứ hai đạt được
Tóm lại, Rô-bin-xơn là một chàng trai có ý chí, nghị lực phi thường và lòng yêu đời mãnh liệt, mãnh liệt ngay cả trong hoàn cảnh hết sức khó khăn Chính những phẩm chất tốt đẹp của chàng đã khơi dậy trong tâm hồn thơ ngây, trong sáng của
em một tình yêu, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống hiện tại; một ý chí sắt đá, một nghị lực thép trong học tập và rèn luyện đạo đức để mai này em không chỉ giúp ích được cho bản thân mình mà còn cho xã hội yêu thương
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
3)
“Rô- bin- xơn ngoài đảo hoang” là một trích đoạn trong tiểu thuyết nổi tiếng “Rô- bin- xơn Cru- xô” của nhà văn nổi tiếng người Anh là Dê- ni- ơn Đi- phô Trích đoạn này đã tái hiện, xây dựng thành công bức chân dung của Rô- bin- xơn, một con người thích những phưu lưu, mạo hiểm nhưng sau một sự cố anh ta đã lưu lạc trên một hòn đảo hoang Sống một mình ở nơi hoang vu, rộng lớn không có sự sống của con người nhưng Rô bin- xơn vẫn vô cùng lạc quan, yêu đời, điều mà không phải ai cũng có thể làm được, không phải ai cũng có thể mạnh mẽ vượt qua được như vậy
Dê- ni- ơn Đi- phô bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn chương của mình từ rất sớm nhưng không để lại được những dấu ấn rõ rệt, phải đến năm sáu mươi tuổi thì sự nghiệp văn chương của ông mới có những khởi sắc nhất định, ông cho ra đời
những tác phẩm không chỉ có giá trị về nội dung mà nghệ thuật cũng vô cùng đặc sắc Đó là những tiểu thuyết có giá trị, trong đó có tiểu thuyết nổi tiếng lẫy lừng,
đó chính là “Rô- bin-xơn Cru-xô” Trích đoạn “Rô- bin- xơn ngoài đảo hoang” chỉ
là một trích đoạn rất ngắn trong cuoobs tiểu thuyết này Đó là trích đoạn phác họa
rõ nét bức chân dung của nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết này, đó chính là Rô- bin- xơn
Trang 8Mở đầu trích đoạn này, nhà văn đã đi khắc họa chân dung đầy kì quái của Rô- bin- xơn khi một mình sống trên đảo hoang Thông thường, các nhà văn khác khi đi miêu tả chân dung cho nhân vật của mình thường bắt đầu miêu tả từ khuôn mặt đến vóc dáng, sau đó với đến những tiểu tiết của ngoại hình, nhưng ở đây, nhà văn Đi- phô đã đi miêu tả những chi tiết phụ trước sau đó mới đi sâu miêu tả khuôn mặt của anh ta Đó chính là một người đàn ông với cách ăn mặc kì quái và mang theo bên người những đồ đạc lỉnh kỉnh Ngoài ra bộ ria mép của anh ta cũng làm cho tổng thể hình dáng của anh ta trở nên kì quặc, khác thường
Rô- bin- xơn vốn là một người ưa thích những chuyến đi mạo hiểm, những cuộc phưu lưu kì thú Nhưng trong một lần đi biển cùng những người đồng đội, đó là chuyến đi xuất phát từ biển Bra-xin thì anh bị đắm thuyền, trôi dạt trên biển rồi cuối cùng bị dạt vào vùng đảo hoang Đây là một hòn đảo hoang sơ, không có người sinh sống Ngay qua bộ trang phục kì quặc, diện mạo kì lạ của Rô- bin- xơn
ta có thể phần nào tưởng tượng được hoàn cảnh sống vô cùng khắc nghiệt nơi đây
Đó là bộ quần áo làm bằng da dê, không được may vá cẩn thận mà chỉ buộc lại với nhau một cách rúm ró, và đôi ủng của anh ta cũng làm bằng da dê Chiếc mũ trên đầu Rô- bin- xơn cũng rất khác người, đó là “chiếc mũ to tướng, cao lêu đêu chẳng
ra hình thù gì”, làm bằng da của một con dê, với mảnh vải rủ xuống phía sau gáy nhìn thật kì quặc
Với những điều kiện thiếu thốn, khắc nghiệt nơi đảo hoang thì những trang phục như vậy cũng được xem là khá tươm tất, hơn nữa chúng còn là những trang phục rất tiện lợi cho việc đi lại cũng như kiếm sống trên đảo hoang, vì nước cũng không thể thấm vào những miếng da dê, hơn nữa khi trời trở lạnh cũng có thể giữ ấm cho
cơ thể Trong trích đoạn này, Rô- bin- xơn đã tự thuật lại theo ngôi kể thứ nhất, giọng nói của anh ta khi kể về mình đầy hóm hỉnh, hài hước Khác hẳn với con người đang bị cô lập nơi đảo hoang, một mình sống trong điều kiện khắc nghiệt nơi đây
Trang phục của Rô- bin- xơn cũng rất kì quặc, đó là một chiếc áo làm bằng da dê, vạt áo dài đến lưng bắp đùi và chiếc quần rúm ró bằng da dê dài đến đầu gối Trang
bị mang trên người của Rô- bin- xơn cũng là những vật dụng kiếm được khi sóng
Trang 9biển cuốn chúng trôi vào bờ, đó là một chiếc cưa nhỏ và một chiếc rìu nhỏ Qua những vật dụng này ta có thể thấy cuộc sống trên đảo hoang của Rô- bin- xơn không có những kẻ thù hay những nguy hiểm rình rập Cưa và rìu tuy là những vật dụng đơn giản, thô sơ nhưng cũng rất hữu ích đối với Rô- bin –xơn vì chúng có thể dùng để cho việc mưu sinh của anh ta trên đảo hoang, có thể dùng để chặt cây, cưa
gỗ dựng lều, lấy chỗ che mưa, che nắng, phòng trừ có thú dữ, ngoài ra còn có một khoảng đất trống dùng để nuôi dê sau này Ta có thể thấy Rô- bin-xơn vô cùng lạc quan, vì ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất thì vẫn tin tưởng vào cuộc sống phía trước, lên kế hoạch cho tương lai Đây là điều không phải ai cũng làm được, thể hiện một con người mạnh mẽ, đầy bản lĩnh
Tuy là mảnh đất bị bỏ hoang, nằm giữa mênh mông sóng biển nhưng cũng thật may ở đây còn có những chú dê, vì vậy mà cuộc sống của Rô- bin- sơn có thể được duy trì Ngoài ra anh ta còn mang theo bên mình một chiếc súng, thuốc súng và đạn gém Nhờ vậy mà cuộc sống của anh ta ở trên đảo hoang này bớt khắc nghiệt
đi rất nhiều, anh ta có thể săn dê để lấy thịt ăn, da dê thì làm trang phục, giày, bốt
đi lại Vì sự lạc quan, cùng với sức mạnh trai tráng, Rô- bin- xơn đã vượt qua mọi khó khăn, một mình vẫn có thể sống tốt nơi hoang đảo, không những thế mà về sau Rô- bin- xơn còn có thể tự trồng lúa mì nhờ những hạy lúa mì còn sót lại khi anh ta
đi vớt những vật dụng còn lại khi con tàu đắm
Như vậy, “Rô- bin- xơn ngoài đảo hoang” là đoạn trích thể hiện thật đẹp bức chân dung của Rô- bin- xơn một con người luôn yêu đời, sống lạc quan, những khó khăn nơi đảo hoang không là những trở ngại, không làm cho anh gục ngã mà dường như làm cho anh trở nên mạnh mẽ hơn, bản lĩnh hơn Qua chân dung của Ro- bin- xơn, người đọc cũng có thêm những niềm tin vào cuộc sống, thêm yêu đời cũng như sống có ích hơn Đó là những giá trị cao đẹp mà tác phẩm này mang lại cho người đọc
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
4)
Trang 10Con người, mi là ai? Câu hỏi ấy giúp cho nhân loại tự ngắm mình trong những trường hợp biến dạng đến dường như không phải là con người Rô-bin-xơn rơi vào một trong những nghịch cảnh không bình thường như thế Hơn mười năm ròng rã sống trên hoang đảo, bị cắt đứt mọi liên lạc với con người, anh có còn là chàng thanh niên hai mươi bảy tuổi quê ở miền Y-oóc-sai nữa hay không? Thử thách vượt qua sức tưởng tượng này là một phép thử có hồi âm, một thông điệp không bi quan mà ngược lại
Bản năng sống không cho phép con người bất lực khoanh tay Dù thế nào, bằng cách nào cũng phải sống Quyết tâm ấy, ý chí ấy có khả năng diệu kì biến không thành có Nếu nghị lực là phẩm chất số một ở con người thì tại nơi đảo hoang này,
ở Rô-bin-xơn nó luôn luôn toả sáng Để định cư nơi đầu sóng ngọn gió, nơi góc bể chân trời xa lạ, những điều đầu tiên không thể không nghĩ đến: căn lều che nắng che mưa, cái ăn cái mặc hằng ngày Căn lều chắc được dựng lên từ cây cối trong rừng bằng chiếc cưa nhỏ và chiếc rìu con mà lúc nào Rô-bin-xơn cũng đeo lủng lẳng bên người Còn cái ăn chắc nhờ vào săn bắn và hái lượm, hình thái tự cung tự cấp sơ khai của người nguyên thuỷ cách đây hằng mấy chục ngàn năm nhờ khẩu súng trên vai cùng hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém
Nhưng, những điều đó không phải “kì cục” Cái dị hình, dị tướng làm cho người ta
“hoảng sợ”, hoặc “phá lên cười sằng sặc” là ở hình ảnh của một thứ “người rừng” hay con gấu cô đơn Bắc Cực Cách ăn mặc của Rô-bin-xơn quả thật là như thế Thông thường quần áo được may bằng vải vóc hay len dạ tuỳ thuộc vào thời tiết
ấm lạnh mỗi mùa, nhưng căn cứ vào cách ăn mặc của anh, ta cứ ngỡ thời gian ở đây không luân chuyển Trái đất hình như đã ngừng quay để chỉ còn có một mùa đông lạnh giá quanh năm Thôi thì mũ, giày, quần áo từ đầu đến chân chỉ có một thứ vật liệu đặc sản: da dê
Sự dung hoà giữa cái có ích và cái đẹp không còn Cái mũ chỉ là một thứ để đội đầu với hình thù vượt khỏi khái niệm quy ước “to tướng cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì”, dính liền với nó rất lôi thôi là một mảnh da rủ xuống phía sau “vừa để che nắng, vừa để chắn không cho mưa hắt vào cổ” Cả hai chức năng cần đến hai loại trang phục, nhưng Rô-bin-xơn chỉ cần đến một chiếc mũ đa năng Cố tình làm
Trang 11chiếc mũ như thế, anh có một dụng ý riêng “ở miền khí hậu này, chẳng gì tai hại bằng nước mưa luồn trong áo thấm vào da thịt” Áo và quần cũng thế, nghĩa là không cần kiểu mốt Chúng lại không ăn khớp với nhau Hình như cái áo thì quá dài (khoảng lưng chừng hai bắp đùi) còn quần lại quá ngắn, quần là dạng “quần loe” nhưng chỉ đến đầu gối mà thôi
Lại nữa, vì quần được may bằng da một con dê đực già trông nó khó mà phân biệt được quần dài hay quần ngắn vì “lông dê thõng xuống mỗi bên đến giữa bắp
chân” Đôi giày dưới chân thì cũng như chiếc mũ trên đầu, không biết gọi là gì cho đúng vì giày đi không có tất, gọi nó là đôi ủng thì có lẽ đúng hơn vì dây của cái gọi
là giày ấy không xỏ lỗ nơi mu bàn chân mà lên tới bắp chân
Sự luộm thuộm không chỉ thế Nó còn là đặc điểm trong cách trang bị trên người, lỉnh kỉnh như một cái nhà kho di động Không đeo kiếm và dao găm như những nhà quý tộc thời Đôn Ki-hô-tê, về góc độ này mà quan sát, người ta có thể nhầm anh với người thợ sơn tràng với “lủng lẳng bên này một chiếc cưa nhỏ, bên kia một chiếc rìu con” Nhưng có lẽ anh là thợ săn với đầy đủ súng khoác trên vai và hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn Cũng có thể nghĩ anh là một thổ dân da đỏ vào rừng trèo cây, đào củ với chiếc gùi đeo ở sau lưng
Biết vượt lên mọi thử thách, khó khăn, Rô-bin-xơn đã tồn tại, dù hình thức của sự tồn tại hoang dã, thô sơ gần như một con người ở vào thời tiển sử
