TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH *** PHÂN TÍCH NỀN DÂN CHỦ XHCN VÀ VẬN DỤNG VÀO ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆT NAM Môn học Chủ nghĩa xã hội khoa học – ML 177 Giảng viên hướng dẫn Gia[.]
Trang 1CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
PHÂN TÍCH NỀN DÂN CHỦ XHCN VÀ VẬN DỤNG VÀO
ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆT NAM
Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học – ML: 177 Giảng viên hướng dẫn: Giang Thị Trúc Mai
Nhóm Minalism
Lê Quỳnh Anh - 2111113014 Lê Xuân Bảo Trung - 2115113299
Hoàng Việt Quỳnh - 2111113233 Lê Văn Hoàng Long - 1911115252 Nguyễn My Na - 2115113169 Lê Thị Mỹ Lợi - 2111113148
Lê Thị Khả Tương - 2111113258 Phan Đình Bảo Anh - 2114113005
Đặng Thị Khánh Ly - 2115113150 Lê Ngọc Thiên Minh - 2115113159 Trịnh Đức Minh - 2114113078 Dương Huỳnh Huyền Vi - 2115113307
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
I Khái niệm dân chủ và nền dân chủ 8
1 Quan niệm về dân chủ 8
2 Quan niệm về nền dân chủ 8
3 Sự ra đời, phát triển của dân chủ và các nền dân chủ 9
II Dân chủ xã hội chủ nghĩa 10
1 Quá trình ra đời và phát triển của xã hội chủ nghĩa 10
2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 11
2.1.Về chính trị 11
2.2.Về kinh tế 12
2.3.Về văn hóa – xã hội 13
3 Quan điềm chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa 14
3.1.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống chuyên chính vô sản, nhà nước chuyên chính vô sản kiểu dân chủ cộng hòa 14
3.2.Dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi 15
3.3.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản 17
Trang 33.4.Dân chủ xã hội chủ nghĩa sử dụng tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung làm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt cơ bản của các cộng đồng và các tổ chức
chính trị, xã hội 18
3.5.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự kết tinh các giá trị xã hội, giá trị văn minh, văn minh phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người một cách toàn diện và triệt để trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa 20
III Nhà nước xã hội chủ nghĩa 21
1 Khái niệm nhà nước xã hội chủ nghĩa 21
2 Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa 21
2.1.Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa 21
2.2.Chức năng của nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa 22
3 Mối quan hệ giữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa 23
PHẦN II: VIỆT NAM VÀ NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY 25
I Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 25
II Những yếu tố thời đại tác động tới nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa 28
1 Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức 28
2 Quá trình toàn cầu hóa 31
III Những yếu tố trong nước tác động tới nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa 34
1 Yếu tố kinh tế 34
2 Yếu tố chính trị - xã hội 35
3 Yếu tố văn hóa 37
IV Nội dung đổi mới đất nước ở Việt Nam hiện nay 38
Trang 41 Xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới, dân chủ hóa tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng - thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực chính trị 38
2 Xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế 40
3 Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học - thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực văn hóa 42
4 Xây dựng, phát triển xã hội đoàn kết, đồng thuận công bằng, an sinh, văn minh - thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực xã hội ở Việt Nam 44
V Thực trạng nền dân chủ hiện nay tại Việt Nam 46
1 Những thành tựu đạt được 46
2 Những hạn chế còn tồn tại 48 PHẦN III: TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC GÓP PHẦN XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 51 KẾT LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Theo tiến trình lịch sử, xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ chưa tiến bộ đến tiến bộ Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, “hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch
sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến thức thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó”
Tính đến nay, lịch sử loài người trải qua năm hình thái kinh tế xã hội từ cấp đến cao: hình thái công xã nguyên thủy, hình thái chiếm hữu nô lệ, hình thái phong kiến, hình thái
tư bản chủ nghĩa, hình thái cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Đây
là chế độ xã hội cao nhất tính đến thời điểm hiện tại với dân chủ là bản chất
Bài tiểu luận này trình bày nội dung về dân chủ, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và vận dụng vào điều kiện của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua cơ
sở lý thuyết và phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài nước ta Hơn hết, hơn 35 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI tháng 12/1986, nhận thức về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam từng bước được nâng cao và thực tiễn chứng minh nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề còn tồn đọng cần quan tâm Thấu hiểu điều đó, nhóm thực hiện bài tiểu luận nhằm tìm hiểu các nội dung trong đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở đó, bài tiểu luận được chia thành 03 phần như sau:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết
Phần 2: Việt Nam và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay
Phần 3: Trách nhiệm của sinh viên trong việc góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 7Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, bài tiểu luận của nhóm không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm mong nhận được sự nhận xét, góp ý của cô để rút kinh nghiệm trong tương lai
Trang 8PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I Khái niệm dân chủ và nền dân chủ
1 Quan niệm về dân chủ
Ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước Công nguyên, bởi các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ để nói đến dân chủ là cụm từ “demoskratos” Theo đó, dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị và sau này các nhà chính trị gọi đơn giản là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân Nội dung của khái niệm trên về dân chủ cơ bản được giữ nguyên đến ngày nay Tuy nhiên, giữa hai cách hiểu ở cổ đại và hiện nay có
sự khác biệt cơ bản, đó là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân
Theo các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ là thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền và là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội Cụ thể hơn, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ có những nội dung chính sau: thứ nhất, trên phương diện quyền lực, dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân và nhân dân là chủ nhân của nhà nước; thứ hai, trên phương diện chế độ xã hội và chính trị, dân chủ là một hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ; thứ ba, trên phương diện tổ chức và quản lý xã hội, dân chủ là một nguyên tắc hoạt động - nguyên tắc dân chủ
2 Quan niệm về nền dân chủ
Nền dân chủ (hay chế độ dân chủ) là khái niệm phản ánh dân chủ trong tính chính thể hiện thực của nó Với tư cách là một chính thể hiện thực, nền dân chủ được cấu thành bởi nhiều yếu tố: yếu tố vật chất và tinh thần; yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, pháp luật dân chủ; yếu tố thể chế và thiết chế dân chủ; cơ chế, nguyên tắc và các giá trị, chuẩn mực dân chủ…
Trang 9Nói cách khác, nền dân chủ là khái niệm phản ánh chỉnh thể xã hội được tổ chức, vận hành theo các nguyên tắc, yêu cầu và chuẩn mực dân chủ nhằm thực thi quyền lực và bảo đảm lợi ích của giai cấp cầm quyền
Trong điều kiện xã hội có giai cấp và nhà nước, nền dân chủ ở mỗi quốc gia, dân tộc được thiết lập với mức độ, tính chất như thế nào, đều phụ thuộc vào tính chất, trạng thái của thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế; năng lực, phẩm chất của giới cầm quyền; trình độ học vấn, ý thức, năng lực thực hành dân chủ của nhân dân; truyền thống văn hóa
- chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc và những nhân tố khách quan của thời đại
3 Sự ra đời, phát triển của dân chủ và các nền dân chủ
Nhu cầu về dân chủ xuất hiện từ rất sớm trong chế độ cộng sản nguyên thủy Lúc này xã hội đã xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ “dân chủ nguyên thủy” hay “dân chủ quân sự” (Ph.Ăngghen) Đặc trưng cơ bản của hình thức dân chủ này là nhân dân bầu
ra thủ lĩnh quân sự thông qua “Đại hội nhân dân”: mọi người đều có quyền phát biểu, tham gia quyết định bằng cách giơ tay hoặc hoan hô Mặc dù thời kỳ này, trình độ sản xuất còn kém phát triển, nhưng nhân dân có quyền lực thật sự
Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển, chế độ tư hữu ra đời, giai cấp mới làm cho nền dân chủ chủ nô ra đời Đặc trưng của hình thức này là dân tham gia bầu ra Nhà nước, tuy nhiên dân ở đây chỉ gồm giai cấp chủ nô và thành phần công dân tự do (thương gia, tăng lữ, một số trí thức) Các thành phần còn lại là nô lệ và họ không được tham gia vào công việc nhà nước Dân chủ chủ nô chỉ thực hiện dân chủ cho thiểu số
Khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, lịch sử xã hội loài người bước sang chế độ độc tài chuyên chế phong kiến Giai cấp thống trị của thời kì này được cho là đấng tối cao và việc tuân theo ý chí của giai cấp thống trị là bổn phận Do đó, ý thức về dân chủ và đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ không có bước tiến đáng kể nào
Vào cuối thế kỉ XIV- đầu thế kỉ XV, giai cấp tư sản với tư tưởng tiến bộ về tự do, công bằng, dân chủ đã mở đường cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản Theo chủ nghĩa Mác - Lênin: Dân chủ tư sản là một bước tiến lớn của nhân loại với những giá trị nổi bật
Trang 10về quyền tự do, bình đẳng, dân chủ Tuy nhiên, do được xây dựng trên nền tảng kinh tế là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, nên trên thực tế, nền dân chủ tư sản vẫn là nền dân chủ của thiểu số những tư sản - người nắm tư liệu sản xuất
Khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), nhân dân lao động nhiều quốc gia giành được quyền làm chủ nhà nước, xã hội, thiết lập Nhà nước công
- nông, thiết lập nền dân chủ vô sản - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực hiện quyền lực của đa số nhân dân - xây dựng nhà nước thực sự, dân làm chủ nhà nước xã hội, bảo vệ quyền của đại đa số nhân dân
Với tư cách là một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thì trong lịch sử nhân loại, có ba nền (chế độ) dân chủ Nền dân chủ chủ nô - chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ tư sản - chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, muốn biết một nhà nước có phải là nhà nước dân chủ thật sự không thì phải xác định dân là ai và bản chất chế độ xã hội như thế nào
II Dân chủ xã hội chủ nghĩa
1 Quá trình ra đời và phát triển của xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển các nền dân chủ trong lịch sử và trực tiếp nhất là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, đấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài, phức tạp và giá trị của nền dân chủ tư sản chưa phải là hoàn thiện nhất, do đó, tất yếu xuất hiện một nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ tư sản và đó chính là nền dân chủ vô sản hay còn gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ XHCN đã được phôi thai từ cuộc đấu tranh giai cấp ở Công xã Pari năm
