1. Trang chủ
  2. » Tất cả

30 bai phan tich bai tho ve tieu doi xe khong kinh hay nhat

65 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 573,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính Ngữ văn 9 Dàn ý a) Mở bài Giới thiệu sơ lược về tác giả Phạm Tiến Duật + Phạm Tiến Duật (1941 2007) là nhà thơ lớn, có nhiều sáng tác, trưởng thành trong độ[.]

Trang 1

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Ngữ văn 9

Dàn ý

a) Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về tác giả Phạm Tiến Duật

+ Phạm Tiến Duật (1941 - 2007) là nhà thơ lớn, có nhiều sáng tác, trưởng thành trong đội ngũ các nhà thơ thời kháng chiến chống Mĩ

- Giới thiệu khái quát Bài thơ về tiểu đội xe không kính

+ Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống

đế quốc Mĩ, ca ngợi tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, chiến đấu vì miền Nam ruột thịt của các chiến sĩ lái xe Trường Sơn

b) Thân bài

* Khái quát hoàn cảnh sáng tác bài thơ:

- Bài thơ được sáng tác trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra rất gay go, ác liệt Từ khắp các giảng đường đại học, hàng ngàn sinh viên đã gác bút nghiên để lên đường đánh giặc

- Phạm Tiến Duật đã ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của nơi khói lửa Trường Sơn trong đó có những đoàn xe vận tải vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù để ra trận

- Cảm hứng từ những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ chiến sĩ khắc hoạ thành công chân dung người chiến sĩ lái xe

* Hình ảnh những chiếc xe không kính

- Hình ảnh những chiếc xe không kính được tác giả miêu tả trần trụi, chân thực:

Không có kính không phải vì xe không có kính,

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

+ Đó là những chiếc xe vận tải chở hàng hóa, đạn dược ra mặt trận, bị máy bay Mĩ bắn phá, kính xe vỡ hết

Trang 2

+ Động từ “giật”, “rung” cùng với từ “bom” được nhấn mạnh hai lần càng làm tăng sự khốc liệt của chiến tranh

=> Hai câu thơ đã giải thích nguyên nhân những chiếc xe lại không có kính, qua đó phản ánh mức độ khốc liệt của chiến tranh

* Hình ảnh người lính lái xe

- Tư thế hiên ngang, tự tin hiếm có:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

+ Tính từ ung dung nhấn mạnh tư thế chủ động, coi thường mọi khó khăn, nguy hiểm của các chiến sĩ lái xe

+ Điệp từ “nhìn”: khí phách kiên cường, như thách đố với khó khăn

- Thái độ, tinh thần lạc quan, bông đùa với những khó khăn:

+ Bụi phun vào tóc, vào mặt là một trò gây cười, mưa ướt áo cứ đi tiếp vì gió lùa

áo khô nhanh thôi, xe không kính cũng có cái hay đó là tầm nhìn rộng hơn, thấy được con đường “chạy thẳng vào tim”, thấy sao trời gần hơn “ùa vào buồng lái”

-> Những khó khăn gian khổ như tăng lên gấp bội vì xe không có kính nhưng không làm giảm ý chí và quyết tâm của các chiến sĩ lái xe

+ Điệp từ “ừ thì”: như một cái tặc lưỡi, chép miệng đồng thuận, coi mọi khó khăn

+ Tiểu đội xe là “Những chiếc xe từ trong bom rơi” gặp nhau

+ Tình đồng đội: những cái bắt tay qua “cửa kính vỡ rồi”, là dựng bếp lửa giữa trời, cùng ăn cùng ca hát, cùng mắc võng ngủ trong rừng

Trang 3

=> Từ trong khó khăn, người lính từ mọi miền xa lạ trở thành “gia đình” của nhau

- Niềm tin vào chiến thắng:

+ Điệp từ “lại đi”, lí do “vì miền Nam phía trước” : Không gì ngăn cản được các anh đến chi viện cho chiến trường miền Nam

+ Hình ảnh ẩn dụ “trời xanh thêm” và hoán dụ “trong xe có một trái tim”: tình yêu thương dành cho miền Nam, cho Tổ quốc, là niềm tin và chiến thắng, vào tự do

-> Hình ảnh "trái tim" là một hoán dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo, khẳng định phẩm chất cao quý của các chiến sĩ lái xe trên đường ra tiền tuyến lớn

=> Tất cả cùng chung lí tưởng chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và tin tưởng vào tương lai tươi sáng đang tới rất gần

* Đánh giá đặc sắc nghệ thuật:

- Kết hợp thể thơ bảy chữ và tám chữ

- Sử dụng các biện pháp tu từ như điệp ngữ, hoán dụ

- Sáng tạo được những hình ảnh độc đáo có chất liệu hiện thực sinh động

- Ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn

c) Kết bài

- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

- Liên hệ việc giáo dục phát huy tinh thần chiến đấu cho thế hệ trẻ hiện nay

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 1)

Thời kháng chiến chống Mĩ thấy thế mà cam go lắm, ác liệt lắm Vậy mà Phạm Tiến Duật lại là nhà thơ trẻ tài cao trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Thơ của ông có giọng điệu sôi nổi trẻ trung hồn nhiên tinh nghịch và sâu sắc Bài thơ về tiểu đội xe không kính in trong tập Vầng trăng quầng lửa năm 1969 là bài thơ hay độc đáo về hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn hiên ngang tinh thần lạc quan về một ngày mai tươi sáng

Trang 4

Mỗi đề tài đều mang một nét hay một nét độc đáo Người viết đề tài nào cũng phải dành tình yêu và sự hiểu biết của mình vào thì mới thành công Phạm Tiến Duật nhà thơ trẻ tuổi tài cao chọn đề tài người lính trong thời kháng chiến chống Mĩ Có thể nói đó là mảng đề tài hay và sâu sắc Bài thơ về tiểu đội xe không kính là bài thơ có cách viết mới mẻ độc đáo rất cuốn hút người đọc, người nghe Đó là hình ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn vì mục đích tiến về Miền Nam thân yêu ruột thịt

Như tựa đề bài thơ, phần nào Phạm Tiến Duật giúp chúng ta hiểu rõ nội dung là miêu tả về hình ảnh những chiến xe không kính vẫn băng băng trên đường Trường Sơn

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Nhiều từ “không” được lặp đi lặp lại trong dòng thơ mở đầu như một là một lời khẳng định: xưa kia xe vẫn có kính, nó vẫn là chiếc xe lành lặn đẹp đẽ Nhưng hôm nay “xe không có kính” vì “bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” Chiến tranh chống

Mĩ ấy tàn khốc lắm, ác liệt lắm đã làm những chiếc xe rơi vỡ mất đi nhiều phụ tùng Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Đúng như vậy đó, chiếc xe ấy chẳng những “không có kính” rồi xe “không có đèn” Cụm từ “không có” cứ thế mà lặp đi lặp lại để thấy chính chiến tranh đã gây

ra bao thiệt hại về tài sản Dường như tác giả Phạm Tiến Duật cũng dành sự xót thương cho hình ảnh chiếc xe trên đường Trường Sơn Nó vẫn là con chiến mã quan trọng, là một anh hùng thầm lặng cho những người lính vì mục đích tiến về Miền Nam thân yêu ruột thịt

Nếu nhắc đến hình ảnh những chiếc xe không kính trên tuyến đường Trường Sơn

đã làm người đọc xúc động như thế thì hình ảnh những người lính lái xe Trường Sơn lại mạnh mẽ và lạc quan đáng khâm phục

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Trang 5

Cụm từ “ung dung” vừa diễn tả hành động lại vừa bộc lộ trạng thái rất tự tại rất thoải mái Những người lính trẻ cứ như đang tận hưởng tiết trời mát mẻ trên tuyến đường Trường Sơn Họ luôn “ nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” một cái nhìn đầy lạc quan đầy niềm tin và hi vọng Đắt giá nhất là cụm từ “nhìn thẳng” được tác giả sử dụng như một lời khẳng định: dù có bất kì chuyện gì xảy ra những người lính ấy vẫn luôn luôn mạnh mẽ tiến về phía trước về Miền Nam yêu thương

