Tác giả tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính Ngữ văn 9 I Tác giả văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật (1941 2007) Quê quán huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Sự nghiệp sáng tác + N[.]
Trang 1Tác giả tác phẩm: Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Ngữ văn 9
I Tác giả văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Phạm Tiến Duật (1941- 2007)
- Quê quán: huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
- Sự nghiệp sáng tác:
+ Năm 1964, ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội
+ Tuy vậy ông không tiếp tục với nghề mình đã chọn mà quyết định lên đường nhập ngũ, đó cũng là nơi ông sáng tác ra rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng
+ Năm 1970, ông đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, ngay sau đó Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam
+ Chiến tranh kết thúc, ông trở về làm tại ban Văn Nghệ, Hội nhà văn Việt Nam và là Phó trưởng Ban Đối ngoại Nhà văn Việt Nam Đó quả là một thành tích đáng tự hào + Năm 2001, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
Trang 2+ 19-11-2007 , ông được chủ tịch nước Nghuyễn Minh Triết trao tặng Huân chương lao động hạng nhì
+ Năm 2012, ông nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn Học Nghệ thuật
+ Các tác phẩm tiêu biểu: “Vầng trăng quầng lửa”, “Nhóm lửa”, “Tiếng bom và tiếng chuông chùa”…
- Phong cách sáng tác : thơ của Phạm Tiến Duật được các nhà văn khác đánh giá cao
và có nét riêng: giọng điệu rất sôi nổi của tuổi trẻ vừa có cả sự ngang tàn tinh nghịch nhưng lại vô cùng sâu sắc Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát, tiêu biểu là bài “ Trường sơn Đông Trường Sơn Tây”
Bài giảng Ngữ văn lớp 9 Bài thơ về tiểu đội xe không kính
II Nội dung văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồiUng dung buồng lái ta ngồi,Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Trang 3Thấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa, như ùa vào buồng láiKhông có kính, ừ thì có bụi,Bụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áoMưa tuôn, mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay, lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu độiGặp bè bạn suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trờiChung bát đũa nghĩa là gia đình đấyVõng mắc chông chênh đường xe chạyLại đi, lại đi trời xanh thêm
Không có kính, rồi xe không có đèn,Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim
III Tìm hiểu chung về tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
1 Bố cục tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Gồm 4 đoạn:
- Đoạn 1 (Khổ 1+2): Tư thế thế ung dung hiên ngang của người lính lái xe không kính
Trang 4- Đoạn 2 (Khổ 3+4): Tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và tinh thần lạc quan, sôi nổi của người lính
- Đoạn 3 (Khổ 5+6): Tinh thần đồng chí đồng đội thắm thiết của người lính lái xe
- Đoạn 4 (Khổ 7): Lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam
2 Nội dung chính tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Bài thơ của Phạm Tiến Duật khắc họa một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính Qua đó, tác giả khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời chống Mĩ, với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam
3 Phương thức biểu đạt tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Phương thức biểu đạt tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
4 Thể thơ
Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính thuộcThể thơ tự do
5 Giá trị nội dung tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Bài thơ khắc họa một hình ảnh độc đáo Đó là những chiếc xe không kính Qua đó, tác giả khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì chống Mỹ , với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam
6 Giá trị nghệ thuật tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Bài thơ kết hợp thể thơ bảy chữ và tám chữ, có chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường, sáng tạo được những hình ảnh độc đáo
- Ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn
- Bài thơ còn sử dụng các biên pháp tu từ như điệp ngữ, hoán dụ giúp các hình ảnh thơ giàu tính liên tưởng, hấp dẫn
Trang 5IV Dàn ý tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Bài thơ là lời ngợi ca vẻ đẹp của người lính cách mạng thời bấy giờ
2 Khổ 1+2 : Tư thế thế ung dung hiên ngang của người lính
- 2 câu thơ đầu: nhấn mạnh tư thế ung dung của người lính, đường hoàng đĩnh đạc, dám nhìn thẳng vào khó khăn gian khổ không hề run sợ né tránh
- 4 câu thơ tiếp theo:
+ Phép nhân hóa “gió vào xoa” “con đường chạy” , ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “mắt đắng”
⇒ tả thực cảm nhận của người lính với thế giới bên ngoài
+ “Thấy con đường chạy thẳng vào tim” : tốc độ trên chiếc xe đang lao vun vút ra mặt trận
⇒ con đường ấy còn là con đường giải phóng miền Nam, con đường của trái tim nồng nàn yêu nước
Trang 6⇒ Chiến tranh tuy khốc liệt nhưng người lính vẫn cảm nhận bằng một tâm hồn trẻ trung đầy lãng mạn, qua khung cửa, mọi vật dường như cũng muốn theo người lính
ra chiến trường
⇒ chất thơ của cuộc chiến đấu
3 Khổ 3+4: Tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và tinh thần lạc quan, sôi nổi của người lính
- 2 câu thơ đầu khổ 3+ 2 câu thơ đầu khổ 4:
+ Người lính phải đối mặt với bao khó khăn, khắc nghiệt của thời tiết ở Trường Sơn:
“bụi phun tóc trắng”, “mưa tuôn mưa xối”
+ Nhưng sáng ngời ở họ vẫn là sự anh dũng đón nhận những khắc nghiệt “không có… ừ thì”: thái độ sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy gian khó, coi đó như một yếu
tố tất yếu trong cuộc sống chiến đấu
- 2 câu thơ cuối khổ 3+ 2 câu thơ cuối khổ 4:
+ Người lính đối mặt với khó khăn gian khổ bằng giọng cười “ha ha”
Trang 7- 2 câu thơ đầu khổ 6:
+ “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời”: chiến tranh buộc họ phải dựng bếp ăn giữa
“trời”, nhưng họ vẫn ung dung và coi đó như một lẽ tự nhiên
+ “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”: Chính tình đồng chí đồng đội đã hóa gia đình, cách người lính lái xe định nghĩa về gia đình thật giản dị và độc đáo
⇒ Hai tiếng “gia đình” thật thiêng liêng chan chứa tình cảm, họ truyền cho nhau sức mạnh để chiến đấu
- 2 câu thơ cuối khổ 6:
+ Điệp ngữ “lại đi” kết hợp với nhịp thơ: nhịp bước hành quân của các anh đến với những chặng đường mới
+ Hình ảnh “trời xanh thêm” : ý nghĩa tượng trưng sâu sắc thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời, chan chứa hi vọng, đó còn là hoán dụ chỉ hòa bình
6 Khổ 7: Lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam
- 2 câu đầu: Vẫn là những khó khăn nhưng giờ đây được tăng thêm gấp bội “không kính”, “không đèn”, “không mui xe”, “thùng xe có xước”: khó khăn tăng thêm như cản đi bước chân của người chiến sĩ
Trang 8- Bài thơ đã khắc họa chân thực nhất vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn với tư thế ung dung hiên ngang, tinh thần lạc quan dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và
ý chí giải phóng miền Nam Vẻ đẹp của các anh cũng là tiêu biểu cho thế hệ thanh niên những năm đánh Mĩ
V Một số đề văn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Đề bài: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật.
