TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀO cuộc SÔNG MỘT Sỏ GIẢI PHÁP ĐỂTHựC HIỆN THÀNH CÕNG CÁC MỤC TIÊU KINH TÊ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐANG TRẦN THỊ BÍCH HẠNH * Ngày nhận[.]
Trang 1TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀO cuộc SÔNG
MỘT Sỏ GIẢI PHÁP ĐỂTHựC HIỆN THÀNH CÕNG CÁC MỤC TIÊU KINH TÊ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐANG
TRẦN THỊ BÍCH HẠNH *
Ngày nhận bài: 28/6/2021 Nhận kết quả phản biện: 23/7/2021 Duyệt đăng: 9/1/2022
Tóm tắt: Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định mục tiêu cho phát triển kinh tế đất nước trong 5 năm của nhiệm kỳ Đại hội và cho cả giai đoạn 2021 - 2030 Tuy nhiên, để thực hiện tot những mục tiêu này, đòi hỏi phải đánh giá, xác định đúng thuận lợi và thách thức đối với phát triển kinh tế đất nước Bài viết phân tích một số thuận lợi, thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới, qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp đế thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.
Từ khóa: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII; thực hiện mục tiêu kinh tế.
TA ặtvấnđể
~ Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử Thê và lực của đất nước đã lớn mạnh hơn
nhiều; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của
nền kinh tế được nâng lên; tính tự chủ của nền
kinh tế được cải thiện Trên cơ sở đó, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề
ra mục tiêu đến năm 2025 là nước đang phát
triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt
qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm
2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp
hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm
2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao
Tuy nhiên, bên cạnh những vận hội mới, nển
kinh tế Việt Nam vẫn còn những hạn chế và
tiềm ẩn nhiểu rủi ro, nguy cơ Đặc biệt, dịch
bệnh Covid-19 có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực,
kéo dài đến những năm đầu của kỳ Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 2021 - 2030 Yêu cầu
đặt ra không chỉ hoá giải các nguy cơ, vượt qua
khó khăn, thách thức mà còn phải tích cực, chủ
động đưa ra những giải pháp phù hợp trước
Học viện Chính trị khu vực III
vận hội mới, thời cơ mới khi cấu trúc kinh tê' thế giới, quản trị toàn cầu được định hình lại, phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đời sống xã hội thay đổi sau đại dịch
1 Những thuận lợi và thách thức của nến kinh tê Việt Nam trong thời kỳ mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lấn thứ XIII mở
ra một chương mới trong sự nghiệp đổi mới đất nước nhằm hoàn thiện nển kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dần chủ, công bằng văn minh Cùng với việc tổng kết kinh nghiệm
và những bài học quý sau 35 năm đổi mới đất nước, ngoài các chỉ tiêu kinh tế quan trọng vế tốc độ tăng trưởng, thu nhập bình quần đâu người, Đại hội XIII của Đảng cũng đã đưa ra những chỉ tiêu như: Tỷ trọng cồng nghiệp chế biến, chê' tạo đạt khoảng 30% GDP, kinh tế sổ đạt khoảng 30% GDP Tổng đầu tư xã hội bình quân đạt 33 - 35% GDP; năng suất lao động xã hội tăng bình quân khoảng 6,5%/năm Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 50% [1; tr 218-219]
Những chỉ tiêu được Đại hội XIII của Đảng thông qua đểu có cơ sở thực hiện, bởi đến nay,
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 335 + 336 (1/2022+2/2022) 43
Trang 2TRĂN THỊ BÍCH HẠNH Một sổ giải pháp
Việt Nam đã hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng, có quan hệ ngoại giao, kinh tế với gân
200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
tham gia, trở thành thành viên của nhiểu tổ
chức quốc tế có uy tín, toàn câu và khu vực
(Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới,
Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, tổ
chức ASEAN ), đã ký 16 hiệp định thương
mại tự do song phương, đa phương, trong đó
có những hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới như Hiệp định thương mại tự do Việt
Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp
định thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, Hiệp
định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái
Bình Dương (CPTPP) được quốc hội các
nước phê chuẩn Nhờ hội nhập, Việt Nam đã
mở rộng thị trường cho xuất, nhập khẩu hàng
hóa, dịch vụ; thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, các nguồn vốn, thành tựu khoa học -
công nghệ Thị trường xuất khẩu được mở
rộng, nhiếu doanh nghiệp tham gia sẳu rộng
vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu, góp phấn
nâng cao năng lực xuất khẩu và sức cạnh tranh
của nền kinh tế Trong những năm tới, những
nền tảng hội nhập kinh tế quốc tế đã xây dựng
được những hiệp định thương mại tự do thê hệ
mới đã ký kết sẽ có hiệu lực và những hiệp định
sẽ được ký kết mới, sẽ tiếp tục mở ra cơ hội cho
Việt Nam tiếp tục phát triển và đặc biệt sự ảnh
hưởng nặng né của đại dịch Covid - 19 đến
nhiều nển kinh tế của thế giới thì kinh tê nước
ta tiếp tục phát triển ổn định, được đánh giá là
đạt mức tăng trưởng cao so với kinh tê' trong
khu vực và trên thê' giới Sau khi dịch Covid -
19 bùng phát, Việt Nam là quốc gia duy nhất
được 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đâu
thê' giới là Moody’s, Fitch Ratings và Pitch
đổng loạt nâng triển vọng kinh tê' của Việt
Nam từ “ổn định” lên “tích cực”[2] Báo cáo
Cập nhật Triển vọng Phát triển chầu Á (ADO)
2020, ấn bản kinh tê' thường niên hàng đẩu của
ADB cho biết, triển vọng kinh tế của Việt Nam
trong trung hạn và dài hạn vẫn rất tích cực
Việc Việt Nam tham gia một số lượng lớn các hiệp định thương mại song phương và đa phương sẽ giúp nển kinh tê của đất nước phục hồi Việt Nam cũng có nhiều khả năng được hưởng lợi từ sự dịch chuyển hiện nay của các chuỗi cung ứng sang những quốc gia có chi phí thấp hơn
Tuy nhiên, thời cơ tuy có nhiều nhưng thách thức lại không nhỏ, những thách thức trong thập niên 2021 - 2030 ở tầm vĩ mô có thể khái quát bao gổm:
- Hội nhập quốc tế, kinh tê' Việt Nam đứng trước thách thức sẽ chịu tác động trực tiếp, nhanh chóng bởi những biến động kinh tê từ bên ngoài, từ những biến động trên thị trường khu vực, thê' giới về giá cả, lãi suất, tỷ giá của các đông tiến, nhất là những đóng tiền có ảnh hưởng lớn, từ những thay đổi của các luống hàng hóa, tài chính, đầu tư quốc tê' và nghiêm trọng hơn là chịu sự tác động, ảnh hưởng rất nhanh của các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực và trên thế giới Tác động với nền kinh tế đất nước sẽ rất nghiêm trọng nếu Việt Nam không chủ động có biện pháp ứng phó và nếu nội lực của nển kinh tế yếu Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam còn đối mặt với những thách thức từ những cuộc tấn công mạng vào các hệ thống quản lý, hệ thống dữ liệu để ăn cắp dữ liệu, ăn cắp công nghệ, kế hoạch, các bí quyết kinh doanh, nhất là của những đổi thủ cạnh tranh
- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ tạo ra cơ hội cho kinh tê' Việt Nam phát triển, rút ngân khoảng cách phát triển với các nước tiên tiên, mà cũng tạo cho Việt Nam
nhiều thách thức lớn phải vượt qua Thứ nhất,
vấn để tốc độ phát triển rất nhanh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của những thay đổi, phát triển công nghệ diên ra nhanh chóng trên thê' giới Theo kịp tốc độ phát triển này đối với Việt Nam là một thách thức lớn Hơn nữa, trong khi ở Việt Nam, hệ thống thể chế cho các hoạt động, các lĩnh vực, các mô
Trang 3TRĂN THỊ BÍCH HẠNH
hình kinh doanh mới, việc bảo vệ sở hữu trí tuệ,
bảo vệ người tiêu dùng, xử lý tranh chấp việc
