Tài liệu về chữ viết, văn hóa và tôn giáo của nền văn minh lưỡng hà cổ đại TÀI LIỆU VỀ CHỮ VIẾT, VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO CỦA NỀN VĂN MINH LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI Danh sách thành viên[.]
Trang 1Tài liệu về chữ viết, văn hóa và tôn giáo của nền văn minh lưỡng hà cổ đại
MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Danh sách thành viên tham gia tìm hiểu gồm có:
1. Trương Nguyễn Châu Anh
2. Nguyễn Việt Anh
3. Nguyễn Tuấn Anh
QHQT49C1-1097 QHQT49C1-1096 QHQT49C1-1095
MỤC LỤC
DANH SÁCH PHÂN CÔNG Lưỡng Hà cổ đại - Cái nôi của văn minh nhân loại
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Trang 2I CHỮ VIẾT LƯỠNG HÀ
1.Một vài nét sơ qua về chữ viết Lưỡng Hà cổ đại : 4
2.Chữ viết của người Lưỡng Hà thường được gọi với những tên sau : 5
3.Vai trò của chữ viết với nền văn minh lưỡng hà cổ đại 5
II VĂN HỌC LƯỠNG HÀ
1.Giới thiệu chung 6
2.Phân loại 6
3 Nội dung và thành tựu 6
III.TÔN GIÁO LƯỠNG HÀ
1 Lịch sử hình thành 8
2 Một vài nét chính về văn hóa tôn giáo của người Lưỡng Hà cổ Đại 8
DANH SÁCH PHÂN CÔNG
Họ và tên: Trương Nguyễn Châu
Anh
Mã SV: QHQT49-C1-1097
- Tìm hiểu, tìm tư liệu, hình ảnh
và làm slide về phần giới thiệu chung về Lưỡng Hà và Văn học Lưỡng Hà cổ đại
Trang 3thành viên.
- Thuyết trình về phần giới thiệu
và Văn học Lưỡng Hà
Họ và tên: Nguyễn Việt Anh
Mã SV: QHQT49-C1-1096
- Tìm hiểu, tìm tư liệu, hình ảnh
và làm slide về phần tôn giáo Lưỡng Hà cổ đại
- Tổng hợp file Powerpoint và hoàn thiện Powerpoint chung của cả nhóm
- Thuyết trình về tôn giáo Lưỡng Hà
Họ và tên: Nguyễn Tuấn Anh
Mã SV: QHQT49-C1-1095
- Tìm hiểu, tìm tư liệu, hình ảnh
và làm slide về phần chữ viết Lưỡng Hà cổ đại
- Tìm các đầu sách tham khảo có thể dùng cho các thành viên nhóm
- Thuyết trình về chữ viết Lưỡng Hà
Lưỡng Hà cổ đại - Cái nôi của văn minh nhân loại
- Lưỡng Hà tiếng Hy Lạp nghĩa là “ vùng đất giữa hai con sông” – sông Tigrơ và Ơphơrat, là vùng đất Tây Á nay thuộc Iraq
- Là một trong bốn trung tâm văn minh lớn ở phương Đông thời
cổ đại bên cạnh Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ
Trang 4- Là vùng đất của những phát minh với nhữngthành tựu tiêu biểu và đặc sắc.
