Nghiên cứu Trao đổi XÀYDựNGĐỘINGỹCỔNGCHỨC LÃNH ỌẠá QUẢN LÝĐỔI MỚI, SÁNG TẠO ĐÁP ỨNGYÊÚ CẨU QUẢN TRỊ NHÀ Nước HIỆN ĐẠI NGUYỀN THỊ HỒNG HẢI* HOÀNG VĨNH GIANG** * PGS TS, Học viện Hành chỉnh Quốc gia **[.]
Trang 1Nghiên cứu Trao đổi
XÀYDựNGĐỘINGỹCỔNGCHỨC
NGUYỀN THỊ HỒNG HẢI * -HOÀNG VĨNH GIANG **
* PGS TS, Học viện Hành chỉnh Quốc gia
** TS, Học viện Hành chỉnh Quốc gia
Lãnh đạo, quàn lý được coi là yếu tố then chốt, là yếu tố quan trọng nhất trong việc đạt được mục tiêu, hiệu lực, hiệu quả và dẫn dắt sự thay đổi của các tổ chức hành chính nhà nước Quản trị nhà nước hiện đại đặt ra yêu cầu đổi mới, sáng tạo đối với đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý nhàm đáp ứng những nhu câu của xã hội, thúc đẩy sự thay đổi và tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá cho quốc gia hay một địa phưong, một ngành, một tổ chức.
Từiđióa: Lãnh đạo; công chức lãnh đạo; quản trị nhà nước; quản trị nhà nước hiện đại; đổi mới, sáng tạo.
Leadership and management are considered the key and most important factor in achieving the goals, effectiveness, efficiency and in leading changes in state admlnỉsừative organizations Modem public governance requires transformational, creative leading and managerial civil servants to meet the needs of society, to promote changes, and to create breakthroughs in development of a country, a locality, an industry or an organization.
Keywords: Leadership; leading civil servants; public governance; modern public governance; transformational, creative.
NGÀY NHẬN: 12/12/2021 NGÀY PHẢN BIỆN, ĐÁNH GIÁ 03/01/2022 NGÀY DUYỆT: 17/01/2022
1 Quản trị nhà nước hiện đại và vấn đề
đổi mới, sáng tạo trongkhuvựccông
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, các
nhà khoa học thuộc trường phái thể chế mói
(New Institution) đã giói thiệu lại thuật ngữ
“quản trị/quản trị nhà nước” (governance)
trong khu vực công (KVC) Quản trị nhà nước
(QTNN) đề cập đến quyền QTNN được thực
hiện bởi nhiều chủ thể, những người cùng
tham gia vào quá trình ra quyết định chính trị
và quản lý nhà nước
Một số hàm ý của QTNN, bao gồm:
Thứ nhất, QTNN là một tập họp các thể chế và tác nhân được hình thành từ bên trong chính phủ hoặc bên ngoài chính phủ Theo đó, chính phủ không phải là trung tâm quyền lực duy nhất quản lý nhà nước mà
Trang 2Oyuản Qỉhôm 'Dần - 2022
q uyển lực nhà nước có thể được thực hiện
t ởi một tổ chức công hoặc tư được công
chúng thừa nhận
Thứ hai, QTNN sẽ xóa nhòa ranh giới và
t 'ách nhiệm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã
1 ội Trong đó, nhà nước chuyển giao các trách
r ihiệm từng là độc quyền của mình cho các tổ
(hức khu vực tư nhân và các nhóm tự nguyện
Thứ ba, QTNN nhấn mạnh tầm quan
trọng của mạng lưới tự quản của các tác
nhân Một mạng lưới tự quản như vậy có
quyền ban hành mệnh lệnh trong một lĩnh
irực nhất định và làm việc vói chính phủ trong
lĩnh vực này cũng như chia sẻ trách nhiệm
của mình đối với hành chính công
Thứ tư, QTNN công nhận năng lực để
roàn thành công việc mà không cần dựa vào
quyền chỉ huy hoặc sử dụng quyền hạn của
chính phủ1
Nhiều học giả cho ràng, QTNN hiện đại
mà các quốc gia đang hướng tói mang những
đặc trưng của QTNN tốt (good governance)
Quản trị tốt đề cập đến quá trình quản trị