quản lý các hoạt động kinh tế, sinh hoạt xã hội
trong thời đại Cách mạng công nghiệp lấn thứ
tư còn chưa hình thành; việc đào tạo, bỗi
dưỡng nguồn nhân lực, phát triển khoa học -
công nghệ, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tang-
dap ứng đòi hỏi phát triển kinh tê' đất nước
trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
cũng không phải là nhiệm vụ đơn giản, dễ
dàng Thứ hai, với trình độ khoa học - công
nghệ rất cao, rất mới, diễn ra trên diện rộng,
hầu như tất cả các lĩnh vực kinh tế, phạm vi tác
động rất lớn Để nắm bắt được cơ hội, đòi hỏi
phải đáp ứng được đồng thời tất cả các yêu cấu
đặt ra, đòi hỏi đất nước cũng phải có trình độ
phát triển cao về khoa học - công nghệ, có
nguồn nhân lực chất lượng cao, từ cán bộ
nghiên cứu khoa học, sáng tạo công nghệ, thiết
kế sản phẩm đến những người trực tiếp sản
xuất; đòi hỏi cả những thay đổi tâm lý, nếp
sống của các tầng lớp xã hội, thay đổi tổ chức,
quản lý của hệ thống chính quyển các cấp, các
ngành, đây không phải là vấn đề dễ dàng, mà
thật sự là những thách thức Không vượt qua
được những thách thức nhỏ, cụ thể này thì
thách thức lớn nhất với Việt Nam sẽ là tụt hậu
xa hơn so với các nước khác
- Cơ hội mở rộng thị phần, gia tăng sản
lượng hàng hóa tiêu thụ trong những năm tới
đống thời cũng sẽ đặt doanh nghiệp Việt Nam,
các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam trước
thách thức phải cạnh tranh quyết liệt với các
doanh nghiệp, các sản phẩm hàng hóa của
nước ngoài không chỉ ở thị trường nước ngoài
mà ngay cả ở thị trường trong nước của Việt
Nam, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam
phổ biến là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trình độ
công nghệ thấp, năng lực tài chính hạn chế,
phải cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn,
công nghệ cao, tiếm lực tài chính hùng hậu, có
những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng trên
thế giới Doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào
Một SỐ giải pháp
chuỗi giá trị sản xuất toàn cấu hiện nay phần lớn là ở những công đoạn có trình độ công nghệ thấp, gia công, lắp ráp
- Thách thức từ việc giữ vững, củng cố nền kinh tê' độc lập, tự chủ khi hội nhập quốc tê' bởi một tỷ lệ không nhỏ các yếu tố đẩu vào cho hoạt động của nền kinh tê' (vốn, công nghệ, máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu) là nhập khẩu từ nước ngoài và thị trường bên ngoài có vai trò rất lớn, rất quan trọng đối với việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa mà nền kinh tê' đất nước tạo ra Hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam sẽ góp phần làm phong phú hơn hàng hóa trên thị trường, đáp ứng nhu cẩu tiêu dùng của nhân dân, nhưng sẽ trở thành thách thức nêu hàng hóa nước ngoài chiếm lĩnh thị trường, hàng hóa Việt Nam không còn thị trường để tốn tại
- Những điểu kiện vay vốn nước ngoài (vay chính phủ các nước, vay các ngân hàng, tổ chức tài chính quốc tế, phát hành trái phiếu quốc tế ) càng dễ dàng, thuận lợi thì nợ nước ngoài cũng càng có khả năng, điều kiện tăng nhanh sẽ trở thành thách thức lớn khi việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tăng nhanh trong thời gian tới nhờ việc đón đâu các hiệp định thương mại góp phần tích cực vào phát triển kinh tế đất nước, tạo việc làm cho người lao động, nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nguỗn thu ngoại
tệ, nhưng có thê’ trở thành thách thức lớn nếu quản lý thiếu chặt chẽ, để gầy ra ô nhiễm môi trường, để các nhà đấu tư nước ngoài lợi dụng các chính sách ưu đãi, khai thác tài nguyên, nguồn lao động giá rẻ của đất nước, khi hết thời hạn ưu đãi, không còn có thể khai thác tài nguyên và tận dụng nguổn lao động giá rẻ, họ
sẽ bỏ đi, để lại nhiểu gánh nặng mà đất nước phải giải quyết