Trong đó phải kể đến các mặt như chữ viết, văn học, tôn giáo, đã giúp nền văn
minh này có những ảnh hưởng nhất định đến khu vực và thế giới
I CHỮ VIẾT LƯỠNG HÀ
1.Một vài nét sơ qua về chữ viết Lưỡng Hà cổ đại :
- Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Sumer sáng tạo vào cuối thiên niên kỉ IV TCN.Nó dựa vào các nhu cầu mới để có những ghi chép hồ sơ chính trị và tài sản thương mai, bao gồm việc tán dương những kỳ công của các vị vua kiêu hãnh ở địa phương
- Chữ viết đầu tiên của người Sumer phát triển từ những phát minh con dấu hình trụ bằng đất sét mà trên đó có các hình ảnh nhỏ của các đồ vật có thể đc ghi lại
- Ở giai đoạn đầu là chữ tượng hình Sau đó các hình vẽ được đơn giản thành những nét vạch có ý nghĩa tượng trưng cho một hình vẽ nào đó
- Trên cơ sở tượng hình ,để biểu thị các khái niệm,động tác
- Người ta còn dùng hình vẽ để mượn âm thanh Ví dụ: muốn viết âm “xum” thì vẽ bó hành, vì bó hành có âm là “xum”
- Lúc đầu có 2000 chữ,nhưng đến thời thế kỉ XXIX TCN chỉ còn lại 600 chữ trong đó dùng chỉ có 300 chữ, nhưng mỗi chữ thường có vài nghĩa
- Chất liệu dùng để viết là các tấm đất sét còn ướt và những cái thanh gỗ nhỏ hoặc sậy vót nhọn 1 đầu Sau khi viết xong thì được đem phơi nắng hoặc nung khô
- Viết trên đất sét chỉ thích hợp với những nét thẳng và ngắn; vì vậy, những nét dài được thay thế bằng những nét ngắn và nét
một hình tam giác đỉnh chúc xuống dưới, phía trên có hai đoạn thẳng biểu thị hai cái sừng Đồng thời, do dùng que viết trên đất sét nên chỗ mới ấn vào thì nét to, chỗ rút bút ra thì nét nhỏ,
do đó các nét đều giống hình cái nêm Do sự bố trí khác nhau của các nét ấy mà tạo thành các chữ khác nhau Loại chữ này được gọi là chữ tiết hình tức là chữ hình nêm
Trang 5- Ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 2.200 tấm sách bằng đất sét ở nhà bảo tàng của thành phố Ninivơ
2.Chữ viết của người Lưỡng Hà thường được gọi với những tên sau :
- Chữ đất sét
- Chữ hình đinh/chữ tiết hình (Họ thường dùng đầu cây gậy vót nhọn vạch lên những tấm đất sét còn mềm để lại dấu vết như hình những chiếc đinh.)
- Chữ hình góc (Mỗi một nét chữ đều từ to đến nhỏ giống như các góc nhọn hay các đỉnh nhọn )
- Chữ nêm (Cuneiform)
3.Vai trò của chữ viết với nền văn minh lưỡng hà cổ đại
- Chữ viết là điều kiệu tiên quyết cho hầu hết các hệ thống
quan lại chính thức, phụ thuộc vào việc truyền thông được chuẩn hóa và khả năng duy trì hồ sơ, sổ sách Các xã hội có chữ viết có thể ghi lại dữ liệu dựa vào những khám phá trước đó, vì vậy tạo ra một cuộc sống trí tuệ tinh tế hơn
- Chữ viết cũng thúc đẩy mậu dịch và sản xuất Các thương gia người Sumer dùng chữ viết để giao tiếp với các đối tác làm ăn của họ ở những nơi như Ấn Độ
- Chữ viết cũng tạo ra những sự phân chia mới trong dân số của các nền văn minh đầu tiền Chỉ một phần nhỏ thiếu số gồm những người như giảo sĩ, người chép thuê và một ít thương gia mới có thời gian để nắm vững chữ viết
- Nhờ có chữ viết người Sumer cũng tạo ra sự phân hóa các tri thức và pháp luật Ko có chữ viết là không có pháp luật
Trang 6II VĂN HỌC LƯỠNG HÀ
1.Giới thiệu chung
Người Sume – Áccat là những người đầu tiên ở Lưỡng Hà cổ đại