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính – mẫu 1
“Đoàn giải phóng quân một lần ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui.”
Khúc hát quen thuộc từ xa chợt vọng lại gợi trong lòng chúng ta biết bao suy tưởng Chúng ta như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc theo tiếng hát sôi nổi trẻ trung và cũng bình dị như cuộc đời người lính Không biết đã có bao nhiêu bài thơ nói về họ - những chàng Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi Tiêu biểu cho thời kì chống Mĩ cứu nước là Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn Thơ Phạm Tiến Duật có một giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc.Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra rất gay go, ác liệt Từ khắp các giảng đường đại học, hàng ngàn sinh viên đã gác bút nghiên để lên đường đánh giặc, và điểm nóng lúc đó là tuyến đường Trường Sơn – con đường huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ với âm điệu hào hùng, khỏe khoắn đã thực
sự trở thành hồi kèn xung trận, trở thành tiếng hát quyết thắng của tuổi trẻ Việt Nam thời kì chống Mĩ Cảm hứng từ những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ chiến sĩ khắc họa thành công chân dung người chiến sĩ lái xe: ung dung tự tại, lạc
Trang 9quan sôi nổi, bất chấp mọi khó khăn gian khổ, tình đồng chí đồng đội gắn bó tình yêu đất nước thiết tha…
Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ thì đều được “mĩ lệ hóa”, “lãng mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực Người đọc
đã bắt gặp chiếc xe tam mã trong thơ Pus-kin, con tàu trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, đoàn thuyền đánh cá trong bài thơ cùng tên của Huy Cận Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả cụ thể, chi tiết rất thực Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoá nhất là trong địa hình hiểm trở Trường Sơn thì xe phải có kính mới đúng Ấy thế mà chuyện “xe không kính” lại là một thực tế, là hình ảnh thường gặp trên tuyến đường Trường Sơn.Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải thích cho “sự cố” có phần không bình thường ấy:
“Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi.”
Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của các chàng trai lái xe dũng cảm Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ Bằng những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động từ mạnh “giật”, “rung” Tác giả đã lí giải nguyên nhân không có kính của những chiếc xe Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở nên biến dạng “không có kính”, “không có đèn”, “không có mui xe”, “thùng xe
có xước” Từ đó, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua.Hình ảnh những chiếc xe không kính vốn chẳng hiếm trong chiến tranh, song phải có một hồn thơ nhạy cảm, có nét tinh nghịch, ngang tàn như Phạm Tiến Duật mới phát hiện ra được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ
ca thời chống Mĩ.Hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi rõ hình ảnh những chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn Thiếu đi những điều kiện, phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội để người lính lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ, đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp gian khổ khó khăn.Vẻ đẹp của người lính lái xe trước hết thể hiện ở tư thế hiên ngang, ung dung, đường hoàng, tự tin và tâm hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Trang 10Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật điệp ngữ với từ “nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai đã nhấn mạnh tư thế ung dung, bình tĩnh, tự tin của người lính lái xe Bất chấp mọi trở ngại, gian khổ, mặc kệ những hiểm nguy, người lính vẫn vững vàng ngồi vào buồng lái để làm nhiệm vụ Từ chiếc xe không kính, người chiến sĩ đã quan sát cảnh vật bên ngoài Cái nhìn của các anh là cái nhìn bao quát, rộng mở “nhìn đất”, “nhìn trời”, vừa trực diện, tập trung cao độ “nhìn thẳng” Các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh mà không hề run sợ, né tránh – một bản lĩnh vững vàng Mặc cho bom đạn gào thét, anh vẫn cứ tiến lên Anh chiến sĩ lái xe thật dũng cảm, hào hùng biết bao.Trong
tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có những cảm nhận rất riêng khi được tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài:
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái.”
Sau tay lái của chiếc xe không có kính chắn gió nên các yếu tố về thiên nhiên, chướng ngại vật rơi rụng, quăng ném, va đạp vào trong buồng lái Song, quan trọng hơn là các anh có được cảm giác như bay lên, hòa mình với thiên nhiên rồi được tự
do giao cảm, chiêm ngưỡng thế giới bên ngoài Điều này được thể hiện ở nhịp thơ đều đặn, trôi chảy như xe lăn với việc vận dụng linh hoạt điệp ngữ “thấy” và phép liệt kê Có rất nhiều cảm giác thú vị đến với người lính trên những chiếc xe không có kính Các hình ảnh “con đường”, “sao trời”, “cánh chim”… diễn tả rất cụ thể cảm giác của những người lính khi được lái những chiếc xe không kính Khi xe chạy trên đường bằng, tốc độ xe chạy đi nhanh, giữa các anh với con đường dường như không còn khoảng cách, chính vì thế, các anh mới có cảm giác con đường đang chạy thẳng vào tim Và cái cảm giác thú vị khi xe chạy vào ban đêm, được “thấy sao trời” và khi
đi qua những đoạn đường cua dốc thì những cánh chim như đột ngột “ùa vào buồng lái” Thiên nhiên, vạn vật dường như cũng bay theo ra chiến trường Nhịp thơ trở nên nhanh gấp, sôi nổi thể hiện tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên, sự lạc quan của người chiến sĩ giải phóng quân thời chống Mĩ Tất cả điều này đã giúp người đọc cảm nhận được ở các anh nét hào hoa, kiêu bạc, lãng mạn và yêu đời của những người trẻ tuổi
Trang 11Tất cả là hiện thực nhưng qua cảm nhận của nhà thơ đã trở thành những hình ảnh lãng mạn.Một vẻ đẹp nữa làm nên bức chân dung tinh thần của người lính trong bài thơ chính là tinh thần lạc quan, sôi nổi, bất chấp khó khăn, nguy hiểm:
“Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già
… Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.”