- Kinh tế Việt Nam phát triển chưa ổn định, bển vững Nợ công, thâm hụt ngân sách nhà nước cao, kéo dài Nợ xấu của nển kinh tê' cũng
đã chạm trấn cho nên khả năng cung ứng vốn
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 335 + 336 (1/2022+2/2022) 45
Trang 4TRẤN THỊ BÍCH HẠNH
từ ngân sách cho đâu tư phát triển từ năm 2020
trở đi sẽ hạn chế Nhà nước đang gặp nhiểu
khó khăn trong việc cân đối giữa tích lũy và
tiêu dùng, chính sách tài khóa, cân đối thu chi
ngân sách Nển kinh tê cơ bản còn phát triển
theo chiểu rộng, dựa vào vốn đầu tư, tài nguyên
thiên nhiên, lao động phổ thông, chuyển dịch
sang phát triển theo chiểu sâu dựa trên khoa
học - công nghệ và nguổn nhân lực chất lượng
cao còn chậm
Có thể nói để thực hiện các mục tiêu kinh tế
mà Đại hội XIII của Đảng để ra, chúng ta
không chỉ nhìn vào những lợi thê' và trông chờ
nguồn lợi từ các hiệp định mang lại mà phải coi
đó là một thử thách cân phải vượt qua, phải
nhận dạng một cách nghiêm túc tất cả những
mặt hạn chế và yếu kém đê’ khắc phục Phải
tiến hành đổng bộ trong nhận thức và hành
động của tất cả cộng đồng xã hội từ cơ quan
quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp và mỗi
công dân để từng bước tháo gỡ các nút thắt
kìm hãm sự phát triển, kìm hãm sự giao thương
và hòa nhập kinh tế toàn cầu Và muốn vậy cẩn
có những giải pháp cả tầm vĩ mô và vi mô trên
phạm vi tất cả các ngành, các lĩnh vực của hoạt
động kinh tê' - xã hội
2 Đế xuất một só giải pháp nhằm thực
hiện thành công những mục tiêu kinh tế mà
Đại hội đại biểu toàn quốc lẩn thử XII I đế ra
Thứ nhất, cân bắng 2 mục tiêu chiến lược là
thúc đẩy tăng trưởng và ổn định vĩ mô
Khi dịch bệnh kéo dài, nguy cơ suy thoái, đổ
vỡ hệ thống tài chính ngân hàng sẽ tăng cao,
kéo theo những hệ lụy lầu dài Khác với các đợt
khủng hoảng trước đây, dư địa giảm lãi suất của
ngân hàng trung ương các nước phát triển
trong những năm tới là không lớn Vì vậy, Việt
Nam không cẩn đặt ưu tiên ổn định vĩ mô,
kiểm chê lạm phát mà nên tiếp tục cân bằng
thực hiện cả 2 mục tiêu chiến lược là thúc đẩy
tăng trưởng và ổn định vĩ mô Cụ thể, song
song với kiểm soát dịch bệnh, chúng ta cần tiếp
tục thúc đẩy đẩu tư công, tập trung các dự án
Một SÔ'giải pháp
hạ tầng trọng điểm có sức lan tỏa cao Cùng với
đó, cân tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, xử lý triệt để các ngân hàng yếu kém dể chặn đứng cuộc đua lãi suất, tạo tiến để cho giảm lãi suất một cách lâu dài Đổng thời, Việt Nam cấn phát triển kinh tế tư nhân, hô trợ các tập đoàn
tư nhân lớn, có sức cạnh tranh mạnh, tạo dựng
30 “con sếu lớn” làm đầu tàu kéo tăng trưởng Bên cạnh đó, sửa đổi luật đất đai, nhanh chóng giải phóng sức sản xuất ngành nông nghiệp nhằm xây dựng ngành nông nghiệp công nghệ cao, quy mô lớn và hướng đến xuất khẩu Mặt khác, cần bảo hộ sản xuất trong nước, khuyên khích tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong nước, trong đó đặc biệt chú ý nhập siêu từ ASEAN
Thứ hai, cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
-Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2021 - 2030 chúng ta đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu[l] Để đạt được điều này, đòi hỏi phải đẩy mạnh việc giải quyết đổng bộ các quy định của pháp luật về kinh doanh, đầu tư Cụ thể, vể luật doanh nghiệp, luật đầu tư và một số đạo luật khác liên quan đến hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các doanh nghiệp cho đến nay vẫn chưa thực sự hoàn thiện Các cơ quan, ban ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước cũng như những tổ chức cá nhàn được nhà nước trao quyển phải có sự thay đổi căn bản về nhận thức và hành vi, phải đặt mình vào vị trí của các chủ thể và dựa trên quy định của pháp luật để thực thi, phải đổng lòng cùng doanh nghiệp để nhận biết những vướng mắc về chủ trương, chính sách và pháp luật chưa phù hợp
