1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Trình nội dung thuyết phân tâm học của Sigmund Freud. Đánh giá khả năng áp dụng thuyết này trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam.

11 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình nội dung thuyết phân tâm học của Sigmund Freud. Đánh giá khả năng áp dụng thuyết này trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tội phạm học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỘI PHẠM HỌC thuyết phân tâm học của Sigmund Freud lOMoARcPSD|9797480 lOMoARcPSD|9797480 lOMoARcPSD|9797480 MỤC LỤC MỤC LỤC 2 MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 4 I Nội dung của thuyết Phân Tâm học của S Freud 4 1 Nội.

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

I Nội dung của thuyết Phân Tâm học của S.Freud 4

1 Nội dung của thuyết Phân Tâm học của S.Freud 4

2 Nội dung cơ bản của Thuyết Phân tâm học của S.Freud về giải thích

nguyên nhân của tội phạm ( ối tượng nghiên cứu của Tội phạm học) 8

II Khả năng áp dụng thuyết phân tâm học trong việc giải thích nguyênnhâncủa tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam 9

1 Mặt thuận lợi 9

2 Mặt khó khăn 10

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC THAM KHẢO 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Quá trình hình thành và phát triển của tội phạm học chính là quá trình ra ời, phát triển các thuyết, các trường phái khác nhau giải thích về nguyên nhân của tội phạm Mỗi thuyết, trường phái ều có con ường riêng nghiên cứu về tội phạm nhưng cũng có thể có sự kế thừa ít nhiều quan niệm của người i trước, nhưng tựu chung lại các thuyết, các trường phái ó ều cố gắng giải thích nguyên nhân của tội phạm và ưa ra biện pháp phòng ngưa tương ứng Thuyết phân tâm học là một trong các thuyết nghiên cứu giải thích về nguyên nhân của tội phạm và ể hiểu rõ hơn em xin chọn ề số 3: “ Trình nội dung thuyết phân tâm học của Sigmund Freud Đánh giá khả năng áp dụng thuyết này trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”

Trang 4

NỘI DUNG

I Nội dung của thuyết Phân Tâm học của S.Freud

1 Nội dung của thuyết Phân Tâm học của S.Freud

Theo ó, nội dung của Phân tâm học ược ông làm rõ ở các khía cạnh sau:

- Cấu trúc nhân cách: theo S.Freud tâm lý con người ược cấu tạo bởi 3 khối:

vô thức, tiền ý thức, ý thức, tương ứng với 3 khối này, ông ã ưa ra 3 thành tố cấu trúc nhân cách: cái nó hay chính là bản năng (id), cái tôi hay bản ngã (ego), cái siêu tôi hay siêu bản ngã (superego) gọi là bộ máy tâm thần Trong ó, khối vô thức là khối bản năng mà bản năng tình dục giữ vị trí trung tâm, cung cấp nguồn năng lượng libido chi phối toàn bộ hoạt ộng ời sống tâm thần Khối bản năng có các tính chất: có ngay từ lúc mới sinh, chỉ những lực lượng nguyên thủy của sự sống giống nhau cho tất cả các sinh vật, nó là nguồn ộng lực, sức mạnh cho hoạt ộng Mục ích của bản năng là hướng tới khách thể, thế giới bên ngoài là ối tượng

ể thỏa mãn, nó òi hỏi khách thể phải thỏa mãn ngay lập tức và trực tiếp Các hành ộng ều có nguồn gốc từ sự khoái lạc vô thức Bản năng tượng trưng cho phần vô thức và chống ối xã hội của cá nhân.1

