1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

14 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYÈN BAN HÀNH VĂN BÃN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Nguyễn Thị Ngọc Mai* Tóm tắt Bài viết phân tích thực trạng về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm phá[.]

Trang 1

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYÈN BAN HÀNH

Nguyễn Thị Ngọc Mai*

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở địa phương hiện nay, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vẩn đề này.

Abstract: The article analyzes the current state of the competence of local government in issuing legal documents in order to make proposals to improve the relevant laws.

I r I 1 rong những năm gần đây, việc ban

1 Xem khoăn 3 Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL năm 1996: Vãn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do

Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết cùa Hội đồng nhân dân cùng cấp: a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; b) Quyết định, chi thị của Uỷ ban nhân dân.

A hành nghị quyết của Hội đồng nhân

dân (HĐND) và quyết định củaủy bannhân

dân (UBND) với tư cách là văn bản quy

phạm pháp luật (VBQPPL) đã được thực

hiện tương đổi có hiệu quả, đa số các

VBQPPL do chính quyền địa phương

(CQĐP) ban hành đã dần đáp ứng được

những yêu cầuđặt ra ở từng địa phương Tuy

nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được

thì công tác này cũngcòn nhiều hạn chế, làm

giảm sút hiệuquả hoạt động của CQĐPtrong

tổchức và bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp

luật tại địaphươngvà một trong những lýdo

của hiện tượng này là sự quy định chưa hợp

Ịlý của pháp luật về thẩm quyền ban hành

VBQPPL của CQĐP cáccấp

1 Một số bất cập trong quy định

pháp luật về thẩm quyền ban hành văn

bản quy phạm pháp luật của chính quyền

địa phưong

4 TS., Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh.

Trong lịch sử xây dựngpháp luật nước

ta, thẩm quyền ban hành VBQPPL của CQĐP hầu như không được đề cập tới cho đến năm 1996, Luật Ban hành VBQPPL lần đầu tiênđược ban hành Tuy nhiên, Luật này cũng chỉtập trung quy định về VBQPPL của các cơ quan nhà nước ở trung ương, còn hình thức VBQPPL do CQĐP ban hành được quy định rất đơn giản, mang tính nguyên tắc là chủ yếu1 Với mục đích phân định rõ giữa VBQPPL do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với VBQPPL

doCQĐP đặt ra, Quốc hội đã ban hành Luật Ban hành VBQPPLcủa HĐND, ƯBND năm

2004 tồn tại song song cùng với Luật ban hành VBQPPL năm 1996 (sau này là Luật 1

Trang 2

NHÀ NƯỚC VÀ PHẢPLUẬTSÓ 1/2022

Ban hành VBQPPL năm 2008) Tuy nhiên,

sau một thời gian áp dụng vào thực tiễn,

trước những bất cập của việc tồn tại đồng

thời cả hai đạo luật về VBQPPL, Quốc hội

đã hợp nhất thành Luật Ban hành VBQPPL

năm2015, sau đó đạo luật này được sửa đổi,

bố sung một số điều bằng Luật số

63/2020/QH14 ngày 18/6/2020 (gọi chung

là Luật 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020))

So với các đạo luật về VBQPPL trước đó,

Luật 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã

có sự bổ sung hợp lý về chủ thể ban hành

VBQPPL ở trung ương2 Tuy nhiên, ờ địa

phương vẫn giữ nguyên quy định VBQPPL

chỉ do tập thể ban hành: HĐND có quyền

ban hànhnghị quyết và UBND có quyền ban

hành quyết định để thực hiện cácchức năng,

nhiệm vụ củamình

2 Xem Nguyễn Thị Ngọc Mai, Văn bàn quy phạm

pháp luật của chính quyền địa phương, Luận án Tiến

sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh,

năm 2020, tr 34.

3 Xein Điềụ 27, 28 Luật Ban hành VBQPPL năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

4 Bộ Tư pháp, Công văn số 2804/BTP-VĐCXDPL ngày 10/8/2017; Công văn số 6583/BTP-VĐCXDPL ngày 20/12/2017; Công văn số 2462/BTP- VĐCXDPL ngày 5/7/2018 và Công văn số 4842/BTP-VDCXDPL ngày 17/12/2018 cùa Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) thông báo nội dung giao địa phương quy định chi tiết các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 3.

5 Bộ Tư pháp, Báo cảo số Ĩ22/BC-BTP ngày

15/11/2017 về công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2017 (xem Phụ lục 03 - Bàn tống hợp kết quả theo dõi tính kịp thời, đầy đu của việc ban hành văn bản quy định chi tiết).