Nhưng, tất cả chỉ là cái dáng dấp bên ngoài, đậng sau những nét “hết sức kì cục” trên đây vẫn là một con người đang sống Danh hiệu con người cao quý, con người viết hoa được anh trân trọng giữ gìn Vì sao Rồ-bin-xơn rất chú ý đến bộ ria, một
bộ râu ria nếu để nó thả sức mọc dài phải đến “hơn một gang tay” ? Ý thức về con người, mà ở đây là một người đàn ông cường tráng và đầy nam tính đã nhắc nhở Rô-bin-xơn, không cho phép anh tuỳ tiện, buông thả rất dễ bị coi thường cho dù anh không có nhu cầu giao tiếp với ai Và trên thực tế là ngoài anh ra, ở đây trên chốn đảo hoang không một bóng người
Trang 12Thậm chí cái cách “xén tỉa” thật cẩn thận, kĩ càng như một người khó tính, vì bộ ria mà anh muốn có là “một cặp ria mép to tướng kiểu Hồi giáo như ria vài gã Thổ Nhĩ Kì tôi gặp ở Xa-lê” Với gương mặt đầy hãnh diện ấy, Rô-bin-xơn có thể tự hào cũng như nước da sạm màu nắng gió của vùng đất “khoảng chín hoặc mười độ
vĩ tuyến miền xích đạo” vẫn trông được, nghĩa là “nó không đến nỗi đen cháy như các bạn có thể nghĩ” Đó là niểm vui duy nhất lúc này mà Rô-bin-xơn tự cảm nhận được Ý nghĩ ấy khoẻ khoắn, trong ,trẻo biết bao Đó mới là chân dung con người đích thực
Về nghệ thuật, đây là một bức chân dung tự hoạ, nó đảm bảo tính chân thực, khách quan Đọc một đoạn văn không dài, ta vẫn có thể hình dung được một con người
cụ thể đến từng chi tiết Bức vẽ chân dung ấy gắn với hoàn cảnh sống đầy rẫy gian truân khi một mình sống trên hoang đảo Nhưng, một mặt khác, do sự đồng cảm và tài năng của người kể chuyên, bức tranh chân dung ấy rất sinh động, như có linh hồn Ấn tượng mà chúng ta có thể cảm nhận được là nhờ ở giọng văn, một giọng văn không đơn điệu, một chiều mà vô cùng đa dạng Chẳng hạn như miếu tả cách
ăn mặc và trang bị của Rô-bin-xơn có ý vị hài hước, cường điệu, bông phèng, nhưng đoạn văn miêu tả diện mạo, gương mặt lại rất nghiêm trang, trân trọng
Chính sự đa dạng về giọng điệu của trích đoạn trên góp phần tạo nên một tính cách nhân vật không hời hợt mà có chiều sâu, vừa sôi nổi vừa trầm tư, vừa có những nét trần tục vừa có những nét thiêng liêng như một vị thánh Những hàm nghĩa đa tầng
ấy, trong nhiều trường hợp được thể hiện bằng cách so sánh Khi thì nhà văn so sánh bộ ria theo kiểu Hồi giáo của mình trước cái nhìn của người Ma-rốc và người Anh (người Ma-rốc không để ria theo kiểu người Thổ, còn bộ ria ấy sẽ làm cho mọi người khiếp sợ nếu ở nước Anh) Cũng là cái cười, nhưng có nhiều cung bậc Người nhìn tranh (bức chân dung tự hoạ) rất có thể vì ngạc nhiên hay hoảng sợ mà
“phá lên cười sằng sặc”, còn người được vẽ trong tranh Rô-bin-xơn, thì chỉ “mỉm cười” khi đứng lặng mà ngắm nghía bản thân Một đoạn văn ngắn nhưng thật là đặc sắc
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
5)
Trang 13Con người, mi là ai? Câu hỏi ấy giúp cho nhân loại tự ngắm mình trong những trường hợp biến dạng đến dường như không phải là con người Rô-bin-xơn rơi vào một trong những nghịch cảnh không bình thường như thế Hơn mười năm ròng rã sống trên hoang đảo, bị cắt đứt mọi liên lạc với con người, anh có còn là chàng thanh niên hai mươi bảy tuổi quê ở miền Y-oóc-sai nữa hay không? Thử thách vượt qua sức tưởng tượng này là một phép thử có hồi âm, một thông điệp không bi quan mà ngược lại
Bản năng sống không cho phép con người bất lực khoanh tay Dù thế nào, bằng cách nào cũng phải sống Quyết tâm ấy, ý chí ấy có khả năng diệu kì biến không thành có Nếu nghị lực là phẩm chất số một ở con người thì tại nơi đảo hoang này,
ở Rô-bin-xơn nó luôn luôn toả sáng Để định cư nơi đầu sóng ngọn gió, nơi góc bể chân trời xa lạ, những điều đầu tiên không thể không nghĩ đến: căn lều che nắng che mưa, cái ăn cái mặc hằng ngày Căn lều chắc được dựng lên từ cây cối trong rừng bằng chiếc cưa nhỏ và chiếc rìu con mà lúc nào Rô-bin-xơn cũng đeo lủng lẳng bên người Còn cái ăn chắc nhờ vào săn bắn và hái lượm, hình thái tự cung tự cấp sơ khai của người nguyên thuỷ cách đây hằng mấy chục ngàn năm nhờ khẩu súng trên vai cùng hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém
Nhưng, những điều đó không phải "kì cục" Cái dị hình, dị tướng làm cho người ta "hoảng sợ", hoặc "phá lên cười sằng sặc" là ở hình ảnh của một thứ
"người rừng" hay con gấu cô đơn Bắc Cực Cách ăn mặc của Rô-bin-xơn quả thật
là như thế Thông thường quần áo được may bằng vải vóc hay len dạ tuỳ thuộc vào thời tiết ấm lạnh mỗi mùa, nhưng căn cứ vào cách ăn mặc của anh, ta cứ ngỡ thời gian ở đây không luân chuyển Trái đất hình như đã ngừng quay để chỉ còn có một mùa đông lạnh giá quanh năm Thôi thì mũ, giày, quần áo từ đầu đến chân chỉ có một thứ vật liệu đặc sản: da dê
Sự dung hoà giữa cái có ích và cái đẹp không còn Cái mũ chỉ là một thứ để đội đầu với hình thù vượt khỏi khái niệm quy ước "to tướng cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì", dính liền với nó rất lôi thôi là một mảnh da rủ xuống phía sau "vừa để che nắng, vừa để chắn không cho mưa hắt vào cổ" Cả hai chức năng cần đến hai loại trang phục, nhưng Rô-bin-xơn chỉ cần đến một chiếc mũ đa năng Cố tình làm chiếc mũ như thế, anh có một dụng ý riêng "ở miền khí hậu này, chẳng gì tai hại bằng nước mưa luồn trong áo thấm vào da thịt" Áo và quần cũng thế, nghĩa là không cần kiểu mốt Chúng lại không ăn khớp với nhau Hình như cái áo thì quá dài (khoảng lưng chừng hai bắp đùi) còn quần lại quá ngắn, quần là dạng "quần loe" nhưng chỉ đến đầu gối mà thôi
Lại nữa, vì quần được may bằng da một con dê đực già trông nó khó mà phân biệt được quần dài hay quần ngắn vì "lông dê thõng xuống mỗi bên đến giữa bắp
Trang 14chân" Đôi giày dưới chân thì cũng như chiếc mũ trên đầu, không biết gọi là gì cho đúng vì giày đi không có tất, gọi nó là đôi ủng thì có lẽ đúng hơn vì dây của cái gọi
là giày ấy không xỏ lỗ nơi mu bàn chân mà lên tới bắp chân
Sự luộm thuộm không chỉ thế Nó còn là đặc điểm trong cách trang bị trên người, lỉnh kỉnh như một cái nhà kho di động Không đeo kiếm và dao găm như những nhà quý tộc thời Đôn Ki-hô-tê, về góc độ này mà quan sát, người ta có thể nhầm anh với người thợ sơn tràng với "lủng lẳng bên này một chiếc cưa nhỏ, bên kia một chiếc rìu con" Nhưng có lẽ anh là thợ săn với đầy đủ súng khoác trên vai
và hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn Cũng có thể nghĩ anh là một thổ dân da đỏ vào rừng trèo cây, đào củ với chiếc gùi đeo ở sau lưng
Biết vượt lên mọi thử thách, khó khăn, Rô-bin-xơn đã tồn tại, dù hình thức của
sự tồn tại hoang dã, thô sơ gần như một con người ở vào thời tiền sử
Nhưng, tất cả chỉ là cái dáng dấp bên ngoài, đằng sau những nét "hết sức kì cục" trên đây vẫn là một con người đang sống Danh hiệu con người cao quý, con người viết hoa được anh trân trọng giữ gìn Vì sao Rồ-bin-xơn rất chú ý đến bộ ria, một bộ râu ria nếu để nó thả sức mọc dài phải đến "hơn một gang tay" ? Ý thức về con người, mà ở đây là một người đàn ông cường tráng và đầy nam tính đã nhắc nhở Rô-bin-xơn, không cho phép anh tuỳ tiện, buông thả rất dễ bị coi thường cho
dù anh không có nhu cầu giao tiếp với ai Và trên thực tế là ngoài anh ra, ở đây trên chốn đảo hoang không một bóng người
Thậm chí cái cách "xén tỉa" thật cẩn thận, kĩ càng như một người khó tính, vì
bộ ria mà anh muốn có là "một cặp ria mép to tướng kiểu Hồi giáo như ria vài gã Thổ Nhĩ Kì tôi gặp ở Xa-lê" Với gương mặt đầy hãnh diện ấy, Rô-bin-xơn có thể
tự hào cũng như nước da sạm màu nắng gió của vùng đất "khoảng chín hoặc mười
độ vĩ tuyến miền xích đạo" vẫn trông được, nghĩa là "nó không đến nỗi đen cháy như các bạn có thể nghĩ" Đó là niềm vui duy nhất lúc này mà Rô-bin-xơn tự cảm nhận được Ý nghĩ ấy khỏe khoắn, trong ,trẻo biết bao Đó mới là chân dung con người đích thực
Về nghệ thuật, đây là một bức chân dung tự hoạ, nó đảm bảo tính chân thực, khách quan Đọc một đoạn văn không dài, ta vẫn có thể hình dung được một con người cụ thể đến từng chi tiết Bức vẽ chân dung ấy gắn với hoàn cảnh sống đầy rẫy gian truân khi một mình sống trên hoang đảo Nhưng, một mặt khác, do sự đồng cảm và tài năng của người kể chuyên, bức tranh chân dung ấy rất sinh động, như có linh hồn Ấn tượng mà chúng ta có thể cảm nhận được là nhờ ở giọng văn, một giọng văn không đơn điệu, một chiều mà vô cùng đa dạng Chẳng hạn như
Trang 15miếu tả cách ăn mặc và trang bị của Rô-bin-xơn có ý vị hài hước, cường điệu, bông phèng, nhưng đoạn văn miêu tả diện mạo, gương mặt lại rất nghiêm trang, trân trọng
Chính sự đa dạng về giọng điệu của trích đoạn trên góp phần tạo nên một tính cách nhân vật không hời hợt mà có chiều sâu, vừa sôi nổi vừa trầm tư, vừa có những nét trần tục vừa có những nét thiêng liêng như một vị thánh Những hàm nghĩa đa tầng ấy, trong nhiều trường hợp được thể hiện bằng cách so sánh Khi thì nhà văn so sánh bộ ria theo kiểu Hồi giáo của mình trước cái nhìn của người Ma-rốc và người Anh (người Ma-rốc không để ria theo kiểu người Thổ, còn bộ ria ấy
sẽ làm cho mọi người khiếp sợ nếu ở nước Anh) Cũng là cái cười, nhưng c nhiều cung bậc Người nhìn tranh (bức chân dung tự hoạ) rất có thể vì ngạc nhiên hay hoảng sợ mà "phá lên cười sằng sặc", còn người được vẽ trong tranh Rô-bin-xơn, thì chỉ "mỉm cười" khi đứng lặng mà ngắm nghía bản thân Một đoạn văn ngắn nhưng thật là đặc sắc
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
6)
Rô-bin-xơn Cru-sô là cuốn tiểu thuyết từng làm say mê bao thế hệ trẻ em Việt Nam Dựa trên một câu chuyện có thật, Đ Đi-phô đã sáng tạo hình tượng chàng thủy thủ Rô-bin-xơn lạc giữa đảo hoang hơn hai mươi tám năm đã cho thấy con người có thể vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, chiến thắng thiên nhiên
và tự chiến thắng nỗi cô đơn của chính mình để trở về với đồng loại Cuộc sống ấy hiện lên qua lời kể của chính nhân vật, khiến chúng ta thích thú và bị cuốn hút theo giọng kể hài hước, ngôn ngữ đặc tả chi tiết sống động hóm hỉnh, toát lên vẻ đẹp tinh thần lạc quan của con người Đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang sẽ cho thấy rõ vẻ đẹp ấy