công nhầm tối đa hóa lợi ích của công chúng
Một trong những đặc điểm cơ bản của quản
trị tốt là sự cộng tác trong việc thực hiện các
nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa các cơ quan
nhà nước và công dân, các tổ chức xã hội Có
nhiều định nghĩa và nguyên tác khác nhau
về QTNN được đưa ra bởi nhiều tổ chức Ví
dụ: theo Ngân hàng Phát triển châuÁ (ADB),
quản trị tốt cần bảo đảm bốn nguyên tác: (1)
Trách nhiệm giải trình (accountability); (2)
Sự tham gia (participation); (3) Tính có thể
sự đoán (predictability); (4) Minh bạch
(transparency) Theo Hội đồng châu Âu (EC):
quản trị tốt dựa trên 5 nguyên tác: (1) Công
khai (openess); (2) Sự tham gia
(participation); (3) Trách nhiệm giải trình
(accountability); (4) Tính hiệu quả
(effectiveness); (5) Sự gán kết (coherence)
Theo Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
(UNDP), quản trị tốt bao gồm 8 nguyên tắc:
(1) Sự tham gia (participation); (2) Định
hướng đồng thuận (consensus oriented); (3) Trách nhiệm giải trình (accountability); (4) Tính đáp ứng (responsiveness); (5) Tính hiệu lực (effective); (6) Tính hiệu quả (effectiveness); (7) Tính bình đảng và không loại trừ chủ thể nào (equitable and inclusive); (8) Pháp quyền (follow the rule of law) Theo ngân hàng Thế giới (World Bank), quản trị tốt bao gồm 6 nguyên tác: (1) Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability); (2) Ổn định chính trị và phi bạo lực, khủng bố (Political Stability and Absence of Violence, Terrorism); (3) Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness); (4) Chất lượng lập quy (Regulatory Quality); (5) Pháp quyền (Rule of Law); (6) Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption)
QTNN hiện đại còn mang hàm ý của quản trị thông minh (Smart Governance) Theo Melhem2, quản trị thông minh là một thuật ngữ gồm các chữ cái viết tát là S.M.A.R.T Trong đó, s (Social - tính xã hội;
M (Mobile, tính di động); A (Analytics, sự phân tích); R (Radical openness, cởi mở triệt để); T (Trust, niềm tin) Nhiều nhà khoa học cho ràng, khái niệm quản trị thông minh cũng được dựa trên nội dung và giá trị của quản trị tốt về cơ bản, quản trị thông minh
là một hệ thống lấy tương tác giữa nhà nước
và các chủ thể trong xã hội làm trọng tâm trong việc ra quyết định để đạt được các mục tiêu quản lý nhà nước và xã hội Từ đó, có thể hiểu quản trị thông minh trong KVC là sự kết họp giữa công nghệ thông tin và các khía cạnh dân chủ
QTNN hiện đại tạo ra nhiều thay đổi sâu sác về mặt lý luận và thực tiễn Các nhà khoa học và lãnh đạo trên thế giới cho ràng, KVC hiện nay cần phải thích ứng và phản ứng nhanh chóng trong một môi trường đầy biến động, cũng như đối phó với sự hỗn loạn và không chác chán Đặc biệt, toàn cầu hóa, những áp lực liên quan đến việc nâng cao năng suất, khả năng cạnh tranh, sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin,
Trang 3Nghiên cứu Trao đổi
yêu cầu về sự cỏi mở, minh bạch và nhạy bén
hơn trong việc cung cấp các dịch vụ công
hiệu quả hơn đòi hỏi các chủ thể trong KVC
phải không ngừng đổi mói và phát huy sự
sáng tạo
Trong cuốn sách “Lãnh đạo sự thay đổi”
của Giáo sư John Kotter - Trường Kinh doanh
Harvard3 đã lưu ý ràng, tất cả các tổ chức đều