Neu xét ở góc độ lý luận và chỉ căn cứ

vào các quy định của pháp luật thì dường

như thẩm quyền ban hành nghị quyết của

HĐND có vẻ chiếm “ưu thể” hơn việc ban

hành quyết định của UBND3 vì trong nhiều

trường hợp UBND ban hành văn bản để thi

hành nghị quyết của HĐND , nhưng trên

thực tế thì không hẳn là như vậy Chẳng

hạn, Luật 2015 (sửa đổi, bổ sungnăm2020)

cùng quy định cả HĐND cấp tỉnh vàUBND

cấp tỉnh được ban hành VBQPPL để quy

định “chi tiết điều, khoản, điểm được giao

trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp

trên” Nhưng, thực tế khi rà soát các luậtđã

được Quốc hội khóa XIV thông qua kể từ thời điểm Luật 2015 có hiệu lực thi hành đến nay cho thấy, đa số các luật giao cho UBND quy định chi tiết vàgiao tráchnhiệm ban hành biện pháp, chính sách: Kỳ họp thứ

3 có 4 luật giao CQĐP quy định chi tiết thì

có % luật thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh, với 8/9 nội dung được giao quy định chi tiết; 6 luật giao trách nhiệm ban hành biện pháp, chính sách thi hành luật thì UBND chiếm 5/6 luật, với 7/8 nội dung4 Hoặc từ số lượng VBQPPL của các địa phương cũng cho thấy, sự chênh lệch giữa hai cơ quan này Đơn cử, trong năm 2017,

Tp Hà Nội đã ban hành 06 nghị quyết và 30 quyết định theo thẩm quyền hoặc cũng trong năm 2017, UBND tỉnh Nam Định ban hành 29quyết định so với 13 nghị quyết của HĐND tỉnh ,5 Từ thực tiễnđó đã có ý kiến cho ràng, ở địa phương, thẩm quyền ban hành VBQPPL chủ yếu tập trung vào UBND chứ không phải HĐND

Pháp luật quy định HĐND và UBND ở tất cả các đơn vị hành chính đều có quyền ban hành VBQPPL Tuy nhiên, từ những quy định của pháp luật và thực tế ban hành VBQPPL của CQĐP thấy rằng, vẫn còn có

Trang 3

HOÀN THIỆN PHÁP L UẬ T

một số vấn đề sau cần tiếp tục xem xét về

thẩm quyền ban hành VBQPPL của các cơ

quan này

Thứ nhẩt,hiện nay cả ba cấp CQĐP đều

có quyền ban hành VBQPPL, tuy nhiên, có

j nên trao quyền ban hành VBQPPL cho cả

ba cấp CQĐP hay không? Nếu có thì thẩm

I quyền đến đâu? Đây là vấn đề còn nhiều ý

kiến Đa số đều cho rằng, nếu để CQĐP tất

cả các cấp đều có quyền ban hành

VBQPPL, đặt ra “luật lệ” riêng của địa

phương mình sẽ dẫn đến tình trạng “phép

vua thua lệ làng”, làm vô hiệu hóa các quy

địnhcủaHiến pháp, luật và cácvăn bản của

các cơ quan nhà nước cấp trên6 cũng như

tạo ra một lượng VBQPPL khổng lồ, nhiều

tầng nấc Với câu hỏi khảo sát: “Nên giao

quyền ban hành VBQPPL cho CQĐP như

thế nào?”, đã có 16,75% số người được hỏi

trả lời là không nên giao CQĐP ban hành

ị VBQPPL; 41,62% cho rằng chỉ nên giao

cho CQĐP ban hành trong một số lĩnh vực

nhất định và cũng con số đó (41,62%) đồng

ý nên giao cho CQĐP ra VBQPPLtrong tất

cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý

của địaphương7 Liên quan đến vấn đề này,

về cơ bản có 3 loại ý kiến sau đây:

6 Thảo luận Dự thảo Luật Ban hành VBQPPL năm

1996,2008.

7 Bộ Tư pháp và Dự án phát triển lập pháp quốc gia

tại Việt Nam (NLD): Báo cáo khảo sát đánh giá thi

hành Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND

\tăm 2004 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008,

tr.76.

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần

thứ ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoả VIII), về chiến lược cán bộ thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm

1997, tr 68.

9 Viện Khoa học pháp lý, Kỹ yếu Hội thảo về “Tiêu chí phân loại thẩm quyền ban hành VBQPPL của CQDP ”, Hà Nội, năm 2010, tr 18, 19.

Loại kiên thứ nhât: Nên giao cả ba

\cẩp CQĐP quyền ban hành VBQPPL vì

Ipháp luật quy định mỗi cấp đều có nhiệm

vụ, quyền hạn nhất định, đồng thời mỗi cấp

CQĐP cũng là cấp ngân sách Do đó, mồi

Cấp cần có “công cụ” để thực hiện và VBQPPL là công cụ quan trọng nhất Neu

“tước” đi thẩm quyền quan trọng này của CQĐP cấp huyện, xãnhư nó vốn có và cần phải có, chỉ vì thực tế đã có và vì “sợ” các

cơ quan này ban hành VBQPPL trái luật là chưa thực sự phù hợp Hơn nữa, điều này thậm chí có thể trái với chủ trương mở rộng dân chủ và tăng cường tính chủ động của địa phương và cơ sở mà Đảng vàNhànước

ta đã đề ra8

Loại ý kiến thứ hai: Chỉ giao cho

CQĐP cấp tỉnh và cấp huyện ban hành VBQPPL, không nên giao thấm quyền này cho cấp xã, “để tránh chồng chéo và đặt CQĐP cấp xã thực sự làmột cấp cơ sở, nên chăng cần xem chủ thể này là một loại chủ thể “hành động”, chỉ tuân theo và triểnkhai pháp luật của các cơ quan nhà nướccấp trên

mà không cần thiết phải ban hành văn bản mang tính chất quy phạm”9 Vì từ thực tiễn theo dõi công tác ban hành VBQPPL cho thấy, văn bản do cấpxã ban hành chủ yếulà sao chép lại văn bản của cơ quan cấp trên, thậmchí không đúng với tinhthần, quy định trong văn bản của cơ quan cấp trên và đã gây ra những hậu quả nhất định Sai phạm này có nhiều nguyên nhân, trongđó do nhận thức, trình độ hạn chế về pháp luật của cán