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Một khung cảnh hiện lên quá hoàn hảo dưới ngòi bút viết như họa của Phạm Tiến Duật Khung cảnh ấy có gió, có cánh chim chiều, và có cả ánh sao đêm,… Với hình ảnh nhân hóa “gió vào xoa mắt đắng”, liệu có ai đặt câu hỏi rằng tại sao tác giả lại sử dụng như thế? Vì xe không có kính mà những người lính lại chạy xe xuyên đêm nên cảm giác “ đắng” như thế ấy! Họ luôn ngày đêm nỗ lực chạy thật nhanh thật nhanh tiến về Nam Mỗi con đường xe chạy qua đều in sâu trong tim và chứa chan đầy tình cảm Các chữ “ như sa, như ùa” đã cho ta thấy được tốc độ chạy thật phi thường của những chiếc xe không kính, lướt nhanh qua bom đạn dày đặc

Xe không kính làm các anh chiến sĩ lái xe không chỉ chịu “gió xoa mắt đắng” mà

có có “bụi”,”có mưa” Ôi! Gian khổ biết bao

Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Biết bao nỗi cực nhọc mà những người lính ấy phải gánh chịu Từ “ừ” tác giả vang lên một cách đầy thách thức, thách thức khó khăn mà mình đang gánh chịu Họ “ừ” một cách hiên ngang tràn đầy hi vọng về ngày mai tươi sáng Dọc tuyến đường Trường Sơn ngày ấy có bom có gió có bụi “Bụi phun tóc trắng như người già” với những từ ngữ gợi tả đủ để ta mường tượng ra cảnh tượng ấy đáng thương như thế

Trang 6

nào! Chúng ta phải biết trân trọng, phải biết ơn những gì mà các anh chiến sĩ ngày

ấy đã làm cho chúng ta hôm nay

Ngày hôm nay, khi đi trên đường nếu mưa ta còn cảm thấy vô cùng cực nọc dù xe

có đủ mọi phụ tùng Vậy mà trong thời khắc chiến tranh cam go ấy, xe không kính, không đèn, phải chịu đựng gió, bụi, bom giật, bom rung,

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi

Nhiệt tình cách mạng của người lính không còn là trừu tượng nữa mà được tính bằng những cung đường “lái trăm cây số nữa” Tác giả sử dụng từ chỉ số lượng “ trăm cây số” để chỉ còn đường ấy dù có xa dù có cách trở thì họ vẫn băng băng về trước đầy hiên ngang Cung đường ấy trong bom đạn, mưa tuôn phải trả giá bằng bao mồ hôi, xương máu Câu thơ bảy từ mà có đến sáu thanh bằng diễn tả cái phơi phới, thênh thênh đầy nghị lực, bất chấp mọi gian khổ: “Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!”

Con đường phía trước còn dài còn khó khăn chồng chất, nhưng tinh thần hiên ngang lạc quan và vui vẻ của các anh thật mạnh mẽ Các anh vẫn tếu táo, vẫn hồn nhiên

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây hợp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

Sau những ngày tháng lái xe gian khổ giữa rừng Trường Sơn phải chịu mưa, gió, bụi, bom đạn,… Hôm nay họ đã có thể gặp lại đồng đội Những cái “bắt tay” vội vàng nhưng ấm nồng tình đồng chí đồng đội Cái “bắt tay” như tiếp thêm sức mạnh luôn tiến về phía trước dù có khó khăn và thử thách

Trang 7

Thời chiến tranh luôn luôn gian khó, họ là những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn kiên trung bất khuất Con đường giữa rừng núi ấy gặp lại anh

em, cùng dựng nồi nấu bếp ăn một chén cơm mà ấm tình đồng đội

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi lại đi trời xanh thêm

“Bếp Hoàng Cầm” là bếp dã chiến của bộ đội được đặt dưới lòng đất, khi đun khói tản ra địch sẽ không phát hiện Mọi thứ đều gian khổ như thế ấy nhưng tinh thần họ vẫn rất vui vẻ, lạc quan Vẫn “dùng chung bát đũa” và xem nhau là đại gia đình lớn, là anh em ruột thịt Với hình ảnh ẩn dụ “ xanh thêm” và nghệ thuật điệp từ “lại đi” như một lời cỗ vũ, một lời động viên các anh hãy luôn mạnh mẽ kiên cường tiến về phía trước Rồi cũng sẽ có ngày tìm thấy màu xanh hi vọng màu xanh hòa bình và độc lập!

Hai câu thơ cuối bài là hai câu thơ đắt giá mà Phạm Tiến Duật viết nên một niềm

hi vọng cháy bỏng dành cho các anh lái xe trên tuyến đường Trường Sơn anh dũng, lạc quan:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

“Trái tim” ấy chính là hình ảnh hoán dụ đầy yêu thương Trái tim nhỏ của từng chiến sĩ tích góp thành một trái tim lớn hướng trọn về Miền Nam thân yêu ruột thịt Nhưng trái tim ấy cũng chất chứa bao nỗi căm hờn, phẫn uất? Họ căm ghét chiến tranh tàn khốc đã gây ra bao nỗi khốn cùng cho nhân dân, cho những người lính không ngại khó khăn vất vả Đó chính là trái tim có tình yêu và cả lòng căm hận rất sâu sắc Với ngòi bút tinh tế sâu sắc và cách dùng từ độc đáo đã góp phần làm hình ảnh mà tác giả muốn truyền tải càng rõ nét hơn trong lòng độc giả

Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật qua ngòi bút tinh tế, hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ,… đã giúp hình ảnh người lính lái xe trên đường Trường Sơn càng hiên ngang dũng cảm Họ là những con người kiên cường, bất khuất dù khó khăn gian khổ Bài thơ đã tái hiện lại một cách đầy sống động về thời kháng chiến chống Mĩ oanh liệt trên tuyến đường Trường Sơn lịch sử và những

Trang 8

con người dũng cảm, lạc quan mãi mãi đi vào lịch sử thơ ca thời kháng chiến chống Mĩ!

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 2)

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây

(Trường Sơn đông, Trường Sơn tây)

Năm 1970, tập thơ Vầng trăng quầng lửa của Phạm Tiến Duật ra đời Tiếng thơ của người chiến sĩ hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn cất lên hào hùng, trẻ tráng và hồn nhiên kì lạ Thơ Phạm Tiến Duật thể hiện tình cảm yêu nước và chí khí anh hùng của thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh chống Mĩ qua những hình ảnh cô gái thanh niên xung phong và anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn Lửa đèn, Trường Sơn đông, Trường Sơn tây, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Gửi em, Cô thanh niên xung phong, là những bài thơ rất nổi tiếng của chàng lính trẻ làm thơ này

Trang 9

Bài thơ về tiểu đội xe không kính được anh viết vào năm 1969 - khi cuộc chống Mĩ đang diễn ra vô cùng ác liệt Máy bay giặc Mĩ trút hàng ngàn, hàng vạn tấn bom đạn và chất độc hóa học xuống con đường chiến lược mang tên con đường Hồ Chí Minh Các trọng điểm mịt mù lửa khói suốt đêm ngày Những đoàn xe vận tải quân

sự vẫn nối đuôi nhau đi lên phía trước Bài thơ đã ghi lại những nét ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của người chiến sĩ lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự, qua đó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đánh Mỹ