Nhân vật tự hình dung diện mạo chính mình để thuật lại cho người đọc bằng giọng điệu hài hước cố hữu nổi tiếng của người Anh Tính chất của lời tự thuật khiến cho trình tự miêu tả cũng hết sức độc đáo, khác với lối tả chân dung thông thường Đằng sau giọng kể ấy là cả một quãng thời gian đằng đẵng tách biệt với đồng loại, chàng phải một mình đối mặt với bao hiểm nguy rình rập, với thời tiết mưa nắng thất thường của vùng xích đạo Cần phải nói ngay rằng, dù phải một mình sống giữa đảo hoang, Rô-bin-xơn không khi nào nguôi những tình cảm hướng về nước Anh, vùng Y-óoc-sai quê hương của chàng Bởi thế, lời kể của một người đã gần ba mươi năm sống tách biệt đồng loại vẫn in đậm dấu ấn suy tưởng hướng về xứ sở Nếu không có tình cảm mãnh liệt ấy, có lẽ chàng đã chết trong mòn mỏi và tuyệt vọng rồi ! Sống để trở về, đó là cơ sở hành động để chàng phải chuẩn bị chu đáo, chống chọi với mọi mối đe doạ từ nhiều phía, tổ chức cuộc sống
Trang 16cho mình Bản thân câu chuyện được kể lại đã có thể xem như khúc khải hoàn sau gần ba mươi năm của một con người dũng cảm đã tự tạo được niềm tin ở chính mình Trước hết, hãy nghe chàng tả về trang phục: “Tôi đội một chiếc mũ to tướng cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì làm bằng da một con dê, với mảnh da rủ xuống phía sau gáy, vừa để che nắng, vừa để chắn không cho mưa hắt vào cổ” Bộ dạng
ấy quả thật đã tạo nên được nụ cười mỉm từ phía bạn đọc và có lẽ chính người tạo
ra nó cũng phải thú vị trước hiệu quả, công dụng của chiếc mũ này Không chỉ có chiếc mũ, mà cả áo, quần, “giày” cũng được làm bằng da dê – trang phục ấy không còn bất cứ dấu vết nào của đời sống văn minh Rô-bin-xơn tự ngắm nghía mình, phô ra tất cả những nét vụng về thô kệch trong bộ dạng từ đầu đến chân là … dê của mình, hài lòng với sự hào phóng của đảo hoang đã hào phóng cho chàng những tấm da dê quý giá Nhưng có lẽ sự hài lòng hiện ra sau lời kể chính là ở chỗ tất cả đều được tạo nên từ bàn tay lao động, là công sức và sự khéo léo của chính chàng
để chế tác ra những sản phẩm độc nhất vô nhị này Cuộc sống gần ba mươi năm buồn tẻ không lấy mất được của chàng tính hài hước khi tự thuật : “tôi không có bít tất mà cũng chẳng có giày, nhưng đã làm cho mình được một đôi, chẳng biết gọi là
gì, giống như đôi ủng, bao quanh bắp chân và buộc dây hai bên…” Có lẽ đến tận bây giờ, các nhà thiết kế thời trang giàu óc tưởng tượng nhất cũng không thể chế tác được một bộ đồng phục … dê độc đáo đến thế ! Nhưng với Rô-bin-xơn, giá trị
sử dụng của món thời trang này mới là mục đích của chàng, bởi nhờ thế, chàng tồn tại với tư cách một con người đàng hoàng, không phải một con người bị lôi kéo trở
về với bản năng nguyên thủy ăn lông ở lỗ
Vị lãnh chúa và cũng là thần dân duy nhất của đảo hoang này trong suốt mười lăm năm còn trang bị cho mình những vật dụng cần thiết để bảo đảm cuộc sống nơi hoang dã Vẫn bằng giọng điệu hóm hỉnh, Rô-bin-xơn thuật lại cho chúng ta hình ảnh một anh chàng nai nịt chỉnh tề như một chiến binh nhưng “không đeo kiếm và dao găm mà lủng lẳng bên này một chiếc cưa nhỏ, bên kia một chiếc rìu con” Thêm vào đó là hai cái túi cũng bằng da dê, “một túi đựng thuốc súng, túi kia đựng đạn ghém” Với những vật dụng lỉnh kỉnh như vậy, ta hình dung ra một con người suốt ngày bận rộn với công việc chặt cây, cưa gỗ dựng lều, rào giậu, dựng lên “cơ ngơi” cho riêng mình Qua hình ảnh Rô-bin-xơn “đeo gùi sau lưng, khoác súng bên vai, và giương trên đầu một chiếc dù lớn bằng da dê”, ta như nhìn thấy bóng dáng con người thời tiền sử sống bằng nghề hái lượm, săn bắt Nhưng điểm khác biệt duy nhất là khẩu súng – vật bất li thân của chàng Vũ khí của xã hội văn minh phần nào cũng giúp chàng tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm để đối chọi với thiên nhiên, chủ động đối phó với mọi bất trắc một cách tự tin hơn Rô-bin-xơn không hề
ỷ lại vào đó để sống sót mà điều quan trọng là sống một cách vững vàng trong điều kiện thiếu thốn Đàng sau nụ cười thấp thoáng qua lời kể, ta có thể hình dung ra quyết tâm và ý chí của một con người đầy nghị lực vươn lên Biết bao lo toan, tính
Trang 17toán từ “sáng tạo” để thích nghi với hoàn cảnh, khẳng định bản năng sinh tồn mạnh
mẽ của con người hiện lên qua câu chuyện của Rô-bin-xơn Chiếc mũ da dê kì quái che đến tận cổ vì “chẳng có gì tai hại bằng nước mưa luồn trong áo thấm vào da thịt” Một trận cảm lạnh bất ngờ có thể làm chàng gục ngã, ý thức được điều đó nên chàng phòng ngừa tối đa cho sức khoẻ chính mình Những công việc bận rộn với vật dụng bất li thân đáp ứng những nhu cầu tối thiểu cũng là cách để chàng vượt qua cảm giác buồn chán thường dễ xảy đến với con người cô đơn Nếu như chỉ ngồi khắc từng vạch lên thân cây đếm thời gian, hẳn chàng đã không đủ sức mạnh để tồn tại suốt một thời gian dài đằng đẵng như vậy Ý chí của Rô-bin-xơn mới mạnh mẽ làm sao! Chàng không chỉ đối chọi với thiên nhiên mà đã thể hiện rõ
tư thế người làm chủ, bắt thiên nhiên phải khuất phục Không những thế, qua những chi tiết chàng tự mô tả bản thân, ta hiểu Rô-bin-xơn đã tự chiến thắng chính mình Đây mới quả thực là chiến thắng vinh quang đáng tự hào nhất, vì là thử thách khó vượt nhất !
Khép lại bức chân dung tự hoạ bản thân, Rô-bin-xơn mới tự hoạ diện mạo của mình bằng mấy dòng ngắn ngủi nhưng khiến ta phải nở nụ cười sảng khoái Không
hề có một tấm gương soi, nên việc chăm chút dung nhan chỉ giới hạn ở trong tầm mắt của Rô-bin-xơn : bộ ria mép kiểu cách được chăm sóc cẩn thận Hoá ra trong hoàn cảnh ấy, một chàng thợ may tồi vẫn có thể thành một anh thợ cạo cầu kì tạo dáng cho bộ ria : “tôi xén tỉa thành một cặp ria mép to tướng kiểu Hồi giáo như ria vài gã Thổ Nhĩ Kì tôi gặp ở Xa-lê” Nhu cầu làm đẹp ấy hiệu quả ra sao ? Hãy nghe Rô-bin-xơn tự thưởng thức : “tôi chẳng dám nói cặp ria mép ấy dài đến mức
có thể dùng treo mũ của tôi ; nhưng chiều dài và hình dáng kì quái của chúng cũng khiến cho mọi người phải khiếp sợ nếu như là ở nước Anh” Bộ ria ấy chẳng biết
có gợi lên vẻ oai vệ trịnh trọng như một Xun-tan (lãnh chúa) người Thổ hay không, nhưng gợi cho ta tiếng cười đầy chất u-mua (humour) của người Anh chính hiệu Tính hài hước là liều thuốc vô giá, xua đi những muộn phiền Tiếng cười ấy không tách rời niềm hi vọng khao khát trở về với nước Anh thân yêu của Rô-bin-xơn, thấm đượm tinh thần lạc quan của con người đầy bản lĩnh
Khép lại trang sách, chân dung Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang vẫn sống động từng chi tiết, với nụ cười thường trực có sức hấp dẫn lạ kì Rô-bin-xơn là hiện thân của con người lí tưởng không biết lùi bước trước bất kì thử thách khắc nghiệt nào Bản lĩnh phi thường và tình yêu sự sống của chàng là bài học cho bất cứ ai muốn hoàn thiện giá trị tốt đẹp của con người Ta chợt hiểu, vì sao Rô-bin-xơn Cru-sô của Đ Đê-phô lại cuốn hút sự say mê của biết bao nhiêu thế hệ trên khắp hành tinh này !
Trang 18Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
7)
“Rô-bin-xơn Cru-xô” là tiểu thuyết đầu tay và cũng là nổi tiếng nhất của Đi-phô Tác phẩm ca ngợi lao động nghị lực phi thường và sức mạnh của những con người trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên “Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang” là một đoạn trích tiêu biểu trong tác phẩm Câu chuyện cho người đọc hình dung cuộc sống khó khăn, gian khổ của nhân vật Rô-bin-xơn, qua đó khắc họa tinh thần lạc quan bất chấp gian khổ của Rô-bin-xơn
Tác phẩm được tác giả viết khi gần 60 tuổi, được gợi cảm hứng từ câu chuyện có thật về một thủy thủ người anh tên là Alếch-xăng-đê Xen-kiếc đã bị bỏ lại và sống
ở đó một mình bốn năm bốn tháng Khi thuyền trưởng Rôgiơ tìm thấy thì anh ta gần như đã trở nên hoang dã Từ câu chuyện về người thủy thủ này, Đi-phô đã sáng tạo và nâng nhân vật Rô-bin-xơn của mình lên một tầm vóc mới: Con người đấu tranh, chinh phục tự nhiên, con người chiến thắng hoàn cảnh Đoạn trích kể về khoảng thời gian từ năm thứ chín đến năm thứ mười lăm của Rô-bin-xơn trên hòn đảo hoang, đã phải vượt qua bao nhiêu thử thách, khos khăn để duy trì sự tồn tại Đoạn trích khắc được bức chân dung tinh thần tự họa, cuộc sống gian khổ và tinh thần lạc quan của Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, từ đó cho thấy ý chí, nghị lực của nhân vật trước khó khăn
Trước hết người đọc thấy được bức chân dung tinh thần tự họa của Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang Nhân vật tự hình dung diện mạo chính mình để kể lại cho người đọc bằng giọng điệu hài hước, đằng sau giọng điệu ấy là một quãng thời gian đằng đẵng tách biệt với thế giới ngoài kia, phải một mình đối mặt với bao hiểm nguy, với thời tiết mưa nắng thất thường của vùng xích đạo Đầu tiên, hãy lắng nghe chàng kể về trang phục của mình: “Tôi đội một chiếc mũ to tướng cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì làm bằng da một con dê, với mảnh da đổ xuống phía sau gáy, vừa để che nắng, vừa để chắn không cho mưa hắt vào cổ” Áo bằng tấm da dê và
áo dài tới khoảng lưng chừng hai bắp đùi Quần loe đến đầu gối cũng bằng da dê,
da của một con dê đực già, lông dê thòng xuống mỗi bên đến giữa bắp chân, chẳng khác nào quần dài Ủng cũng bằng da dê, bao quanh bắp chân và buộc dây hai bên
Bộ trang phục Rô-bin-xơn thật xấu xí, kỳ quặc vì phải sống một mình nơi hoang đảo Thời tiết khắc nghiệt nắng lắm, mưa nhiều thất thường, Rô-bin-xơn phải tự thích nghi và tự tạo trang phục cho mình từ những vật dụng sẵn có Trang phục được miêu tả từ đầu xuống chân: mũ, áo, quần và tự tạo đôi ủng, tất cả đều bằng da
dê Rô-bin-xơn tự ngắm nghía mình, phô ra tất cả những nét vụng về, thô cách trong bộ dạng từ đầu đến chân, hài lòng với sự hào phóng của đảo hoang đã cho chàng những tấm da dê quý giá Nhưng có lẽ sự hài lòng hiện ra sau lời kể chính là
Trang 19ở chỗ tất cả đều được tạo nên từ bàn tay lao động là công sức và sự khéo léo của chính chàng để chế tác là những sản phẩm độc nhất vô nhị này