để đề xuất nhà nước sửa đổi, bổ sung kịp thời Tăng cường các chế tài đủ mạnh để xử lý những hành vi kinh doanh bất chính, trái với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm kỷ cương trong quản lý và điều hành Do đó, cấn tiếp tục đầy mạnh các giải pháp đã đề ra của Chính phủ, xây dựng để án tổng thể về cải
Trang 5TRẦN THỊ BÍCH HẠNH Một số giải pháp
thiện môi trường kinh doanh, sớm đưa ra các
tiêu chí đánh giá xếp hạng doanh nghiệp nhằm
định hướng cho chính sách đầu tư, hỗ trợ vốn,
giảm thiểu các khâu thanh tra, kiểm tra đối với
các doanh nghiệp làm ăn trung thực, minh
bạch và có uy tín trên thương trường
- Cần có cơ chế kiểm soát đổng bộ, tránh sự
chông chéo giữa các ngành, các bộ, các sở và
các cơ quan quản lý nhà nước Có như vậy mới
tạo dựng được hành lang thông thoáng cho các
doanh nghiệp phát huy hết nội lực và sở trường
trong hoạt động kinh doanh, giảm chi phí, hạ
giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh
- Có cơ chế đối thoại trực tiếp và thường
xuyên đối với ý kiến phản hồi của doanh
nghiệp để sớm có các quyết sách giải quyết kịp
thời, linh hoạt dựa trên cơ sở pháp luật quy
định và có vận dụng vào tình hình thực tiễn
Không nên quá câu nệ vào việc chờ đợi sửa đổi
luật hoặc nghị định làm mất thời cơ trong hoạt
động kinh doanh
- Thúc đẩy các hoạt động tuyên truyến, phổ
biến nội dung các hiệp định đã ký vế FTA,
CPTPP, EVFTA, AEC nhằm nâng cao kiên
thức hiểu biết cho cộng đổng doanh nghiệp
Việt Nam
Thứ ba, phát triển mạnh mẽ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo nhắm tạo bứt phá
nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả của
nên kinh tê
Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách,
pháp luật phù hợp với cơ chế thị trường và
thông lệ quốc tế để phát triển nến khoa học
Việt Nam; phát triển mạnh khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm
trung tâm, thúc đẩy phát triển mô hình kinh
doanh mới, kinh tế số, xã hội số Có cơ chế,
chính sách kinh tế, tài chính, khuyến khích các
doanh nghiệp tham gia nghiên cứu phát triển
và đổi mới công nghệ Cho phép thực hiện cơ
chế thử nghiệm chính sách mới, thúc đẩy triển
khai và ứng dụng công nghệ mới, đổi mới sáng
tạo mô hình kinh doanh mới Xác định rõ các
chỉ tiêu, chương trình hành động để ứng dụng
và phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mọi mặt hoạt động ở các cấp, các ngành, địa phương
Thực hiện chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội ứng dụng và phát triển công nghệ mới, ưu tiên công nghệ số, kết nối 5G và sau 5G, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối (blockchain), in 3D, Internet vạn vật, an ninh mạng, năng lượng sạch, công nghệ môi trường
để chuyển đổi, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế
Qụan tầm đẩu tư đúng mức nghiên cứu khoa học cơ bản; tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ lõi, công nghệ số Cơ cấu lại, nâng cao năng lực, hiệu quả các cơ sở nghiên cứu; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ trong các doanh nghiệp, trường đại học,
cơ sở đào tạo gắn với nhu câu thị trường Tăng cường liên kết doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học, trong đó tập trung vào nâng cao năng lực của doanh nghiệp về tiếp thu, làm chủ và từng bước tham gia tạo ra công nghệ mới Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hình thành các trung tâm nghiên cứu và triển khai, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhàn lực chăt lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lẩn thứ tư và hội nhập quốc tế
Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhân lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc
tế, Đại hội XIII đặt ra mục tiêu đến năm 2030, nển giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực[l; tr 234] Điều đó có thể trở thành hiện thực khi chúng ta chú trọng đến việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm thống nhất với đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Tập trung, nâng cao
TẠP CHÍ GIÁO DỤC LÝ LUẬN - SỐ 335 + 336 (1/2022+2/2022) 47
Trang 6TRĂN THỊ BÍCH HẠNH
chất lượng nguổn nhân lực gắn với chuyển dịch
nhanh cơ cấu lao động Chú trọng đào tạo lại,
đào tạo thường xuyên lực lượng lao động Hình
thành đội ngũ lao động lành nghể, phát triển
đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đẩu ngành,
chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực
số, nhàn lực quản trị công nghệ, nhân lực quản
lý, quản trị doanh nghiệp, nhân lực quản lý xã
hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người
Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao
động Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng,
trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà
nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Đổng thời, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ
vể chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, từ
trang bị kiến thức, phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học đến hình thức dạy và
học Chú ý đào tạo kỹ năng sống, kỹ năng làm
việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công
nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế
Thứ năm, thúc đẩỵ liên kết giữa các ngành, các
chủ thể kinh tê'
Trong điều kiện nền kinh tế mà ở đó chủ
yếu các doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ và
siêu nhỏ, tiềm lực về vốn, công nghệ, kỹ năng
quản trị hạn chế, sức cạnh tranh thấp cẩn tập
trung việc thúc đầy liên kết giữa các ngành,
nhất là các chủ thể kinh tê có cùng điểu kiện
sản xuất một mặt hàng, nhóm hàng Nhằm
tàng quy mô vể vốn, kỹ thuật và công nghệ đủ
sức cạnh tranh hàng hóa với đối thủ cạnh
tranh, tránh tình trạng các chủ thê’ mạnh ai nấy
làm, hiệu quả thấp Mặt khác nhà nước cẩn có
những quyết sách hợp lý tạo ra thị trường vốn
Một sô'giải pháp
hỗ trợ doanh nghiệp như phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cải cách cơ chế tín dụng đối với ngần hàng thương mại trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm tạo điểu kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế tư nhân tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ hệ thống các ngân hàng thương mại một cách thuận lợi Trong điểu kiện nguồn tích lũy từ ngân sách đâu tư cho phát triển hạn hẹp và có xu hướng giảm, cấn có giải pháp huy động nguồn lực xã hội vào đầu tư phát triển như thúc đẩy nhanh chóng cổ phấn hóa doanh nghiệp nhà nước Thoái vốn và bán những tài sản ở các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả, huy động nguón lực trong và ngoài nước
để thực hiện các dự án BOT, BT, BTO, thúc đẩy thị trường chứng khoán đủ khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài, áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt như bảo đảm tính
ổn định để thu hút kiều hối, thu hút đầu tư
Kết luận
Trong bổi cảnh mới, có nhiếu biến động, nển kinh tế chịu sự tác động của nhiều yếu
tố, đòi hỏi phải đánh giá đúng những thuận lợi và thách thức của nển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới, trên cơ sở đó để xuất những giải pháp về vốn, vể công nghệ, về con người phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam và yêu cầu đặt ra của nền kinh tế thế giới, góp phấn tạo ra nội lực, sức mạnh tổng hợp, tạo ra động lực, nhằm biến thách thức thành cơ hội để thực hiện thành công những mục tiêu kinh tế mà Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XIII đã đề ra
Tài liệu tham khảo:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội.
[2] Huy Thắng (2021), Fitch Ratings nâng triển vọng kinh tế cùa Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực”,
http://baochinhphu.vn