Bài thơ làm hiện lên chiếc xe không kính đang vượt qua bom đạn băng băng tiến ra tiền phương Một hình tượng thật độc đáo vì xưa nay ít có, ít thấy loại xe không kính qua lại trên mọi nẻo đường Thế mà, trên con đường chiến lược Trường Sơn vẫn có loại xe như vậy, không phải đôi ba chiếc mà là hàng vạn chiếc xe "không kính "đang vượt qua mưa bom bão đạn, đi qua mọi địa hình: đèo cao, dốc thẳm, khe suối, ngầm sông, chạy trong mưa gió, đêm tối mịt mùng, để chở hàng, tiếp viện cho chiến trường miền Nam Hình tượng độc đáo vì chiếc xe mang sức mạnh thần kì của một dân tộc đang chiến đấu vì một quyết tâm sắt đá "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" Nó còn thể hiện cuộc chiến đấu diễn ra trên mặt trận giao thông vận tải, trên con đường chiến lược Trường Sơn là vô cùng ác liệt, dữ dội, con

người và binh khí kĩ thuật mang tầm vóc kì vĩ sử thi hào hùng

Hai câu thơ đầu nói rõ vì sao xe "không có kính" Cấu trúc câu thơ dưới hình thức

"hỏi-đáp" Ba chữ "không" đi liền nhau, hai nốt nhấn "bom giật, bom rung" biểu lộ

"chất lính" trong cách nói phóng túng hồn nhiên Câu thơ đậm đặc chất văn xuôi, nhưng đọc lên nghe vẫn thú vị:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Mười bốn câu thơ tiếp theo khắc họa hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn qua một loạt hình ảnh hoán dụ: con mắt, mái tóc, tim, mặt, nụ cười Một tư thế ngồi lái "ung dung" tuyệt đẹp: thong thả, khoan thai Những cái nhìn khoáng đạt, nhìn thấp, nhìn thẳng, nhìn cao, nhìn xa Dũng mãnh

Trang 10

Phạm Tiến Duật đã dành trọn một khổ thơ nói lên những gì người chiến sĩ "nhìn thấy" Những câu thơ nối tiếp xuất hiện với bao hình ảnh chẳng khác nào một đoạn phim quay nhanh:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng,

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái

Có gió thổi, có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm Gió được nhân hóa và chuyển đổi cảm giác đầy ấn tượng: "gió vào xoa mắt đắng" Xe chạy thâu đêm, xe lại không có kính nên mới có cảm giác "đắng" như thế Con đường phía trước là con đường chiến lược cụ thể, nó còn mang hàm nghĩa, "chạy thẳng vào tim", con

đường chiến đấu chính nghĩa vì lẽ sống, vì tình thương, vì độc lập tự do của đất nước và dân tộc Các từ "nhìn thấy" "nhìn thấy " "thấy "với các chữ "sa", chữ

"ùa" góp phần đặc tả tốc độ phi thường của chiếc xe quân sự đang bay đi, đang lướt nhanh trong bom đạn!

Nếu khổ thơ trên nói đến "gió" thì khổ thơ tiếp theo nói đến "bụi" Gió bụi tượng trưng cho gian khổ, thử thách Chữ "ừ" vang lên như một thách thức, một chấp nhận nhưng chủ động của người chiến sĩ lái xe:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!

Bao chi tiết hiện thực đầy ắp vần thơ Một mái tóc xanh của chàng trai qua mấy dặm trường có sự đổi thay đáng sợ: "Bụi phun tóc trắng như người già" Một hình ảnh so sánh hóm hỉnh, độc đáo, một kiểu hút thuốc rất "lính" Một nụ cười lạc quan yêu đời và hồn nhiên "ha ha" cất lên từ một gương "mặt lấm "khi đồng đội gặp nhau: "Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!"

Sau "bụi" nói đến "mưa": "Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời" Thế là người lính nếm trải đủ mùi gian khổ: gió bụi, mưa rừng Mưa đã "tuôn" tất nhiên phải "xối"

Trang 11

Bao nhiêu áo quần ướt sạch vì ngồi trong buồng lái mà "như ngoài trời" Chấp nhận, ngang tàng, phơi phới lạc quan:

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!

Nhiệt tình cách mạng của người lính không còn là trừu tượng nữa mà được tính bằng những cung đường "lái trăm cây số nữa" Cung đường ấy trong bom đạn, mưa tuôn phải trả giá bằng bao mồ hôi, xương máu Câu thơ 7 từ mà có đến 6 thanh bằng diễn tả cái phơi phới, thênh thênh đầy nghị lực, bất chấp mọi gian khổ:

"Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!"

Hai khổ thơ thứ 5, thứ 6 ghi lại hình ảnh tiểu đội xe không kính và cuộc trú quân giữa rừng Sau những chặng đường gian khổ, những tháng ngày mưa gió, bụi mù

và bom đạn, họ gặp lại nhau, cái bắt tay cũng vô cùng độc đáo Trong niềm vui gặp

gỡ đã có nhiều mất mát hi sinh:

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Có bữa cơm hội ngộ Tình đồng đội cũng là tình anh em gia đình ruột thịt Cảnh mắc võng dã chiến "chông chênh " bên đường Rồi đoàn xe "lại đi, lại đi", nối tiếp nhau ra tiền phương Trên đầu họ, trong tâm hồn họ "trời xanh thêm", chứa chan hi vọng, lạc quan dạt dào:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi, trời xanh thêm

Khổ cuối bài thơ làm nổi bật cái dữ dội và khốc liệt của chiến tranh: Chiếc xe vận tải quân sự mang trên mình đầy thương tích Đã có biết bao chiến sĩ lái xe dũng cảm hi sinh Chiếc xe như một dũng sĩ kiên cường, 3 cái "Không có" và chỉ có 1

Trang 12

cái "có": "Không có kính, rồi xe không có đèn - Không có mui xe, thùng xe có xước Sau cái "thùng xe có xước", người chiến sĩ lái xe tự hào khẳng định cần "có một trái tim "trong xe "Có trái tim?" ấy là sẽ có tất cả: "Trái tim"- hình ảnh hoán

dụ thể hiện sức mạnh chiến đấu, ý chí kiên cường của người chiến sĩ lái xe trẻ vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thân yêu, vì sự nghiệp thống nhất đất nước:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước;

Chỉ cần trong xe có một trái tim

"Trái tim" ấy là trái tim yêu thương, trái tim sục sôi căm giận? Phải chăng câu thơ của Phạm Tiến Duật khơi nguồn cảm hứng từ câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ tịch kính yêu: "Miền Nam luôn luôn trong trái tim tôi"?

Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một bài thơ hay Chất hiện thực ngồn ngộn về đời sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của các chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn thời đánh Mĩ đã kết hợp một cách hài hòa với cảm hứng sử thi tạo nên những vần thơ "góc cạnh" đầy ấn tượng Nếu có gió, bụi, mưa, cánh chim, ánh sao sa vào, ùa vào buồng lái chiếc xe không kính thì cũng có những câu thơ rất gần với lối nói thường đậm chất văn xuôi tràn vào bài thơ Có nhiều câu thơ mang cái dáng vẻ thô mộc, bình dị rất lính tráng một thời trận mạc:

- "Không có kính không phải vì xe không có kính,

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi "

- "Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già "

- "Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời "

- "Không có kính, rồi xe không có đèn

- Không có mui xe, thùng xe có xước "

Nếu tước đi những câu thơ ấy, thay vào bài thơ bằng những câu óng ả êm xuôi, chắc chắn giọng điệu, chất thơ, hồn thơ của Bài thơ về tiểu đội xe không kính sẽ chẳng còn gì nữa Đúng như Vũ Quần Phương đã nhận xét: "Chỗ đặc sắc của thơ

Trang 13

Phạm Tiến Duật: lấy cuộc sống để nói tình cảm Cái sâu sắc tình cảm trong thơ anh phải tìm trong cuộc sống, không tìm trong chữ nghĩa

Hình tượng những chiếc xe không kính thật là li kì, độc đáo Những chiếc xe

không kính đã làm nổi bật hình ảnh những người lái xe trên tuyến đường Trường Sơn Họ là những chiến binh sống và chiến đấu trong tư thế hiên ngang, quả cảm bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm, lạc quan, sôi nổi yêu đời, hi sinh chiến đấu vì

sự nghiệp giải phóng miền Nam

Ngoài các ẩn dụ, so sánh, điệp từ, điệp ngữ, Phạm Tiến Duật rất thành công trong sáng tạo các hình ảnh hoán dụ (gió, bụi, mưa, mắt, tóc, tim, ) khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp ý chí của người chiến sĩ lái xe tiền phương

Con đường chiến lược Trường Sơn là một chiến tích mang màu sắc huyền thoại của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mĩ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã làm sống lại một thời gian khổ, oanh liệt của anh bộ đội Cụ

Hồ Chất anh hùng ca dào dạt bài thơ Bài thơ cũng là một chứng tích tuyệt đẹp của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn anh hùng

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 3)