Trang 4

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SÔ 1/2022

bộ lãnh đạo địa phương, trình độ pháp luật

của cán bộ cấp xã chưa đáp ứng được khi

soạn thảo văn bản, nên văn bản được ban

hành sai quy định, hoặc để bảo đảm “an

toàn” nên sao chép lại quy định trong văn

bản của cơ quan cấp trên cho “chắc ăn”

Hơn nữa, nếu giao cấp xã ban hành

VBQPPL thì càng làm cho hệ thống pháp

luật phức tạp, nhiềutầng nấc, khó kiểm soát

từ phía các cơ quan nhà nước cấp trên; ảnh

hưởng đến sự quàn lý, điều hành thông suốt

từ trung ương đến cơ sở VBQPPL của cấp

tỉnh và cấp huyện đã đảm bảo được tính cụ

thể, chi tiết để áp dụng rồi, nên không cần

thiếtphảiquyđịnhchi tiết hơn nữa

Đối với cấp huyện, do đặc thù lãnh thô

vàchức năng quản lý nhà nước, nhất là đối

với những địa phương có nhiều dân tộc,

trình độ phát triển còn hạn chế, điều kiện

kinh tế còn khó khăn, có thể giao ban hành

VBQPPL ở một số lĩnh vực nhất định, bảo

đảm phù hợp với tình hình thực tế ở địa

phương với những điều kiện rõ ràng Ngoài

ra, cũng có ý kiến của các chuyên gia nước

ngoàicho rằng, cần có quyđịnhmột số điều

kiện cụ thể cho CQĐP ban hành vãn bản

nhằm bảo đảm tính đặc thù của địaphương,

khó có thể hạn chế tuyệt đối thẩm quyền

ban hành VBQPPL của chính quyền cấp

quận, huyện; cần có “địa dư”, không gian

“mở” cho phép địa phương ban hành

VBQPPL gắn với trách nhiệm và trongđiều

kiện cụ thể nào đó ủy quyền cho phép ban

hành văn bản; lĩnh vực được phép ban hành

VBQPPL phải được ủy quyền rõ ràng,

chính xác, trực tiếp; gắn với đó là trách

nhiệm giải trình, làm rõ tại sao ban hành

VBQPPL đó cũng như giữ được vai trò, chức năng giám sátcủa cơ quan cấptrên10 *;

10 Ông Isabeau Vilandre, Giám đốc Dự án Phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam phát biểu về kinh nghiệm của Canada tại Hội thảo góp ý cho dự án Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 do Bộ Tư pháp

tô chức.

" Nghị định số 93/2001/ND-CP ngày 12/2/2001 về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho Tp Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 về việc thực hiện thí điểm cơ chế đặc thù cho Tp Hồ Chí Minh.

Loại ýkiến thứba: Chỉ giao cho CQĐP cấp tỉnh han hành VBQPPL ơ nướcta, cấp tỉnh là cấp trực tiếp thể chế hóa các chính sách, pháp luật của trung ương ở địa phương, là cầu chuyển tải đầu tiên các chính sách, pháp luật của trung ương xuống địa phương, vì vậy, cần được quyền ban hành VBQPPL để đảm bảo được vai trò của mình Hơn nữa, văn bàn pháp luật của các

cơ quan nhà nước ở trung ương thường có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, để điều chỉnh những vẩn đề mang tính phổ biếntrên

cả nước,mặc dù cũng có một số trường hợp văn bản của trung ương có hiệu lực trên phạm vi một vùng lãnh thổ vì những yếu tố riêng biệt của khu vực đó cần có sự điều chinh riêng, khác với các khu vực khác nhưng rất hiếm11 Trong khi đó, mỗi tỉnh, thành phố đều có thể có những yếu tố riêng biệt về tự nhiên, xã hội khác nhau dần đến khảnăng thực hiện văn bảncủa trung ương không giống nhau Vì vậy, cần có sự cá biệt hóa văn bản của trung ương cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Bên cạnh đó, do sự khác biệt giữa các địa phương, mà có những vấn đề chỉ có ở địa phương này nhưng lại không có ở địa

Trang 5

HOÀN THIỆN PHÁP L UẬ T

phương khác, nên cũng khó cóthể được quy

định trong các vãn bản chung của trung

ương Trong trường hợp này cũng cần có

vãn bàn của địa phương trực tiếp điều chỉnh

I các vấn đề đó Như vậy, nhu cầu ban hành

VBQPPL có hiệu lực trên phạm vi cấp tỉnh

là rấtrõ ràng12

12 Bùi Thị Đào, Thẩm quyền ban hành vãn bàn quy

phạm pháp luật của chinh quyển cấp huyện, cấp xã,

http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/NewsZl 25/0/1010067/0/1

8952/Tham_quyen_ban_hanh_van_ban_quy_pham_

phap_luat_cua_chinh_quyen_cap_huyen_cap_xa,

truy cập ngày 12/6/2016.