bị tác động bởi sự chuyển đổi liên tục, nhanh
chóng và sự lãnh đạo là động cơ thúc đẩy sự
thay đổi Nhóm tác giả Osborne và Gaebler4
trong nghiên cứu “Tái tạo lại Chính phủ” cho
ràng: “Mô hình bộ máy quan liêu ra đòi từ
những điều kiện rất khác vói những gì chúng
ta đang trải qua hiện nay Ngày nay, tất cả
những điều kiện đó đã không còn nữa Chúng
ta sống trong một kỷ nguyên của những thay
đổi ngoạn mục Môi trường hiện nay đòi hỏi
các thể chế phải cực kỳ linh hoạt và có tính
thích nghi cao” Tất cả những điều đó đặt ra
yêu cầu về tính đổi mói, sáng tạo (ĐMST) của
KVC nhàm thích ứng và đáp ứng được với
những biến động của bối cảnh mới
2 Yêucầu về đổimói, sáng tạo đối vóiđội
ngũ công chức lãnhđạo, quản lý trong bối
cảnh quản trị nhà nướchiện đại
Thứ nhất, QTNN hiện đại yêu cầu các
công chức lãnh đạo, quản lý (LĐQL) có tầm
nhìn, tư duy chiến lược, sáng tạo mạnh mẽ
Ví dụ, Xinh-ga-po đặt ra yêu cầu đối vói đội
ngũ công chức nói chung và đặc biệt là đội
ngũ công chức lãnh đạo phải luôn có tinh
thần, tư duy sáng tạo, đổi mói Xinh-ga-po đã
triển khai Chương trình Công vụ Thế kỷ XXI
vào năm 1995 nhàm phát huy tinh thần đổi
mói và sẫn sàng vói thay đổi trong KVC, xây
dựng một hệ thống công vụ “sản sàng với
tương lai" Chương trình này nhấn mạnh tầm
quan trọng của sự chuyển đổi tư duy và sáng
tạo ra các chuẩn mực mới trong văn hóa tổ
chức Mỗi công chức là một tác nhân thay
đổi, cởi mở với thay đổi, tìm ra cách thức, ý
tưởng, khả năng cải tiến và đổi mói công tác
của mình5 Các công chức lãnh đạo hiện đại
phải năng động, sân sàng, chủ động trong
quản lý và lãnh đạo sự thay đổi không chỉ để phục vụ người dân tốt hơn mà còn đáp ứng được yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế
và nhầm định hướng, thúc đẩy, phát huy tiềm năng quốc gia và gia tăng niềm tin của Nhân dân
Thứ hai, đổi mới và sáng tạo luôn đi kèm với thách thức và rủi ro, do vậy, đòi hỏi đội ngũ những công chức LĐQL đi tiên phong và chịu trách nhiệm, dám sáng tạo trong thực thi công vụ Đây chính là thực tế, đội ngũ công chức LĐQL phải là những người “dám làm”, bởi đó là tố chất giúp họ có khả năng hành động, tạo ra sự đổi mới mang tính đột phá đem lại kết quả cao trong công việc Tuy nhiên, bên cạnh “dám làm”, công chức LĐQL cần phải dám chịu trách nhiệm về những quyết định và hành vi của mình
Thứ ba, ĐMST sẽ không thể có khi đội ngũ công chức LĐQL yếu về năng lực Việc thiếu năng lực và kiến thức về quản trị hiện đại của đội ngũ LĐQL đã gây ra sự bế tác trong lãnh đạo và điều hành tại nhiều quốc gia6 Trong KVC, năng lực của đội ngũ công chức LĐQL là nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cơ quan hành chính nhà nước nói riêng và của cả hệ thống hành chính nhà nước nói chung QTNN hiện đại đòi hỏi các chủ thể quản lý luôn biết ĐMST hướng tói phục vụ người dân tốt nhất nên đội ngũ công chức LĐQL cũng cần phải nhạy bén, sáng tạo và có khả năng nắm bát, tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới Đặc biệt, QTNN hiện đại và bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 yêu cầu các công chức LĐQL tối đa hóa việc sử dụng công nghệ thông tin để tăng cường cung cấp các dịch vụ công quan trọng cho người dân, điều
