1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chủ đề cách mạng công nghiệp 4 0, những cơ hội và thách thức đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế việt nam trong xu thế toàn cầu hóa

19 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 131,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ đề Cách mạng công nghiệp 4 0, những cơ hội và thách thức đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa I, Phần mở đầu 1 Sự cần thiết của đề tài Cho đến thời điểm này, t[.]

Trang 1

Chủ đề: Cách mạng công nghiệp 4.0, những cơ hội và thách thức đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa

I, Phần mở đầu

1 Sự cần thiết của đề tài

Cho đến thời điểm này, thế giới đã chứng kiến 3 cuộc cách mạng công nghiệp lớn: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra tại Vương quốc Anh vào cuối thế kỷ XVIII, khi phát minh ra động cơ hơi nước và ứng dụng vào việc cơ khí hóa các ngành sản xuất; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra vào đầu thế

kỷ XX, khi năng lượng điện được sử dụng để sản xuất hàng loạt với quy mô lớn; Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 bắt đầu vào những năm 70 của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của máy tính, các thiết bị điện tử và công nghệ thông tin được sử dụng để tự động hóa sản xuất Giờ đây, một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được tiếp nối, đặc trưng bởi sự thống nhất, không có ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ vật lý, kỹ thuật số, sinh học Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động sâu sắc đến chính phủ, doanh nghiệp và người dân, đem đến cả về cơ hội cũng như thách thức Thế giới đang bước vào kỷ nguyên mà các công nghệ như thực tế ảo, vạn vật kết nối internet, in 3D, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội; nó có tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu, từng khu vực và mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Nam Đây là giai đoạn đầu cũng là thời điểm được xác định là bản lề cho nền kinh tế thị trường Việt Nam tiến đến để theo kịp với xu hướng phát triển của các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới Với xu thế hiện nay, khi công nghệ là vũ khí quan trọng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên mọi mặt trận, Việt nam cần phấn đấu, nỗ lực hết mình để bắt kịp tiến trình hiện đại hóa của thế giới Vì vậy, việc tìm ra các biện pháp nhằm phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay vẫn đang là vấn đề được đặt ra khá là bức thiết Xuất phát từ lý do đó, em đã lựa chọn chủ đề: “Cách mạng công nghiệp 4.0, những cơ hội và thách thức đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa” làm đề tài cho bài nghiên cứu của mình

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

và những cơ hội, thách thức mà nó đem đến đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trang 2

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nền kinh tế của Việt Nam trong thời kì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

 Phương pháp phân tích và tổng hợp

 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa

5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu

1 Khái quát lý luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 lực lượng sản xuất 1.1.2 quan hệ sản xuất 1.1.3 phương thức sản xuất 1.2 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1.3 Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội

2 Ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến sức cạnh tranh của Việt

2.1 Khái quát tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu hóa

2.2 Khái quát thành tựu của các cuộc Cách mạng KHKT trong lịch sử nhân loại

2.3 Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam do Cách mạng Công nghiệp 4.0

2.4 Thách thức với khả năng cạnh tranh của Việt Nam

3 Một số khuyến nghị để khai thác cơ hội và vượt qua thách thức từ CM Công nghiệp 4.0

3.1 Mục tiêu

3.2 Một số khuyến nghị

Trang 3

II, Phần nội dung

1 Khái quát lý luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Lực lượng sản xuất (LLSX)

Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ thuật nhất định Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động, kỹ năng lao động và tư liệu sản xuất Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động

để tạo ra của cải vật chất, tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao Trong tư liệu lao động, công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất, linh hoạt nhất Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình độ tin học hoá, được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng Trong mọi thời đại, công

cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Trong thời đại ngày nay, khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống, nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vừa là ngành sản xuất riêng, vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng sản xuất Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại 1.1.2 Quan hệ sản xuất (QHSX)

Để tiến hành quá trình sản xuất, nhất định con người phải có mối quan hệ với nhau Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất Nói cách khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất Trong đời sống

xã hội của mình, con người dù muốn hay không cũng phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động, những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu, nó không phụ thuộc vào ý muốn của bất kì ai mà được hình thành 1 cách khách quan Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của