Vị lãnh chúa và cũng là thần dân duy nhất của đảo hoàng này trong suốt mười lăm năm còn trang bị cho mình những vật dụng cần thiết để đảm bảo cuộc sống nơi hoang dã Vẫn bằng giọng điệu hóm hỉnh, Rô-bin-xơn thuật lại cho chúng ta hình ảnh một chàng trai chỉnh tề như một chiến binh: “Quanh nguời tôi là một chiếc thắt lưng rộng bản bằng da dê phơi khô thắt lại bằng hai sợi dây cũng bằng da dê để thay cho khóa, hai bên có hai quai đeo, nhưng không đeo kiếm và dao găm mà lủng lẳng bên này một chiếc cưa nhỏ, bên kia một chiếc rìu con Quàng qua vai tôi
là một đai da khác hẹp bản hơn, hai đầu cũng buộc lại bằng dây như thế; và ở cuối đai, phía dưới cánh tay trái của tôi, đeo lủng lẳng hai cái túi, cả hai cũng đều làm bằng da dê, một túi đựng thuốc súng và túi kia đựng đạn ghém Tôi đeo gùi sau lưng, khoác súng bên vai, và giương trên đầu một chiếc dù lớn bằng da dê, xấu xí vụng về, nhưng lại là thứ cần thiết nhất cho tôi, bên khẩu súng của tôi” Như vậy,
ta hình dung ra một con người suốt ngày bận rộn với công việc chặt cây, cưa gỗ, dựng lều để lập nên cơ ngơi cho riêng mình Qua đó ta càng thấy rõ nghị lực phi thường của Rô-bin-xơn khi phải chịu hoàn cảnh khắc nghiệt như thế
Xem thêm: Soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh đầy đủ hay nhất
Khép lại bức chân dung tự họa bản thân,Rô-bin-xơn mới tự họa diện mạo của mình bằng mấy dòng ngắn ngủi nhưng khiến chúng ta phải nở nụ cười sảng khoái Rô-bin-xơn có một nước da đen, tuy rằng không đến nỗi đen cháy Bộ râu đã có lúc để dài đến hơn một gang tay nhưng vì có cả kéo và dao cạo đủ dùng nên cắt tỉa khá ngắn gọn, hàng ria ở môi trên được xén tỉa thành một cặp ria mép to tướng theo kiểu Hồi giáo Hình dáng ấy ngay Rô-bin-xơn cũng phải tự nghĩ: “Giá có người nào trông thấy tôi, nếu không kinh sợ thì cũng bò ra mà cười”
Đằng sau bức chân dung tự họa của Rô-bin-xơn, chúng ta thấy được bức chân dung tinh thần của Rô-bin-xơn: một con người dám sống và biết cách sống, sống mạnh mẽ, dũng cảm và sáng tạo trong bất cứ hoàn cảnh nào Chiếc mũ “với mảnh
da rủ xuống sau gáy, vừa để che nắng, vừa để chặn không cho mưa hắt vào cổ” cho
ta thấy tài trí thông minh và nghị lực phi thường của con người trước hoàn cảnh khắc nghiệt “Bộ quần áo da dê, đôi ủng, chiếc thắt lưng rộng bản” – những vật dụng này đều do đôi bàn tay khéo léo của anh tạo ra Sự thú vị trong trang phục của Rô-bin-xơn là đều dùng chất liệu da dê – sản phẩm của công việc chăn nuôi trên hoang đảo Những vật dụng như cưa nhỏ, rìu con là những công cụ lao động tiện ích trong việc chặt cây, dựng nhà, bước đầu khai phá nơi hoang đảo thành nơi định cư Như vậy, qua trang phục và vật dụng Rô-bin-xơn mang trên người, chúng
Trang 20ta cảm nhận được sự khó khăn, gian khổ và bản lĩnh kiên cường của con người trước hoàn cảnh khắc nghiệt, hơn tất cả đó là tinh thần lạc quan của Rô-bin-xơn
Dù một mình đương đầu với cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nơi hoang đảo nhưng không làm cho Rô-bin-xơn nhụt chí Anh tự mình khắc phục khó khăn với những
đồ đạc vớt được trên tàu,sau đó là sự thay thế dần trang phục: quần áo, ủng, dây thắt lưng đều bằng da dê Trong hoàn cảnh chỉ có một mình nơi hoang đảo anh vẫn vươn lên mà không hề than phiền về những cực nhọc gặp phải Đó là biểu hiện của một con người rất quý trọng cuộc sống, giàu ý chí và nghị lực Bộ quần áo mục nát được thay bằng bộ quần áo túm lại bằng da dê, cái ủng cũng được tự tạo phù hợp với hoàn cảnh khắc nghiệt Sống trên hoang đảo một mình nhưng Rô-bin-xơn vẫn chăm sóc bộ râu của mình một cách kỹ lưỡng Dù trong hoàn cảnh nào thì con người đều phải chăm sóc bản thân mình một cách hoàn hảo nhất Tinh thần lạc quan của Rô-bin-xơn là minh chứng rõ nét cho sức mạnh và trí tuệ của con người, sức mạnh cải tạo hoàn cảnh và khuất phục thiên nhiên, khẳng định trong hoàn cảnh nào thì con người cũng phải tin yêu cuộc sống và có niềm tin vào sức mạnh bản thân mỗi con người
Xem thêm: Thuyết minh về hoa hồng lớp 9 hay nhất đầy đủ
Truyện kể ở ngôi thứ nhất, Rô-bin-xơn xưng “tôi” tự kể chuyện mình tạo sự dễ dàng hòa nhập vào nhân vật và phản ánh được tính chân thật của câu chuyện cũng như bức chân dung tự họa Giọng kể trầm tĩnh, vui vui pha chút hóm hỉnh, tự giễu cợt làm nổi bật sự lao động sáng tạo, trí thông minh khéo léo, tinh thần lạc quan, nghị lực phi thường, ý chí sống mãnh liệt Ngôn ngữ kể chuyện hóm hỉnh, nghệ thuật miêu tả và dẫn truyện của nhà văn đem đến suy ngẫm về vẻ đẹp con người tự vượt lên khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên Truyện đã khắc họa chân dung Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang sống động từng chi tiết với nụ cười thường trực có sức hấp dẫn kỳ lạ Rô-bin-xơn là hiện thân của con người lý tưởng không biết lùi bước trước bất kỳ thử thách, khắc nghiệt nào Bản lĩnh phi thường và tình yêu sự sống của chàng là bài học cho bất cứ ai muốn hoàn thiện giá trị tốt đẹp của con người Qua bức chân dung tự họa và giọng kể của Rô-bin-xơn, ta hình dung được cuộc sống vô cùng khó khăn và cả tinh thần lạc quan của nhân vật, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ khi chỉ có một mình nơi đảo hoang vùng xích đạo Đã có người đã từng ca ngợi đoạn trích “Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang” là bài ca lao động sáng tạo, hào hùng của con người Rô-bin-xơn đã phiêu lưu và mạo hiểm, cái vĩ đại và đáng quý nhất ở anh là anh đã sống đẹp như một con người chân chính Ta hiểu vì sao
“Rô-bin-xơn Cru-xô” của Đi-phô đã cuốn hút sự say mê của biết bao nhiêu thế hệ trên khắp thế giới
Trang 21Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
8)
“Rô- bin- xơn ngoài đảo hoang” là một trích đoạn trong tiểu thuyết nổi tiếng “Rô- bin- xơn Cru- xô” của nhà văn nổi tiếng người Anh là Dê- ni- ơn Đi- phô Trích đoạn này đã tái hiện, xây dựng thành công bức chân dung của Rô- bin- xơn, một con người thích những phưu lưu, mạo hiểm nhưng sau một sự cố anh ta đã lưu lạc trên một hòn đảo hoang Sống một mình ở nơi hoang vu, rộng lớn không có sự sống của con người nhưng Rô bin- xơn vẫn vô cùng lạc quan, yêu đời, điều mà không phải ai cũng có thể làm được, không phải ai cũng có thể mạnh mẽ vượt qua được như vậy
Dê- ni- ơn Đi- phô bắt đầu sự nghiệp sáng tác văn chương của mình từ rất sớm nhưng không để lại được những dấu ấn rõ rệt, phải đến năm sáu mươi tuổi thì sự nghiệp văn chương của ông mới có những khởi sắc nhất định, ông cho ra đời những tác phẩm không chỉ có giá trị về nội dung mà nghệ thuật cũng vô cùng đặc sắc Đó là những tiểu thuyết có giá trị, trong đó có tiểu thuyết nổi tiếng lẫy lừng,
đó chính là “Rô- bin-xơn Cru-xô” Trích đoạn “Rô- bin- xơn ngoài đảo hoang” chỉ
là một trích đoạn rất ngắn trong cuoobs tiểu thuyết này Đó là trích đoạn phác họa
rõ nét bức chân dung của nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết này, đó chính là Rô- bin- xơn
Mở đầu trích đoạn này, nhà văn đã đi khắc họa chân dung đầy kì quái của Rô- bin- xơn khi một mình sống trên đảo hoang Thông thường, các nhà văn khác khi
đi miêu tả chân dung cho nhân vật của mình thường bắt đầu miêu tả từ khuôn mặt đến vóc dáng, sau đó với đến những tiểu tiết của ngoại hình, nhưng ở đây, nhà văn Đi- phô đã đi miêu tả những chi tiết phụ trước sau đó mới đi sâu miêu tả khuôn mặt của anh ta Đó chính là một người đàn ông với cách ăn mặc kì quái và mang theo bên người những đồ đạc lỉnh kỉnh Ngoài ra bộ ria mép của anh ta cũng làm cho tổng thể hình dáng của anh ta trở nên kì quặc, khác thường
Rô- bin- xơn vốn là một người ưa thích những chuyến đi mạo hiểm, những cuộc phưu lưu kì thú Nhưng trong một lần đi biển cùng những người đồng đội, đó
là chuyến đi xuất phát từ biển Bra-xin thì anh bị đắm thuyền, trôi dạt trên biển rồi cuối cùng bị dạt vào vùng đảo hoang Đây là một hòn đảo hoang sơ, không có người sinh sống Ngay qua bộ trang phục kì quặc, diện mạo kì lạ của Rô- bin- xơn
ta có thể phần nào tưởng tượng được hoàn cảnh sống vô cùng khắc nghiệt nơi đây
Đó là bộ quần áo làm bằng da dê, không được may vá cẩn thận mà chỉ buộc lại với nhau một cách rúm ró, và đôi ủng của anh ta cũng làm bằng da dê Chiếc mũ trên đầu Rô- bin- xơn cũng rất khác người, đó là “chiếc mũ to tướng, cao lêu đêu chẳng
Trang 22ra hình thù gì”, làm bằng da của một con dê, với mảnh vải rủ xuống phía sau gáy nhìn thật kì quặc
Với những điều kiện thiếu thốn, khắc nghiệt nơi đảo hoang thì những trang phục như vậy cũng được xem là khá tươm tất, hơn nữa chúng còn là những trang phục rất tiện lợi cho việc đi lại cũng như kiếm sống trên đảo hoang, vì nước cũng không thể thấm vào những miếng da dê, hơn nữa khi trời trở lạnh cũng có thể giữ
ấm cho cơ thể Trong trích đoạn này, Rô- bin- xơn đã tự thuật lại theo ngôi kể thứ nhất, giọng nói của anh ta khi kể về mình đầy hóm hỉnh, hài hước Khác hẳn với con người đang bị cô lập nơi đảo hoang, một mình sống trong điều kiện khắc nghiệt nơi đây
Trang phục của Rô- bin- xơn cũng rất kì quặc, đó là một chiếc áo làm bằng da
dê, vạt áo dài đến lưng bắp đùi và chiếc quần rúm ró bằng da dê dài đến đầu gối Trang bị mang trên người của Rô- bin- xơn cũng là những vật dụng kiếm được khi sóng biển cuốn chúng trôi vào bờ, đó là một chiếc cưa nhỏ và một chiếc rìu nhỏ Qua những vật dụng này ta có thể thấy cuộc sống trên đảo hoang của Rô- bin- xơn không có những kẻ thù hay những nguy hiểm rình rập Cưa và rìu tuy là những vật dụng đơn giản, thô sơ nhưng cũng rất hữu ích đối với Rô- bin –xơn vì chúng có thể dùng để cho việc mưu sinh của anh ta trên đảo hoang, có thể dùng để chặt cây, cưa
gỗ dựng lều, lấy chỗ che mưa, che nắng, phòng trừ có thú dữ, ngoài ra còn có một khoảng đất trống dùng để nuôi dê sau này Ta có thể thấy Rô- bin-xơn vô cùng lạc quan, vì ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất thì vẫn tin tưởng vào cuộc sống phía trước, lên kế hoạch cho tương lai Đây là điều không phải ai cũng làm được, thể hiện một con người mạnh mẽ, đầy bản lĩnh