có nền văn học phong phú với hàng trăm tác phẩm còn được lưu giữ tới ngày nay, bao gồm thần thoại, truyền thuyết, các bài cầu nguyện, ca tụng thần linh, các bài ca tình yêu hay những bản ai ca cho người chết, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, Nhưng đa
số các tác phẩm văn học thời kì này là về thần thoại và truyền thuyết tôn giáo
2.Phân loại
Văn học Lưỡng Hà gồm 2 bộ phận chủ yếu: văn học dân gian
và sử thi ( anh hùng ca )
+ Văn học dân gian: gồm cách ngôn, ca dao, truyện ngụ ngôn; thường là văn học truyền miệng, phản ánh cuộc sống lao động của nhân dân và cách cư xử ở đời
+ Sử thi: ra đời từ thời Xume, đến thời Babilon chiếm vị trí quan trọng, chịu ảnh hưởng của tôn giáo rất mạnh và chủ đề thường
là ca ngợi các vị thần Tiêu biểu có thể kể đến “ Khai thiên lập địa”, “ Nạn đại hồng thủy”, “ Gingamet”
3 Nội dung và thành tựu
*Văn học Sume-Accat :
Các thần thoại và truyền thuyết tôn giáo Sume-Áccát thường đề cập đến việc các vị thần tổ chức cuộc sống trần gian, từ đó phản ánh quan niệm của họ về tự nhiên và cuộc đấu tranh của con người với tự nhiên VD: Thần thoại về nữ thần Ianna bị cầm
tù trở về trần gian cùng với sự hồi sinh của cuộc sống phản ánh quá trình sinh trưởng và diệt vong của đời sống tự nhiên
Một số tác phẩm khác phản ánh hiện thực cuộc sống từ sự ra đời của nông nghiệp đến đời sống của người lao động Một số khác phản ánh mâu thuẫn xã hội lúc bấy giờ như :” Bài thơ ca ngợi về người thật thà luôn chịu hoạn nạn “ và ‘ Lời đối thoại giữa ông chủ và người nô lệ”
Trang 7Tác phẩm tiêu biểu nhất của Lưỡng Hà là truyện thơ Gilgamesh,
do người Sume sáng tác vào khoảng giữa thiên niên kỷ III TCN, sau được người Bablion cải biên và phát triển [….] Câu chuyện phản ánh quá trình đấu tranh gian khổ của nhân dân Lưỡng Hà
cổ đại với thiên nhiên, cũng như việc con người cố tìm hiểu quy luật sinh tử tự nhiên, bí mật của sống chết Từ đó đặt ra câu hỏi : Cái gì sẽ tồn tại mãi mãi trên thế giới này ? Gilgamesh lập được chiến công, thậm chí chống lại thần linh, nhưng có lẽ vẫn khó tránh khỏi cái chết Chỉ có chiến công của Gilgamesh là sẽ còn sống mãi Đó cũng là ý nghĩa nổi bật và giá trị của tác phẩm
*Văn học Babylon
Chịu ảnh hưởng nhiều của văn học Sume-Accat, nhiều tác phẩm
đã trở nên phổ thông và gần gũi với dân chúng Babylon, đặc biệt là truyện thơ Gilgamesh Ngoài ra ở Babylon cũng xuất hiện nhiều loại hình văn học như thần thoại, thơ ca, luật pháp,
và đều mang những giá trị đặc biệt
Văn học Babylon chú ý nhiều đến sự phong phú, mô tả sinh động, nhiều màu sắc những tình tiết cụ thể Các nhân vật được
cá nhân hóa bằng cách xây dựng hành động, động cơ kỹ lưỡng cùng các thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, hoán dụ dung để khắc họa tính cách nhân vật
Tiêu biểu nhất trong văn học Babylon là tác phẩm Trường ca sáng thế, sáng tác vào cuối thời Cổ Babylon, là tác phẩm văn học lớn thứ hai sau sử thi Gilgamesh […] Đây là tác phẩm văn học tiêu biểu cho kiểu truyện phục vụ tế lễ, là một phần của nghi lễ đón năm mới của cư dân Lưỡng Hà cổ đại
Ngoài ra còn có Nạn đại hồng thủy […]
Tóm lại, văn học Lưỡng Hà đã đạt được những thành tựu đáng kể, có ảnh hưởng lớn đến khu vực Tây Á Những truyện Khai thiên lập địa, sáng tạo ra loài người, nạn đai hồng thủy, trong kinh thánh đều bắt nguồn từ văn học Lưỡng Hà.