Khối ý thức tương ứng với cái tôi hay bản ngã (ego) là sự thể hiện cá tính tâm lý của mỗi người, nó xuất hiện sau bản năng Bản ngã ược thể hiện trong những hoạt ộng ý thức: tri giác, ngôn ngữ và những thao tác trí tuệ cho phép kiểm soát, kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh, bản ngã có thể è nén xung ột bản năng và kiềm chế khoái lạc Như vậy, bản ngã vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác ể ạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ Bản ngã tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân Nó có tính chất tự chủ về nguồn năng lượng từ trong cấu trúc riêng của nó hoặc trong thùng năng lượng của bản năng tình dục ược trung hòa, nó còn tự chủ với môi trường chọn ra những kích thích của môi trường S.Freud ã nhấn mạnh rằng cái tôi (bản ngã) vừa là ầy tớ vừa là chủ nhân của cái nó (bản năng)

Cái siêu tôi (siêu bản ngã) là nhân tố lương tâm, ạo ức trong nhân cách bao gồm mọi khái niệm xã hội về cái úng, cái sai, cái tốt, cái xấu, nó là hiện thân của những lý tưởng và sự cố gắng ể ạt tới sự hoàn thiện thay vì sự thỏa mãn hay thực tại tức là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội Cái siêu tôi là các chuẩn mực bên ngoài ược phóng chiếu vào bên trong do kết quả nhập tâm

1 trích Dương Tuyết Miên, Tội phạm học nhập môn, NXB CAND 2009;

Trang 5

của những lời dạy từ gia ình, nền giáo dục, nền văn hóa, nó hoạt ộng theo nguyên tắc kiểm duyệt, là một cỗ máy ngăn chặn không cho con người bộc lộ những bản năng tính dục và hiếu chiến theo cách có thể gây ra ảnh hưởng xấu ến

xã hội và trật tự xã hội Siêu bản ngã ấu tranh ể cho các hành vi hoàn thiện bằng cách xác ịnh giá trị hành vi hoặc thái ộ ối với hành vi là úng hay sai Siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị văn hóa với chức năng như là lương tâm cá nhân Cái siêu tôi luôn có ý ồ áp chế hoàn toàn những dục vọng của cái ấy Theo S.Freud, mọi thành phần trong cấu trúc tâm thần thực hiện những chức năng khác nhau và có quan hệ với nhau, cấu trúc này ược Freud ví như việc lái một chiếc ô tô, cái nó (bản năng) tương ứng với cái ộng cơ, cái tôi tương ứng với tay lái và cái siêu tôi là nguyên tắc chuyển ộng

- Động cơ hệ: S.Freud là người ầu tiên nghiên cứu về ộng cơ hệ, theo quan iểm Phân tâm học của ông: tư tưởng và hành ộng của con người là do những ộng

cơ gây ra, vậy ộng cơ ó có từ âu? Ông cho rằng: toàn bộ sức mạnh tác ộng ở phía sau những nhu cầu cấp bách của cái ấy và biểu hiện những yêu cầu thuộc loại thể chất trong tâm thần là xung lực, xung lực này có bản chất sinh học rất a dạng, nó có thể chuyển từ ối tượng này sang ối tượng khác, năng lượng của xung lực này có thể chuyển sang xung lực khác Trong các xung lực vốn có của cá nhân có hai xung lực cơ bản là xung lực tình dục gọi là Eros, xung lực phá hủy gọi là Thanatos, S.Freud tin rằng mọi hành vi của con người ều ược thúc ẩy bởi hai xung lực này, ông khẳng ịnh: hành ộng của con người chịu sự chi phối của hai loại xung năng Eros và Thanatos và trên thực tế chúng cũng là hai nguyên tắc khoái lạc và cưỡng bức lặp lại, tuy nhiên, ông cũng cho rằng Eros mạnh hơn Thanatos nên nó giúp chúng ta tồn tại chứ không phải hủy diệt