13 ƯBND tỉnh Đồng Nai, Báo cáo số 5148/BC-

I UBND ngày 01/7/2013 về Tổng kết thi hành Luật

Ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật Ban hành

VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 trên địa bàn

tinh Đồng Nai, năm 2013, tr.9.

14 Bộ Tư pháp và Dự án Phát triển lập pháp quốc gia

tại Việt Nam (NLD): Báo cáo khảo sát đánh giá thi

I hành Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND

năm 2004 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008,

I tr.76.

15 Bộ Tư pháp và Dự án Phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD): Bảo cáo kháo sát đánh giá thi

hành Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008,

tr 12.

16 Từ năm 2009 - 2013 Chính phủ ban hành 498 nghị định và Thù tướng Chính phủ ban hành 379 quyết định.

17 Bộ Tư pháp, Báo cáo Tổng kết cóng tác tư pháp

các năm 2016, 2017, 2018, 2019, 2020.

Đồng tình với ý kiến này, nhiều địa

phương cho rằng “chỉ nên quy định thẩm

quyền ban hành VBQPPL ở cấp tinh, còn

cấp huyện, cấp xã chỉ là cấp tồ chức thực

hiện, nên không cân thiêt phải ban hành

VBQPPL mà chi cần ban hành các quyết

định hành chính thông thường để thực hiện

I chức năng quản lý nhà nước ở địa

phương”13 Trường hợp cần có quy định để

điều chỉnh một vấn đô đặc thù ở địa phương

thì có thể xây dựng đề án trình lên

tỉnh/thành phố ban hành Hơn nữa, việc

giảm bớt VBQPPL của cấp huyện và cấp xã

sẽ làm tăng thêm tínhnhanh nhạy trong điều

hành, bớt được các bước trung gian và hệ

thống VBQPPL cồng kềnh không cần thiết

Khảo sát ở địa phương về thẩm quyền ban

hành VBQPPL của CQĐP đã cho kết quả

I như sau14: số người đồng ý giao thẩm

quyền ban hành VBQPPL cho CQĐP cấp tỉnh là 94,59%; cấp huyện là 15,14%, trong khi chỉ có 7,03% số người được hỏi đồng ý giao thẩm quyền ban hành VBQPPL cho CQĐP cấp xã

Thống kê của Bộ Tư pháp về sổ lượng VBQPPL do CQĐP ban hành sau khi Luật ban hành VBQPPL củaHĐND, UBND năm

2004 có hiệu lực (từ 2005 - 2012)15: (i) cấp tinh: 7.491 nghị quyết của HĐND; 20.553 quyết định và 3.189 chỉ thị của UBND; (ii) Cấp huyện: 25.625 nghị quyết của HĐND

và 47.919 quyết định cùng với 7.626 chỉ thị của UBND; (iii) cấp xã: 126.163 nghị quyết cua HĐND và 39.419 quyết định, 6.534 chỉ thị của UBND Nhìnvào số liệu trên có thể thấy rằng, số lượng VBQPPL do UBND ban hành là rất lớn, thậm chí còn lớn hơn ở trung ương16 Nếu so sánh giữa số lượng quyết định của UBND và số nghị quyết của HĐND ban hành trung bình trong 1 năm sẽ thấy có sự chênh lệch lớn: số quyết định bao giờ cũng lớn hơn nhiều so số nghị quyết; riêng ở cấp xã, nghị quyết của HĐND chiếm số lượng nhiều nhất Hiện nay, sau hơn 4 năm Luật 2015 có hiệu lực,

số lượng VBQPPL do HĐND và UBND ở

ba cấp địa phương tỉnh, huyện,xã ban hành như sau17:

Trang 6

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬTSÓ 1/2022

\ Năm

Chính quyềnx

địa phương \

Cấp xà 39.35218 36.868 18.434 7.020 3.524 3.078

18 Bộ Tư pháp, Tổng hợp số liệu thống kê về hoạt

động kiểm tra VBQPPL tại các địa phương (Biểu

mẫu so 1), nguồn: http://moj.gov.vn/cttk/ chuyên

muc/Pages/thong-tin-thong-ke.aspx, truy cập ngày

16/3/2019.

19 Theo Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 của

Bộ Tư pháp về Tổng kết công tác tư pháp năm 2020, nhiệm kỳ 2016-2020; định hướng nhiệm kỳ 2021-

2025 và nhiệm vụ, giãi pháp chủ yếu công tác năm 2021: Nêu so với nhiệm kỳ 2011- 2015, tổng số văn bản do CQĐP cấp huyện và cấp xã ban hành của nhiệm kỳ 2016- 2021 đã giám mạnh: cấp huyện giảm 54,5% (từ 30.747 xuống 13.990); cấp xã giảm

63 % (từ 195.114 xuống 72.253).