Phạm Tiến Duật( 1941 -2007) là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thơ của ông chủ yếu viết về hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ qua các hình tượng người lính và

cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn lịch sử, tiêu biểu là bài thơ " bài thơ tiểu đội xe không kính" ra đời năm 1969 khi cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang diễn ra ác liệt Qua việc khắc họa hình ảnh độc đáo những chiếc xe không kính nhà thơ làm nổi bật tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn

Trước hết nguồn cảm hứng của bài thơ bắt đầu từ hình ảnh độc đáo: hình ảnh

những chiếc xe không kính, những chiếc xe không kính của Phạm Tiến Duật là hình ảnh thực, thực đến mức trần trụi

"Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi"

Cấu trúc câu thơ dưới hình thức hỏi đáp, ba từ " không" đi liền nhau thể hiện cách nói hồn nhiên đầy chất lính, tác giả giải thích nguyên nhân xe mất kính là do bom

Trang 14

giật, bom rung, đó chính là sự khốc liệt của chiến tranh, nhưng trải qua mưa bom bão đạn những chiếc xe càng trở nên méo mó biến dạng

"Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước"

Nhưng kì diệu thay, những chiếc xe không còn nguyên vẹn ấy vẫn kiên cường vượt qua mọi thử thách mưa bom, tiến về miền Nam yêu dấu, những chiến sĩ lái xe đã tạo nên sức mạnh ấy

Nét đẹp đầu tiên ta bắt gặp ở những người chiến sĩ lái xe là tư thế hiên ngang, dũng cảm, tâm hồn trẻ trung, lãng mạn:

"Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng"

Từ láy " ung dung" được đảo lên câu đầu kết hợp với từ " nhìn" được lặp lại ba lần

đã khắc họa một tư thế thật đẹp của người lính, họ vẫn ung dung ngồi trong buồng lái khi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tất, cụm từ" nhìn thẳng" được dùng thật hay, nhìn thẳng là nhìn vào con đường trước mắt, nhìn thẳng vào gian khổ nhưng không hề run sợ né tránh

Không chỉ đẹp ở tư thế hiên ngang, dũng cảm người lính còn rất đáng yêu bởi tâm hồn trẻ trung lãng mạng

"Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái"

Những câu thơ nhanh, gấp mà nhịp nhàng như bánh xe lăn đều trên đường, bằng việc sử dụng phép điệp ngữ " nhìn thấy" kết hợp động từ" xoa, chạy thẳng, sa, ùa", tác giả đã diễn tả cảm giác mạnh và đột ngột của người chiến sĩ lái xe khi ngồi trong buồng lái, qua ô cửa kính vỡ trong tư thế " nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng", người lính như cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, đặc biệt " con đường chạy thẳng vào tim" là hình ảnh đặc sắc gợi lên tốc độ của chiếc xe đang nhanh trên con

Trang 15

đường, nó cũng là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng của con đường cách mạng, con đường chiến đấu giải phóng miền Nam, người lính chỉ quan tâm tới nhiệm vụ không hốt hoảng sợ hãi dường như tất cả thiên nhiên vạn vật đồng hành cùng họ tiến về phía trước

Xe không kính biết bao nguy hiểm nhưng người lính vẫn vượt lên hoàn cảnh bằng tinh thần lạc quan, bất chấp mọi gian khổ

"Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi"

Ngoài sự ác liệt của chiến tranh, các chiến sĩ còn phải chịu nhiều gian khổ bởi sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết, những câu thơ trên đầy ắp chất sống hiện thực ở chiến trường, hiện thực đầy gian khổ nhưng các chiến sĩ đã bình thường hóa cái gian khổ ấy, chấp nhận nó như một tất yếu vẫn đùa vui, tếu táo: "Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.", một tâm hồn đáng yêu sôi nổi làm sao? đó còn là bản lĩnh kiên cường của những người chiến sĩ, vẻ đẹp ấy còn được tác giả khắc họa bằng giọng thơ trẻ trung như lời nói của miệng "Không có kính, ừ thì có bụi", , gian khổ

là vậy nhưng qua cách nhìn của những người lính thì vô cùng nhẹ nhàng, bởi lòng dũng cảm đã trở thành cốt lõi, bản chất người lính trong cuộc chiến đấu

Trong gian lao thử thách tình đồng chí, đồng đội của họ càng thêm sâu nặng, thắm thiết

"Những chiếc xe từ trong bom rơi

Ðã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Trang 16

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Nhịp thơ như lắng lại, những người chiến sĩ nói về đồng đội cũng như đang nói về mình, họ gặp nhau từ chỗ bom rơi, nghĩa là từ chỗ ác liệt của cuộc chiến, cũng từ nơi này họ đồng cảm chia sẻ và trở thành bạn bè, họ chào nhau bằng những cử chỉ hết sức thân mật "Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.", đó là niềm vui, lời động viên và chúc mừng nhau khi vượt qua khó khăn, là niềm tự hào sau mỗi lần chiến thắng

Cảnh sinh hoạt của người lính bữa ăn giấc ngủ được khắc họa bằng hai hình ảnh " bếp hoàng cầm, võng mắc" tất cả đều tạm bợ nhưng cách nhìn, cách nghĩ rất cảm động: " gia đình đấy" họ coi nhau như anh em trong nhà, càng thiếu thốn thì càng xích lại gần nhau, tiếp thêm sức mạnh để đi tiếp chặng đường mới và làm lên chiến thắng

Điệp ngữ " lại đi" có ý nghĩa khẳng định đoàn xe không ngừng tiến về phía trước khẩn chương và kiên cường, hình ảnh ẩn dụ "trời xanh thêm" gợi lên tâm hồn lạc quan" phơi phới tràn đầy niềm tin, hi vọng của người lính lái xe

Bốn câu thơ cuối bài đã hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của người lính lái xe bởi ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam và lòng yêu nước nồng nhiệt của họ:

"Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim"

Bằng việc sử dụng biện pháp liệt kê " không có kính, không có đèn, không có mui

xe, thùng xe có xước" kết hợp với điệp ngữ " không có" hai câu đầu của khổ thơ không chỉ nhấn mạnh sự thiếu thốn về vật chất mà còn diễn tả sự mất mát đau thương dồn dập của tiểu đội xe không kính do bom đạn của quân thù dội xuống càng về cuối cùng càng ác liệt, nhưng điều kì lạ là những chiếc xe không còn

nguyên vẹn ấy vẫn tiếp tục đi " xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước"

Câu thơ cuối cùng như đọng lại một tâm huyết, cũng như một lời giải thích cho tất

cả những điều kì lạ đẹp đẽ: "Chỉ cần trong xe có một trái tim"

Trái tim là hình ảnh hoán dụ, là hình ảnh yêu nước nồng nàn, trái tim của ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam thân yêu, trái tim dũng cảm, trái tim ấy có sức

Trang 17

mạnh vô biên, mạnh hơn mọi lỗi nguy lan, mạnh hơn mọi thứ bom đạn, mạnh hơn

cả cái chết, sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là công cụ vũ khí mà chính là con người mang trái tim nồng nàn yêu nước, kiên cường dũng cảm, có thể nói bai thơ hay nhất ở câu thơ cuối, nó như con mắt của bài thơ, bật sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp của hình tượng người lính

Thực vậy bằng thể thơ tự do ngôn ngữ bình dị, tự nhiên, giọng điệu pha chút ngang tàng, tinh nghịch, hình ảnh thơ chân thực, độc đáo " bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật" đã khắc họa thành công bức chân dung độc đáo về người chiến sĩ lái xe Trường Sơn với những nét đẹp về tâm hồn tình cảm, tinh thần của họ chính là tiêu biểu cho vẻ đẹp của những người lính anh bộ đội cụ Hồ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng

"Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai"

Chúng ta mãi yêu mến, tự hào về họ - những con người đẹp nhất trong thời đại Hồ Chí Minh

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 4)

Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước Ông từng cầm súng chiến đấu và công tác trong đội ngũ những chiến sĩ vận tải dọc Trường Sơn, chở vũ khí quân trang từ hậu phường ra tiền tuyến: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai" (Tố Hữu) Niềm vui hăm hở của tuổi trẻ ra trận lúc bấy giờ như ánh sáng chói chang, như gió mát lồng lộng phả vào tâm hồn nhà thơ - chiến sĩ, khiến thơ Phạm Tiến Duật có một giọng điệu thật khoẻ khoắn, tràn đầy sức sống, rất tinh nghịch, tươi vui mà giàu suy tưởng

Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm tiêu biểu nhất của giọng thơ ấy, của hồn thơ ấy Không rõ nhà thơ đã từng bao nhiêu lần trực tiếp cầm lái, hay ngồi trong ca bin bên cạnh người lái, mà ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm hứng và suy nghĩ trong bài lại chân thực, sống động đến vậy Tất cả, cứ hiển hiện hồn nhiên, trực diện ngay trước bạn đọc: những chiếc xe không kính, cả tiểu đội xe, tiểu đội lính vận tải vui vẻ, tếu táo mà thật đĩnh đạc, hiên ngang, can đảm

Mở đầu bài thơ là một hình ảnh trớ trêu: "Xe không có kính" Kết thúc là một hình ảnh bất ngờ: "Chỉ cần trong xe có một trái tim" Phải chăng, tiểu đội xe không kính

Trang 18

ấy lăn bánh thông đường mau lẹ được là nhờ "những trái tim cầm lái" ? Xin hãy lắng nghe lời người chiến sĩ lái xe, hãy đọc thơ và suy ngẫm

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Lời kể, hay lời giới thiệu đoàn xe ? Ngôn ngữ mộc mạc, nhịp điệu khoan thai mà gợi tả rõ nét Cứ ý như một đoàn xe đang lừng lững tiến lại Những chiếc xe kì lạ -

"không có kính" (chắn gió) - mà thật anh hùng, đang vượt qua chặng đường nguy hiểm quân thù đánh phá ác liệt: "Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi" Trên những chiếc xe ấy, người chiến sĩ đang vững tay lái Vừa nhấn ga cho xe lăn bánh ra trận, các anh vừa kể chuyện về mình, về đồng đội:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Đó là những câu thơ tả thực, sự thực chính xác đến từng chi tiết Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh, nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm Nào là "gió vào xoa mắt đắng" Nào là "con đường chạy thẳng vào tim" rồi "sao trời", rồi "cánh chim" đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa - rơi rụng, va đập, quăng ném, vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động, cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực dường ấy: cảm giác ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt Trái lại, tư thế các anh vẫn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng Các anh vẫn "Ung dung buồng lái ta ngồi - Nhìn đất, nhìn trời, nhìn

thẳng "

Hai câu thơ có nhịp thật cân đối: 2/ 2/ 2 và 2/ 2/ 2 Đó là sự căng thẳng của chiếc

xe đang lăn bánh, sự thanh thản, bình tĩnh, tự tin của người lái "Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng Nhìn thấy nhìn thấy thấy " Những điệp từ ấy cứ nhấn đi

Trang 19

nhấn lại, biểu hiện sự tập trung cao độ của người lái Hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mà những chiến sĩ lái xe Trường Sơn đã trải qua Trong khó khăn, các anh vẫn ung dung, hiên ngang bình tĩnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm, gan góc chuyển hàng ra tiền tuyến Không có kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút chạy trên đường Có chỗ nhịp nhàng, trong sáng như văng vẳng tiếng hát - vút cao, vui vẻ:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Nếu ở hai khổ thơ trên là những cảm giác về những khó khăn thử thách - dù sao cũng vẫn mơ hồ - thì đến đây, thử thách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp Đó là

"bụi phun tóc trắng" và "mưa tuôn, mưa xối" - hậu quả tất yếu của những chiếc xe

bị mất kính bảo vệ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn, "Không có kính, ừ thì có bụi Không có kính,

ừ thì ướt áo" - những câu thơ như lời nói thường, nôm na mà cứng cỏi, toát ra một thái độ bất chấp mọi khó khăn Đằng sau thái độ ấy là những tiếng cười đùa, những lời hứa hẹn, quyết tâm vượt gian khổ, hiểm nguy:

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Cấu trúc các câu thơ vẫn cân đối, nhịp nhàng theo nhịp rung cân đối của những bánh xe lăn Thanh điệu phối hợp khá linh hoạt : thanh bằng - trắc (phì phèo châm

— điếu thuốc); trắc - bằng (mặt lấm - cười ha ha); rồi lại bằng - trắc (trăm cây - số nữa) Và cuối đoạn là câu thơ bảy tiếng, sáu thanh bằng ("Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi") gợi một cảm giác nhẹ nhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản Đó

là khúc nhạc vui sôi nổi của tuổi mười tám đôi mươi Nhạc vui hài hoà trong

những hình ảnh hóm hỉnh: " phì phèo châm điếu thuốc - Nhìn nhau mặt lấm cười

ha ha" và một ý nghĩ táo tợn: "Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa" làm cho thơ rộn

Trang 20

rã, sôi động, luôn luôn hối hả, như sự sôi động, hối hả của đoàn xe trên đường đi tới

Song, cũng có lúc đoàn xe dừng lại Ấy là lúc ngồi nghỉ hoặc tới đích, giao hàng Hai khổ thơ thứ năm và thứ sáu miêu tả những cuộc gặp gỡ, vui vầy trong không khí đoàn kết, trong tình đồng chí, đồng đội thật cảm động:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi Khi hành quân, các anh động viên, chào hỏi nhau trong cảnh ngộ độc đáo "Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi" Lúc cắm trại các anh trò chuyện, ăn uống nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt: chung bát, chung đũa, "mắc võng chông chênh" song cũng chỉ trong một thoáng chốc

Để rồi, lại tiếp tục hành quân: "Lại đi, lại đi trời xanh thêm " Câu thơ bay bay, phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ:

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Khổ thơ cuối cùng, vẫn một giọng thơ mộc mạc, gần với lời nói thường, như văn xuôi Vậy mà nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng, vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của chiến

sĩ vận tải Trường Sơn trong những năm chống Mĩ cứu nước Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, rất bất ngờ, thú vị

Hai câu đầu dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trường gây ra: xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe xước vỡ, Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần thử thách khốc liệt Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc "Không có kính / rồi xe không có đèn - Không có mui xe /

Trang 21

thùng xe có xước" như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai, bom đạn, bốn khúc "cua vòng, rẽ ngoặt" trêu ngươi, chọc tức đoàn xe

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Hai câu cuối có âm điệu đối chọi, mà trôi chảy, êm ru, hình ảnh đậm nét Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng "vì miền Nam", vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất đất nước Đặc biệt toả sáng chói ngời cả đoạn thơ, bài thơ là hình ảnh "trong xe có một trái tim" Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc

rễ, phẩm chất anh hùng của người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở "trái tim" gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa tình yêu thương này Phải chăng chính trái tim con người đã cầm lái ?

Tình yêu Tổ quốc, tình yêu thương đồng bào, đồng chí ở miền Nam đau khổ đã khích lệ, động viên người chiến sĩ vận tải vượt khó khăn gian khổ, luôn lạc quan, bình tĩnh nắm chắc tay lái, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe khẩn trương tới đích ? Ngữ điệu của câu thơ "Chỉ cần trong xe có một trái tim" thật nhẹ nhõm, song khả năng khắc hoạ hình tượng nhân vật và khơi gợi suy luận triết lí thật đằm sâu, trĩu nặng Ẩn sau ý nghĩa "trái tim cầm lái", câu thơ còn muốn hướng người đọc về một chân lí của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, là công cụ mà là con người - con người mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí kiên cường, dũng cảm, niềm lạc quan và một niềm tin vững chắc Có thể nói, cả bài thơ hay nhất là câu thơ cuối cùng này Nó là "nhãn tự", là

"con mắt của bài thơ", bật sáng chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong thơ

Trở lại với phong cách thơ Phạm Tiến Duật như phần đầu đã nêu, đọc Bài thơ về tiểu đội xe không kính, cũng như một vài tác phẩm tiêu biểu khác của ông - Lửa đèn; Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây; Nhớ, thật thú vị khi nhận ra cái chất giọng rất trẻ, rất lính của bài thơ Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính, qua đó khắc hoạ nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn, nguy hiểm, niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ và ý chí quyết chiến vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường, cùng với ngôn ngữ, giọng điệu giàu tính khẩu ngữ tự nhiên, khoẻ