- Sự phát triển nhân cách: quan iểm của S.Freud về sự phát triển của nhân cách là: sự phát triển của nhân cách bao gồm hàng loạt các xung ột giữa một bên

là cá nhân luôn mong muốn ược thỏa mãn các thúc ẩy bản năng với một bên là

xã hội- cái thường xuyên kìm hãm, hạn chế những mong muốn ó của cá nhân, trong sự phát triển cá nhân tìm ra những phương thức vừa thỏa mãn ược những mong muốn của bản thân vừa chịu sự kìm hãm của xã hội, chiến lược thích nghi này tạo thành nhân cách Theo S.Freud thì bản năng tình dục là bộ phận cơ bản của cái nó, sự phát triển của cái nó quyết ịnh cho sự phát triển nhân cách, sự ầu

tư vào âu theo cách nào ể thỏa mãn cá nhân nó là thước o quan trọng nhất ể xác ịnh trình ộ phát triển tâm thần, tính chất bình thường hay bệnh lý của cá nhân Ông ã chia sự phát triển nhân cách từ sơ sinh ến trưởng thành trải qua 5 giai oạn:

Trang 6

từ 0-18 tháng tuổi; từ 1.5-3 tuổi; từ 3-6 tuổi; từ 6-12 tuổi; sau 12 tuổi (tuổi dậy thì) cho ến trưởng thành Trong 5 giai oạn về sự phát triển nhân cách, S.Freud khẳng ịnh rằng nhân cách ược hình thành vào cuối giai oạn 3 (lúc gần 5 tuổi), sau ó cá nhân phát triển các chiến lược chủ yếu ể bộc

lộ bản năng là cái tạo thành hạt nhân của nhân cách

- Tâm bệnh học: theo S.Freud, ông quan tâm và nghiên cứu về các nhóm bệnh như hysteri, trạng thái lo âu, sự rối loạn ám thị, từ ó ông ưa ra những khám phá như: những trải nghiệm tuổi thơ có ảnh hưởng ến nhân cách trưởng thành, tất cả bệnh nhân ều nhớ lại quá khứ, phần lớn ở giai oạn tuổi thơ gọi là ám thị; các triệu chứng rối nhiễu ược hình thành do sự thúc ẩy của ộng cơ vô thức Nói cách khác, triệu chứng bệnh rối nhiễu tâm lý là kết quả của một hoạt ộng vô thức

bị ngăn chặn, chèn ép; vai trò của vô thức, khuynh hướng ược ý thức hóa và bị dồn ép chống lại của ý thức ối với vô thức chính là căn nguyên của cái ấm ức tâm lý, căn nguyên của bệnh nhiễu tâm (theo cơ chế hoạt ộng của vô thức và ý thức); nguồn gốc của các triệu chứng là các cảm giác từ bên ngoài ược ý thức, sau ó trở thành vô thức và bị quên lãng, mục ích của triệu chứng ó là có khuynh hướng ược ý thức hóa trở lại, việc mất trí nhớ của người bệnh có liên quan ến nguồn gốc vô thức của triệu chứng, tức là có liên quan tới biến cố làm nền tảng cho triệu chứng

- Sức khỏe tâm lý: theo S.Freud thì một nhân cách lành mạnh, trưởng thành

là một tập hợp năng lượng ược kiềm chế và giữ thăng bằng Cái bản năng sản sinh ra những nhu cầu cơ bản, cái tôi kiềm chế những xung năng của cái nó ủ lâu

ể tìm những giải pháp thực tế làm thỏa mãn những nhu cầu này, còn cái siêu tôi quyết ịnh liệu kế hoạch giải quyết vấn ề của cái tôi có ược chấp nhận về phương diện ạo ức hay không Rõ ràng cái tôi ở giữa và phải áp ứng hai thế lực bằng cách hướng tới sự công bằng giữa hai òi hỏi trái ngược nhau của cái ấy và cái siêu tôi, cần phải trợ giúp cái tôi ủ sức ể giải quyết mâu thuẫn nội tại trong nhân cách con người, một khi cái tôi ủ sức giải quyết mâu thuẫn này thì con người sống khỏe mạnh và nhân cách phát triển bình thường