Từ số liệu này cho thấy: số lượng văn

bản do CQĐP cấp tỉnh ban hành năm 2016

tăng 795 văn bản so với năm 2015, năm

2017 tăng 75 văn bản so với năm 2016,

nhưng đến năm 2018 thì giảm khoảng

18,6% so với năm 2017 và đến năm 2019

lại tăng 6,3% so với năm 2018; đối với cấp

huyện nãm 2016 giảm 12 văn bản so với

năm 2015, năm 2017 giảm 38,3% so với

năm 2016, năm 2018 đã giảm 56% so với

năm 2017 và đến năm 2019 giảm gần 34%

so với năm 2018; cấp xã từ 2015 đến nay

đều có xu hướng giảm, nếu năm 2017 giảm

khoảng 55% so với năm 2016 thì đến 2018

đã giảm gần 56% so với năm 2017 và năm

2019 tiếp tục giảm tới 57% so với năm

2018 Như vậy, số lượng VBQPPL được

ban hành tiếp tục giảm mạnh so với những

năm trước, nhất là ở cấp huyện và cấp xã,

phù hợp với quy định của Luật 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm 2020), các địa phương đã

thực hiện nghiêm túc các quy định về giảm

số lượng văn bản ở cấp huyện, cấp xã để tập

trung cao vào công tác tổ chức thi hành pháp luật ởđịaphương19

Như vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về thẩm quyền ban hành VBQPPL của CQĐP

Đa số ý kiến đều cho rằng, không nên giao CQĐP cấp huyện, cấp xã ban hành VBQPPL để nhằm mục đích đơn giản hóa

hệ thống VBQPPL cũng như để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật Tuy nhiên, việc hạn chế thẩmquyềnra VBQPPL của các cấp CQĐP để bảo đảm tính thống nhất của hệthống pháp luật chỉ là một lýdo nhưng không cơ bản Tác giả cho rằng, lý

do quan trọng nhất để có thể hạn chế hoặc tiến tới không trao quyền ban hành VBQPPL cho CQĐP cấp huyện, cấp xã là phải trả lời được câu hỏi: CQĐP ở các cấp này có cần thiết phải ban hành VBQPPL hay không? Nếu không ban hành thì có ảnh hưởng gì tới việc thực hiện chức năng,

Trang 7

HOÀN THIỆN PHẢP LUẬT

nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó

không? Không ban hành thì có đảm bảo cho

việc thi hành các VBQPPL của cơ quan cấp

trên không? Muốn trả lời được câu hỏi này,

phải giải quyết được vấn đề về phân cấp,

phân quyền một cách triệt để; tức là phải có

sựphân địnhrõ ràng vềthẩmquyền quản lý

nhà nước VBQPPL chỉ có thểbị hạn chế và

giới hạn bởi thẩm quyền quản lý nhà nước

đượcpháp luật quy định.Neu Luật Tổ chức

CQĐP năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) và các luật chuyên ngành khác như

Luật Ngân sách, Luật Đất đai, Luật Giáo

dục, Luật Giao thông đường bộ không

phân cấp, phân quyền cho CQĐP cấp huyện,

cấp xãthực hiện một số nhiệm vụ nhất định

thì CQĐP các cấp nàykhông cầnthiết phải

ban hành VBQPPL Nhưng ngược lại, nếu

được giao những thẩm quyền quản lý độc

lập, riêngbiệt, không trùng lặp với cấp tỉnh

thì vẫn cần ban hành VBQPPL để quản lý,

điều hành Nếu quan niệm VBQPPL là

“công cụ” của chính quyền thì nên giao

quyền ban hành, còn việc sử dụng hay

không là do sựlựachọn của cơ quan đó

Tuy nhiên, muốnđịnh hình một cách cụ

I thể và chính xác thẩm quyền ban hành

j VBQPPL của CQĐP thì phải thiết kế mô

hình tổ chức CQĐP hợp lý và điều cốt lõi

là phải phân định ranh giói họp lý thẩm

quyền giữa trung ương - địa phương, của

mỗi cấp CQĐP và giữa các cơ quan của

I chính quyền cùng một cấp theo vấn đề:

CQĐP cấp tỉnh được quyết định về vấn đề

gì, cấp huyện, cấp xã được quyết định về

vấn đề gì? Nếu vấn đề đó, cấp tỉnh đã quản

lý (ban hành VBQPPL để quy định cụ thể

rồi) thì cấp huyện hoặc cấp xã có cần thiết

phải ban hành VBQPPL để quy định tiếp

nữa hay không? Hay CQĐP các cấp này chỉ

cần ban hành văn bản cá biệt để tổ chức thực hiện là được Bên cạnh đó, phải tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động ban hành văn bản từ nhiều phía

Việc phân định thẩm quyền quản lý giữa các cấp CQĐP hiện nay còn chưa rạch ròi, chủ trương phân cấp mới được triển khai trên một số lĩnh vực nên việc xác định chính xác thẩm quyền ban hành VBQPPL củatừng cấp CQĐP là rất khó khăn20 Luật

Tổchức CQĐP năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) hiện nay chưa phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp CQĐP trong quản lý ngành, lĩnh vực, mà gần như