Trang 22

khoắn Nổi bật trong cả bài thơ là hình ảnh: trong xe có một trái tim và một chất giọng vui đùa, hóm hỉnh, lãng mạn

Chất giọng ấy bắt nguồn từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm Do đó không phải ngẫu nhiên tác giả đặt tên cho tác phẩm là Bài thơ về tiểu đội xe không kính Bài thơ, chất thơ toả

ra từ thực tế cuộc chiến đấu, từ niềm vui cuộc sống của con người thời đại Chất thơ ấy đi từ sự giản dị của ngôn từ, sự linh hoạt của nhạc điệu, sự sáng tạo bất ngờ của hình ảnh, chi tiết , đã khắc hoạ đậm nét những vẻ đẹp phẩm giá con người, và cuối cùng cất bổng lên, hoà nhập với âm hưởng sử thi và cảm hứng lãng mạn của

cả giai đoạn văn học Việt Nam trong ba thập kỉ chiến tranh chống xâm lược - từ năm 1945 đến năm 1975

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 5)

Nhà thơ Phạm Tiến Duật (1941- 2007) là nhà thơ nổi tiếng với nhiều tác phẩm tiêu biểu viết về thời kỳ chiến tranh Việt Nam Thơ của ông mang phong cách tự do, phóng khoáng, vui tươi, giàu suy tưởng Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là tác phẩm tiêu biểu của ông viết vào năm 1969, được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 - 1970 Bài thơ thể hiện rõ sự tinh nghịch, nhưng cũng hiên ngang, bất khuất của những người chiến sỹ trong thời kỳ kháng chiến

Bài thơ mở đầu với câu thơ mang hình ảnh rất chân thực và độc đáo:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung, kính vỡ mất rồi

Hai câu thơ với nét chấm phá nghệ thuật, giúp cho chúng ta dễ dàng hình dung ra bức tranh hiện thực tàn khốc của chiến tranh Những chiếc xe quân dụng vốn dĩ có kính, trang bị đầy đủ, nhưng do bị “bom giật bom rung” nên “kính vỡ mất rồi” Sự tàn khốc của mưa bom bão đạn đã khiến những chiếc xe biến dạng, trở nên không được bình thường, kỳ dị và độc đáo Có thể thấy, tác giả đã diễn tả một cách vô cùng chân thực nhưng lại sâu sắc Xe không có kính, thiếu thốn là vậy nhưng những người chiến sĩ trên xe không hề bi quan mà lại vô cùng lạc quan, tinh

nghịch:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng,

Trang 23

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Những người chiến sĩ ngồi trong buồng lái mà ngồi có kính chắn gió, đối mặt trực tiếp với thiên nhiên, trời đất bên ngoài Nhà thơ sử dụng những biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh và điệp ngữ, cùng nhịp thơ nhanh, nhịp nhàng, đều đặn, giúp người đọc dễ dàng hình dung đến nhịp bánh xe trên đường ra chiến trường Những hình ảnh, sự vật cũng như cảm xúc mà các chiến sĩ nhìn thấy, trải qua thể hiện sự bình thản, ung dung với những nguy hiểm của bom đạn chiến tranh Họ bình tĩnh, thản nhiên nên mới có thể nhìn rõ đủ đầy từ gió, con đường, cánh

chim…hay là cả sao trời Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim” gợi cho ta liên tưởng đến con đường ra mặt trận, cũng như sự nguy hiểm ở phía trước, nhưng các chiến sĩ vẫn cố gắng kiên cường để vượt qua

Ở những câu thơ tiếp theo, tác giả tập trung nói đến sự vất vả, thiếu thốn của những người lính trên xe Dù khó khăn, gian khổ như vậy nhưng họ vẫn luôn lạc quan, yêu đời:

Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn xối như ngoài trời

Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Có thể thấy, những chiến sĩ trên xe dù gian khổ nhưng không hề lùi bước Đây như

là một cơ hội để thử thách ý chí của họ Gian khổ như vậy nhưng vẫn yêu đời, vẫn

có thể cười sảng khoái mà không màng đến nguy hiểm

Trang 24

Những người lính, người đồng đội ở chiến trường gắn bó bên nhau, cùng nhau trải qua gian khổ nên họ xem nhau như người thân ruột thịt Dù họ đến từ những vùng quê khác nhau, sinh ra trong hoàn cảnh khác nhau, nhưng lại chung một lý tưởng sống, chiến đấu vì quê hương đất nước:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm

Sự lạc quan, niềm tin về một ngày mai chiến thắng của những người lính như khiến cho “trời xanh thêm” Câu thơ “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” giúp ta cảm nhận rõ sự đoàn kết, đồng lòng của những chiến sỹ lái xe Những người lính với lòng yêu nước nồng nàn, cùng tình cảm gắn bó giữa những người đồng đội sâu sắc, khiến cho họ có ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Sự tàn khốc, đau thương của chiến tranh được nhà thơ nhắc đến ở khổ thơ cuối, qua những hình ảnh “xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe có xước” Mặc dù khốc liệt như vậy nhưng ý chí chiến đấu của những người lính vẫn không ngừng cháy trong trái tim những người lính Trái tim như tượng trưng cho lý

tưởng, cho toàn thể dân tộc Việt Nam, một ngày mai sẽ thống nhất đất nước

Trang 25

Thật vậy, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một tác phẩm đặc sắc, tiêu biểu viết về vẻ đẹp của những người chiến sĩ lái xe Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình người, tình đồng chí gắn bó trong chiến tranh, cũng như lòng yêu nước nồng nàn của những người lính trong thời kỳ kháng chiến

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 6)

Không sinh ra trong chiến tranh nhưng thế hệ trẻ chúng ta sau này thật may mắn khi được tiếp cận với những bài thơ hay nói về chiến tranh Nhờ đó mà chúng ta thêm hiểu, thêm yêu về những người lính, về những năm tháng gian khổ Bài thơ

về tiểu đội xe không kính cũng là một trong những sáng tác hay viết về người lính nhưng ở một khía cạnh khá mới mẻ Bài thơ được nhà thơ Phạm Tiến Duật viết vào năm 1969, khi ấy, cuộc kháng chiến chống Mĩ của cả nước đang bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt

Những năm tháng chiến đấu, con đường Trường Sơn đã trở nên quen thuộc với nhiều người Hình ảnh về con đường Trường Sơn cũng được lấy làm nhiều đề tài cho các bài thơ, bản nhạc Chẳng hạn như bài hát Trường Sơn đông, Trường Sơn tây, sợi nhớ sợi thương Phạm Tiến Duật cũng viết về cung đường Trường Sơn qua lăng kính của một người lính lái xe Hàng ngày dọc đường Trường Sơn có biết bao nhiêu chuyến xe đi qua, không phải chiếc xe nào cũng lành lặn mà có những chiếc

xe đã bị mất tấm kính chắn phía trước khiến chúng trở nên thật đặc biệt:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ mất rồi

Hai câu thơ mở đầu giải thích lý do vì sao mà xe không có kính, lời giải thích thật

rõ ràng Câu thơ cũng khái quát được hình ảnh bom đạn ác liệt của chiến trường Nhưng giữa cảnh bom đạn ác liệt như vậy, người đọc không hề cái sự run sợ của lính mà chỉ thấy chất thơ ung dung, tự tại:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Hai từ ung dung cho ta thấy được tâm thế tự do, tự tại của người lính Bom đánh

vỡ kính là chuyện nhỏ, bom còn có thể khiến người ta lìa xa cõi đời Vậy mà người lái xe vẫn “ung dung” “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” Những câu thơ tiếp theo lại

Trang 26

giống như một thước phim ghi lại những gì mà người chiến sĩ đã nhìn thấy trên con đường mà xe đã đi qua Giọng điệu thơ đầy đĩnh đạc và mạnh mẽ:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng,

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái

Ở đây, gió đã được nhân hóa để thực hiện hành động “xoa” Câu thơ đọc lên mang lại sự ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Người lính lái xe nhìn thấy gió, nhìn thấy con đường, nhìn thấy sao trời rồi lại nhìn thấy cánh chim Nhìn thấy gió là bởi xe không có kính, mỗi một vòng bánh xe lăn, đôi mắt lại chạm vào gió khiến tác giả cảm thấy như mình nhìn được thấy gió Rồi giữa bầu trời đêm, người lái xe cũng nhìn thấy rõ sao trời Những từ “nhìn thấy”, “sa”, “ùa” khiến ta thấy nhịp thơ trở nên gấp gáp giống như chiếc xe đang lăn bánh một cách vội vàng trên con đường

Xe đi nhanh là để tránh được bom đạn của kẻ thù

Những câu thơ tiếp theo, tác giả nhắc đến một cản trở nữa mà người lính lái xe gặp phải trên đường làm nhiệm vụ với chiếc xe không kính đó là bụi:

Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!