đó đòi hỏi đội ngũ công chức LĐQL KVC suy nghĩ nghiêm túc về quản trị thông minh, sáng tạo trong việc tổ chức lại các hệ thống cung cấp dịch vụ công cho người dân Các công chức LĐQL phải xác định cách thức có thể áp dụng các phát triển công nghệ như dữ liệu lớn, tin học và trí tuệ nhân tạo để thúc đẩy
Trang 4*3juân QUiãnt ^)ần - 2022
quản trị điện tử và mang lại hiệu quả mói cho
hoạt động của tổ chức
Thứ tư, QTNN hiện đại và yêu cầu ĐMST
đ òi hỏi đội ngũ công chức LĐQL cần tháo gỡ
các rào cản về văn hóa và tư duy hành chính
cũ Hầu hết các nước châu Á đều có di sản
của chế độ thực dân, cai trị quân sự hoặc chê'
c ộ chuyên chế độc tài hoặc độc tài và có
c hung một truyền thống cai trị quan liêu, độc
đoán (thậm chí quân sự hóa) nền công vụ
Trong tiến trình cải cách hành chính nhà
nước, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhàm
chuyển đổi từ một nền hành chính cũ sang
I^nột nền hành chính hiện đại, phù họp hơn
1 'ới những yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và
irào lưu chung theo những đòi hỏi của toàn
Cầu hóa, nhiều quốc gia vẫn vấp phải quán
tính quan liêu và văn hóa cai trị theo kiểu cũ
Đây là một trong những rào cản lớn thuộc về
văn hóa LĐQL kiểu cũ cần được thay đổi
rong bối cảnh QTNN hiện đại
3 Một số giải pháp nhằm xây dựng đội
ngũ công chức lãnh đạo, quảnlý đổi mói,
sáng tạođáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước
hiện đạiở Việt Nam
Xây dựng đội ngũ công chức LĐQL ĐMST
luôn là sự quan tâm của Đảng và nhà nước ta,
đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế,
cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 và công
cuộc cải cách hành chính nhà nước Những
năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành
nhiều chủ trương, chính sách tạo hành lang
pháp lý, mở rộng không gian ĐMST cho đội
ngủ cán bộ, công chức LĐQL Nghị quyết số
26-NQ/TW ngày 19/5/2018 Hội nghị Trung
ương 7 (khóa XII) đã xác định nhiệm vụ trọng
tâm" chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương
đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc
đẩy đổi mói, sáng tạo phục vụ phát triển và
có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm,
dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích
chung” Đến Đại hội XIII, Đảng ta nhấn
mạnh: “phát huy dân chủ, siết chặt kỷ luật, kỷ
cương đi đôi với tạo môi trường, không gian
đổi mói sáng tạo trong công tác cán bộ và xây
dựng đội ngũ cán bộ”7 và coi đây là một trong những giải pháp đột phá của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, cồng chức nói chung và đội ngũ cồng chức LĐQL nói riêng Ngày 22/9/2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lọi ích chung Kết luận nêu rõ: “Để thực hiện thành công đường lối đổi mói và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ LĐQL đủ phẩm chất, năng lực và
uy tín, có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, gương mẫu, quyết tâm ĐMST, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sân sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung”
Có thể khẳng định, những định hướng của Đảng là tiền đề quan trọng giúp mỗi công chức LĐQL tự tin làm việc, cống hiến, mạnh dạn đổi mói vì lợi ích chung mà không sợ áp lực, không sợ thất bại; đồng thời, kiên định với những mục tiêu đổi mói, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc Để những chủ trương quan trọng này đạt hiệu quả và xây dựng được đội ngũ công chức LĐQL ĐMST cần quan tâm một số vấn đề sau:
Một là, cần có sự nhận thức đúng đán về
sự ĐMST trong KVC Nhận thức thieu chính xác về ĐMST sẽ dẫn đến các hiện tượng như
“xé rào” tùy tiện, tư duy không có “vùng cấm” cực đoan trong ĐMST, hay thay đổi theo chiều hướng tiêu cực
Đổi mói có thể là một ý tưởng hoàn toàn mới, mang tính cách mạng so với mồ hình hiện tại, hoặc một sự thay đổi đơn giản theo quỹ đạo phát triển hiện tại Đồng thòi, ĐMST không có nghĩa là phủ định sạch trơn nhận thức, cách làm trước đây, mà khẳng định những gì đã nghĩ đúng, làm đúng, giữ lại thành tựu của quá khứ, lấy đó làm tiền đề để
Trang 5Nghiên cứu - Trao đổi
tiếp tục tiến lên như Chủ tịch Hổ Chí Minh
căn dặn: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Cái
gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì
phải sửa đổi lại cho họp lý Cái gì cũ mà tốt,
thì phải phát triển thêm Cái gì mói mà hay,
thì ta phải làm”8 Vì vậy, ĐMST phải luôn
bám sát, phản ánh đúng thực tiễn, lấy thực
tiễn làm thước đo tạo ra những giá trị mới,
thiết thực, phù họp vói quy luật khách quan9
Hai là, QTNN hiện đại và sự ĐMST đối vói
công chức LĐQL đòi hỏi cần tháo gỡ các “rào
cản” về mặt thể chế Các công chức LĐQL
trong KVC, không giống như các nhà LĐQL
trong khu vực tư nhân, họ bị hạn chế bởi
nhiều “rào cản” trong việc thực hiện vai trò
lãnh đạo và thực hiện các sáng kiến của mình
bởi mồi trường chính trị phức tạp và các quy
phạm, quy tác, quy trình, thủ tục trong KVC
Những hạn chế của hệ thống pháp luật là
nguyên nhân hạn chế, làm trì trệ sự ĐMST
của đội ngũ công chức LĐQL LĐQL khi được
tổ chức giao nhiệm vụ và thẩm quyền cần
phải có đủ hành lang pháp lý để họ là người
được chủ động, quyết định việc tổ chức
nhiệm vụ đó và chịu trách nhiệm trước tập
thể Có như vậy, công chức LĐQL mói thực
sự dám nghĩ, dám làm, quyết làm và dám
chịu trách nhiệm
Ba là, để phát huy sự ĐMST trong bối
cảnh QTNN hiện đại cần phải tháo gỡ các
“rào cản” về năng lực đối với công chức
LĐQL Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
công chức LĐQL cần hướng tới định hướng
kết quả và khuyến khích tư duy “mở” và
ĐMST
Bối cảnh QTNN hiện đại với những thách
thức và yêu câu mới đòi hỏi đội ngũ công
chức LĐQL có khả năng thích ứng vói sự thay
đổi trong từng hoàn cảnh cụ thể và có khả
năng giải quyết vấn đề Do vậy, nếu không có
đủ năng lực và sự hiểu biết vững chác, sâu
rộng về bối cảnh chính trị, pháp luật, văn hóa
sẽ rất khó, nếu không nói là không thể, để các
nhà LĐQL thực thi các chưong trình cải cách
hành chính một cách hiệu quả
Bốn là, cần có chính sách và và quy định
cụ thể về cơ chế khuyến khích công chức LĐQL ĐMST Nguyên nhân của tình trạng ngại ĐMST, sợ sai, sợ trách nhiệm của nhiều công chức LĐQL hiện nay là do chưa có cơ chế phù họp và đủ mạnh để khuyến khích họ ĐMST trong sự nghiệp chung Do vậy, ngoài những chủ trương mang tính định hướng của Đảng, cần có những quy định pháp lý và những quy định cụ thể về nguyên tác, tiêu chí, điều kiện, hình thức và khen thưởng để khuyến khích công chức LĐQL phát huy ĐMST trong thực thi công vụ Từ đó, cồng chức lãnh đạo sẽ có động lực, niềm tin cho ĐMST, tạo nên sự bứt phá, góp phần mang lại lọi ích thiết thực cho đất nước, địa phương, tổ chức và người dân