“ủy thác” hoàn toàn cho các luật chuyên ngành Khoản 2 Điều 17, khoản 2 Điều24, khoản Điều 31 Luật Tổ chức CQĐP đều quy định CQĐP tỉnh-huyện-xã quyết định vấn đề của cấp mình trong phạm vi được phân cấp, phân quyền theo quy định của Luật Tổ chức CQĐP và quy định khác của pháp luật có liên quan Thực tiễn thời gian qua cho thấy, có những nơi cả năm CQĐP cấp xã không ban hành một VBQPPL nào như Bắc Ninh, CàMau, Đắc Lắc, Đà Nằng,

Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Phú Thọ (năm 2017), con sốnày tăng lênvàonăm 2018 và

cá biệt có những tỉnh trong 2 năm liên tiếp (2017 và 2018), cấp xã không ban hành VBQPPL như Bắc Ninh, Cà Mau,Đà Nằng,

Hà Tĩnh, Khánh Hòa Hoặc cũng có tỉnh, CQĐP cấp xã cả năm chỉ ban hành 1-2 VBQPPL như Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu21 Dođó, khi đã phân định thẩm quyền

20 Xem các Điều 17, 24, 31, 38, 45, 59 của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

21 Bộ Tư pháp, Tồng hợp số liệu thong kê về hoạt động kiểm tra VBQPPL tại các địa phương (Biểu mẫu sổ 1), nguồn: http://moj.gov.vn/cttk/chuyenmuc /Pages/thong-tin-thong-ke.aspx, truy cập ngày 16/3/2019.

Trang 8

NHẢ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT SÔ 1/2022

rõ ràng, khôngtrùng lặp về nhiệmvụ, quyền

hạn thì thẩm quyền ban hành VBQPPL

cũng sẽ phải được xác định lại chophùhợp

Thứ hai, thẩm quyền ban hành

VBQPPL ở địa phương hiện nay hoàn toàn

là thẩm quyền tập thể, theo đó “việc chung

thì trách nhiệm chung” Trong khi đó, Chủ

tịch UBND - chủ thể giữvai trò quan trọng

trong “lãnh đạo, điều hành hoạt động của

UBND” mặc dù có quyền đình chỉ việc thi

hành, bãi bỏ VBQPPL trái pháp luật của

UBND cấp dưới trực tiếp; đinh chỉ việc thi

hành nghị quyết trái pháp luật của HĐND

cấp dưới trực tiếp, nhưng lạikhông có thẩm

quyền ban hành VBQPPL Khi đình chỉ

hoặc bãi bỏ VBQPPL của các cơ quan khác,

Chủ tịch UBND sử dụng văn bản cá biệt thì

liệu rằng có hợp lý không? Trước đây, Điều

127 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm

2003 quyđịnh: Chủ tịch UBND quyết định

các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của

UBND cấp mình, trừ các vấn đề ƯBND

thảo luận tập the và quyết định theo đa số

Tuy nhiên, tư duy và quy định tiến bộ này

không còn được kế thừatrong Luật Tồ chức

CQĐP năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2019), vai trò của “chủ nghĩa tập thể” được

đề cao, vai trò cá nhân (thủ trưởng) trong tổ

chức và hoạt động của UBND bị “lu mờ”

Chỉ khi nào biểu quyết của tập thể UBND

có số phiếu ngang nhau thì khi đó vai trò

của Chủ tịch mới được phát huy Ngoài

những nhiệm vụ quyền hạn đã được minh

định tại Điều 22 và Điều 43, Luật Tổ chức

CQĐP hiện hành không có bất kỳ quy định

nào về việc Chủ tịch UBND cấp tinh có

quyền quyết định những vấn đề thuộc

nhiệm vụ, quyền hạn của UBND, nhưng

chưađược quy định tại Điều 21 và Điều 40

Vì thế, có thể coi đây là một bước “thụt lùi”

của Luật Tố chức CQĐP so với Luật Tố chức HĐND và UBND năm 2003 Có ý kiến cho ràng: “Chủ tịch UBND các cấp dù

là cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, kể cả Chủ tịch UBND Thủ đô Hà Nội

và Chủ tịch UBND thành phố lớn nhất cả nước là Tp Hồ Chí Minh cũng không có quyền ban hành VBQPPL Trong khi đó, HĐND, UBND cấp huyện và cả HĐND, UBND cấp xã dưới quyền kiểm soát của Chủ tịch UBND cấp tỉnh “khá xa” lại được quyền ban hànhVBQPPL22

22 Nguyễn Cừu Việt, Khái niệm VBQPPL (tiếp theo)

và hệ thống VBQPPL, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp

số 5 (99), tháng 5/2007, tr.28.