1871, tuy nhiên chỉ đến khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công với sự ra đời của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập
Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của nền dân chủ trước
Trang 11đó, trước hết là nền dân chủ tư sản Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Khi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện bao nhiêu thì sẽ lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu Giải thích cho sự tiêu vong này, theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản) Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội… để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất
đi tính chính trị của nó Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ tư sản, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc
về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Theo Lênin, dân chủ trong chủ nghĩa xã hội bao quát tất cả các mặt của đời sống xã hội Với tư cách là đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của dân chủ, dân chủ XHCN có các bản chất cơ bản sau:
2.1 Về chính trị
Bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó, thực hiện quyền lực trên mọi lĩnh vực xã hội, thể hiện qua quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người, được thỏa mãn ngày càng cao hơn các nhu cầu và lợi ích nhân dân Tuy nhiên, quyền lực không phải chỉ để thực hiện lợi ích
Trang 12của công nhân, mà thực hiện lợi ích chung toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân Yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là Đảng Cộng sản bởi vì đây là đảng lãnh đạo xã hội về mọi mặt (“sự thống nhất chính trị” - Lênin), đại diện cho trí tuệ, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Dân chủ xã hội chủ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động làm chủ các mối quan hệ chính trị trong xã hội Họ có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng bộ máy và cán bộ, nhân viên nhà nước Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước của nhân dân chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị
Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa rằng: đó là nền dân chủ “gấp triệu lần dân chủ tư sản” Bàn về dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh cũng bày tỏ: Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa đều thực chất là của dân, do dân và vì dân Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khác với cách mạng xã hội trước đây là ở chỗ nó là cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông
Xét về bản chất chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính chất nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khác với nền dân chủ tư sản ở bản chất giai cấp (giai cấp công nhân và giai cấp tư sản); cơ chế nhất nguyên và cơ chế đa nguyên; một đảng hay nhiều đảng; bản chất nhà nước (nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản)
2.2 Về kinh tế
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động
Trang 13Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác - Lênin và
sự quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Dân chủ với bản chất kinh
tế sẽ đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối; coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng nó không hình thành theo mong muốn của bất kỳ ai Nó là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu trong lịch sử nhân loại, đồng thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kìm hãm… của các chế độ kinh tế trước đó
Khác với nền dân chủ tư sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động chủ yếu
2.3 Về văn hóa – xã hội
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới Đồng thời, nó kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng văn hóa, văn minh, tiến bộ xã hội… mà nhân loại tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc…
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân Dưới góc độ này dân chủ là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng
tự do được sáng tạo và phát triển của con người Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, kết hợp hài hòa lợi ích giữa cá nhân, tập thể và lợi ích toàn
xã hội
Trang 143 Quan điềm chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa
3.1 Dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống chuyên chính vô sản, nhà nước chuyên chính vô sản kiểu dân chủ cộng hòa
Chuyên chính vô sản (CCVS) là một lý thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, là một bộ phận quan trọng của chủ nghĩa cộng sản khoa học, theo đó chuyên chính vô sản là việc giai cấp công nhân nắm quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước trấn áp giai cấp tư sản để tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp Đây là sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân với chức năng thực hiện dân chủ đối với nhân dân, tổ chức xây dựng và bảo vệ chế độ mới, chuyên chính với những phần tử thù địch, chống lại nhân dân Chuyên chính vô sản được những người cộng sản cho là một trong những tư tưởng đặc sắc và trọng yếu nhất của chủ nghĩa Mác về vấn đề Nhà nước
Thực tiễn lịch sử xã hội loài người đã chứng minh, mọi nhà nước đều phải thực hiện chức năng chuyên chính để giữ vững quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Nhà nước