Năm là, cần có và quy định cụ thể về cơ
chế bảo vệ công chức LĐQL ĐMST, ĐMST luôn đi kèm vói rủi ro và sai sót Có nhiều nguyên nhân khiến không ít công chức LĐQL không dám ĐMST, không dám dấn thân, hy sinh lọi ích cá nhân vì thiếu cơ chế bảo vệ, nhất là trong trường họp có sai sót Do đó, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế pháp lý bảo vệ công chức LĐQL ĐMST, dám làm, dám đột phá Đồng thòi, cần xây dựng văn hóa tôn trọng và xây dựng môi trường thuận lọi để cồng chức LĐQL phát huy được sự ĐMST trong hoạt động thực thi công vụ
4 Kết luận QTNN hiện đại và xây dựng đội ngũ công chức LĐQL ĐMST là định hướng của Đảng và chính sách của Nhà nước ta ĐMST nhầm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước hiện nay là tất yếu, nhằm đáp ứng thực tiễn tình hình mới
Muốn ĐMST để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước, đội ngũ công chức LĐQL phải là những người tiên phong trong ĐMST Để hiện thực hóa điều này, cần chú trọng đến việc nâng cao năng lực của đội ngũ công chức LĐQL, xây dựng được hệ
Trang 6Ijniitt ^lliàin r/)ần - 2022
thống chính sách, cơ chế toàn diện tạo môi
trường khuyến khích, bảo vệ sự ĐMST trong
KVC nói chung và của đội ngũ công chức
LŨQL nói riêngD
Chú thích:
1 Stoker, Gerry (1999). Governance as theory:
Five propositions. International Social Science
Journal 50:17 - 28
2. s Melhem (2012) "Next Generation e-Gov-
e mment: Transformation into Smart Government ”.
3 Kotter, J.P., 2012 Leading change.Harvard
usiness press.
4 Osborne D, GaeblerT. (1992) “Reinventing
Government Reading”, MA: Addison- Wesley.
5 Sản sàng với tưong lai ” - bài học kinh
nghiệm từ nên quản trị công Xinh-ga-po
1 ttp://caicachhanhchinh.gov.vn, ngày
21/11/2016
6 Liviu Radu(2016) “ How to develop Sus
tainable Public Administration Reforms” , Tran
sylvanian Review of Administrative Sciences, No.
4E/2015, pp 180-195.
7 Đảng Cộng sảnViệt Nam Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Tập II H. NXB
Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, tr 257.
8 Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 5 H NXB
Chính trị quốc gia, 2011, tr 12.
9 Khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới,
sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách
ihiệm vì lợi ích chung.
, ngày 10/5/2021
http://www.xaydung-
lang.org.vn
Tài liệu tham khảo:
1. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018
Hội nghị Trung ưong 7 (khoa XII) ve tập trung xây
dựng đọi ngũ cán bộ các cấp, nhất la cấp chiến
lược, đủ phàm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ.
2. Green, L., J. Howells, and I. Miles (2001)
Services and innovation: Dynamics of service in
novation in the European Union Manchester:
PREST and CRIC, University of Manchester.
3 Hollanders, H., A Arundel, B.Buligescu, V.
Peter, L. Roman, p Simmonds, andN Es-Sadki
(2014) European Public Sector Innovation Score-
board.
4. Sorenson, Eva (2006) “ Metagovernance:
The Changing Role of politicians in Processes of
Democratic Governance."American Review of
Public Administration 26, no 1:98 -114
lối
Hồ Thị Thu Hằng (Đà Nang)