23 Có ý kiến cho rằng “để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, không nên đặt vấn đề Chù tịch UBND được ban hành VBQPPL Bởi lẽ, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và sau đó là Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 (sừa đổi, bổ sung năm 2002), Lụật Tổ chức HĐND, UBND năm 2003 đã thống nhất quy định chỉ có HĐND ban hành nghị quyết và UBND ban hành quyết định và chi thị (ở đây UBND với ý nghĩa là tập thể chứ không phải là

cá nhân Chủ tịch UBND); trong các trường họp khẩn cap, đột xuất đề phòng chống, thiên tai, dịch bệnh, an

Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND được Quốc hội khóa XI biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ6, có hiệu lực năm

2004 Theođạo luật này [và các đạo luật sau như Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)] đều xác định VBQPPL ở địa phương là văn bản do tập thề HĐND và UBND ban hành Trước đây, tại diễn đàn kỳ họp thứ 5, Quốchội khóa XI khi thảo luận về Dự thảo Luật Ban hành VBQPPLcủa HĐND, UBND đã có nhiều ý kiến về việc có nên giao thẩm quyền ban hành VBQPPL cho Chù tịch ƯBND hay không? Đã có 2 loại ý kiến: Loại ý kiến thứ nhất, không giao Chủ tịch UBND ban hành VBQPPL23 * và loại ý kiến thứ hai đề nghị

Trang 9

HOÀN THIỆN PHẢP LUẬT

giao cho Chủ tịch (JBND thẩm quyền ban

hành VBQPPL trong trường hợp khẩn cấp

Sau rấtnhiều cân nhắc, cuối cùng, Quốc hội

đã biểu quyết với đa số tán thành loại ý kiến

thứnhất với các lýdo sau: Một là, VBQPPL

liênquan đếnquyền và lợi ích họp pháp của

công dân, việc ban hành văn bản cần được

giao cho tập thể UBND thảo luận, quyết

định; hai là, với cưongvị là ngườiđứngđầu

cơ quanhành chính nhà nướcở địaphương,

Chủ tịch UBND cần dành nhiều thời gian

cho việc lãnh đạo, điều hành công việc của

UBND, còn đối với những trường hợpkhẩn

cấp cần ban hành VBQPPL thì sẽ thực hiện

theoquy trình rút gọn24 Hơn nữa, quy định

này cũng phù hợp với quy định tại khoản 3

Điều 1 Luật Ban hành VBQPPL năm 1996

25 Khoản 2, 6, 9 Điều 22 Luật Tổ chức CQĐP năm

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

ninh trật tự Chủ tịch UBND được áp dụng các

biện pháp quy định trong các văn bàn pháp luật có

liên quan như Luật Phòng cháy, chữa cháy haỵ Pháp

lệnh thú y chứ Chủ tịch UBND không có quyền ban

hành VBQPPL đê quy định các biện pháp Hơn nữa,

các trường hợp khẩn cấp đòi hỏi sự khân trương, kịp

thời song cũng đòi hỏi tính chính xác, đúng đắn bởi

việc áp dụng các biện pháp phòng chống, ngăn chặn

liên quan trực tiếp đến quyền lợi, phương tiện của

nhiều cá nhân, tập thê do đó tập thê UBND bàn bạc,

ban hành VBQPPL thì hợp lý hơn (Xem Trương Thị

Hồng Hà, Nâng cao chất lượng ban hành văn bản

quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương,

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2005, tr.15)

Hoặc, ý kiến khác cho rằng, VBQPPL liên quan đến

quyền và lợi ích hợp pháp cùa công dân, việc ban

hành vân bán cần được giao cho tập thể UBND thảo

' luận, quyết định; đồng thời với cương vị là người

đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa

1 phương, Chủ tịch UBND cần dành nhiều thời gian

cho việc lãnh đạo, điều hành công việc của UBND,

còn đối với những trường hợp khẩn cấp cần ban hành

VBQPPL thì sẽ thực hiện theo quy trình rút gọn

(Xem Phương Linh, Luật Ban hành VBQPPL của

HĐND, UBND - Những vấn đề và hướng quy định,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2004, số 11, tr 17).

24 Xem Điều 48 Luật Ban hành VBQPPL của

HĐND, UBND năm 2004 về trình tự, thủ tục soạn

Ịthảo, ban hành quyết định, chi thị của UBND trong

ịtrường hợp đột xuất, khẩn cấp.

và cũng không ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, điềuhành ở địaphương Tuy nhiên, nhữnglý donàyliệu đã thực sựxácđáng để

“từ chối” trao quyền ban hành VBQPPL cho Chủ tịch UBND hay không? Tác giả cho rằng, đây là một bất hợp lý lớn, cần phải được khắc phục trong điều kiện Luật

Tổ chứcCQĐP hiện nay ngoài việc tiếp tục giữ lại những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng như quy địnhtại Luật Tổ chức HĐND

và UBND năm 2003 đã sửa đổi hoặc bổ sung thêm một số quyền mới nhằm đề cao

vị trí vai trò của ngườiđứng đầu UBND25

2 Một số kiến nghị về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

Để các VBQPPL do CQĐP ban hành đảm bảo tính hợp hiến, họp pháp, tính đồng

bộ và thống nhất của hệ thống VBQPPL cũng như phù họp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và củatừng địa phương nói riêng, đòi hỏi CQĐP các cấp phải tiến hành ngay các giải pháp đồng bộ

về cơ sở pháp lý, thủ tục xây dựng, ban hành, vai trò và chất lượng của cơ quan, cán

bộ tư pháp địa phương Tuy nhiên, trong

số các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các văn bản của CQĐP thì vấn đề cần quan tâm hơn cả - đó chính là cần quy định hợp

lý về thẩm quyền ban hành VBQPPL

2.1 về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh

Thứ nhất, giữ nguyên thẩm quyền ban hành VBQPPL của CQĐP cấp tỉnhnhư quy định của pháp luật hiện hành vì đây là cấp trực tiếp dưới trung ương, “là cầu nối chuyển tải đầu tiên các chính sách và pháp