Những câu thơ giản dị như lời nói thường, với giọng điệu thản nhiên, ngang tàn hóm hỉnh Cấu trúc: “không có…”; “ừ thì…”, “chưa cần” được lặp đi lặp lại, các
từ ngữ “phì phèo”, “cười ha ha”, “mau khô thôi”… làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu Cài tài của Phạm Tiến Duật trong đoạn thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu sau nói lên tinh thần vượt lên để chiến thắng hoàn cảnh của người lính lái xe trong chiến tranh ác liệt Xe không kính nên
“bụi phun tóc trắng như người già” là lẽ đương nhiên, xe không có kính nên “ướt áo”, “mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên Trước mọi khó khăn, nguy hiểm, các anh vẫn “cười” rồi chẳng cần bận tâm, lo lắng, các anh sẵn sàng chấp nhận thử thách, gian lao như thể đó là điều tất yếu Các anh lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của chiến trường sinh tử gian khổ, ác liệt Đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, niềm vui sôi nổi, yêu đời Thật đáng yêu và đáng tự hào biết bao!Sâu sắc hơn,bằng ống kính điện ảnh của người nghệ sĩ, nhà thơ đã ghi lại những khoảnh khắc đẹp đẽ thể hiện tình đồng chí đồng đội của những người lính lái xe không kính:
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Trang 12Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”
Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên tiểu đội xe không kính Những chiếc xe từ khắp mọi miền Tổ quốc về đây họp thành tiểu đội Hình ảnh những chiếc
xe không kính, xấu xí, trần trụi xếp hàng tập trung thành tiểu đội Một hình ảnh mang
vẻ đẹp lãng mạn nhưng gai góc Những chiếc xe “họp” mặt chính là hình ảnh của những anh lính lái xe cùng quây quần bên nhau để trò chuyện, chia sẻ những chuyện vui buồn của đời lính Chỉ cần nhìn thấy “bạn bè dọc đường đi tới” là niềm vui, hạnh phúc dâng trào trong tâm hồn họ Xe không kính lại trở thành điều kiện thuận lợi để các anh thể hiện tình cảm Cái “bắt tay” thật đặc biệt “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” Đây là cái bắt tay thân tình của những con người cùng chung chí hướng, cái bắt tay truyền lửa – ngọn lửa soi sáng những chặng đường khốc liệt được thắp lên từ triệu trái tim chiến sĩ tràn đầy nhiệt tình cách mạng Những con người vốn “xa lạ”, gặp nhau nơi chiến trường, đồng điệu nhau ở tình yêu Tổ quốc và trở thành đồng đội,
“đồng chí‘ Họ kề vai, sát cánh bên nhau không chỉ trong những giờ phút khốc liệt băng qua mưa bom bão đạn, đối mặt với kẻ thù, cận kề cái chết mà cả trong những phút giây ấm áp, thân tình Có sự gặp gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong bài thơ
“Đồng chí”: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn
Đó là quá trình trưởng thành của thơ ca, của quân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc.Tình đồng chí, đồng đội còn được thể hiện một cách ấm
áp, giản dị qua những giờ phút sinh hoạt của họ:
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi lại đi trời xanh thêm.”
Gắn bó trong chiến đấu, họ càng gắn bó trong đời thường Sau những phút nghỉ ngơi thoáng chốc và bữa cơm hội ngộ, những người lính lái xe đã xích lại thành gia đình: “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy” Cách định nghĩa về gia đình thật lính, thật tếu hóm mà thật chân tình sâu sắc Đó là gia đình của những người lính cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến đấu Hình ảnh “bếp Hoàng Cầm”, “võng mắc chông chênh” là hiện thực của cuộc sống chiến trường được đưa vào thơ tự nhiên như hơi thở núi rừng Hồn thơ cứ tự nó được khởi nguồn từ chính những hiện thực bình dị ấy Nhưng nhịp điệu thơ lại được tạo nên bởi nhịp võng đưa, bởi nhịp bánh xe
Trang 13quay đểu Từ láy “chông chênh” không chỉ mang lại vần điệu cho câu thơ mà còn có
ý nghĩa gợi hình sâu sắc Đó là hình ảnh thực của con đường xe chạy hay là những khó khăn trở ngại, những hiểm nguy mà người lính phải đối mặt trong chiến tranh? Nhưng khí phách, ý chí chiến đấu của những người lính ấy vẫn luôn vững vàng, kiên định Ngọn lửa trái tim và tình đồng chí – tình cảm của những con người trong cùng
“gia đình” đã nâng những bước chân lạc quan, phơi phới, ngân lên thành câu hát, băng qua “bom giật bom rung” để “Lại đi, lại đi trời xanh thêm” Điệp từ “lại đi” lặp lại hai lần vừa thể hiện nhịp sống, chiến đấu của tiểu đội xe không kính vừa khẳng định tinh thần, ý chí cách mạng kiên định vững vàng không sức mạnh bạo tàn nào có thể ngăn nổi của những người lính Dường như chính những bước chân ấy đã nhuộm lên màu xanh của bầu trời – màu xanh chứa chan hi vọng gợi lên tâm hồn lạc quan, sức trẻ, khát vọng và niềm tin chiến thắng của người lính Trường Sơn Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu.Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình tượng đẹp nhất của thế kỷ “Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi” (Tố Hữu).Khổ thơ cuối đã hoàn thiện vẻ đẹp của người lính, đó là lòng yêu nước, ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam:
“Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chủ cần trong xe có một trái tim.”