- Sự thay ổi nhân cách dưới tác dụng của biện pháp tâm lý: theo S.Freud thì

ở người bệnh ã xảy ra sự chuyển hóa quan trọng, từ cái hữu thức trở thành vô thức, nghĩa là người ta chỉ mắc bệnh tâm thần khi nào người ta ể cái hữu thức trở thành vô thức tạo ra các lỗ hỏng trong trí nhớ và mất trí nhớ, như thế nghĩa là những biến cố xảy ra cơn xúc ộng không tự nó làm phát sinh ra bệnh khi nó còn

Trang 7

nằm trong lĩnh vực ý thức, chỉ khi nào nó bị ẩy ra khỏi lĩnh vực ý thức và trở thành vô thức thì khi ó mới tạo ra sự mất cân bằng trong ời sống tinh thần của con người Theo hướng này ta sẽ thấy Phân tâm học mở ra một khả năng lớn ể chữa trị cho các chứng bệnh tâm thần

Trong trị liệu tâm lý, S.Freud ã xuất phát từ quan iểm: vô thức bị ngăn chặn ường vào ý thức và ở ngưỡng của nó là ở sự kiểm duyệt, những dục vọng, ham muốn bị dồn ép không bị mất hết năng lượng của mình và do ó ột phá vào ý thức, vào nơi mà nó không bị nhận dạng và tại ó nhà nghiên cứu tìm thấy chúng

và phân tích chúng, giải phóng chúng Phương pháp phân tích tâm lý của S.Freud ược tiến hành theo hai giai oạn: thu thập thông tin bằng quan sát lâm sàng và giai oạn phân tích tâm lý, ứng dụng vào trị liệu, Freud ã ưa ra các phương pháp như sau:

Phương pháp liên tưởng tự do: ông ể người bệnh ngồi quay lưng về thầy thuốc, mục ích ể người bệnh không nhìn thấy thầy thuốc, trong tư thế như vậy, người bệnh có thể nói ra những suy nghĩ thoáng qua, chợt hiện ra trong ầu tự do liên hệ tới một sự kiện có thể Trong trường hợp cần, thầy thuốc có thể gợi ra hoặc ể bệnh nhân tự nguyện nói ra những iều mình quan tâm, sự liên kết tự do cho phép nhà phân tích và bệnh nhân vạch trần vô thức, cuối cùng cũng bộc lộ những cội nguồn của chứng loạn thần kinh; một iểm quan trọng nữa trong phương pháp trị liệu của Phân tâm học Freud là phân tích và lý giải giấc mơ Theo ông, giấc mơ

là một hình thức bị che ậy của việc thỏa mãn những ham muốn bị chèn ép, bản chất của chúng ược thể hiện ở việc ược dùng ể thỏa mãn những ham muốn, giấc

mơ thì có nội dung rõ ràng hay ẩn ngầm, nội dung rõ ràng là cái mà con người

kể về giấc mơ của họ, nhớ lại những sự kiện diễn ra trong giấc mơ S.Freud ã cắt nghĩa những giấc mơ bằng việc nhận thức những hài lòng tiềm ẩn ược ại diện bởi một vài biểu tượng của giấc mơ; phương pháp phân tích sự thay ổi: trong việc thuyên chuyển những cảm xúc mạnh mẽ của tình yêu hay lòng thù hận, ược trực tiếp hướng tới cha mẹ hay người khác trong năm ầu, sau ó chuyển trực tiếp hoặc ngụy trang trong giấc mơ hay sự liên tưởng tự do sang nhà phân tích Sự di chuyển giúp nhà phân tích hiểu rõ về hoạt ộng vô thức của bệnh nhân và cuối cùng giúp bệnh nhân hiểu thấu hơn những ộng cơ vô thức quan trọng liên quan

ến hoạt ộng hiện thực của họ

Trang 8

2 Nội dung cơ bản của Thuyết Phân tâm học của S.Freud về giải thích

nguyên nhân của tội phạm ( ối tượng nghiên cứu của Tội phạm học)