Trang 10

NHÀ NƯỚC VÀ PHẢPLUẬTSÓ 1/2022

luật của trung ương xuống dân, có vai trò

quan trọng trong việc cụ thể hóa và tổ chức

thực hiện các chủ trương, chính sách của

trung ương trên địa bàn Tỉnh là cấp tiếp

nhận đầu tiên sự phân cấp của trung ương

và có khả năng về cán bộ và tài chính để

thực hiện chức năng tự quản của CQĐP”26

Vì vậy, trao quyền ban hành VBQPPL cho

CQĐP cấp tỉnh là cần thiết và phù hợp

26 Đe án: “Đây mạnh cải cách nền hành chính nhà

nước ” cùa Ban cán sự Đảng Chính phủ gửi các đồng

chí Bi thư các tinh ủy, thành ủy, Chủ tịch UBND các

tinh, thành phố trực thuộc trung ương ngày 4/3/1997.

27 Nguyễn Cửu Việt, vắn đề cải cách tổ chức và hoạt

động cùa Chính phù và UBND: Nhìn từ nguyên tắc

kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thú

trưởng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6, năm

1999, tr.42.

28 Nguyễn Thị Thiện Trí, Thực trạng mô hình chính

quyên Tp Hồ Chi Minh và khá năng tự chù cùa chinh quyền thành phố từ cơ chế đặc thù trong Kv yêu Hội thảo quốc tế “Quy định pháp luật đặc thù về phát triển thành phố Hồ Chi Minh và kinh nghiêm nước ngoài”, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí

Minh, tháng 12/2018, tr.207.

29 Nghị quyết số 54/2017/QH14 về thí điếm cơ chế chinh sách đặc thù phát triển Tp Hồ Chí Minh mở rộng hơn đối tượng nhận ùy quyền thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn từ Chủ tịch UBND Tp Hồ Chí Minh

là Chủ tịch UBND quận - huyện Thực tế, hiện nay, UBND Tp Hồ Chí Minh đang tích cực triền khai những nội dung ủy quyền của UBND thành phố, Chú tịch UBND thành phố đôi với các sở, ngành, UBND

24 quận, huyện Trong đó, UBND ủy quyền 55 nhóm nhiệm vụ quyền hạn, còn Chủ tịch UBND ủy quyền

31 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn Thời gian ủy quyền kéo dài từ 20/1 /2019 đến hết ngày 31/12/2022.

Thứ hai, trao quyền ban hành

VBQPPL với hình thức quyết định cho Chủ

tịch UBND cấp tỉnh trên cơ sở phânđịnh rõ

thẩm quyền của tập thể UBND với thẩm

quyền của người đứng đầu của UBND với

các lý do sau:

Một là, từ trước đến nay chúng ta

thường tư duy theo hướng UBND là cơ

quan có thẩm quyền chung, quản lý toàn

diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội địa

phương, nênphải hoạt động theo chế độ tập

thê (tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách) đề

huyđộng trí tuệtập thể, tránh chủ quan, duy

ý chí, quan liêu, lạm dụng quyền lực

Nhưng thực ra, UBND là cơ quan thực thi

quyền hành pháp, là nơi “cần hành động

hơn là lý luận, cần sự ứng phó nhanh và

mau lẹ, đúng lúc, quả quyết với những diễn

biến phức tạp, đa dạng, nhanh chóng,

thường xuyên và liên tục của đối tượng

quản lý, của những nhiệmvụ mới phát sinh

đòi hỏi phải giải quyết gấp rút”27 vốn là

những đặctrưng của bộ máyhành chính nhà

nước, nghĩa là cần đến chế độ thủ trưởng

với trách nhiệm cá nhân rõ ràng Bên cạnh

đó, lần đầutiên trong một luật về tổ chức bộ máy nhà nước (Luật Tô chức CQĐP) nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương được ghi nhận28 Neu phân quyền thể hiện mối quan hệ giữa quyền lực chung của quốc giavới CQĐP và được quy địnhbởi luật thì phâncấp chính là việc cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương phân cấp cho CQĐP hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một số nhiệm

vụ, quyền hạn và việc phân cấp phải được quy định trong các VBQPPL Điều này cùng đồng nghĩa với việc “những cơ quan nào không có quyền ban hành VBQPPL thì không có quyền phân cấp trong quản lý nhà nước” Luật Tổ chức CQĐP quy định, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền ủy quyền cho Phó Chủ tịch, người đứng đầu cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn29 * 31 *

Trên thực tế, việc ủy quyền thường theo

vụviệc cụ thể, nhưng giả sử việc ủy quyền cho cấp dướithực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn cùa cấp trên một cách thường xuyên để giải

Ngày đăng: 21/11/2022, 07:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w