Trang 8III.TÔN GIÁO LƯỠNG HÀ
1 Lịch sử hình thành
Tôn giáo Lưỡng Hà đề cập đến các niềm tin và thực hành tôn giáo của các nền văn minh của Lưỡng Hà cổ đại , đặc biệt là Sumer , Akkad , Assyria và Babylonia từ khoảng năm 3500 trước Công nguyên đến năm 400 sau Công nguyên, sau đó phần lớn chúng nhường chỗ cho Cơ đốc giáo Syriac Sự phát triển tôn giáo của Lưỡng Hà và văn hóa Lưỡng Hà nói chung, đặc biệt là ở phía nam, không bị ảnh hưởng đặc biệt bởi các cuộc di chuyển của các dân tộc khác nhau vào và khắp khu vực Đúng hơn, tôn giáo Lưỡng Hà là một truyền thống nhất quán và chặt chẽ, phù hợp với nhu cầu nội tại của các tín đồ của nó qua hàng thiên niên kỷ phát triển
Những khởi nguồn sớm nhất của tư tưởng tôn giáo Lưỡng Hà có từ giữa thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên, có nền tảng từ sự thờ phụng thiên nhiên Trong thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên, các đối tượng thờ phụng đã được nhân cách hóa và trở thành một nhóm các vị thần với các chức năng cụ thể Các giai đoạn cuối cùng của đa thần giáo Lưỡng Hà phát triển trong thiên niên kỷ thứ 2 và thứ 1, tập trung hơn vào tôn giáo thờ phụng cá nhân và sắp xếp các vị thần thành một hệ thống phân cấp quân chủ với vị thần quốc gia là người đứng đầu các thần.[1] Tôn giáo Lưỡng Hà cuối cùng bị suy tàn trước sự truyền bá của các tôn giáo Iran thời Đế chế Achaemenes và sự Kitô giáo hóa tại vùng Lưỡng Hà
Trang 92 Một vài nét chính về văn hóa tôn giáo của người Lưỡng Hà cổ Đại
- Người Lưỡng Hà tôn thờ những vị thần riêng liên quan đến trồng trọt , chăn nuôi và những hiện tượng thiên nhiên gắn liện với cuộc sống gần gũi thường ngày như: thần Mặt Trời (Samat), thần Không khí (Enlin), thần Ái Tình (Istaro), thần Mẹ (Ihana), Thần Biển (Ea) Các vị thần Mesopotamian có nhiều điểm tương đồng với con người, và có hình dạng giống người Họ thường hành động như con người, đòi hỏi phải có thức ăn và đồ uống, cũng như uống rượu và sau
đó phải chịu đựng những cơn say, nhưng được cho là có mức độ hoàn hảo cao hơn những người đàn ông bình thường Họ được cho là mạnh mẽ hơn, toàn diện
và hiểu biết hơn, không thể đo lường được, và trên hết là bất tử
- Ngay cả các vị vua cũng không thoát khỏi cơn thịnh nộ của các vị thần, những người phải tham dự một buổi tiên tri để tìm hiểu xem các vị thần có đồng ý với các quyết định chính trị và quân sự của họ hay không
- Người ta còn xây dựng nhiều đền, miếu thờ thần do các tăng lữ mà ở đây là các linh mục, tiến hành nhiều nghi lễ rất phức tạp, Ngoài ra, tài sản thuộc về các
vị thần, vì vậy các linh mục quản lý nó Điều này khiến các linh mục trở thành những nhân vật có giá trị và quan trọng trong cộng đồng của họ Và do đó, tầng lớp linh mục phát triển
- Người Xume (Lưỡng Hà) không quan niệm mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác sau khi chết như người Ai Cập
(Người Ai Cập cho rằng, linh hồn (Can) nhập vào thể xác khi con người ra đời
và rời khỏi khi con người chết đi Nhưng nếu giữ được thể xác nguyên vẹn, một thời điểm nào đó linh hồn sẽ quay về nhập vào thể xác và con người sẽ sống lại Chính vì vậy họ đã ướp xác người chết Đối với các Pharaông, người ta xây dựng những kim tự tháp khổng lồ (thời Cổ vương quốc) để gìn giữ xác ướp) Việc thờ người chết cũng rất được coi trọng Vì vậy người Lưỡng Hà rất chú ý đến lễ mai táng Họ quan niệm rằng con người sau khi chết cũng có cuộc sống giống như ở trần thế, do đó, những người giàu khi mai táng thường chôn theo
nô lệ, những thứ quý giá, và được xây bằng lăng mộ lớn Những người bình thường cũng được liệm trong những quan tài bằng dất sét
Tóm lại, Lưỡng Hà trong thời cổ đại là một trong bốn trung tâm văn minh lớn, cư dân ở đây sớm đã bước vào
xã hội văn minh, và hơn thế nữa, đạt được những thành tựu xuất sắc về chữ viết, tôn giáo và văn học Điều này
đã góp phần đặt nền móng cho những bước tiến cúa nhân loại sau này, đồng thời ghi dấu ấn về một cái nôi
Trang 10của văn minh nhân loại – Lưỡng Hà- “ vùng đất giữa các con sông “.