Về phương diện này, S.Freud cho rằng: tội phạm là kết quả khi mà ở một cá nhân nào ó phần bản năng ã trỗi dậy ến mức thái quá, lấn át ến mức không thể nào kiểm soát ược trong sự kết hợp với biểu hiện kém của siêu ngã; cùng lúc ó, bản ngã tức là phần lý trí có chức năng kiểm soát sự tác ộng qua lại giữa bản năng và siêu bản ngã hoạt ộng kém hiệu quả Bên cạnh ó, S.Freud còn cho rằng:

sự thăng hoa không tương xứng có thể là nguyên nhân khác dẫn ến tội phạm, ây

là một quá trình tâm lý mà nhờ ó trạng thái tỉnh táo của cá

nhân bị thay thế biểu tượng bởi một trạng thái khác

Ngoài ra, S.Freud còn cho rằng: chứng loạn thần kinh chức năng cũng là một nguyên nhân dẫn ến tội phạm, ông lấy ví dụ về trường hợp này như sau: một người thường xuyên dùng giấy ăn ể mở nắm cửa mỗi khi ra vào, ông ta không dám trực tiếp cầm nắm cửa vì lúc nào cũng bị ám ảnh nắm cửa có nhiều vi trùng gây bệnh Cần lưu ý là không phải mọi người bị chứng loạn thần kinh chức năng

ều phạm tội, chỉ có một số người thuộc nhóm này thực hiện hành vi phạm tội mà thôi

II Khả năng áp dụng thuyết phân tâm học trong việc giải thích nguyênnhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam

1 Mặt thuận lợi

Trước hết có thể hiểu, nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác ộng qua lại giữa chúng ưa ến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội Nguyên nhân của tội phạm ược chia thành ba nhóm: nhóm nguyên nhân từ môi trường sống, nhóm nguyên nhân từ phía người phạm tội và tình huống cụ thể (trong một số trường hợp ược coi là nguyên nhân dẫn ến việc phát sinh tội phạm) mà nội dung của Thuyết Phân tâm học là i sâu tìm hiểu về ời sống nộitâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người ược hiện thực bằng hành vi, liệu rằng ằng sau hành vi ó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽnhư thế nào Vì vậy có thể ứng dụng thuyết Phân tâm học ể giải thích nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội

Thuyết phân tâm học ược ứng dụng ể giải thích dấu hiệu tâm lý của người phạm tội Các dấu hiệu tâm lý có thể ảnh hưởng, tác ộng nhất ịnh tới người phạm tội

Trang 9

như: tính ích kỉ; tính hám lợi; tính ham ăn chơi; lười học và lười lao ộng; tính hận thù, ố kị hay có sở thích không lành mạnh như thích xem phim khiêu dâm

về trẻ em…Các dấu hiệu này ối chiếu với những nghiên cứu của Freud chính là bản năng – tượng trưng cho phần vô thức và chống ối xã hội của cá nhân.Và theo Freud thì tội phạm là kết quả khi mà ở một cá nhân nào ó, phần bản năng ã trỗi dậy ến mức thái quá, lấn át ến mức không thể nào kiểm soát ược trong sự kết hợp với biểu hiện kém của siêu bản ngã; cùng lúc ó, bản ngã tức là phần lý trí có chức năng kiểm soát sự tác ộng qua lại giữa bản năng và siêu bản ngã hoạt ộng không tương xứng trực tiếp, kém hiệu quả Trên cơ sở giải thích nguyên nhân của tội phạm từ chính người phạm tội sẽ tạo cơ sở ể ưa ra những biện pháp ểphòng ngừa tội phạm,từ ó giảm thiểu ược tình trạng phạm tội

Theo thuyết phân tâm học thì những kinh nghiệm thời còn thơ ấu làm rối loạn hoặc bóp méo sự phát triển của một nhân cách ổn ịnh có thể vào tuổi thiếu niên hay người lớn, ưa ến những khuynh hướng chống ối xã hội trong hành vi mà tự

nó biểu hiện ặc biệt trong hoạt ộng tội phạm Như vậy, những nguyên nhân của hành vi phạm tội nằm trong sự xã hội hóa ầu tiên có thiếu sót của ứa trẻ, do