Tuy là mảnh đất bị bỏ hoang, nằm giữa mênh mông sóng biển nhưng cũng thật may ở đây còn có những chú dê, vì vậy mà cuộc sống của Rô- bin- sơn có thể được duy trì Ngoài ra anh ta còn mang theo bên mình một chiếc súng, thuốc súng và đạn gém Nhờ vậy mà cuộc sống của anh ta ở trên đảo hoang này bớt khắc nghiệt
đi rất nhiều, anh ta có thể săn dê để lấy thịt ăn, da dê thì làm trang phục, giày, bốt
đi lại Vì sự lạc quan, cùng với sức mạnh trai tráng, Rô- bin- xơn đã vượt qua mọi khó khăn, một mình vẫn có thể sống tốt nơi hoang đảo, không những thế mà về sau Rô- bin- xơn còn có thể tự trồng lúa mì nhờ những hạy lúa mì còn sót lại khi anh ta
đi vớt những vật dụng còn lại khi con tàu đắm
Như vậy, “Rô- bin- xơn ngoài đảo hoang” là đoạn trích thể hiện thật đẹp bức chân dung của Rô- bin- xơn một con người luôn yêu đời, sống lạc quan, những khó khăn nơi đảo hoang không là những trở ngại, không làm cho anh gục ngã mà dường như làm cho anh trở nên mạnh mẽ hơn, bản lĩnh hơn Qua chân dung của Ro- bin- xơn, người đọc cũng có thêm những niềm tin vào cuộc sống, thêm yêu đời
Trang 23cũng như sống có ích hơn Đó là những giá trị cao đẹp mà tác phẩm này mang lại cho người đọc
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
9) Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô (mẫu
10)
Đ Đi-phô (1660 - 1731) là đại văn hào của Vương quốc Anh, sống ở cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII Những độc giả yêu văn khắp nơi trên thế giới đều biết đến tên tuổi của Đ.Đi-phô qua kiệt tác Rô-bin-xơn Cru-xô Đặc biệt, hình ảnh của nhân vật Rô-bin-xơn trong trích đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của tiểu thuyết này
đã đọng lại trong tâm hồn người đọc nhiều suy nghĩ và cảm xúc
Rô-bin-xơn là một chàng trai thích hoạt động, ưa phiêu lưu, say sưa đến những miền đất lạ, bất chấp sóng to, gió lớn và bao nỗi gian nan, nguy hiểm khác Rô-bin-xơn xuống tàu ở Hơn, theo bạn đi Luân Đôn bằng đường biển Cuộc hành trình không gặp may mắn, con tàu bị đắm chìm ở Y-ac-mao Thế nhưng, tai họa ấy không làm chàng nản lòng Cha mẹ khóc lóc, bạn bò can ngăn vẫn không lay chuyển được quyết tâm của chàng – chàng làm quen với một viên thuyền trưởng tàu buôn; lần này rời bến ở Ghi-nê Chuyến đầu tiên thuận buồm xuôi gió Chuyến thứ hai gặp cướp biển, Rô-bin-xơn bị bắt làm nô lệ ở Xa-lê, hai năm sau trốn thoát sang Bra-xin lập trang trại trồng trọt Chàng vẫn không hề nao núng; vài nằm sau nghe lời các bạn rủ rê, chàng xuống tàu đi Ghi-nê dự định thực hiện một chuyên buôn bán, trao đổi lớn Nào ngờ, tàu gặp bão lớn, mất phương hướng rồi bị đánh đắm Các thủy thủ trên tàu đều mạng vong Ngoại trừ Rô-bin-xơn một mình sống sót trôi giạt vào một đảo hoang không có dấu chân người
Trong trích đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, nhà văn kể chuyện Rô-bin-xơn
ở trên đảo hoang vào khoảng từ năm thứ 9 đến năm thứ 15 (tính từ ngày bị đắm tàu)
Trước tiên, chúng ta thấy Rô-bin-xơn là một chàng trai có ý chí và nghị lực phi thường Sớm gặp hoàn cảnh bất hạnh nhưng anh không nản chí, tuyệt vọng Mặc
dù sống cô đơn, không bạn bè, không người thân, nhưng anh “không ngồi rỗi, bằng lòng với những thứ mình đã có” Anh say sưa làm việc đến quên cả mệt mỏi, nhọc nhằn Anh luôn luôn được hưởng “cái thú hoàn thành một kết quả lao động mà trước kia mình phải bó tay”, nhờ phương pháp và tư tưởng tích cực: “Không còn nghĩ ngợi vẩn vơ” Tính siêng năng, tháo vát đã giúp anh ngày càng “lành nghề trong nhiều ngành thủ công” Anh trở thành thợ nặn rất khéo; ngoài bát đĩa, chum
Trang 24vại, bình vò thường dùng để cất trữ mọi thứ lương ăn, anh còn nặn được một cái tẩu hút thuốc, một công trình tuyệt mĩ đối với anh và anh lấy làm thích thú
Anh cũng trở thành một tay đan giỏi Anh dùng miên liễu – một loại cây nhỏ, cành mềm rủ xuống, đan nhiều đồ dùng như: thúng (để mỗi lần săn bắn được hoặc kiếm được thức ăn thì bỏ vào thúng quẩy về nhà); bồ đựng thóc,… Ngoài ra, anh còn nảy thêm sáng kiến khác: chăn nuôi Anh cảm thấy cần phải nuôi dê để cải tạo bừa ăn vì nguồn thực phẩm ngày càng cạn kiệt Anh tâm sự: “Trong khoảng một năm rưỡi, tôi đã có một đàn mười hai con dê vừa lớn vừa nhỏ Hai năm sau, số dê lên tới bốn mươi ba con và tôi bắt đầu giết thịt để ăn Tôi làm thêm tất cả năm chuồng nữa nhỏ hơn, mỗi chuồng có nhiều ngăn để lúc cần thì bắt dê cho tiện”
Dường như chưa bằng lòng với năng lực sáng tạo của chính mình, anh ngẫm nghĩ đến chuyện vắt sữa dê – dù anh “nghĩ đến hơi muộn” Nghĩ là làm; anh bắt tay ngay vào công việc Có ngày anh vắt được bảy tám chai sữa! Do đó, việc thừa sữa uống là rất bình thường Nhưng chưa dừng lại ở đây, anh cố công “thử làm bơ và pho mát” Thất bại là mẹ của thành công Sau vài lần bị hỏng, anh đã được như ý Giờ đây, bữa ăn của anh vừa dồi dào nguồn thực phẩm, vừa ngon, vừa có nguồn giá trị dinh dưỡng cao Thế nên, anh thốt lên bằng niềm tự hào mãnh liệt: “Các bạn thử nghĩ, một mình trên một hòn đảo hoang vắng mà bữa sáng có sữa tươi, bữa ăn thường ngày có bánh mì, bánh bột gạo tẻ, thịt dê, trứng rùa, bơ và pho mát, tráng miệng thì có các thứ hoa quả, nhất là nho tươi, nho khô, thiết tưởng cũng thịnh soạn, không kém ở những khách sạn bình thường tại các thành phố lớn”
Mặt khác, chúng ta thấy Rô-bin-xơn là một chàng trai có lòng yêu đời tha thiết Phải là một con người ham sống mới tồn tại được ở một nơi cách biệt hoàn toàn với thế giới con người như thế Một thân, một mình giữa nơi hoang đáo, anh vẫn muốn sống đàng hoàng, sống cho ra sống, sống một cách mạnh mẽ, đẹp đẽ, dũng cảm, sáng tạo, vượt lên trên mọi hiểm nguy, thiếu thốn Như vậy, quan niệm
“sống” của anh không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa sâu xa về mặt triết học (phần nhiều nghiêng về mặt triết học)
Ngày lại ngày, anh lạc quan “chu du trong địa hạt của mình giống như một người đi dạo phố ở thời hiện đại” Dù không có ai nhìn ngắm (ngoại trừ anh) nhưng anh vẫn cứ “diện” theo sở thích của mình Anh mặc một bộ quần áo bằng da rất kì lạ, kì lạ đến nỗi giá có người nào trông thây “nếu không kinh sợ thì cũng bò
ra mà cười!” Cái áo chẽn bằng da dê, “tà áo chấm ngang đầu gối” Quần thì ngắn nhưng “rộng thùng thình, may bằng tấm da lông một con dê xồm, lông dê dài lê thê, buông thõng xuống đên gần mắt cá, thành ra quần đùi mà cũng không khác quần dài” Còn cái mũ cũng được làm bằng da dê “cao lêu đêu trông thật không ra cái hình thù gì” Đã vậy, thắt lưng cũng làm bằng da lông Riêng cái tư thế của anh
Trang 25chẳng khác nào một nhân vật trong truyện xưa đang phòng thủ: “Một cái cưa và một cái búa ở hai bên hông Một sợi dây da vòng qua cổ sang phía tay trái, đeo lủng lẳng hai cái túi hình dáng lạ lùng, một cái túi đựng thuốc súng, một túi đựng đạn ghém Sau lưng cõng một cái gùi, vai mang súng và trên đầu là cái dù xoè ra, bao che tất cả thân mình” Bởi trang phục như vậy nên khuôn mặt của anh “rám nắng, đen sạm lại”, râu “đâm ra như cái chổi xể”, trên mép lại để một cặp ria theo kiểu người Thổ Nhĩ Kì “vừa dài vừa rậm khác thường”
Rõ ràng, cách trang phục càng “tô đậm thêm nét cổ quái” vào diện mạo của anh – đúng như anh tự nhận xét là lệ bộ kì dị ấy đã khiến con chó người bạn thân của anh tỏ vẻ “kinh ngạc và khiếp sợ Nó nghi nghi hoặc hoặc, chạy nép vào một góc nhà đứng nhìn ra, có ý dò xem cái con vật quái dị kia là bạn hay là thù” Ấy vậy
mà anh không hề cảm thấy đau khổ, tủi thân Trái lại, anh kế cho chúng ta nghe bức chân dung tự họa của mình bằng giọng điệu vui tươi, pha lẫn những tiếng cười Chẳng những thế, anh còn tự nhận mình là một vị “chúa đảo” Có thể khẳng định rằng, giữa nơi hoang vu, vắng bóng dáng thân thương của con người, chất hoang
dã đã nổi dậy lấn chiếm con người, hoang dã hóa con người nhưng chàng trai bất hạnh Rô-bin-xơn đã giành được chiến thắng, chiến thắng một cách vinh quang, vĩ đại, một chiến thắng mà đến 300 năm sau, trên hành tinh này chưa có người thứ hai
Tóm lại, Rô-bin-xơn là một chàng trai có ý chí, nghị lực phi thường và lòng yêu đời mãnh liệt, mãnh liệt ngay cả trong hoàn cảnh hết sức khó khăn Chính những phẩm chất tốt đẹp của chàng đã khơi dậy trong tâm hồn thơ ngây, trong sáng của em một tình yêu, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống hiện tại; một ý chí sắt
đá, một nghị lực thép trong học tập và rèn luyện đạo đức để mai này em không chỉ giúp ích được cho bản thân mình mà còn cho xã hội yêu thương
Trang 26Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng – Ngữ văn 9
2 Thân bài
a Nhân vật Xi-mông
- Là một đứa trẻ đáng thương: "Nó độ bảy, tám tuổi Nó hơi xanh xao, rất sạch sẽ,
vẻ nhút nhát gần như vụng dại", là đứa trẻ không có bố, thường bị bạn bè trêu chọc
- Ý nghĩa và hành động: Bỏ nhà ra bờ sông định tự tử
- Tâm trạng: cảm giác uể oải, buồn bã vô cùng, chẳng nhìn thấy gì và chẳng nghĩ gì?
- Cử chỉ, hành động: Khóc, nức nở, khóc hoài
- Về nhà, nhìn thấy mẹ: - Nhảy lên ôm cổ mẹ, oà khóc
- Nói năng: ấp úng, ngắt quãng, không nên lời
- Khi được bác Phi-líp nhận làm con: Kiêu hãnh, tự tin
+ Hết cả buồn
+ Đưa con mắt thách thức lũ bạn
⇒ Nghệ thuật miêu tả, so sánh ⇒ Đây là một đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên, đáng yêu và đáng thương nhưng đồng thời Xi – mông cũng là đứa rất có nghị lực
Trang 27b Nhân vật Blăng- sốt
- Được giới thiệu: là một thiếu phụ, cao lớn, xanh xao, nghiêm nghị
- Sống cùng đứa con trai Xi-mông trong ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch
sẽ
- Thái độ với khách: đứng nghiêm nghị…như muốn cám đàn ông bước qua ngướng cửa
- Nỗi lòng với con
+ Tái tê đến tận xương tuỷ, nước mắt lã chã tuôn rơi
+ Lặng ngắt và quằn quại vì hổ thẹn
⇒ Nghệ thuật miêu tả, tác giả đã cho thấy Blăng- sốt là một người thiếu phụ đẹp, đức hạnh, trót lỡ lầm
c Nhân vật Phi - lip
- Được giới thiệu là một người :
+ Cao lớn, râu tóc quăn đen