tư sản cũng vậy, luôn khẳng định quyền lực chính trị thông qua hệ thống chuyên chính tư sản Do đó, V.I.Lênin đã viết: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau nhưng thực chất chỉ là một Chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản” Bên cạnh đó, mọi nhà nước đều phải thực hiện nền dân chủ của mình Bởi dân chủ không chỉ được nhìn nhận như những khát vọng sâu xa, những quyền tự nhiên, những giá trị nhân văn mà quan trọng hơn đó là chế
độ chính trị - nhà nước, nó gắn với lợi ích, đặc điểm của một chế độ chính trị, một giai cấp thống trị về kinh tế nhất định trong lịch sử Có điều, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi giai cấp cầm quyền khác nhau đều có tiêu chí chuyên chính và dân chủ riêng nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp mình Từ đó cho thấy, giữa chuyên chính và dân chủ có mối quan hệ biện chứng với nhau
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Dân chủ và chuyên chính đi đôi với nhau Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực sự vì không chuyên chính thực sự, bọn thù địch sẽ làm hại
Trang 15dân chủ của nhân dân Dân chủ và chuyên chính là quan hệ mật thiết với nhau” Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh nội dung chính trị của dân chủ: dân chủ là chế độ chính trị, hình thức nhà nước do nhân dân lập nên và nhân dân kiểm soát Dân chủ XHCN ở Việt Nam là nền dân chủ cộng hòa, trong đó, “dân là chủ”, “dân làm chủ”, “tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân" Như vậy, dân chủ XHCN ở Việt Nam là chế độ chính trị, nhà nước của nhân dân, do nhân dân lập ra và phục vụ lợi ích của nhân dân
3.2 Dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi
Với nghĩa là quyền làm chủ hay bản chất giai cấp thống trị của dân chủ, nền dân chủ XHCN thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân Trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản (1847), trả lời câu hỏi rằng cuộc cách mạng vô sản sẽ diễn biến như thế nào, Ph.Ăngghen viết: Trước hết, nó tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp vô sản Theo tinh thần đó, dân chủ vô sản, dân chủ XHCN trước hết là sự thống trị, làm chủ của giai cấp công nhân Tuy nhiên, là sản phẩm của cách mạng XHCN - cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông nhân dân nên trong nền dân chủ XHCN sự thống trị, làm chủ của đông đảo nhân dân lao động vốn là những người nghèo khổ và bị áp bức trước kia V.I.Lênin viết: “dân chủ
vô sản là sự thống trị của đa số đối với thiểu số”; “chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, tri thức )”
Mặt khác, trong xây dựng XHCN hiện thực cho thấy, dân chủ XHCN cũng bao hàm dân chủ và chuyên chính Chỉ có điều, xét về bản chất, đó phải là một nền dân chủ kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người không có của) và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản) Vì vậy, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân như tự do hội họp, tự do đi lại, tự do báo chí được thực hiện trong thực tế cho hầu hết nhân dân lao động Theo đó, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang tính nhân dân rộng rãi Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tất cả các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và mọi công dân đều được tham gia vào công việc của nhà nước (bằng thảo luận,
Trang 16góp ý kiến xây dựng chính sách, hiến pháp, pháp luật ) Mọi công nhân đều được bầu cử, ứng cử và đề cử vào các cơ quan nhà nước các cấp Sức sống của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước, quản lý
xã hội Nhân dân có quyền làm chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội: “Toàn bộ quyền lực tối cao trong nước phải thuộc về các đại biểu của nhân dân, do nhân dân bầu ra, có thể bị nhân dân bãi chức bất cứ lúc nào”
Từ phân tích trên cho thấy, trong nền dân chủ XHCN, tính nhân dân rộng rãi không tách rời bản chất giai cấp công nhân; việc thực hiện dân chủ đối với giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động không tách rời việc hạn chế dân chủ, thậm chí tước đoạt dân chủ đối với bọn bóc lột Trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, dân chủ là công cụ, phương tiện được giai cấp thống trị dùng để củng cố, bảo vệ địa vị thống trị của mình thông qua luật hóa các quyền công dân, quyền con người; nhưng đồng thời, dân chủ cũng
là ngọn cờ để giai cấp bị thống trị đấu tranh giành và bảo vệ các quyền của mình Dưới chế độ tư bản, phong kiến, chuyên chính là số ít người chuyên chính với đại đa số nhân dân Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ dân chủ nhân dân
Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Dân là chủ và dân làm chủ Nhân dân ở đây bao gồm cả cộng đồng người, đồng bào, quần chúng nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài, trong đó trước hết là công nhân, nông dân, tri thức, những người lao động Bọn tay sai cho đế quốc, thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc thì không thuộc nhân dân, đó là bọn phản nhân dân Do đó, trong nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, “Đảng lãnh đạo, công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính (trừng trị) bọn phản động” Đó là sự thống nhất biện chứng giữa bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi của nền dân chủ XHCN trong điều kiện hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam
Trang 173.3 Dân chủ xã hội chủ nghĩa là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Dân chủ XHCN là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nhưng cuộc đấu tranh này khác hẳn những cuộc đấu tranh giai cấp trước kia: không phải do thiểu số thực hiện, hoặc mưu cầu lợi ích cho thiểu số, phong trào vô sản là của khối đại đa số, mưu cầu lợi ích cho khối đại