Giờ đây những chiếc xe không chỉ mất kính mà lại không đèn, không mui, thùng xe có xước Điệp ngữ “ không có” đi cùng với phép liệt kê “ kính , đèn , mui
xe, thùng xe” càng khắc họa tô đậm rõ nét, chân thực sự tàn phá, hủy hoại khủng khiếp của chiến tranh Chiếc xe đã biến dạng hoàn toàn Người lính gặp chất chồng khó khăn Sự gian khổ nơi chiến trường ngày càng nâng lên gấp bội lần nhưng không thể làm chùn bước những đoàn xe nối đuôi nhau ngày đêm tiến về phía trước.Nhưng nguyên nhân nào mà những chiếc xe tàn dạng ấy vẫn băng băng chạy như vũ bào? Nhà thơ đã lí giải: “Chỉ cần trong xe có một trái tim” Câu thơ dồn dập cứng cáp hẳn lên như nhịp chạy của những chiếc xe không kính Từ gợi tả “vẫn” cho thấy ý chí, quyết tâm của người lính, không hề lung lay trước sự hiên ngang ấy Từ hàng loạt
Trang 14những cái “không có” ở trên, nhà thơ khẳng định một cái có, đó là “một trái tim”
“Trái tim” là một hoán dụ nghệ thuật tu từ chỉ người chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa Trái tim của họ đau xót trước cảnh nhân dân miền Nam sống trong khói bom thuốc súng, đất nước bị chia cắt thành hai miền Trái tim ấy dào dạt tình yêu Tổ quốc như máu thịt, như mẹ cha, như vợ như chồng… Trái tim ấy luôn luôn sục sôi căm thù giặc Mỹ bạo tàn Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi thúc những người chiến
sĩ lái xe khát khao giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Để ước mơ này trở thành hiện thực,chỉ có một cách duy nhất: vững vàng tay lái, cầm chắc vô lăng Vì thế thử thách ngày càng tăng nhưng tốc độ và hướng đi không hề thay đổi Đằng sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người về chân lý thời đại của chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng Có thể coi câu thơ cuối là câu thơ hay nhất của bài thơ Nó là nhãn tự, là con mắt thơ, bật sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe thời chống Mỹ
Giọng thơ ngang tàng, có cả chất nghịch ngợm, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả (những chàng trai lái xe trên những chiếc xe không kính) Giọng điệu
ấy làm cho lời thơ gần với lời văn xuôi, lời đối thoại, lời nói thường ngày nhưng vẫn thú vị và giàu chất thơ Việc kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ, tạo cho bài thơ
có điệu thơ gần với lời nói tự nhiên, sinh động Những yếu tố về ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ đã góp phần trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn một cách chân thực và sinh động Bài thơ không chỉ nói về tiểu đội xe không kính, nó còn phản ánh cả khí thế quyết tâm giải phóng miền Nam của toàn quân và toàn dân ta, khẳng định rằng ý chí của con người mạnh hơn cả sắt thép.Qua bài thơ, tác giả đã xây dựng hình tượng người lính lái xe trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là những con người anh hùng, dũng cảm, lạc quan, yêu đời, coi thường gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ, biết hi sinh bản thân mình vì nghĩa lớn,
vì nhân dân, vì đất nước
Người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại
Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơn gian khổ, hào hùng
Đề bài: Phân tích hai khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Phân tích hai khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính – mẫu 1
Trang 15Bài thơ về tiểu đội xe không kính là bài thơ viế về những người lính lái xe trên đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ cứu nước ác liệt Nhà thơ đã khéo chọn hình ảnh những chiếc xe không có kính làm hình tượng trung tâm của bài thơ, dùng nó như một hoán dụ để chỉ những người lính làm nhiệm vụ giao thông vận tải trong chiến tranh Vậy, vì sao những chiếc xe làm nhiệm vụ này lại không có kính để chắn gió, chắn bụi Điều này được nhà thơ Phạm Tiến Duật giải thích trong hai câu đầu bài thơ:
“Không có không phải xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
Như vậy, ở đây thông qua cách giới thiệu, cách giải thích độc đáo, người đọc biết được về lí do "xe không kính": "Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi" Một lí do rất đơn giản nhưng đằng sau câu thơ chúng ta vẫn ngầm hiểu rằng tác giả muốn nói một điều khác, đó là cái không khí ác liệt của chiến trường, của chiến tranh Đó là cái ác liệt của "bom giật, bom rung" của súng đạn quân thù Câu thơ là một lời nói giản dị nhưng ẩn chứa biết bao xót xa trước hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh chống
đế quốc tàn ác Nó rất gần với văn xuôi, giọng điệu tinh nghịch, vui đùa pha chút ngang tàng biểu lộ thái độ bình thản, chấp nhận gian khó Hai câu thơ đầu, không chỉ
là lời giải thích mà còn phản ánh hiện thực chiến tranh Vi vậy, hình ảnh "chiếc xe không kính" – hậu quả của cuộc chiến tranh ác liệt ấy trở thành một hình tượng độc đáo trong thời kì chống Mỹ Xe làm nhiệm vụ trên tuyến trường Trường Sơn gập gềnh, khói lửa trong tình trạng không kính, chắc hẳn các chiến sĩ lái xe sẽ vô cùng vất vả Nhưng không:
“Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”
Tính từ "ung dung" và điệp từ “nhìn” thể hiện niềm sảng khoái bất tận, tư thế hiên ngang sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách của người chiến sĩ lái xe Nếu như ở hai câu thơ trên, còn đang là "bom giật", "bom rung" dữ dội, ác liệt, hiểm nguy; thì xuống những câu thơ này là tư thế "ung dung" của người lính Nhà thơ đã
sử dụng thủ pháp đối lập ở đây, để làm nổi bật tư thế hiên ngang, quả cảm của các chiến sĩ Họ không hề run sợ, sợ hãi trước bom đạn của quân thù, ngược lại, trong cái
xe không có kính vì bom đạn ấy, các anh vẫn ung dung, tự tại Hình ảnh các anh trở nên đẹp đẽ, phi thường như một bức tượng đài về người chiến sĩ cách mạng Hành
Trang 16động nhìn đất, nhìn trời mà còn là nhìn thẳng ấy như là hành động đối mặt trực tiếp với gian khó của cuộc chiến, không hề nao núng Chứng tỏ, các anh đã rất bản lĩnh, hiên ngang Vị trí từ "ung dung" trong câu thơ đượng đặt lên trước cả cụm chủ vị, trước cả trạng ngữ chỉ nơi chốn (buồng lái) để làm rõ tư thế đứng trên đầu thù của các chiến sĩ lái xe Các sử dụng nhịp thơ hai – hai – bốn, hình ảnh, ngôn ngữ thơ chân thật, biểu hiện thái độ và tư tưởng người lính: tin tưởng và quyết tâm vượt qua gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ Qua đoạn thơ có thể thấy cách chọn chi tiết xe không kính để lập tứ của tác giả là rất độc đáo vì nó nói lên sự ác liệt, dữ dội của chiến tranh, nói về tinh thần vượt lên trên hiện thực khốc liệt của chiến tranh và cũng thể hiện được sự bất bình thường trong cuộc chiến đấu nhằm bộc lộ vẻ đẹp trong tâm hồn của những người chiến sĩ lái xe Đến đoạn thơ thứ hai, nhà thơ tập trung làm rõ
vẽ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ:
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái”
Đoạn thơ đã diễn tả về tốc độ chiếc xe đang lao nhanh với cảm giác mạnh, đột ngột bởi xe không có kính chắn gió nhưng vô cùng lãng mạn khiến người đọc hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác như chính mình đang ngồi trên chiếc xe không kính đó Điệp từ "nhìn" nhằm nhấn mạnh, khắc sâu vẻ đẹp tỏa ra từ cách nhìn của người chiến sĩ Anh nhìn "con đường", nhìn những thử thách, gian nan với một thái độ bình tĩnh, tự tin đến lạ thường.Cách miêu tả, diễn đạt của nhà thơ Phạm Tiến Duật thật tài tình, độc đáo và rất thật: khi xe không có kính, cảm giác về gió mạnh trực diện hơn; "nhìn thấy" gió mang theo bụi đường "xoa mắt đắng" và như càng thấy con đường phía trước: "chạy thẳng vào tim" Hình ảnh "chạy thẳng vào": vượt qua thử thách của chiến trường ác liệt là còn nhờ ở cả tìm cảm của những người lính biết
rõ công việc mình làm vì ai và cho ai.Đường ra trận gian nguy nhưng tâm hồn người lính vẫn đẹp, cách nhìn vẫn tinh tế, lạc quan: một ánh sao, một cánh chim đêm hôm lạc đàn cũng làm anh xao xuyến Câu thơ thật dễ thương, lãng mạn, ngộ nghĩnh, đáng yêu Các hình ảnh "gió, sao trời, cánh chim" và cách dùng các từ ngữ "như sa, như ùa" cho thấy được sự hiểm nguy nơi chiến trường ác liệt đã biến thành sự thân mật, thú vị giữa con người với thiên nhiên, biểu hiện vẻ đẹp của tâm hồn người lái xe
Trang 17Từ hiện thực chiến tranh khốc liệt, hiểm nguy, từng giờ từng phút đối mặt với cái chết nhưng qua con mắt nhìn của Phạm Tiến Duật trở nên thật thi vị, lãng mạn Với hai khổ thơ này, người đọc vừa hình dung được hiện thực của cuộc kháng chiến chống Mỹ, vừa cảm nhận được vẻ đẹp trong tâm hồn của người lính
Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ 6 Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Phân tích khổ thơ thứ 6 Bài thơ về tiểu đội xe không kính – mẫu 1
Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu của lớp nhà thơ trẻ trong những năm chống Mĩ Thơ ông tập trung thể hiện thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn Thi phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" sáng tác năm 1969, nằm trong chùm thơ Phạm Tiến Duật được tặng giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ và được đưa vào tập thơ "Vầng trăng quầng lửa" của tác giả Bài thơ mà điển hình là khổ thơ năm và sáu đã khắc họa hiện thực khốc liệt của chiến tranh nhưng qua đó làm nổi bật lên hình tượng người lính với bao phẩm chất cao đẹp.Sau những chặng đường dây mưa bom bão đạn đầy gió bụi, mưa tuôn, người lính lái xe vẫn có giây phút bình yên:
"Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi."