+ Bàn tay chắc nịch, giọng ồm ồm
- Khi gặp Xi-mông: Đặt tay lên vai em ôn tồn hỏi, nhìn em nhân hậu
- Trên đường đưa Xi-mông về nhà nghĩ bụng có thể đùa cợt với chị - “tự nhủ thầm”
- Hành động: Trò chuyện và nhận làm bố của Xi-mông
⇒ Nghệ thuật kể chuyện sinh động, nghệ thuật miêu tả, ngôn ngữ đối thoại ⇒ Bác Phi-líp là người nhân hậu, giàu tình thương đã cứu sống Xi-mông, nhận làm bố của Xi-mông, đem lại niềm vui cho em
3 Kết bài
Trang 28- Khẳng định lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích: Nghệ thuật: miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật sắc nét
- Nội dung: Nhắc nhở lòng thương yêu con người, bè bạn
- Liên hệ bản thân
Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng (mẫu 1)
Truyện ngắn Bố của Xi-mông của nhà văn Pháp Mô-pa-xăng đã khắc họa thành công tâm trạng của ba nhân vật chính trong truyện là Xi-mông, bác Phi-lip và chị Blăng-sốt, qua đó tác giả nhắc nhở chúng ta lòng yêu thương con người
Nhà văn viết truyện ngắn theo trình tự sự việc, qua từng sự việc đó, các nhân vật thể hiện tâm trạng và tính cách của mình Trong truyện ngắn, mỗi nhân vật có một hoàn cảnh khác nhau nhưng giữa họ có một điểm chung là tình cảm của họ dành cho nhau rất chân thành
Xi-mông là em bé có hoàn cảnh éo le Em không có bố, em lớn lên trong sự dạy dỗ của mẹ mà thiếu tình thương của bố Đến khi đi học, ngày đầu tiên em đến trường
đã bị sự chế giễu của bạn bè Hoàn cảnh đó đã làm em tuyệt vọng và em quyết tìm đến cái chết Tuy nhiên, cũng như bao đứa trẻ khác, em là người ham chơi đến nỗi quên mất ý định ban đầu của mình Ra bờ sông để tự tử, thấy cảnh đẹp, thấy chú nhái xanh, em quên mất ý định tự tử của mình và vui với những trò hấp dẫn
Nhưng chợt nhớ lại ý nghĩa ban đầu, em buồn bã khóc, khóc hoài Trong đầu em lúc đó không thể nghĩ ra điều gì, không thể nào nghĩ ra cách để em có bố Gặp bác Philip và bác hứa cho em một người bố, em như quên tất cả và vui vẻ theo bác về nhà như không có chuyện gì xảy ra trước đó Tính cách trẻ con của Xi- mông được tác giả khắc họa rất thành công, nó vừa thể hiện được sự ngây thơ nhưng đồng thời cũng là cho thấy niềm khát khao có bố của em
Nếu như trong truyện Những đứa trẻ, nhà văn Go-rơ-ki thể hiện lòng thương cảm đối với những em bé sống thiếu tình thương của mẹ thì trong truyện Bố của Xi-mông,Mô-pa-xăng lại thông cảm với số phận của những em bé sống thiếu tình thương và sự dạy dỗ của cha Tình thương và lòng nhân ái luôn hiện hữu trong mỗi chi tiết truyện Với tình thương của mình, không những bác Phi-lip làm cho Xi-mông từ bỏ cái ý định tự tử của mình mà còn mang lại cho em sự lạc quan, tin
Trang 29tưởng, tạo ra một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho em Không những thế, sự hi sinh của bác còn tạo cho người mẹ vững tâm hơn trong cuộc sống Tình thương đã làm thay đổi tất cả Đó là giá trị cao cả của tác phẩm và cũng là thông điệp tác giả muốn gửi gắm cho người đọc
Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng (mẫu 2)
Bài viết theo trình tự sự việc, qua từng sự việc thể hiện tính cách, tâm trạng của từng nhân vật Trong truyện ngắn, mỗi nhân vật có một hoàn cảnh khác nhau
nhưng có một điểm chung là tình cảm họ dành cho nhau rất chân thành
Xi-mông là một em bé có hoàn cảnh éo le Em không có bố, em sinh ra và lớn lên trong sự nuôi dưỡng dạy dỗ của mẹ Đến khi đi học, ngày đầu tiên đến trường em
đã bị bạn bè chế giễu, rằng em không có bố Em buồn bã, tuyệt vọng, tuy nhiên em
là một đứa trẻ không biết cách tìm một người nào đó tâm sự mà lại có ý định ra sông để tìm đến cái chết Ra bờ sông, em nhìn thấy cảnh đẹp, thấy chú nhái xanh,
em liền lăn vào cảnh đẹp và vui chơi, các ý nghĩ ban đầu của em biến mất, như bao đứa trẻ, em không thể từ chối những trò chơi hấp dẫn Nhưng chợt nhớ ra ý nghĩ ban đầu, em lại buồn bã và khóc, khóc hoài Trong đầu em bây giờ không thể nghĩ
ra cái gì, không thể nào nghĩ ra cách để em có bố Em chỉ là một cậu bé bảy tuổi, tính cách rất trẻ con, chưa biết suy nghĩ nhiều Gặp bác Phi- líp, được bác nói rằng:
“Người ta sẽ cho cháu một ông bố”, Xi-mông liền vui và theo bác về nhà, vì em nghĩ rằng người ta có thể dễ dàng cho nhau một ông bố, chuyện đó rất đơn giản, về nhà, em khóc lóc với mẹ, rồi quay ra hỏi bác Phi-líp: “Bác có muốn làm bố của cháu không?” Không thấy bác trả lời, em liền đưa cái chết ra dọa dẫm Dường như, em vẫn chưa tin bác Phi-líp; muốn khẳng định lại việc bác vừa nói, thể hiện Xi-mông rất trẻ con, chưa hiểu được mọi việc, em rất muốn có bố để có thể hãnh diện cùng bạn bè Dù vậy, ta vẫn nhận thấy lòng khát khao có bố của Xi- mông, em
đã được mẹ chăm sóc, nhưng em vẫn cần sự dũng mành, tự tin, sự che chở của người bố
Một người đàn ông giàu lòng nhân ái, đã nhận làm bố của Xi-mông, chính là bác Phi-líp Bác đã gặp Xi-mông trong lúc em đang khóc, bác ân cần hỏi thăm, an ủi
Trang 30em, giúp cho em không buồn bã Một người đàn ông biết quan tâm đến người khác, rất ân cần điềm đạm, đặc biệt là một người yêu trẻ Biết hoàn cảnh của mẹ con chị Blăng-sốt, bác không những không từ chối, mà còn nhận làm bố Xi-mông
Tình cảm của bác dành cho mẹ con chị Blăng-sốt là sự cảm thông trước nỗi hổ thẹn của chị Bác cảm thấy thương cho Xi-mông, em còn quá nhỏ để đón nhận sự thật rằng em không có bố Ta cảm nhận trong con người của bác Phi-líp là tấm lòng hào hiệp, hết sức nhân từ Cảm động trước tình cảm của hai mẹ con bác muốn chia sẻ một phần nỗi đau, nỗi buồn mà hai mẹ con chị Blăng-sốt đã phải nhận Với tấm lòng nhân ái, thương yêu con người của bác Phi-líp, bác thực sự là một người đàn ông có thể gửi gắm niềm tin
Người phụ nữ đã sinh ra, nuôi dưỡng, dạy dỗ Xi-mông bao lâu nay là mẹ của em, chị Blăng-sốt Chỉ vì một lầm lỡ, sinh ra Xi-mông không có bố, chị đã vất vả một mình nuôi nấng Xi-mông Dành cho con tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ, chị không bao giờ muốn con trai mình phải buồn bã vì bất cứ chuyện gì Và thực sự, Xi-mông chưa bao giờ buồn và thấy thiếu vắng trong gia đình bóng dáng của người bố Có thể nói em đã nhận được tình yêu thương vô bờ bến của mẹ, mà không thấy vắng cha Cho đến khi, con bị bạn bè chế giễu, buồn khóc với mẹ, chị
ôm lấy con mà trong lòng đau xót tê tái, chị thấy hổ thẹn, đau đớn tột cùng, mà không thể nói thành tiếng Nỗi đau chị đã phải chịu đựng hàng bao năm nay, tưởng chừng như có thể quên đi vĩnh viễn
Nỗi đau khổ càng tăng lên càng cho ta thấy nhân cách của chị là một người phụ nữ đức hạnh, người mẹ rất đỗi yêu con đồng thời là một con người giàu lòng tự trọng Một mình nuôi dưỡng con mà không có sự giúp đỡ của chồng, chị vẫn làm tốt trong vai trò của cả cha và mẹ Ngôi nhà mà hai mẹ con chị đang sống là một ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ Chỉ cần nhìn vẻ ngoài của ngôi nhà, ta vẫn nhận thấy trong gia đình có bàn tay của một người phụ nữ đảm đang, chị đã sắp xếp cho hai mẹ con một cuộc sống ngăn nắp Tuy gia đình còn khó khăn, còn nghèo, nhưng luôn ấm áp, bởi nó được sưởi ấm bằng chính tình yêu thương của
mẹ Khi con dẫn một người lạ về nhà, lại nhận làm bố, chị cảm thấy hổ thẹn và
Trang 31lòng tự trọng của mình bị tổn thương Điều này càng chứng tỏ nhân cách trong sáng của một người phụ nữ đức hạnh
Thông qua truyện ngắn “Bố của Xi-mông”, tác giả muốn gửi đến người đọc một thông điệp: “Con người hãy sống với nhau bằng tình yêu thương, cảm thông chia
sẻ, đừng bao giờ sống tàn nhẫn, cười cợt trên nỗi đau của người khác” Người đọc cũng cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng, bền chặt không bao giờ thay đổi Đó chính là bài học cho chúng ta hãy sống nhân ái, thương yêu, luôn giúp đỡ mọi người – một bài học triết lí sâu sắc đối với mỗi chúng ta
Để có thể viết tốt được bài văn nêu cảm nghĩ về nhân vật Xi-mông thì bạn hoàn
toàn không thể bỏ qua bài phân tích nhân vật Xi-mông vì qua bài phân tích nhân vật bạn mới nắm được diễn biến câu chuyện và tâm lý của nhận vật để viết bài
Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng (mẫu 3)
Guy đơ Mô-pa-xăng (1850 - 1893) là nhà văn Pháp nổi tiếng thế giới Tuy chỉ sống đến hơn bốn mươi tuổi nhưng ông đã sáng tác một khối lượng tác phẩm lớn gồm một số tiểu thuyết như Một cuộc đời (1883) Ông bạn đẹp (1885) và hơn
ba trăm truyện ngắn Các tác phẩm của ông phản ánh chân thực tình hình xã hội Pháp nửa cuối thế kỉ XIX
Bài văn Bố của Xi-mông trích từ truyện ngắn cùng tên Nội dung kể về chị Blăng-sốt bị một gã đàn ông lừa dối, sinh ra bé Xi-mông Khi Xi- mông đi học,
em bị đám học trò chế giễu là đứa con hoang không có bố Xi- mông buồn tủi, lang thang ra bờ sông, chỉ muốn chết cho xong Rất may, em gặp bác Phi-líp Bác dẫn em về nhà với mẹ Em muốn bác Phi-líp là bố và bác đã nhận lời Nhưng bọn trẻ vẫn trêu chọc vì bác Phi-líp không phải là chồng của mẹ Xi-mông thì làm sao
là bố của Xi-mông được?! Sau đoạn trích này, tác giả kể rằng vì thương Xi-mông
mà bác Phi-líp đã cầu hôn với cô Blăng-sốt Từ đó, Xi-mông có một người bố thật
sự, chỗ dựa vững chắc của em trong cuộc đời Nhà văn Guy đơ Mô-pa-xăng đã thể hiện rất sinh động diễn biến tâm trạng của ba nhân vật Xi-mông, Blăng-sốt, Phi-líp Qua đó, ông kín đáo nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương bạn bè, mở rộng ra là lòng thương yêu con người, biết thông cảm và chia sẻ trước những nỗi bất hạnh hoặc lầm lỡ của người khác
Trang 32Bài văn chia làm 4 phần: Phân một: Từ đầu đến mà chỉ khóc hoài: Nỗi buồn tủi và tuyệt vọng của cậu bé Xi-mông Phần hai : Từ Bỗng một bàn tay đến một ông bố : Xi-mông gặp bác Phi-líp Phần ba: Từ Hai bác cháu đến đi rất nhanh: Bác Phi-líp đưa Xi-mông về nhà Phần bốn: Còn lại: Ngày hôm sau ở trường
Trong đoạn trích này có ba nhân vật chính là cậu bé Xi-mông, mẹ em là chị Blăng-sốt và bác thợ rèn Phi-líp Ngoài ra còn có những nhân vật phụ là các bạn của Xi-mông và thầy giáo Chúng ta sẽ phân tích nội đung bài văn theo từng nhân vật chính.Khi cất tiếng khóc chào đời, bé Xi-mông đã phải sống trong cảnh khổ