đa số C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định, cuộc đấu tranh này trước hết nó tạo ra một chế độ dân chủ, tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhưng đó mới là mục tiêu trước mắt, là điều kiện bước đầu của tiến trình cách mạng Tiếp
đó, để chế độ dân chủ không trở nên hoàn toàn vô ích, giai cấp vô sản và nhân dân lao động phải sử dụng chế độ dân chủ ấy tiến hành hàng loạt các biện pháp cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên mọi lĩnh vực đời sống để thiết lập một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người
Từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Liên Xô, V.I.Lênin cho rằng, để xây dựng hoàn thiện nền dân chủ XHCN - một nền dân chủ đầy đủ, thực chất và rộng rãi cho đại đa số nhân dân lao động, trong điều kiện mới (đã có chính quyền), giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp với những nội dung, hình thức mới và với tính chất, mức độ phức tạp, gay go, dai dẳng, quyết liệt hơn nhiều so với những cuộc đấu tranh giai cấp trước đây Đối tượng đấu tranh không chỉ là sự phản kháng, chống đối điên cuồng của giai cấp tư sản và đồng minh của chúng hòng đòi lại “thiên đường” đã mất; không chỉ là thói ba hoa, quan liêu, hối lộ trong bộ máy đảng, nhà nước mà còn là những tâm lý, thói quen lạc hậu của chính giai cấp công nhân và nhân dân lao động V.I.Lênin nhấn mạnh, thực chất của CCVS không phải chỉ là bạo lực và không phải chủ yếu là bạo lực; nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong điều kiện CCVS là giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải “đưa ra và thực hiện được một kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản” vì “xét đến cùng, năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ mới” Đó là quá trình đấu tranh giai cấp đi đến xóa bỏ giai cấp Trong điều kiện đó, tính giai cấp, tính chính trị của dân
Trang 18chủ sẽ dần tiêu vong và trong điều kiện đó, nhân dân mới thực sự trở thành người chủ xã hội, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự quản lý và tự quyết định mọi vấn
đề của bản thân mình Theo ý nghĩa đó, dân chủ XHCN là thành quả đấu tranh lâu dài với trình độ tự giác và sức sáng tạo cao độ của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
Hồ Chí Minh cho rằng, dân chủ XHCN ở Việt Nam không chỉ là thành quả của đấu tranh giai cấp mà còn là thành quả của đấu tranh giải phóng dân tộc, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, cuộc đấu tranh giai cấp có những đặc thù cả về nội dung và hình thức Về nội dung, tính chất, đó là cuộc đấu tranh chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi; đó là cuộc đấu tranh chống bần cùng và lạc hậu để đi đến dân chủ, giàu mạnh và văn minh Hồ Chí Minh cho rằng, thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ nhưng thẳng bần cùng, lạc hậu thì khó khăn, phức tạp hơn nhiều Theo đó, để giải quyết mọi khó khăn, từ việc chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân, chuyên chính với bọn phản động, thù địch; từ việc chống chủ nghĩa cá nhân, trừng trị những kẻ bất liêm đến việc phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm hay xây dựng đời sống văn hóa mới… tất cả phải được giải quyết và chỉ có thể giải quyết triệt để bằng cách “động trên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” (Di chúc)
3.4 Dân chủ xã hội chủ nghĩa sử dụng tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung làm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt cơ bản của các cộng đồng và các tổ chức chính trị, xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, để giai cấp vô sản có thể giành lấy dân chủ và phát triển thật nhanh số lượng LLSX thì trước hết bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản (Đảng Cộng sản) phải được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, trong đó có nguyên tắc và cơ chế dân chủ Nguyên tắc này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen bước đầu xác định trong Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản (1847)
và Hội liên hiệp công nhân quốc tế (1864) Sau đó, trong điều kiện mới của thời đại và từ
Trang 19Đại hội IV (còn gọi là Đại hội thống nhất) của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga, V.I.Lênin trình bày nguyên tắc tập trung dân chủ với những nội dung cơ bản của nó và Người xem đây là nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa sống còn đối với một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Khi đảng cộng sản cầm quyền, theo tinh thần “phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn”, các nguyên tắc và cơ chế dân chủ trong đó có nguyên tắc tập trung dân chủ được vận dụng vào trong tổ chức và cơ chế vận hành của nhà nước CCVS, của hệ thống CCVS và trong quản lý các quá trình kinh tế - xã hội
Bản chất của tập trung dân chủ là kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa sự thống nhất Sự lãnh đạo, chỉ đạo, tỉnh nhất quán về mục tiêu với tính phong phú, đa dạng về hình thức, phương thức, bước đi để thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất và nhằm thực hiện những mục tiêu chung Trong nền dân chủ XHCN, nội dung của lập trung dân chủ được xây dựng thành hệ thống các thiết chế, thể chế, chế độ cụ thể (điều lệ quy định, pháp luật)
và được áp dụng trong tổ chức, lãnh đạo, quản lý xã hội nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp giữa cá nhân và tập thể, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa trung ương và địa phương, giữa bộ phận với hệ thống Theo đó, nội dung của tập trung dân chủ không chỉ