Hình ảnh "Những chiếc xe từ trong bom rơi" gợi nên qua thử cái ý những chiếc xe gan góc, những chiếc xe đã qua thử thách Vượt qua những đoạn đường
"bom giật, bom rung", những chiếc xe lại được quây quần bên nhau thành "tiểu đội" - đơn vị nhỏ nhất trong quân ngũ (gồm 12 người) Tiểu đội xe không kính là mười hai chiếc xe và cứ như thế có biết bao nhiêu tiểu đội trên đường ra trận, kể sao cho hết? Suốt dọc đường vào Nam, tất cả những người lính lái xe gặp nhau dù chỉ trong giây phút nhưng đều là bè bạn "Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới" Mặt khác con đường
đi tới là đường chính nghĩa, càng đi càng gặp nhiều bạn bè.Bên cạnh đó, giây phút gặp nhau ấy thật thú vị qua cái "Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi" - một cử chỉ thật thân thiện, cảm động Có biết bao nhiêu điều muốn nói trong cái bắt tay ấy Đó là
Trang 18niềm vui trong họ vừa thoát khỏi chặng đường hiểm nguy gian khó Họ động viên nhau dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn quyết tâm cầm chắc vô lăng để đưa xe về đến đích Chỉ một cái bắt tay qua cửa kính vỡ rồi cũng đủ để họ san sẻ cho nhau, cảm hiểu lẫn nhau giữa những người đồng chí, đồng đội chung một chiến hào, chưng một nhiệm vụ thiêng liêng cao cả mà Tổ quốc và nhân dân giao phó Cái bắt tay qua ô cửa kính là sự bù đắp tinh thần cho sự thiếu thốn về vật chất.Người lính trên đường ra trận còn có chung những điểm tựa và tình cảm, tâm hồn, sinh hoạt Chúng ta hãy nghe Phạm Tiến Duật kể về những cái chung ấy:Bếp Hoàng Cầm - hình ảnh quen thuộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ là tín hiệu của sự sum vầy, hội ngộ sau chặng đường hành quân vất vả Ngọn lửa ấm áp như nối kết tấm lòng người chiến sĩ với nhau Tất cả là một gia đình ấm cúng, chan chứa yêu thương Phạm Tiến Duật đã đưa ra một khái niệm gia đình thật lạ, thật giản đơn: "chung bát đũa" là tiêu chuẩn Câu thơ toát lên tình đời, tình người gắn bó keo sơn Họ có chung bát đũa, chung mâm cơm, chung bếp lửa, chung ánh sao trời, chung gió bụi, mưa tuôn, chung một con đường hành quân, một chiến hào, một nhiệm vụ Những tình cảm ấy chỉ có những người lính cách mạng mới được thưởng thức và nếm trải Nó thật bình thường nhưng cũng thật cao đẹp thiêng liêng Câu thơ đẹp về tình cảm, cách nhìn, cách nghĩ của người chiến sĩ Trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tình đồng chí
đã trở thành sức mạnh vô giá, giúp người lính trụ vững nơi chiến trường bom đạn, giành chiến thắng trước quân thù
"Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi, trời xanh thêm."
Sau một bữa cơm sum họp thân mật, một vài câu chuyện thân tình, những người lính trẻ lại tiếp tục lên đường: "Lại đi , lại đi trời xanh thêm" Hình ảnh "Trời xanh" là một nét vẽ rất tài hoa mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc Nó không chỉ biểu tượng cho sự sống mà còn biểu tượng cho tự do, hòa bình, chứa chan hi vọng chiến công lớn đang chờ Người chiến sĩ lái xe chính là tự do của nhân loại Họ chiến đấu
để giành lại trời xanh Chính vì thế dù gian khó hiểm nguy đến đâu, họ cũng vẫn quyết tâm lái xe bon bon về phía trước Đây không phải là một mệnh lệnh khô khan,
là nhiệm vụ đơn thuần mà là tinh thần, là ý chí, là tình cảm của người lính luôn
Trang 19hướng trái tim về miền Nam ruột thịt.Với một chất liệu hiện thực độc đáo, giọng thơ ngang tàng, khẩu khí trẻ trung, nhịp điệu biến hóa linh hoạt: khi thì như lời hội thoại, khi thì như khúc văn xuôi phù hợp với nhịp hành quân của đoàn xe trên đường ra tuyến lửa Qua đây, có thể khẳng định rằng, "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật là một trong những thi phẩm tiêu biểu viết về thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng không thể nào quên của dân tộc Các anh đã dệt nên những bản tình ca bất hủ cho đất nước
Trang 20Tác giả tác phẩm: Bếp lửa - Ngữ văn 9
I Tác giả văn bản Bếp lửa
Bài giảng Ngữ văn lớp 9 Bếp lửa
II Nội dung văn bản Bếp lửa
Trang 21Một bếp lửa chờn vờn sương sớmMột bếp lửa ấp iu nồng đượmCháu thương bà biết mấy nắng mưa.Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khóiNăm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháuNghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xaKhi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụiHàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Trang 22Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưaMấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớmNhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?