sở, thiếu thốn về cả vật chất lẫn tinh thần nhưng lớn lên, nỗi đau không có bố mới thực sự dằn vặt cậu bé Trong bài này không có chi tiết nào nói hình dáng của Xi-mông, nhưng ở một đoạn khác của truyện, tác giả cho biết : Nó độ bảy, tám tuổi
Nó hơi xanh xao, rất sạch sẽ, vẻ nhút nhát, gần như vụng dại Vẻ ngoài ấy phần nào thể hiện hoàn cảnh sống và tính cách của một đứa trẻ không có bố, thường bị bạn bè trêu chọc Xi-mông là đứa trẻ bất hạnh, nỗi đau không có bố lúc nào cũng day dứt làm cho trái tim nhỏ bé của em rớm máu Nỗi đau đớn, tủi nhục thể hiện qua ý nghĩ và hành động của Xi-mông Em bỏ nhà ra bờ sông, định nhảy xuống sông cho chết đuối vì nỗi bất hạnh không có bố khiến em không thiết sống nữa May mà cảnh vật thiên nhiên đẹp đẽ xung quanh khiến em nghĩ đến nhà, nghĩ đến
mẹ nên không dám làm điều dại dột Xi-mông khóc cho vơi bớt nỗi tủi hờn: Người em rung lên, em quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ Nhưng em không đọc hết được vì những cơn nức nở lại kéo đèn, dồn dập, xốn xang choán ngợp lấy em Em chẳng nghĩ ngợi gì nữa, chẳng nhìn thấy gì quanh
em nữa mà chỉ khóc hoài
Xi-mông đang trong tâm trạng chới với thì gặp bác Phi-líp Nghe bác hỏi,
em thổn thức không nói nên lời: Em trả lời, mắt đẫm lệ, giọng nghẹn ngào: Chúng
nó đánh cháu vì cháu cháu không có bố không có bố Bác Phi-líp dẫn em
về nhà Gặp mẹ, em vừa mừng, vừa tủi: Xi-mông nhảy lên ôm lấy cổ mẹ, lại òa khóc và bảo: Không, mẹ ơi, con muốn nhảy xuống sông cho chết đuối, vì chúng
nó đánh con đánh con tại con không có bố Blăng-sốt, mẹ của Xi-mông vốn là một cô gái nhẹ dạ, cả tin nên đã bị phụ tình, khiến cho con trai mình không có bố Thực ra, chị là người thật thà và từng là một trong những cô gái đẹp nhất vùng Bản chất của chị thể hiện phần nào qua hình ảnh ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ Điều đó nói lên rằng chị tuy nghèo nhưng sống khá nề nếp Nhìn thấy
Trang 33chị, bác công nhân bỗng tắt nụ cười, vì bác hiểu ra ngay là không bỡn cợt được nữa với cô gái cao lớn, xanh xao, đứng nghiêm nghị trước cửa nhà mình, như muốn cấm đàn ông bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà nơi chị đã bị một kẻ khác lừa dối Nghe con kể là bị các bạn đánh vì không có bố, đôi má thiếu phụ đỏ bừng và
tê tái đến tận xương tuỷ, chị ôm con hôn lấy hôn để trong khi nước mắt lã chã tuôn rơi Khi nghe con hỏi Phi-lip: Bác có muốn làm bố cháu không ? thì chị Blăng-sốt hổ thẹn, lặng ngắt và quằn quại, dựa vào tường hai tay ôm ngực
Bác Phi-lip là một người thợ rèn cao lớn, rậm râu, tóc đen và quăn, vẻ mặt nhân hậu Ngay từ lúc mới gặp Xi-mông, bác đă rất thương em Bác đã đem đến cho cậu bé niềm hạnh phúc to lớn và bất ngờ Bác gặp Xi-mông đúng lúc em đang tuyệt vọng, định nhảy xuống sông Bác Phi-lip đã đem lại cho em niềm hi vọng bằng một câu khẳng định là muốn trở thành bố của em Điều đó an ủi Xi-mông rất nhiều Bác Phi-lip tốt bụng đã cứu Xi-mông ra khỏi tay thần chết
Nhưng Xi-mông vẫn chưa được yên ổn học hành Bọn trẻ vẫn tiếp tục làm cho em đau khổ vì "bố Phi-lip của em không phải là bố hẳn hoi, tức là không phải chồng của mẹ em Ở đoạn tiếp theo, tác giả kể là bác Phi-líp vì thương cậu bé Xi-mông nên đã ngỏ lời cầu hôn với chị Blăng-sốt Bác Phi-lip đến nhà chị Blăng-sốt, mong chị chấp thuận để bác trở thành ông bố hẳn hoi của Xi-mông Từ đó, bé Xi-mông không bị đứa trẻ nào bắt nạt nữa Bác thợ rèn nhân hậu đã giải thoát Xi-mông khỏi sự tủi hể đem lại niềm vui sựớng và tự hào cho cậu bé Hành động của bác Phi-lip là một việc làm nhân đạo cao cả Không chỉ đem lại niềm vui cho bé Xi-mông, bác Phi-lip còn mang lại hạnh phúc cho chị Blăng-sốt, mẹ của Xi-mông Trong lời yêu cầu được làm một người bố hẳn hoi của Xi-mông, bác Phi-lip đã thể hiện thái độ trân trọng đối với chị Blăng-sốt Chỉ qua những cuộc chuyện trò ngắn ngủi, bác Phi-lip đã nhận ra những phẩm chất tốt đẹp của chị Tuy rằng chị đã một lần lầm lỡ, dẫn đến hậu quả là cả hai mẹ con đều phải chịu đau buồn, nhưng chị chỉ đáng thương mà không đáng trách, vì bản tính chị không phải là người phóng túng, lẳng lơ Bác thừa nhận chị là một phụ nữ tốt bụng, can đảm và nề nếp
Để có thể đem lại hạnh phúc cho hai mẹ con cậu bé Xi-mông, bác Phi¬lip
đã phải cố gắng rất nhiều để vượt qua những thành kiến cổ lỗ của người đời Bác Phi-lip nhận thêm sự ủng hộ, cổ vũ nhiệt tình từ những người thợ rèn tốt bụng để
có thêm sức mạnh chống lại những quan niệm hẹp hòi về giá trị của người phụ nữ Bác đã trở thành đại diện của sự công bằng và lòng nhân ái Bác Phi-lip đã đem lại cho chị Blăng-sốt cơ hội làm một người vợ xứng đáng của một người đàn ông
Trang 34tử tế Hơn thế, bác đã khẳng định giá trị nhân cách của chị Đó là một hạnh phúc bất ngờ và to lớn đối với Blăng-sốt Hành động đầy tình nhân ái của bác thợ rèn Phi-líp khiến cho câu chuyện kết thúc có hậu Bác đã làm cho những người đau khổ được hạnh phúc và đem lại cho người đọc lòng tin vào con người và cuộc sống Đó cũng chính là mục đích cao cả mà nhà văn G.Mô-pa-xăng đặt ra trong tác phẩm này
Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng (mẫu 4)
Truyện ngắn Bố của Xi-mông kể về nỗi tủi nhục của một em bé “không có bố” với bao tình yêu thương, chứa chan tinh thần nhân đạo Bé Xi-mông và mẹ em chị Blăng-sốt thật đáng thương; cuộc đời hai mẹ con để lại trong lòng độc giả nhiều thương cảm Xi-mông là đứa con ngoài giá thú Mẹ em là “một cô gái đẹp nhất vùng” đã bị lầm lỡ tình yêu Hai mẹ con sống âm thầm trong một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng hết sức sạch sẽ Người đàn bà này tên là Blăng-sốt “cao lớn, xanh xao” phải lao động cực nhọc để nuôi con trước cái nhìn ghẻ lạnh của người đời Tuổi thơ của Xi-mông là những chuỗi ngày cô đơn trong ngôi nhà nhỏ, lạnh lẽo
Em thiếu tình thương và sự chăm sóc của bố
Trường học cũng không phải là cái nôi hạnh phúc của em Tám tuổi, em mới được đến trường Lớp học là nơi hội tụ của những đứa trẻ thô lỗ, cục cằn; cái ác cái xấu sớm ngự trị trong tâm hồn chúng Xi-mông đau khổ, cay đắng bị lũ trẻ hạ lưu dùng những lời “ác độc” nhất, những tiếng cười khả ố nhất, giễu cợt nhất đẩy dồn
em đến chân tường Xi-mông phải tự vệ và đã bị lũ trẻ “quỷ quái” hành hạ suốt ngày này qua ngày khác Người đọc đã hơn một thế kỷ nay không khỏi buồn phiền xót xa khi nghĩ về em Xi-mông bị bạn học cùng lớp làm cho đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn
Bị bọn trẻ “xua đuổi”, bị đánh tơi tả, bé Xi-mông đau khổ, bế tắc hoàn toàn Em phải chết Em không thể sống trong tủi nhục vì “không có bố” Dòng sông, nơi em
sẽ đến tự tử có thể xoa dịu nỗi đau khổ và cô đơn của em? Một đứa bé 8 tuổi cảm thấy không thể sống trong nỗi đau khổ, nỗi nhục, phải nhảy xuống sông tự tử, thì
bi kịch về thân phận con người đã lên đến cực điểm Tình tiết này rất cảm động và điển hình cho nỗi đau khổ cô đơn của những em bé trên cõi đời vì một lí do nào
đó mà “không có bố”
Trang 35Xi-mông với bãi cỏ xanh, với chú nhái cạnh dòng sông được miêu tả đầy chất thơ Thiên nhiên rất đẹp Trời ấm Ánh nắng êm đềm sưởi nóng cỏ Nước lấp lánh như gương Bãi cỏ xanh như chiếc nôi xoa dill nỗi đau khổ cô đơn của em Xi-mông ngắm dòng sông, em rất thèm được nằm ngủ trên bãi cỏ dưới nắng ấm Con nhái màu xanh “giương tròn con mắt có vành vàng” hình như đã níu giữ chân em trước
tử thần? Xi-mông được sống hồn nhiên trước cảnh sắc thiên nhiên Nhưng nỗi đau
về thân phận quá lớn Đây là hình ảnh Xi-mông: “Người em rung lên, em quỳ xuống và em đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ” Em khóc nức nở Em
“chỉ khóc mà thôi” Em chẳng nhìn thấy gì nữa Em đi dần đến tuyệt vọng pa-xăng đã miêu tả tâm lý bé Xi-mông với tất cả tình thương xót Ông chỉ cho mọi người thấy rằng, dù thiên nhiên có đẹp đến đâu, ngoại cảnh có đẹp đến đâu con người vẫn bất hạnh, khó sống nổi trong cảnh ngộ cô đơn và thiếu tình thương, nhất là những đứa bé “không có bố”
Mô-Một tình huống bất ngờ đã xảy đến Chú thợ rèn “‘cao lớn, râu tóc đen quăn, nhãn hậu” đã đến với Xi-mông Chú đã “lau khô” đôi mắt đẫm lệ của em Chú đã an ủi
cm với tình thương của một con người “có phép lạ”: “Thôi nào, nguôi đi nào, cháu bé, rồi đi với chú về nhà mẹ Người ta sẽ cho cháu một ông bố” Một câu nói giản dị sẽ xoa dịu buồn cô đơn cho bé Xi-mông, và cả cho mẹ em-chị Blăng-sốt Cảnh bé Xi-mông bất ngờ gặp chú thợ rèn bên bờ sông là cảnh rất cảm động Em
bé thơ ngây được sống, và người ta sẽ cho em “một ông bố” Đoạn đối thoại giữa chú thợ rèn và bé Xi-mông thấm đẫm tình cảm nhân đạo Nước mắt khô dần trên
má em; em đã được chú thợ rèn dắt tay đưa về với mẹ
Tính cách bé Xi-mông được khắc họa đậm nét khi em gặp lại mẹ Em hỏi chú thợ rèn: “Chú có muốn làm bố cháu không?” Khi được chú thợ rèn nhấc bổng lên, hôn vào má em và nói: “Có chứ, chú có muốn” thì tâm hồn em “hoàn toàn khuây khỏa” và em đã khắc cái tên Phi-líp vào lòng, với niềm tự hào “có bố” Câu nói của Xi-mông như một lời nguyền hẹn ước: “Chú Phi-líp, chú lù bố cháu đấy nhé!” Có bố, đó là niềm hạnh phúc của mỗi em bé trên cõi đời Có bố là có nơi nương tựa “Con có cha như nhà có nóc” (Tục ngữ) Có bố tức là có quyền làm người Có bố, tuổi thơ mới thực sự được sống hạnh phúc Xi-mông đã hãnh diện tuyên bố với lũ bạn “như ném một hòn đá”:
“Bố tao ấy, bố tao là Phi-líp”
Trang 36Em đã có bố Em cảm thấy mình đã lớn lên! Đó là niềm vui và hạnh phúc tuổi thơ!
Đọc truyện Bố của Xi-mông, ai mà không xúc động? Mô-pa-xăng đã từng nếm bao cay đắng về thân phận mồ côi từ độ lên mười, nên ông đã dành cho bé Xi-mông và chị Blăng-sốt bao cảm thông về tình thương san sẻ Tình cảm nhân đạo dào dạt trang văn của ông Cái hay của đoạn văn là ở bút pháp tinh tế lấy cảnh để
tả tình, là ở nghệ thuật đối thoại, là ở tình huống chú thợ rèn gặp bé Xi-mông ở bờ sông, chú thợ rèn gặp chị Blăng-sốt
“Không có bố thì đau khổ!”, “Có bố thì hạnh phúc!” Như một chân lý giản dị, giàu nhân bản Bé Xi-mông thật đáng thương và đáng yêu!
Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng (mẫu 5)
“Khó tìm thấy một nhà văn nào tinh tế, sâu sắc, đôn hậu với nhiêu nỗi day dứt vê con người như Guy đơ Mô-pa-xãng” Nhà văn ấy, dù chỉ sống cuộc đời ngắn ngủi hơn bốn mươi năm nhưng đã để lại một khối lượng tác phẩm đổ sộ với nhiều thể loại, đặc biệt hơn cả là đóng góp về lĩnh vực truyện ngắn cho nền văn học Pháp và thế giới Bố của Xi-mông với vẻ đẹp và sự ấm áp tình người
Chính tình người, một tình cảm nhân đạo, tình yêu thương và lòng nhân ái giữa người với người đã tạo nên thành công cho tác phẩm Được trích từ truyện ngắn cùng tên, Bố của Xi-mông có cốt truyện đơn giản, tất cả chỉ xoay quanh nỗi buổn và niềm vui của cậu bé Xi-mông, nhưng qua đó, biết bao nhân vật, bao tấm lòng đôn hậu đã vút lên sáng ngời, chị Blăng-sốt trong truyện này bị một người đàn ông lừa dối, sinh ra Xi-mông Vì vậy, Xi- mông trở thành đứa trẻ không có bố trong mắt mọi người Truyện bắt đấu khi Xi-mông khoảng bảy, tám tuổi, lẩn đẩu tiên đến trường bị đám học trò chế giễu là không có bố Em buồn bực, lang thang đến bên bờ sông.Đoạn trích kể về những sự việc tiếp theo Qua đó thể hiện vẻ đẹp của tâm hồn con người Đó là vẻ đẹp của lòng nhân hậu, sự hổn nhiên, lối sống nhân văn cao đẹp Là tình người ấm áp trong khát khao tình cảm và sự che chở của bố ở Xi-mông; ấm áp trong lòng nghĩa hiệp và nhân hậu, thương người cùa
Vẻ đẹp và sự ấm áp tình người trước hết được thể hiện trong khao khát tình cảm
và sự che chở của cậu bé Xi-mông Cậu đã rất buồn khi bị bạn bè trêu chọc, đánh cậu chỉ vì cậu không có bố Trong tâm trạng ấy, dù cảnh vật bên bờ sông rất đẹp:
Trang 37“Trời ấm áp vô cùng Ánh mặt trời êm đểm sưởi ấm bãi cỏ Nước lấp lánh như gương” nhưng cũng chỉ giúp Xi-mông quên đi nỗi buồn một lát Khi em nghĩ đến nhà, rổi em nghĩ đến mẹ, em “thấy buôn vô cùng” và em lại khóc “Người em rung lên, em quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ Nhưng em không đọc hếtđược, vì những cơn nức nở lại kéo đến, dồn dập, xốn xang, choán lấy em Em chẳng nghĩ ngợi gì nữa, chẳng nhìn thấy gì quanh em nữa mà chỉ khóc hoài” Một đứa trẻ như Xi-mông, sau khi bị bạn bè trêu chọc đã rất buồn tủi và tuyệt vọng Hành động quỳ xuống và đọc kinh là sự cầu nguyện có được cảm giác bình an từ chúa
Nhưng em chẳng thể đọc hết được bởi nỗi cô đơn xâm chiếm Trong khi các bạn khác may mắn có được sự yêu thương, săc sóc của cả bỗ lẫn mẹ thì em lại quá thiệt thòi, em chỉ có mẹ mà thôi Chính trong hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp, thiếu đi tình thương của cha, lại bị bạn bè trêu chọc Xi-mông chạy đến bờ sông với suy nghĩ “muốn nhảy xuống sông cho chết đuối” Chính lúc này, Xi-mông gặp được bác Phi-líp Câu trả lời của em với bác như một sự khẳng định nỗi tuyệt vọng và bất lực của em Câu trả lời ấy ngắt quãng với giọng nghẹn ngào trong tiếng nấc: “Chúng nó đánh cháu vì cháu cháu không có bố không có bố.” Câu nói “cháu không có bố” mãi mới thốt ra được nhưng Xi-mông lại nhắc hai lần như tiếng nấc Khi bác Phi-líp đưa Xi-mông trở về nhà, em không mừng
rỡ mà đau đớn, buồn tủi hơn Nỗi đau ấy bùng lên và vỡ ra cùng cử chỉ ôm lấy cổ
mẹ, nhắc lại ý định tự tử của mình Em khao khát có được tình yêu của bố, em ao ước được giống như những đứa trẻ khác, chúng đều có bố Lòng khát khao có một người bố yêu thương và che chở đã thúc đẩy Xi-mông đưa ra lời đê' nghị với bác Phi-líp Em hỏi bác: “Bác có muốn làm bố cháu không?” Chưa để bác trả lời, em
đã nhắc lại ý định tự tử lúc ở bờ sông Rất nhiều người cho rằng nó giống như muốn ép buôn bác Phi-líp nhưng với tâm hổn non nớt, trong sáng, Xi-mông đâu
có nghĩ vậy, những gì em nói ra là cảm xúc rất chân thành Dường như lúc đó, em
đã đưa ra quyết định vô cùng nghiêm túc, nếu không có bố, em sẽ nhảy ngay xuống sông để thoát khỏi nỗi buồn bã, cô đơn, tuyệt vọng Xuất phát từ khao khát
ấy, khi được bác Phi-líp nhận lời, em rất vui vẻ: “Thế nhé, bác Phi-líp bác là bố cháu” Lời khẳng định chắc nịch trong tâm trạng sung sướng, hạnh phúc ấy cho thấy lối tư duy rất trẻ con nhưng cũng vô cùng nghiêm túc và trịnh trọng
Đối với Xi-mông có lẽ không gì tuyệt vời hơn là có một người bố Và giây phút này chính là giây phút trọng đại nhất trong đời em, khi em cũng có bố như
Trang 38bao đứa trẻ khác, có một điểm tựa cho em niềm tin sắt đá để “đưa con mắt thách thức chúng”, và em “sẵn sàng chịu hành hạ, còn hơn bỏ chạy” So với ngày thường hay chỉ mới hôm qua thôi, khi bị bạn bè trêu chọc, đùa cợt em chỉ biết khóc, cam chịu, chạy ra bờ sông với ý định tự tử thì hôm nay, thái độ và hành động của em đã khác hẳn Em đã chủ động trả lời, “quát vào mặt nó những lời này, như ném một hòn đá: “Bố tao ấy à, bố tao tèn là Phi-líp” Trong câu trả lời niềm tự hào và hãnh diện không giấu giếm Niềm tự hào và hãnh diện ấy xuất phát
từ niềm tin về việc có một người bố Chính điều đó cho em sức mạnh để sẵn sàng thách thức và chịu hành hạ chứ nhất định không chịu bỏ chạy, không chịu đầu hàng lũ bạn Cũng chính điểu đó cho cậu bé Xi-mông sự kiên cường và lòng dũng cảm trước những lời trêu chọc Là người đáng thương, đáng yêu, sinh ra trong hoàn cảnh gia đình bất hạnh nhưng sự tình cờ của cuộc sống đã đem lại cho Xi-mông hạnh phúc, tiếp thêm sức mạnh cho em Qua nỗi buồn và niềm vui của Xi-mông, tấm lòng đôn hậu, nghĩa hiệp và thương người của bác thợ rèn Phi-líp cũng ngời sáng Bác là người có “bàn tay chắc nịch” và “giọng nói Ồm Ồm” Bác là
“một bác công nhân cao lớn, râu tóc đen, quăn”, chính bác đã hỏi thăm em lúc em đứng ở bờ sông và “nhìn em với vẻ nhân hậu” Chỉ những chi tiết đầu tiên ấy thôi
đã cho thấy bác Phi-líp là một người lao động chân chính, biết chia sẻ và cảm thông với những người bất hạnh Không chỉ với Xi-mông, bác còn cảm thông với
cả chị Blăng-sốt Khi dắt tay đứa bé về nhà, bác đã mỉm cười, vì “bác chẳng khó chịu được đến gặp chị” Đến khi đứng trước chị, “bác hiểu ra ngay là không bỡn cợt được nữa với cô gái cao lớn, xanh xao, đứng nghiêm nghị trước cửa nhà mình” Bác “e dè, ấp úng” và nể trọng chị Chính vì thế, lời lẽ của bác khi nói chuyện với chị trở nên trang trọng hơn
Tấm lòng đôn hậu của bác đã vượt lên những định kiến vô lí, tàn nhẫn, thô bạo Xuất phát từ tấm lòng ấy, bác đã nhận lời làm bố của Xi-mông Ban đầu đó cũng chỉ là sự đồng ý làm yên lòng một đứa trẻ: “Bác công nhân cười đáp coi như chuyện đùa” nhưng sau đó, bằng tình yêu thương với Xi-mông và vẻ đẹp ấm áp tình người luôn cháy sáng trong trái tim mình, bác thực sự trở thành bố của em, bù đắp cho em những mất mát, từ hành động “nhấc bổng em lên, đột ngột hôn vào hai má” cho đến niềm tin sắt đá của Xi-mông trong ngày hôm sau ở trường Hơn thế nữa, về sau bác đã cẩu hôn chị Blăng-sốt vì bác muốn trở thành người bố thực
sự của Xi-mông, bao bọc và che chở em Cũng chính từ đó, em được yên ổn học hành và không còn bị ai trêu chọc, bắt nạt nữa Lời cầu hôn của bác Phi-líp là một
sự khẳng định nhân cách của chị Blăng-sốt Vượt lên rào cản của những định kiến
Trang 39hẹp hòi, bác là hiện thân của công lí và lòng nhân ái, của người lao động thiện lương, chân chính, biết chia sẻ, cảm thông với người bất hạnh và dành tình yêu thương ấm áp cho cậu bé Cùng với những vẻ đẹp ấm áp về tình người ấy, trái tim người đọc còn cảm nhận được vẻ đẹp từ chị Blăng-sốt, người trót lấm lỡ nhưng là một người mẹ rất mực thương con, một người phụ nữ nền nếp, trung hậu “Chị là một trong những cô gái đẹp nhất vùng” nhưng bị lừa dối nên sinh ra bé Xi-mông
và khiến cho Xi-mông trở thành đứa trẻ không có bố Chị là người phụ nữ có hoàn cảnh thật đáng thương, vì “tuổi xuân đã lầm lỡ” mà giờ đầy chị phải sống trong áp lực của định kiến xã hội và những lời đồn đại
Thế nhưng, vượt lên hoàn cảnh ấy, chị Blăng-sốt có một nghị lực sống phi thường Chị có một “ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ” Ngôi nhà ngăn nắp, gọn gàng như chính con người chị đã khiến cho không ai có thể bỡn cợt được Chị là một người mẹ yêu thương con bằng cả trái tim Khi ôm bé Xi-mông vào lòng, đôi má chị “đỏ bừng và tê tái đến tận xương tủy, chị ôm con, hôn lấy hôn để, trong khi nước mắt lã chã tuôn rơi” Đó là tình thương con của một người
mẹ lầm lỡ, chị hổ thẹn, lặng ngắt, quằn quại trước nỗi tuyệt vọng của con trong khi chính chị, cũng là nạn nhân Trước câu hỏi ngây thơ của con, chị dường như không thể đứng vững được nữa, chị “dựa vào tường, hai tay ôm ngực” Chính đức hạnh, tình mẫu tử thiêng liêng trong con người chị đã khiến bác thợ rèn Phi-líp hiểu bản tính chị không phải là người lẳng lơ, phóng túng Trong lần lẩm lỡ của tuổi trẻ, chị đáng thương hơn là đáng trách Với vẻ nền nếp, trung hậu và tấm lòng yêu thương con hết mực chị là hiện thân của một người phụ nữ mẫu mực và là
Những vẻ đẹp ấm áp tình người ấy được nhà văn Guy đơ Mô-pa-xăng thể hiện bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc Nhà văn đã tinh tế nhận ra và thể hiện sắc nét tâm trạng của ba nhân vật Xi-mông, Blăng-sốt và bác thợ rèn Phi-líp, qua đó đê' cập đến vấn đề tâm lí gia đình của con người, vai trò của bố trong cuộc đời con người Thứ tình cảm thiêng liêng ấy cũng được khắc họa trong Số phận con người, một truyện ngắn viết vê’ chiến tranh của nhà văn Nga M Gorki Truyện không kết thúc ở nỗi trầm buồn khi An-drầy đêm nào cũng “chiêm bao thấy người thân quá cố’ mà tái hiện cảnh mùa xuân, dòng sông, con đường, khi An-drây nhận nuôi em bé mồ côi, khi hai con người xa lạ trở nên thân thiết Dường như mỗi đứa trẻ khi “sống bên cạnh bố” để có được sức mạnh diệu kì để “khi đã lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường” Hơn tất cả, tình cảm thể hiện ở cả hai tác phẩm không chỉ là tình phụ tử,
Trang 40mà còn là sự kết nối giữa những con người với con người trong tình yêu thương Đổng thời, qua đó nhắc nhở chúng ta yêu thương bạn bè, mở rộng là tình yêu thương con người, sự đồng cảm và sẻ chia với những người bất hạnh, với những khổ đau và lỗi lầm của người khác
Truyện ngắn Bố của Xi-mông đã khép lại trong câu hỏi đầy day dứt: “Ai có lỗi trong những đau khổ của Xi-mông?” Đó là câu hỏi mà có lẽ, nhiều năm sau nữa chúng ta cũng không thể trả lời cho đẩy đủ, toàn vẹn Nhưng vẻ đẹp và sự ấm
áp tình người trong tác phẩm sẽ luôn nhắc nhở mỗi chúng ta về tấm lòng nhân ái, yêu thương, cảm thông và chia sẻ để có thể giúp đỡ những người bất hạnh xung quanh và không vô tình gây ra khổ đau cho người khác
Cảm nhận văn bản“Bố của xi-mông” của Guy-đơ Mô-pa-xăng (mẫu 6)
Guy đơ Mô-pa-xăng (1850 - 1893) là nhà văn Pháp nổi tiếng thế giới Tuy chỉ sống đến hơn bốn mươi tuổi nhưng ông đã sáng tác một khối lượng tác phẩm lớn gồm một số tiểu thuyết như Một cuộc đời (1883) Ông bạn đẹp (1885) và hơn ba trăm truyện ngắn Các tác phẩm của ông phản ánh chân thực tình hình xã hội Pháp nửa cuối thế kỉ XIX
Bài văn Bố của Xi-mông trích từ truyện ngắn cùng tên Nội dung kể về chị sốt bị một gã đàn ông lừa dối, sinh ra bé Xi-mông Khi Xi- mông đi học, em bị đám học trò chế giễu là đứa con hoang không có bố Xi- mông buồn tủi, lang thang
Blăng-ra bờ sông, chỉ muốn chết cho xong Rất may, em gặp bác Phi-líp Bác dẫn em về nhà với mẹ Em muốn bác Phi-líp là bố và bác đã nhận lời Nhưng bọn trẻ vẫn trêu chọc vì bác Phi-líp không phải là chồng của mẹ Xi-mông thì làm sao là bố của Xi-mông được?! Sau đoạn trích này, tác giả kể rằng vì thương Xi-mông mà bác Phi-líp đã cầu hôn với cô Blăng-sốt Từ đó, Xi-mông có một người bố thật sự, chỗ dựa vững chắc của em trong cuộc đời Nhà văn Guy đơ Mô-pa-xăng đã thể hiện rất sinh động diễn biến tâm trạng của ba nhân vật Xi-mông, Blăng-sốt, Phi-líp Qua
đó, ông kín đáo nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương bạn bè, mở rộng ra là lòng thương yêu con người, biết thông cảm và chia sẻ trước những nỗi bất hạnh hoặc lầm lỡ của người khác
Bài văn chia làm 4 phần: Phân một: Từ đầu đến mà chỉ khóc hoài: Nỗi buồn tủi
và tuyệt vọng của cậu bé Xi-mông Phần hai : Từ Bỗng một bàn tay đến một ông bố : Xi-mông gặp bác Phi-líp Phần ba: Từ Hai bác cháu đến đi rất nhanh: Bác Phi-líp đưa Xi-mông về nhà Phần bốn: Còn lại: Ngày hôm sau ở trường