là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; không chỉ là chế độ liên bang, chế độ tự trị, tự quản; không chỉ là chế độ báo cáo, công khai, giám sát, kiểm kê, kiểm soát, tự phê bình và phê bình; mà còn là tự do thảo luận, thống nhất hành động; thỏa thuận thì chung, trách nhiệm thì riêng… Tuy nhiên, V.I.Lênin lưu ý, từ trong bản chất, chế độ tập trung dân chủ, vừa khác xa chế độ tập trung quan liêu vừa khác xa chủ nghĩa vô chính phủ
Nhất quán với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, trong nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, dân chủ tập trung là cơ chế, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân, của cả hệ thống chính trị, kể
cả các hợp tác xã, các đơn vị kinh tế, văn hóa, giáo dục với nội dung phong phú Trong
cơ chế, nguyên tắc dân chủ tập trung, ngoài các nội dung như thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cả nhân phục tùng tổ chức, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ
Trang 20trách, tự phê bình và phê bình Người còn nhấn mạnh những nội dung khác như: đoàn kết, khoan dung, thương lượng dân chủ, thống nhất hành động
3.5 Dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự kết tinh các giá trị xã hội, giá trị văn minh, văn minh phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người một cách toàn diện và triệt để trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Các Mác và Ăngghen dự báo rằng, trong tiến trình cách mạng XHCN, dân chủ XHCN không những sẽ kết tinh trong bản thân mình toàn bộ những giá trị dân chủ đạt được trong lịch sử mà còn tạo ra những giá trị dân chủ mới về chất Trong quá tình cách mạng XHCN, dân chủ dân trở thành giá trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi quan
hệ xã hội, lĩnh vực của đời sống xã hội để tạo ra đầy đủ các điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người
Trong bối cảnh mới của thời đại, từ kinh nghiệm thực tiễn của Cách mạng Nga, Lênin đã nói về tính toàn diện, thực chất và triệt để của dân chủ XHCN như là đỉnh cao của sự tiến hóa trong lịch sử loài người Về chính trị, dân chủ XHCN đưa đông đảo nhân dân lao động từ địa vị bị áp bức bóc lột lên vị thế làm chủ xã hội, tham gia thường xuyên
và quyết định vào việc quản lý nhà nước Về kinh tế, trên cơ sở thiết lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, nhân dân lao động làm chủ TLSX, chủ quá trình quản lý và chủ quá trình phân phối sản phẩm Về văn hóa, tư tưởng, CNXH khoa học là cơ sở, nền tảng cho các hình thái ý thức xã hội Con người được giải phóng khỏi sự bần cùng, dốt nát, dã man, nô dịch về tư tưởng, tinh thần Có nền văn hóa mới trên cơ sở kết tinh giá trị tiến bộ của văn hóa, văn minh trong lịch sử nhân loại Về xã hội, từ từng bước xóa bỏ sự áp bức, bóc lột, công hữu hóa TLSX chủ yếu, kéo theo biến đổi căn bản về lĩnh vực xã hội, mất đi
sự khác nhau giữa thành thị, nông thôn; lao động chân tay và trí óc; sự bất bình đẳng, thù hằn dân tộc Khi đó, nhân dân lao động có thể thực sự hưởng được tất cả những phúc lợi của nền văn hóa, văn mình và dân chủ Với ý nghĩa đó, cho dù có thể có nhiều hạn chế, thiếu sót nhất định trong giai đoạn đầu thì dân chủ XHCN vẫn thực sự rộng rãi, đầy đủ, thực chất, toàn diện và “dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản”
Trang 21Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng cho rằng dân chủ XHCN Việt Nam là dân chủ mới, mới cả về nội dung và hình thức, toàn diện; dân chủ thật sự, đến nơi; dân là chủ và làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
III Nhà nước xã hội chủ nghĩa
1 Khái niệm nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước mà ở đó, sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trong một xã hội phát triển cao - xã hội xã hội chủ nghĩa
2 Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa
2.1 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới, có bản chất khác, ưu việt hơn so với bản chất của các kiểu nhà nước bóc lột trong lịch sử
Về chính trị, nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân - giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quần chúng nhân dân lao động Chính giai cấp vô sản này là lực lượng thống trị về chính trị Tuy nhiên, sự thống trị này hoàn toàn khác biệt về chất so với sự thống trị giai cấp bóc lột trước đây Sự thống trị của giai cấp bóc lột cũ là sự thống trị của thiểu
số đối với đa số là tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội nhằm bảo vệ và duy trì địa vị của mình Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sự thống trị của đa số đối với thiểu số là giai cấp bóc lột nhằm giải phóng giai cấp mình và giải phóng tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội Do đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa là đại biểu cho ý chí chung của nhân dân lao động
Về kinh tế, bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa chịu sự quy định của cơ
sở kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa, đó là quan hệ công hữu về tư liệu sản
Trang 22xuất Do đó, không còn tồn tại quan hệ sản xuất bóc lột Nếu như tất cả các nhà nước bóc lột khác trong lịch sử đều là bộ máy của thiểu số trấn áp đa số thì nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ máy chính trị - hành chính, một
cơ quan cưỡng chế, vừa là một tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của nhân dân lao động Việc chăm lo cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động trở thành mục tiêu hàng đầu
Về văn hóa - xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng tinh thần là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại, đồng thời vẫn giữ những bản sắc riêng của dân tộc