ó mà ộng cơ phản xã hội bẩm sinh của nó không ược nằm dưới sự kiểm soát Kết quả của sự xã cách, sự thiếu thốn tình cảm hay sự ối xử khắc nghiệt do thiếu tình yêu thương trong mái ấm gia ình và cộng ồng ược coi như là nguyên nhân và iều kiện phát sinh tội phạm Dưới ảnh hưởng của tổng thể các bản năng con người mất i khả năng kiềm chế nên thực hiện hành vi phạm tội Như vậy thuyết phân tâm học có thể ược áp dụng ể giải thích nguyên nhân của tội phạm từ phía bản thân người phạm tội

2 Mặt khó khăn

Tuy nhiên, theo Freud thì ông coi nhẹ vai trò của môi trường sống, vai trò của giáo dục cá nhân và ề cao tính quy ịnh sinh học của hành vi tính dục Theo ông thì vai trò của môi trường sống và vai trò của giáo dục cá nhân không phải là nguyên nhân chính dẫn ến tội phạm, còn tính quy ịnh sinh học của hành vi tính dục lại óng vai trò quan trọng trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm

Đó là một nhược iểm khi áp dụng thuyết này ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung Bởi thu thập thông tin từ hầu hết người phạm tội thì ảnh hưởng của môi trường sống và giáo dục cá nhân cũng chiếm một phần áng kể Đa số những thanh thiếu niên phạm tội ở Việt Nam ều một phần lớn là do môi trường sống và việc giáo dục cá nhân

Trang 10

Phân tâm học là một hệ thống các lý thuyết trừu tượng và cách thức tiến hành ứng dụng cũng không hề ơn giản, cần òi hỏi phải có một ội ngũ chuyên gia uyên bác có khả năng tiếp thu tốt nhất mới có khả năng tiếp thu ược ầy ủ các kiến thức và kỹ năng của phân tâm học ể ứng dụng thực tiễn, nhưng với iều kiện của Việt Nam hiện nay thì những òi hỏi ó vẫn chưa thể áp ứng ược, nếu có cũng chỉ

ở một mức ộ nhỏ, và vì vậy việc ứng dụng của Việt Nam ối với phân tâm học ể giải thích nguyên nhân của tội phạm vẫn còn nhiều hạn chế Biểu hiện cho sự chưa thể mang lại những hiệu quả tốt nhất nếu áp dụng Phân tâm học ở Việt Nam là các Trung tâm Tội phạm học – cơ sở nghiên cứu các vấn ề về tội phạm, phòng chống tội phạm, các Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học, nhân văn chưa phát triển và mở rộng; số lượng các chuyên gia trong lĩnh vực này còn ang thiếu so với tỷ lệ dân cư; việc iều tra các tội phạm có sự tham gia của các chuyên gia Tội phạm học chưa ược chú trọng Như vậy có thể thấy thuyết phân tâm học có thể ứng dụng ể các nhà tội phạm học giải thích một phần nguyên nhân của tội phạm xuất phát từ cá nhân người phạm tội Nếu chỉ sử dụng thuyết này ể giải thích rõ ràng sẽ là phiến diện nhưng khi kết hợp với các học thuyết khác nhau sẽ góp phần giải thích nguyên nhân của tội phạm một cách hoàn chỉnh hơn

KẾTLUẬN

Thuyết phân tâm học của S.Freud là một học thuyết vĩ ại, cung cấp một cấutrúc nhân cách và cấu trúc này bao gồm một nhận thức về những ảnh hưởng quan trọng trên hành vi ược bắt nguồn từ thực tế, xã hội và sinh vật học Trên cơ sở ó,

có thể vận dụng giải thích một phần nguyên nhân dẫn ến tội phạm ở Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung

Ngày đăng: 20/11/2022, 19:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w