III Tìm hiểu chung về tác phẩm Bếp lửa
1 Bố cục tác phẩm Bếp lửa
Gồm 4 phần:
- Phần 1 (khổ thơ đầu): Hình ảnh bếp lửa gợi nỗi nhớ về bà của người cháu
- Phần 2 (bốn khổ thơ tiếp) Những kí ức tuổi thơ khi còn sống cùng bà, gắn liền bếp lửa
- Phần 3 (khổ thơ thứ 6) Suy ngẫm của người cháu về cuộc đời bà
- Phần 4 (khổ cuối): Tình cảm của cháu dành cho bà, dù đã khôn lớn
Trang 232 Nội dung chính tác phẩm Bếp lửa
Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước
3 Phương thức biểu đạt tác phẩm Bếp lửa
Phương thức biểu đạt tác phẩm Bếp lửa là Tự sự, biểu cảm
4 Thể thơ
Tác phẩm Bếp lửa thuộc thể thơkết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ, 8 chữ
5 Giá trị nội dung tác phẩm Bếp lửa
- Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ Bếp lửa gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước
6 Giá trị nghệ thuật tác phẩm Bếp lửa
- Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận
- Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người
bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu
IV Dàn ý tác phẩm Bếp lửa
a Đọc hiểu tác phẩm Bếp lửa
1 Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà (khổ thơ đầu)
- Điệp ngữ: “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần → khẳng định hình ảnh “bếp lửa” như
một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ
- Từ láy “chờn vờn” → Bếp lửa thực được cảm nhận bằng thị giác lúc vươn cao lúc lại
xuống thấp
- Từ "ấp iu": ấp lửa, chắt chiu, nâng niu
→ Gợi bàn tay khéo léo và sự nâng niu, kiên nhẫn của người nhóm lửa Trong kí ức của cháu, hình ảnh bếp lửa vừa gần gũi thân thuộc vừa sống động, lung linh
- “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”:
Trang 24+ Cách bộc lộc cảm xúc trực tiếp → tình thương bà mãnh liệt của người cháu
+ Hình ảnh ấn dụ: “biết mấy nắng mưa” → những vất vả, hi sinh mà bà đã trải qua.
→ Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà
2 Những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà (4 khổ tiếp)
a Tuổi thơ nhiều gian khổ, nhọc nhằn
- Hình ảnh “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” → tái hiện lại hình ảnh xóm làng xơ xác,
tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh
- Thành ngữ: “đói mòn đói mỏi” → gợi những nỗi ám ảnh, xót xa về nạn đói khủng
khiếp năm 1945
- “quen mùi khói”, “khói hun nhèm mắt cháu” → Khói bếp trở thành ấn tượng sâu đậm
nhất trong tâm hồn cháu
– Chi tiết “sống mũi còn cay”:
+ Tả thực cuộc sống tuổi thơ gian khổ
+ Tượng trưng cho sự xúc động mãnh liệt khi nhớ về quá khứ
→ Cái cay vì khói bếp của cậu bé bốn tuổi và cái cay bởi xúc động của người cháu đã
trưởng thành khi nhớ về bà Những kỉ niệm xa xưa ấy giờ đây như vẫn còn tươi mới, vẹn nguyên trong lòng cháu Quá khứ và hiện tại đồng hiện trên những dòng thơ
b Tuổi thơ gắn với những gian khổ chung của thời kì kháng chiến chống Pháp
- Nhớ âm thanh của tiếng tu hú:
+ Âm thanh quen thuộc của chốn đồng quê mỗi độ hè về cứ vang vọng, cuộn xoáy trong lòng người con xa xứ
+ 4 lần tiếng tu hú vang lên: khi thảng thốt, khắc khoải, có lúc lại mơ hồ vẳng lại từ
những cánh đồng xa: Tu hú kêu trên những cánh đồng xa; khi thì rộn về gần gũi thiết tha: Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế; rồi có lúc lại gióng giả, kêu hoài → gợi nhớ, gợi
thương về tuổi thơ, về người bà
+ Điệp ngữ và câu hỏi tu từ: Tu hú ơi… đồng xa → gợi không gian bao la, buồn vắng
đến lạnh lùng; gợi cung bậc khác nhau của âm thanh → diễn tả tâm trạng của người cháu mỗi lúc càng trở nên mạnh mẽ, da diết và khắc khoải
- Nhớ tuổi thơ được sống trong sự cưu mang, đùm bọc trọn vẹn của bà:
+ Bố đi công tác xa cháu ở với bà → hoàn cảnh điển hình của nhiều gia đình Việt Nam trong kháng chiến
+ Các từ bà dạy, bà chăm, bà bảo → diễn tả sự chăm chút của bà đối với cháu
+ Từ bà và cháu được điệp lại 4 lần → tình bà cháu quấn quýt yêu thương.
→ Bà vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần, là cội nguồn yêu thương của cháu Bà không chỉ chăm lo cho cháu từng chút một mà còn
là người thầy đầu tiên dạy cho cháu bao điều về cuộc sống, những bài học của bà trở thành hành trang cháu mang theo trong suốt quãng đời còn lại
c Một kỉ niệm cháu vẫn nhớ ngọn ngành
Trang 25+ Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” → hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của
chiến tranh
+ Sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu
+ Cụm từ “vẫn vững lòng” và những lời dặn dò của bà: Cứ bảo rằng nhà vẫn được bình yên → đức hi sinh, sự nhẫn nại, mạnh mẽ, kiên cường của bà
→ Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu
mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc
3 Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa (khổ 5, 6)
- Hình ảnh ngọn lửa → ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng cho ánh sáng và hơi ấm, sự sống
- Điệp từ “một ngọn lửa” nhấn mạnh và làm nổi bật tình yêu thương ấm áp bà dành cho cháu → Bà là người nhóm lửa, truyền lửa, giữ lửa: sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp
- Cụm từ chỉ thời gian dài, đằng đẵng: đời bà, mấy chục năm rồi
- Từ láy: lận đận + đảo ngữ
- Hình ảnh ẩn dụ “biết mấy nắng mưa”
→ cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo, đức hi sinh, chịu thương, chịu khó của bà → Hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh
những kí ức đẹp, có giá trị trong cuộc đời con người
- Điệp từ “nhóm” → nhấn mạnh và khẳng định giá trị lớn lao của những việc bà đã
làm: nhóm bếp lửa → khơi dậy tình yêu thương, sự sống, niềm tin và nghị lực
→ Bà không chỉ nhóm bếp lửa – công việc khởi đầu của một ngày mà còn làm công việc khởi đầu cho một đời, một tâm hồn – nhóm lên những yêu thương, suy nghĩ đầu tiên về cuộc đời, về con người trong tâm hồn đứa cháu Người bà cũng là người nhóm lửa, giữ lửa, và truyền lửa cho các thế hệ - ngọn lửa của sự sống, niềm yêu thương, tin tưởng
+ Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!