Sự phân hóa giữa các giai cấp, tầng lớp từng bước được thu hẹp, bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội để phát triển
2.2 Chức năng của nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa
Tùy theo góc độ tiếp cận, chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa được chia thành các chức năng khác nhau
Căn cứ vào phạm vi tác động, chức năng của nhà nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chức năng của nhà nước được chia thành chức năng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
Trong đó, cách phân loại tiêu biểu nhất chính là căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước Khi đó, chức năng của nhà nước được chia thành: chức năng giai cấp (trấn áp)
và chức năng xã hội (tổ chức và xây dựng) Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện các chức năng của nhà nước cũng có sự khác biệt so với các nhà nước trước đó:
Đối với nhà nước bóc lột, việc thực hiện chức năng trấn áp đóng vai trò quyết định trong việc duy trì địa vị của giai cấp nắm quyền, chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của
xã hội Ngược lại, nhà nước xã hội xã hội chủ nghĩa, mặc dù vẫn còn chức năng trấn áp, nhưng đó chỉ là bộ máy do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và những phần tử chống đối, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Trang 23Mặc dù trong thời kỳ quá độ, chức năng trấn áp này vẫn còn tồn tại như một tất yếu, không thể loại bỏ được hoàn toàn, đơn giản bởi vì một xã hội bao giờ cũng sẽ tồn tại những thế lực chống phá, thù địch nên luôn cần có một giải pháp, công cụ để quản lý Như Lênin cũng đã từng khẳng định, “bất cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột”
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, giữa trấn áp và xã hội, chức năng
xã hội vẫn là chức năng quan trọng hơn do khi đã có được nhà nước mới trong thời bình thì công việc xây dựng và tổ chức phải được đặt lên hàng đầu Chính quyền mới phải tạo
ra được năng suất cao hơn chính quyền cũ, nhờ đó mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho đại
đa số các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động Vì vậy, vấn đề quản lý và xây dựng kinh tế mới là vấn đề then chốt, mang tính quyết định
Cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới là nội dung chủ yếu và mục đích cuối cùng của nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là một sự nghiệp vĩ đại nhưng đồng thời cũng là một công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp Nó đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa phải là một bộ máy có đầy đủ sức mạnh để trấn áp kẻ thù và những phần tử chống đối cách mạng, đồng thời phải là một tổ chức có đủ năng lực để quản lý và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó việc tổ chức quản lý kinh tế là quan trọng, khó khăn và phức tạp nhất
3 Mối quan hệ giữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa
Một là: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Chỉ trong xã hội dân chủ xã hội chủ nghĩa, người dân mới có đầy đủ các điều kiện
để thể hiện ý chí của mình, thông qua việc được lựa chọn một cách công bằng, bình đẳng những người đại diện cho quyền lợi chính đáng của mình vào bộ máy nhà nước, tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý Với những tính ưu việt của mình, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ kiểm soát một cách có hiệu quả quyền lực của nhà nước, ngăn chặn được sự tha hóa, có thể dễ dàng đưa ra khỏi cơ quan nhà nước những người
Trang 24thực thi công vụ không còn đáp ứng yêu cầu về phẩm chất, năng lực, đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu hướng đến lợi ích của người dân Ngược lại, nếu các nguyên tắc của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bị vi phạm, thì việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng sẽ không thực hiện được Khi đó, quyền lực của nhân dân sẽ bị biến thành quyền lực của một nhóm người, phục vụ cho lợi ích của một nhóm người
Hai là: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ quan trọng cho việc thực thi quyền làm chủ của người dân
Công cụ này phát huy tác dụng thông qua việc thể chế hóa ý chí của nhân dân thành các hành lang pháp lý, phân định một cách rõ ràng quyền và trách nhiệm của mỗi công dân, là cơ sở để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời còn là công cụ bạo lực để ngăn chặn có hiệu quả các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người dân, bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Theo Lênin, con đường vận động và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa là ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện nhân dân, thực hiện và mở rộng dân chủ, nhằm lôi cuốn ngày càng đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Thông qua hoạt động quản lý của nhà nước, các nguồn lực xã hội được tập hợp, tổ chức và phát huy hướng đến lợi ích của nhân dân Ngược lại, nếu nhà nước xã hội chủ nghĩa đánh mất bản chất của mình sẽ tác động tiêu cực đến nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, sẽ dễ dẫn tới việc xâm phạm quyền làm chủ của người dân, dẫn tới chuyên chế, độc tài, thủ tiêu nền dân chủ hoặc dân chủ chỉ còn là hình thức
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân Nó cũng là công cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại lợi ích của nhân dân; là thiết chế tổ chức có hiệu quả việc xây dựng xã hội mới;
là công cụ hữu hiệu để vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện… Chính vì vậy, trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xem nhà nước là “trụ cột”, “một công cụ chủ yếu, vững mạnh” của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 25PHẦN II: VIỆT NAM VÀ NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN
NAY
I Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền từ lâu đã được nhen nhóm và phát triển trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước cùng với quyền hành lập pháp phải đi đôi với
sự nghiệp xây dựng, củng cố một thể chế hiện đại của dân, do dân và vì dân Tất cả các hoạt động, biện pháp của nhà nước đó phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, dựa trên cơ sở một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng và các nguyên tắc chủ quyền nhân dân, phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người,
tự do cá nhân, công bằng, bình đẳng trong xã hội
Nhà nước pháp quyền về cơ bản là thành tựu của nền văn minh nhân loại, phản ánh trình độ phát triển cao về tổ chức, hoạt động nhà nước, về pháp luật và thực hiện pháp luật Khái niệm "Nhà nước pháp quyền" được chính thức du nhập vào xã hội Việt Nam từ cuối năm 1991
Khác với Nhà nước pháp quyền tư sản, pháp luật tư sản không phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ là phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân là giai cấp tư sản Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa biểu hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là tập trung thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân
Tất cả những điều đó được phản ánh rõ rệt qua các đặc trưng sau của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
Trang 26Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” Với Bác nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là các ông quan cách mạng mà là công bộc của nhân dân Là nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu cử dân chủ Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã được xác lập trong nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền khi tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp
Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng Hiến pháp Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là Đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân
Những quan điểm lớn, những nội dung cơ bản của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân Và đó chính là nền tảng có tính chất hiến định để xem xét, đánh giá sự hợp hiến hay không hợp hiến của các đạo luật, cũng như các quyết sách khác của Nhà nước và của cá tính chất chính trị, tính chất xã hội
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội
Trang 27Pháp luật xã hội chủ nghĩa là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá giáo dục khoa học, đối nội, đối ngoại Pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Vì vậy, nói đến pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là nói đến tính pháp luật khách quan của các quy định pháp luật, chứ không phải chỉ nói đến nhu cầu đặt ra pháp luật, áp dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật một cách chung chung với mục đích tự thân của nó
Pháp luật của Nhà nước pháp quyền Việt Nam phản ánh đường lối, chính sách của Đảng và lợi ích của nhân dân Vì vậy, pháp luật phải trở thành phương thức quan trọng đối với tính chất và hoạt động của Nhà nước và là thước đo giá trị phổ biến của xã hội nước nhà: công bằng, dân chủ, bình đẳng - những tố chất cần thiết cho sự phát triển tiến
bộ và bền vững của Nhà nước và xã hội
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội
Xét về bản chất, ngọn cờ bảo vệ quyền con người thuộc về các Nhà nước cách mạng chân chính, nhà nước xã hội chủ nghĩa Cuộc đấu tranh trên bảy mươi năm đầy gian khổ
hy sinh của dân tộc Việt Nam vì độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng suy cho cùng, chính là vì quyền con người, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của cộng đồng dân tộc và của từng cá nhân, từng con người Do vậy, vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữa công dân với Nhà nước,… luôn được Đảng dành sự quan tâm đặc biệt Thể hiện ra ở các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện (là cơ quan dân cử và các đoàn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân
tự quản, bằng việc xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định
và thực hiện các quyết định
Trang 28- Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan Được giám sát bởi nhân dân với phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thông qua các tổ chức, các cá nhân được nhân dân uỷ nhiệm
Đối với Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, quyết định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì dân, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt động quản lý nhà nước, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại
II Những yếu tố thời đại tác động tới nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa
1 Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức
Ngày nay, CMKHCN đang càng ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng hơn bao giờ hết trên toàn thế giới, thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau CMKHCN hiện đại là
sự hoà nhập thành một quá trình duy nhất các quá trình cách mạng trong khoa học – kỹ thuật, công nghệ và tác động mạnh mẽ đến công nghiệp; quyết định các quá trình kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp Nghiên cứu khoa học được công nghiệp hoá, tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sản xuất trở thành nơi thực hiện thực tiễn các tri thức khoa học Tri thức khoa học trở thành cơ sở lý luận cho sản xuất, quản lý và phát triển xã hội ở các cấp độ vi mô lẫn vĩ mô và cả ở quy mô toàn cầu Chính nhờ đó tốc độ