Những câu thơ giàu hình ảnh khiến người đọc như chứng kiến tận mắt một người lính lái xe đầy bụi bặm, phong trần Những người lính tóc xanh nhưng vì bụi phủ

đã khiến mái tóc trở nên bạc trắng như mái tóc người già Thế nhưng, họ chẳng cần quan tâm Những nụ cười hồn nhiên và sảng khoái khi nhìn nhau mặt lấm vẫn xuất hiện

Gió bụi qua đi thì lại đến mưa rừng Không có kính, quả khiến người lính nếm trải

đủ dư vị của thiên nhiên:

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Trang 27

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Không có kính chắn, lái xe mà gặp mưa thì chỉ có ướt áo Nhưng với tinh thần cách mạng của mình, chuyện ướt áo chỉ là chuyện nhỏ, dừng xe lại mới là chuyện lớn Vậy nên người lái xe vẫn tiếp tục di chuyển “lái trăm cây số nữa” Nỗi gian nan của người lính không đong đếm bằng gió, bụi, mưa mà mong đếm bằng quãng đường họ đã chạy Câu thơ diễn tả nghị lực phi thường của người lính, họ bất chấp gian khổ, bất chấp hiểm nguy để làm nhiệm vụ

Niềm vui của những người lính là khi được gặp đồng đội của mình ở giữa rừng: Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

Câu thơ có sự ví von thật ấn tượng khi những chiếc xe cũng có cảm xúc Chúng gặp nhau và họp thành tiểu đội Cũng giống như những người lính, mỗi khi lái xe gặp một chiếc xe khác, họ lại đưa tay ra nắm lấy tay nhau qua ô kính vỡ như truyền thêm cho nhau sức mạnh để tiếp tục hành quân Cuộc gặp gỡ vội vàng mà đầy cảm xúc

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi, trời xanh thêm

Tác giả Phạm Tiến Duật đã nhắc đến bếp Hoàng Cầm, một loại bếp không khói rất được ưa chuộng trong thời chiến Những câu thơ cho người đọc cảm giác gần gũi Những người lính vốn là những người xa lạ nhưng gặp nhau giữa rừng, “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy” Trên dọc đường đi, người lái xe cũng gặp cảnh võng mắc chông chênh Đường hành quân dẫu có gian nan thì xe vẫn cứ đi

Xe không kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Trang 28

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Những câu thơ cuối cùng diễn tả sự thiếu thốn của người lính lái xe Xe không có kính, xe không có đèn, xe không có mui Thế nhưng sự thiếu thốn ấy có là gì Miền Nam thân yêu đang vẫy gọi, “chỉ cần trong xe có một trái tim” thì xe vẫn cứ chạy Hình ảnh thơ thật đẹp, nó chứa đựng lý tưởng sống của người chiến sĩ cách mạng lúc nào cũng nghĩ cho người khác

Con đường Trường Sơn, một con đường huyền thoại Cảm ơn nhà thơ Phạm Tiến Duật đã cho chúng ta một cái nhìn đấy mới mẻ, đầy lạc quan và yêu đời Qua bài thơ về tiểu đội xe không kính, chúng ta thấy thêm tự hào về những người lính năm nào

Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (mẫu 7)

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta không chỉ là một bản anh hùng ca bất diệt mà nó còn phả vào trong văn chương một luồng không khí mới, góp phần làm phong phú thêm thế giới văn chương cách mạng Trong khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” ấy, nhân dân miền Bắc đã không ngừng chi viện cho miền Nam ruột thịt về cả vật chất lẫn tinh thần Những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi trùng trùng điệp điệp nối nhau ra tiền tuyến ngày đêm và Phạm Tiến Duật cũng có mặt trong hàng ngũ ấy Hiện thực cuộc chiến đã tôi luyện cho ông một tinh thần lạc quan, yêu đời Và “Bài thơ về tiểu đội

xe không kính” là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất tinh thần ấy của ông Phạm Tiến Duật được mệnh danh là nhà thơ của Trường Sơn, là thi sĩ huyền thoại của đường mòn Hồ Chí Minh trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước Quãng đời gắn bó với Trường Sơn huyền thoại là quãng đời đẹp nhất trong thơ Phạm Tiến Duật Ông từng bộc bạch rằng đó là cuộc phiêu bạt lớn của số phận Khói lửa Trường Sơn đã thấm đượm trong thơ ông qua hình ảnh những chiến sĩ mở đường, những người lái xe Thơ Phạm Tiến Duật không đi vào lòng bạn đọc bằng những hình ảnh lãng mạn, du dương hay bằng ngôn ngữ trau chuốt, cầu kỳ âm điệu du dương, nhẹ nhàng và êm ái Thơ Phạm Tiến Duật say mê lòng người bởi sự sống động, tự nhiên, gân guốc, táo bạo và độc đáo “Thơ ông mang hơi thở của cả một

Trang 29

thời đại nhưng bằng một khí phách ngang tàng, chất bụi bặm và kiêu bạc của người lính thời chống Mỹ” ( Nguyễn Văn Thọ) Và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, thể hiện một khí phách ngang tàn, hồn nhiên của người sĩ lái xe, in trong tập “Vầng trăng quầng lửa” (1970)

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được Phạm Tiến Duật sáng tác vào năm 1969 - khi cuộc chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt Máy bay giặc Mỹ trút hàng ngàn, hàng vạn tấn bom đạn và chất độc hóa học xuống con đường chiến lược mang tên con đường Hồ Chí Minh Trên con đường rừng Trường Sơn huyết mạch và nổi tiếng với tên gọi “đường mòn Hồ Chí Minh”, những chiếc xe thuộc đơn vị vận tải vẫn lao nhanh ra chiến trường tiếp viện cho miền Nam ruột thịt Những chiếc xe và chiến sĩ lái xe trở thành quen thuộc, đáng yêu và trở thành nguồn cảm hứng để Phạm Tiến Duật chắp bút, viết nên những vần thơ về hình ảnh vô giá này

Khơi nguồn cảm hứng bằng hình ảnh những chiếc xe “không kính” độc đáo và bằng tài năng của mình, Phạm Tiến Duật đã khắc họa thành công hình ảnh độc đáo

ấy Bên trong vỏ ngoài tưởng chừng như đổ nát, thiếu thốn về vật chất ấy là một khí phách ngang tàn, một trái tim nhiệt huyết, lạc quan của những người lính

trẻ.Mở đầu bài thơ, tác giả đã đưa ra lý do về những chiếc xe không kính bằng những ngôn ngữ tự nhiên, giản dị nhưng lại pha một chút ngang tàn:

“Không có kính không phải vì xe không có kính”

Câu thơ nghe qua như một lời kể, lời tâm sự Cấu trúc điệp từ “không” vừa nhấn mạnh tính phủ định, vừa thể hiện sự hóm hỉnh, hồn nhiên của những người lính lái

xe Trường Sơn Và vô hình trung, những chiếc xe không kính ấy trở thành biểu tượng của mảnh đất Trường Sơn Lời giải thích cho những chiếc xe không kính độc đáo ấy cũng chân thực như lột tả hình ảnh bằng ngôn từ:

“Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Điệp từ “bom” kết hợp với các động từ mạnh như “giật”, ”rung”đã tái hiện lại không khí, tính chất khốc liệt, gay go của cuộc chiến, lộ rõ bản chất hung bạo, ngông cuồng của đế quốc, bất chấp theo đuổi mục đích phi nghĩa bằng mọi giá Bao nhiêu tấn bom đạn dội xuống mảnh đất Trường Sơn để tàn phá con người và thiên nhiên, làm lung lay ý chí quật cường, tinh thần quyết chiến của những chàng

Trang 30

trai trẻ Bom giật, bom rung làm những chiếc kính vỡ tan tành Những lời thơ như toát ra một sự bình thản của người cầm lái:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Từ “ung dung” đặt trong phép đảo ngữ như đang diễn tả thái độ tự tin, bình tĩnh, không một chút nao núng, run sợ của người chiến sĩ Hai chữ “ta ngồi” với điệp từ nhìn lặp lại ba lần thể hiện một phong thái đĩnh đạc, mạnh mẽ Không màng đến những thiếu thốn về vật chất, sự hiểm nguy nơi chiến trường khốc liệt, những chàng trai mặc áo lính vẫn lên đường để hoàn thành nhiệm vụ Trạng thái đối lập giữa hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh và tâm thế của những con người cầm lái càng làm rõ hơn phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ: gan dạ, đầy khí chất

Câu thơ toát lên sự nhịp nhàng, thăng bằng của chiếc xe đang bon bon trên tuyến đường Trường Sơn và thái độ ngoan cường của những người lính trẻ Nó đã khắc sâu vào trong tâm khảm về một hình tượng người lính “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” - một vẻ đẹp sáng ngời tỏa ra từ tâm hồn Cách nhìn chăm chú đó biểu lộ niềm yêu thương của anh với thiên nhiên và cuộc sống, sự quyết tâm vững vàng trong nhiệm vụ Bởi thế, mặc cho sự thét gào của bom đạn, các anh vẫn cứ tiến lên, tiến về phía trước, phía ánh sáng của độc lập, tự do

Trong mỗi chiếc xe, kính là bộ phận bảo vệ để ngăn bên trong buồng lái với thế giới bên ngoài Nhưng giờ đây, các anh như được hòa mình vào với thiên nhiên, với không khí của cuộc chiến bên ngoài:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái

Cảm giác của người chiến sĩ về cơn gió là cảm giác trực diện Anh không chỉ cảm thấy mà còn nhìn thấy cả những cơn gió vô hình Để làm giảm bớt vị đắng, sự khó chịu nơi con mắt bởi những ngày đêm thức trắng để lái xe không nghỉ, anh đã cho chị gió xoa mắt đắng, xoa nó đi để rồi ngày mai anh đi tiếp, đi tiếp về tương lai Sự liên tưởng ấy thật đẹp và thật độc đáo khi chiếc xe lao tới, con đường lúc ấy như

Trang 31

chạy ngược về phía trước Sự tin tưởng phù hợp với tấm lòng của người lái, đó là tấm lòng nhiệt tình, hăng say trong nhiệm vụ Trái tim người chiến sĩ luôn luôn dạt dào tình yêu Tổ quốc, quê hương mà đặc biệt là con đường thân thuộc, gần gũi, con đường hứng chịu bao bom đạn máu lửa Chiếc xe vẫn cứ lao nhanh, lao xa đi mãi, tiến lên phía trước vì miền Nam ruột thịt

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Dù sống chung với cuộc kháng chiến đầy mưa bom, bão đạn nhưng không vì thế

mà những người lính trẻ sống trong lo âu, sợ hãi mà tâm hồn họ vẫn tràn đầy sự lãng mạn, bay bỗng khi anh mở rộng tầm mắt, quan sát từ bên trong qua những ô cửa kính vỡ để thấy sao trời, thấy cánh chim Có lẽ tâm hồn các anh phải hân hoan, phơi phới yêu đời lắm nên mới có được cảm nhận được những cánh chim như sa, như ùa vào khoang buồng lái để trò chuyện tâm tình với họ Nếu từ “nhìn thấy” diễn tả tâm thế chủ động của người chiến sĩ đối với cảnh vật thiên nhiên bên ngoài thì điệp từ “thấy” lại nhấn mạnh đến sự xuất hiện bất ngờ, mau lẹ, “đột ngột” của cánh chim đêm Một ngôi sao trên bầu trời, một cánh chim lạc đàn cũng làm anh chú ý và xao xuyến Nhịp thơ trở nên nhanh gấp, sôi nổi thể hiện tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên, sự lạc quan của người chiến sĩ giải phóng quân thời chống Mĩ Đối với người chiến sĩ lái xe, chiếc xe “không kính” đem lại những cảm giác khi lao đi Nhưng đó cũng là nguyên nhân gây ra hậu quả:

Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mất đi bộ phận chắn che, người lái và chiếc xe như hòa mình vào để cảm nhận rõ không khí của cuộc chiến Nhà thơ dùng động từ mạnh “phun” kết hợp với điệp từ

“bụi” diễn tả, nhấn mạnh mức độ ghê gớm đến đáng sợ của chiến trường Tất cả đều mờ nhòa trong khói bụi, bụi làm cản trở tầm mắt, trùm lấy cả đất trời trong mỗi lần xe chạy suốt dọc tuyến đường Trường Sơn Đối diện với sự thiếu thốn về vật chất ấy, những người lính không kêu ca, than vãn mà chỉ “Ừ thì” Phạm Tiến Duật đã thể hiện tài năng dùng ngôn từ khi chỉ với hai từ đã thể hiện được khí phách ngang tàn, thái độ bất chấp, coi thường mọi khó khăn, hiểm nguy của cuộc chiến để bước tiếp về phía tương lai Cái khó khăn, gian khổ đối với những chàng

Trang 32

trai trẻ sao lại nhẹ nhàng đến thế Trong hoàn cảnh ấy, họ chấp nhận một cách tự nguyện và động viên nhau bằng những nụ cười “ha ha” rất sảng khoái, làm phong phú thêm tâm hồn của người bộ đội cụ Hồ Gian khổ, bom đạn không thể quật ngã được họ mà chỉ tôi luyện thêm ý chí kiên cường và làm ấm nóng thêm tình yêu quê hương đất nước

Phải di chuyển trong một chiếc xe không có kính, nếu những ngày nắng thì bụi Trường Sơn “phun tóc trắng như người già” còn những ngày mưa gió, những hạt mưa rừng tạt vào mặt người lính, che khuất tầm nhìn của họ, khó khăn giờ đây lại chồng chất những khó khăn Người lính nếm trải đủ mùi gian khổ dù mưa hay nắng nhưng các anh không bỏ cuộc, không nản lòng nhụt chí mà thái độ thì vẫn phơi phới, lạc quan:

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Điệp ngữ “mưa” kết hợp với những từ gợi tả thật đẹp “tuôn, xối” gợi lên những cơn mưa thật dữ dội, khiến người lính lái xe bị “ướt áo” Thái độ của người lính của người lính được thể hiện dứt khoát “chưa cần thay" Họ mặc kệ cái ướt át, lạnh giá để tiếp tục nhiệm vụ “lái trăm cây số nữa” Lời nói thật giản dị, đơn sơ nhưng thể hiện quyết tâm lớn của người chiến sĩ: xe phải đến tới đích của sự giải phóng,

sự tự do, ý thức trách nhiệm, đóng góp cho cuộc chiến Họ lái xe cho đến khi “mưa ngừng” và trong suy nghĩ của họ cũng thật, bình dị:

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Sau bao ngày gió bụi vượt nắng, vượt mưa qua hàng trăm cây số sau những tháng ngày gian khổ, những người lính trẻ đã có cuộc gặp mặt giữa rừng Trường Sơn đầy khốc liệt Những cuộc gặp gỡ, những cái bắt tay đầy độc đáo:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Giờ đây, nguy hiểm của cuộc chiến đã lùi xa trong kí ức, nhường chỗ cho những cuộc hội ngộ, toàn tụ của những chiếc xe không kính cùng những con người hóm hỉnh, trẻ trung nhưng đầy ngang tàn khí phách Họ thương nhau còn hơn ruột thịt, sống chết có nhau, san sẻ những khốn khó của cuộc chiến và hưởng chung niềm

Ngày đăng: 20/11/2022, 10:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w