+ Câu cảm thán và cấu trúc đảo → ngạc nhiên, ngỡ ngàng như khám phá ra một chân
lí, một điều kì lạ giữa cuộc đời bình dị
+ Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà – với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương
→ nhớ về bếp lửa, nhớ về bà, nhớ về cội nguồn → Cháu hiểu được linh hồn của một dân tộc vất vả, gian lao mà tình nghĩa
4 Tình cảm của cháu dành cho bà, dù đã khôn lớn (khổ cuối)
- Khổ thơ cuối là lời tự bạch của người cháu khi đã trưởng thành
Trang 26- “Giờ cháu đã đi xa” + dấu chấm giữa dòng thơ → khoảng cách về không gian thời
gian
- Điệp ngữ “có” + biện pháp hoán dụ “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”
→ cuộc sống đủ đầy, hiện đại
- Câu hỏi tu từ thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi với niềm hi vọng thiết tha, đau đáu về bà – bếp lửa – quê hương – đất nước
→ Khẳng định nỗi nhớ bà – nhớ về nguồn cội Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa,
là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời Đó là đạo lí thủy chung cao đẹp của con người Việt Nam được nuỗi dưỡng trong mỗi tân hồn từ thuở ấu thơ và trở nên bất diệt
b Dàn ý tác phẩm Bếp lửa
1 Mở bài:Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:
- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ Thơ ông trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mơ tuổi trẻ
- Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963 khi tác giả là du học sinh Liên Xô
- Chủ đề bài thơ gợi lại những kỉ niệm về người bà và tình bà cháu sâu sắc, thấm thía
2 Thân bài:
* Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu
- Dòng hồi tưởng về bà bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa
+ Bếp lửa “chờn vờn sương sớm” – bếp lửa thực
+ Bếp lửa “ấp iu nồng đượm” diễn tả sự dịu dàng, ấm áo, kiên nhẫn của người nhóm lửa
+ Biện pháp điệp từ (điệp từ “bếp lửa”) gợi lên hình ảnh sống động lung linh nhưng hết sức thân thuộc gần gũi với người cháu
- Hình ảnh bếp lửa làm trỗi dậy dòng kí ức về bà và tuổi thơ
- Kỉ niệm về tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn
Trang 27“Đói mòn đói mỏi” người cháu thấy ám ảnh bởi nạn đói và quá khứ đau thương của dân tộc
+ Ấn tượng về khói bếp hun nhèm mắt cháu để khi nghĩ lại “sống mũi còn cay”
+ Dòng hồi tưởng, kỉ niệm gắn với âm thanh tiếng tu hú của chốn đồng nội: tiếng tu hú được nhắc tới 5 lần trong bài khi thảng thốt, lúc khắc khoải, mơ hồ tất cả để gợi lên không gian mênh mông, bao la, buồn vắng đến lạnh lùng
+ Tâm trạng của cháu vì thế cũng tha thiết, mãnh liệt hơn bởi sự đùm bọc, che chở của
bà
- Tuổi thơ khó khăn gian khổ nhưng cháu được mà yêu thương,che chở
”bà dạy”, bà chăm” thể hiện sâu đậm tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương vô bờ và sự chăm chút của bà đối với cháu
+ Ngay cả trong gian khó, hiểm nguy của chiến tranh bà vẫn vững vàng – phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng ( Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh)
+ Qua dòng hồi tưởng về bà, những dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan xen nhuần nhuyễn giữa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nỗi nhớ của người cháu thể hiện tình yêu thương vô hạn đối với bà
* Những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà cũng như hình tượng bếp lửa
- Suy ngẫm về cuộc đời bà
- Từ những kỉ niệm, hình ảnh bếp lửa luôn gắn với hình ảnh người bà
+ Hình ảnh bếp lửa kết tinh trong hình ảnh ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương, sự
hy sinh luôn ủ sẵn trong lòng bà để làm sáng lên hy vọng, ý chí
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Trang 28+ Điệp ngữ “một ngọn lửa” nhấn mạnh tình yêu thương ấm áp bà dành cho cháu, người
bà nhen nhóm những điều thiện lương tốt đẹp đối với cháu
Hình ảnh người bà trong lòng cháu là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa, truyền niềm tin, sức sống tới thế hệ tương lai
- Sự tần tảo, hi sinh của bà thể hiện: “ Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”: sự chiêm nghiệm của cháu về cuộc đời bà
+ Cuộc đời bà đầy những gian truân, vất vả, lận đận trải qua nắng mưa tưởng như không bao giờ dứt
+ Điệp từ “nhóm” lặp lại bốn lần: người bà đã nhóm lên, khơi dậy những yêu thương,
ký ức và giá trị sống tốt đẹp trong lòng người cháu
- Hình ảnh bếp lửa kết tinh thành hình ảnh ngọn lửa chất chứa niềm tin, hy vọng của bà
+ Người cháu như phát hiện ra điều kỳ diệu giữa cuộc sống đời thường “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa” : người cháu thấm nhuần được tình yêu thương và đức hi sinh của bà
* Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà
- Lời tự bạch của đứa cháu khi trưởng thành, xa quê hương: người cháu vẫn cảm thấy
ấm áp bởi tình yêu thương vô bờ của bà
- Kết thúc bài thơ tác giả tự vấn “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” : niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu
Trang 29- Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín: những điều thân thiết của tuổi thơ của mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình cuộc đời, tình yêu
thương và lòng biết ơn chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, quê hương
V Sơ đồ tư duy tác phẩm Bếp lửa
Trang 30VI Một số đề văn bài Bếp lửa
Đề bài: Phân tích bài thơ Bếp lửa
Phân tích bài thơ Bếp lửa – mẫu 1
Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 1960 và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng
thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Thơ Bằng Việt, cảm xúc tinh tế, có giọng
điệu tâm tĩnh trầm lắng, giàu suy tư, triết luận Bài thơ “Bếp lửa” là bài thơ xuất sắc
của ông, được sáng tác năm 1963, khi là sinh viên khoa pháp lí trường Đại học tổng
hợp Ki-ép Qua hồi tưởng, suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp
Trang 31lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương đất nước
Có người nói người ta có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người Thật vậy Dù đi đâu, ở đâu, ai cũng nhớ về quê hương, nhớ về những kỉ niệm đã từng làm ấm lòng người, là điểm tựa tinh thần để vươn lên nghịch cảnh.Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng của người cháu về người bà và bếp lửa quê hương Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với bao vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà; cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà.Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn liền trong quá khứ như dòng sông, bến đò, cây đa… Đối với Bằng Việt, sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm
áp về bếp lửa:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”
Ba tiếng “một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, hình ảnh quen thuộc trong mọi gia đình Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh của “chờn vờn sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”