Trang 4

sự vận động xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và

là cơ sở của đời sống xã hội Quan hệ sản xuất gồm: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất, quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất

sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt khác, trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới

1.1.3 Phương thức sản xuất

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao Trong sản xuất, con người có “quan hệ song trùng”: một mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, biểu hiện ở lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa người với người, tức là quan hệ sản xuất Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng 1.2 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, tồn tại trong tính thống nhất với nhau, quy định lẫn nhau, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là

“hình thức xã hội” của quá trình đó Tương ứng với trình độ nhất định của LLSX tất yếu đòi hỏi phải có QHSX phù hợp với trình độ đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và phân phối kết quả của quá trình sản xuất

Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo tính tất yếu khách quan: trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, QHSX phải phụ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX ; đồng thời QHSX với tư cách là hình thức thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất, luôn có khả năng tác động trở lại sự

Trang 5

vận động, phát triển của LLSX Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc chiều hướng tiêu cực

- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập làm phát sinh mâu thuẫn

Sự phù hợp của QHSX đối với LLSX càng cao thì LLSX càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển của LLSX này lại phá vỡ sự thống nhất của QHSX

từ trước đến nay là hình thức kinh tế - xã hội cho sự phát triển của LLSX: QHSX

đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển của LLSX Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội

Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa LLSX và QHSX là một quá trình

đi từ sự thống nhất đến những khác biệt và đối lập, xung đột, từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan mâu thuẫn phải được giải quyết theo nguyên tắc QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

1.3 Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội

Phát triển lực lượng sản xuất là một quy luật khách quan và tất yếu qua mooic thời kì, giai đoạn trong lịch sử Xét về phương diện kinh tế - kỹ thuật, có thể thấy các ngành khoa học - kỹ thuật đang ngày càng phát triển, đi kèm với nó là sự biến đổi và diễn ra không ngừng của các cuộc cách mạng công nghiệp Khoa học - công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, góp phần tạo ra một lực lượng sản xuất mà xưa nay nhân loại chưa từng được chứng kiến Nhìn chung bất cứ quốc gia hay doanh nghiệp nào hiện nay cũng đều nỗ lực đẩy mạnh quá trình phát triển lực lượng sản xuất để có thể tận dụng tốt nguồn tài nguyên về khoa học kỹ thuật, công cụ lao động hiện đại, tiên tiến rồi biến nó trở thành nguồn động lực để phát triển kinh tế

Về phương diện kinh tế - xã hội, tính xã hội hóa ngày càng cao, dẫn đến xu thế hội nhập toàn cầu đang diễn ra ngày càng sâu rộng Tri thức tự nó mang tính xã hội rất cao và thậm chí còn mang tính nhân loại Do vậy, khi nói về những bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức, chúng ta thấy nổi lên một đặc điểm hết sức quan trọng là tính xã hội hoá, quốc tế hóa rất cao của nó Đứng trước

xu thế hội nhập toàn cầu hóa ấy, vấn đề phát triển lực lượng sản xuất đã trở thành vấn đề quan trọng của nhiều quốc gia để nâng cao vị thế trên trường quốc tế và phát triển nền kinh tế - xã hội

2 Ảnh hưởng của cách mạng Công nghiệp 4.0 đến sức cạnh tranh của Việt Nam

Trang 6

2.1 Khái quát tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu hóa

Trong hơn 30 năm đổi mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú; Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững

Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn Mất cân đối thương mại toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược

và cọ sát kinh tế, đặc biệt giữa các nền kinh tế chủ chốt… Mặc dù, tình hình kinh

tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTQT

và tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu khách quan Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm:

Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia Nền kinh

tế Việt Nam từng bước được cơ cấu lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung ứng cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh

tế được nâng lên Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực cũng như trên thế giới và

có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Quy mô kinh tế Việt Nam đến hết năm 2020 đạt khoảng 343 tỷ USD

Trang 7

Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018) và đã đạt 3521 USD tính đến hết năm 2020 Đặc biệt, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó) Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 - 2013 giảm xuống còn 5,6% Đáng chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn Cụ thể, năm 2014 đạt 5,98%, năm 2015 đạt 6,68%; 2016 đạt 6,1%, năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7%, năm 2019 là 7,02%, đặc biệt dưới tác động của dịch covid 19, năm 2020, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái, tuy nhiên Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương 2,91%, dịch bệnh bên cạnh đó vẫn được kiểm soát đảm bảo an ninh xã hội,

Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia XNK Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng XNK, thậm chí là xuất siêu Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ

Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thi; 2 Hiệp định đã ký kết, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và

cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh

tế Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA

và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực

và thế giới

Trang 8

Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020 Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động

Bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình HNKTQT của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn như:

- Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt Trình độ năng lực điều hành, quản lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém Hạn chế đó tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước

- Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH đất nước Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại

- Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế chưa vững chắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc; Tình hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn; Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn hạn chế…

- Một bộ phận đầu mối về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu phối hợp và tham vấn với các chương trình hành động về HNKTQT Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT chưa đạt được kết quả như mong muốn

2.2 Khái quát thành tựu của các cuộc Cách mạng KHKT trong lịch sử nhân loại

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đặc trưng nổi bật của cuộc cách mạng công nghiệp này là cơ khí

Trang 9

máy móc (chạy bằng hơi nước và sức nước) ra đời và cải tiến, thay thế sức lao động thủ công qua đó tăng sản lượng, mở đầu với sự cơ giới hóa ngành dệt may Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của một trường đại học đã phát minh ra máy hơi nước Phát minh này được coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hoá Năm

1785, linh mục Edmund Cartwright cho ra đời một phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần Năm 1784, Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt “puddling” nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bền của máy móc, Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép, khắc phục được những nhược điểm của chiếc máy trước đó Chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước ra đời vào năm

1804, làm bùng nổ hệ thống đường sắt ở Châu Âu và Mỹ

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai lại được khởi xướng từ cuối thế kỷ XIX, kéo dài đến đầu thế kỷ XX Một trong những đặc điểm đáng lưu ý trong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt - áp dụng nguyên lý quản trị của F.W.Taylor (đề xuất năm 1909, ứng dụng vào thực tiễn năm 1913 - hãng Ford đi tiên phong) Không những thế, các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ sản xuất mới: máy tính, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động Các nhà sáng chế thời kỳ này cũng nghiên cứu, tạo ra những vật liệu mới như chất polymer với độ bền và sức chịu nhiệt cao, được

sử dụng rộng rãi trong đời sống, và trong các ngành công nghiệp Nhiều nguồn năng lượng mới được tìm ra như năng lượng nguyên tử, năng lượng gió, năng lượng mặt trời,… Bên cạnh đó, những tiến bộ thần kì trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc như máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo, hay phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, bay vào vũ trụ và đặt chân lên mặt trăng đều là những thành tựu đi vào lịch sử của cuộc cách mạng công nghiệp lần hai này

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với sự ra đời lan tỏa của công nghệ thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và

Trang 10

Internet (thập niên 1990) Cho đến cuối thế kỷ XX, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 Bên cạnh đó, còn có thể nhắc đến 1 số thành tựu khác như sự ra đời của các loại bom nguyên tử, tên lửa, tìm ra thuốc kháng sinh, công nghệ di truyền,…

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Năm 2013, một từ khóa mới là “Công nghiệp 4.0” bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) Trên lĩnh vực công nghệ sinh học, Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu Cuối cùng

là lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano Hiện Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt

2.3 Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam do Cách mạng Công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với những ứng dụng công nghệ đột phá trên nhiều lĩnh vực được dự báo sẽ tạo ra thị trường tiềm năng với doanh số hàng trăm, hàng nghìn tỷ USD trên quy mô khu vực và quốc tế trong thời gian ngắn Đây là những cơ hội rộng mở để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận, tận dụng được các tác động tích cực, làm vũ khí gia tăng năng lực cạnh tranh không chỉ trong nội địa mà còn cả trên trường quốc tế Cụ thể, những cơ hội mà cách mạng công nghiệp 4.0 đem đến như sau:

Một là, Các chủ thể trong nền kinh tế có điều kiện tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ, thành tựu công nghệ của nhân loại, trước hết là công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển và tự động hóa để nâng cao năng suất, hiệu quả trong tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội

Ngày đăng: 20/11/2022, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w