Từ “ấp iu” vừa diễn tả công việc nhóm bếp, vừa gợi ra bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng của người nhóm bếp Các chữ “ấp iu”, “nồng đượm”, “chờn vờn” rất hình tượng, gợi tả; Ấp iu: là một sáng tạo từ mới mẻ Đó là sự kết hợp và biến thế của hai
từ “ấp ủ” và “nâng niu” Bếp lửa ấm áp “nồng đượm” ấy còn mang tình thương chở che, ôm ấp, “ấp iu” của lòng bà.Hình ảnh bếp lửa, rất tự nhiên đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà, người nhóm lửa, người nhóm bếp mỗi sớm mai – một hình ảnh xuyên suốt bài thơ, lúc nào cũng chập chờn lay động:
“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trải qua “biết mấy nắng mưa”, nghèo khổ và vất vả Nghĩ về bếp lửa, nhớ về bếp lửa mà trong lòng đứa cháu đi xa trào dâng một cảm xúc thương bà mãnh liệt Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ
Trang 32cảm thán, làm cho cảm xúc lan toả, thấm sâu vào hồn người.Kí ức đưa nhân vật trở về những năm “đói mòn đói mỏi” của nạn đói năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” – cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức, con ngựa gầy rạc cùng với người bố đánh xe chắc cũng gầy khô… Giọng thơ trĩu xuống, nao nao lòng người đọc Tuy nhiên cái đói chỉ là cái cớ để nhà thơ nhớ về một tuổi thơ cay cực, thiếu thốn trăm bề:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”
Ấn tượng nhất là mùi khói bếp Lên bốn tuổi, mùi khói trở thành mùi của cuộc sống cơ cực, mùi của quê hương đói nghèo Mùi khói bếp làm hiện hình kí ức đau thương: “Khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” Hai câu thơ
có giá trị biểu cảm cao Hinh ảnh tả thực: khói nhiều cay, khét vì củi ướt vì sương nhiều và lạnh và vừa là hình ảnh tượng trưng: sự xúc động- nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi nhớ thương bà Cảm xúc quá khứ hoà lẫn hiện tại
và chắc hẳn cảm xúc quá khứ phải sâu sắc lắm mới có thể trỗi dậy mạnh mẽ thế Cho
dù năm tháng trôi qua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai Qua đó, nhà thơ khẳng định, tuổi thơ dẫu thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ thiếu thốn nghĩa tình.Từ mùi khói bếp, nhân vật trữ tình lại nhớ về tiếng chim tu
hú trong suốt tám năm ròng của tuổi thơ – những kỉ niệm đầy ắp âm thanh, ánh sáng
và những tình cảm sâu sắc xung quanh cái bếp lửa quê hương được nhắc tới trong đoạn thơ thứ ba
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa”
Tiếng chim tu hú là tiếng chim quen thuộc của đồng quê mỗi độ vào hè Tiếng chim râm ran trong vườn lá, trên cánh đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài Trong hiện thực đã tha thiết, tiếng chim trong nỗi nhớ như giục giã, khắc khoải một điều gì
da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong: “tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!” Nhà thơ đang kể chuyện về bà mà như tách hẳn ra để trò chuyện trực tiếp với bà: “bà còn nhớ không bà…?”Âm điệu tha thiết của câu thơ còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ, côi cút, vời vợi nhớ thương của hai bà cháu:
Trang 33“Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên, nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu, vậy mà bây giờ cháu cũng đi xa, để bà một mình khó nhọc.Tiếng chim tu hú giờ đây trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ để gợi nhớ gợi thương Cháu thương bà vất vả, lo toan, biết ngỏ cùng ai, chỉ có thể tâm tình với chim tu hú mà thôi Như vậy, bếp lửa đánh thức kỉ niệm tuổi thơ, ở đó lung linh hình ảnh người bà và có
cả hình ảnh quê hương.Đặc biệt, hình ảnh người bà bỗng nhiên trở nên cao lớn, vĩ đại khi Bằng Việt nhớ về những năm tháng đau thương, vất vả, giặc tàn phá xóm làng – hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp
“Mẹ và cha công tác bận không về”, cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà, sớm
có ý thức tự lập, sớm phải lo toan Bên bếp lửa: “bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”,
“bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Bà là hiện thân cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà – bà nội, bà ngoại – đã thay thế vai trò của người mẹ hiền Sống trong những năm dài chiến tranh, thế nhưng bà vẫn vững lòng trước mọi tai hoạ, thử thách Các từ ngữ như “bà bảo”,
“bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la,
sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ Chữ”bà” và chữ “cháu” được điệp lại 4 lần gợi
tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương Được sống trong tình thương là hạnh phúc.Người cháu trong bài thơ “bếp lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà Vì thế cháu mới cảm thấy một cách thiết tha nồng hậu: “nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.Tóm lại, làm nên thành công của đoạn thơ nhớ về bà, qua dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan cài nhuần nhuyễn với nhau giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự Đây cũng là nét bút pháp quen thuộc của nhà thơ Chính sự kết hợp nhuần nhị độc đáo đó khiến cho hình ảnh của bà thật gần gũi, những mảng kí ức tuổi thơ lại hiện về sống động và chân thành, giản dị.Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu trở về hiện tại để suy ngẫm về cuộc đời và lẽ sống
Trang 34của bà và cũng là để thương bà nhiều hơn, nhớ bà nhiều hơn Hình ảnh bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa Có thể nói bà là “người nhóm lửa”, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và toả sáng trong mỗi gia đình.Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”:
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
“Bếp lửa bà nhen sớm sớm chiều chiều” không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài mà đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình yêu thương “luôn
ủ sẵn” trong lòng bà, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt Ngọn lửa là những kỉ niệm lòng, niêm tìn thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian: “rồi sớm rồi chiều”, các động từ “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng
là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến.Điệp ngữ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào Tình thương, đức hi sinh, tính kiên trì nhẫn nại của bà là nguồn nhiên liệu vô tận làm bừng sáng lên ngọn lửa vĩnh cửu truyền cảm ấy Như thế, hình ảnh bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.Tám câu thơ tiếp theo là những suy nghĩ sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người bà kính yêu, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta Cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình Cảnh nghèo nên bà suốt đời vất vả Từ “lận đận” thể hiện tấm lòng đôn hậu và đức hi sinh của bà:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…”
Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cuộc đời bà, đã trải qua nắng mưa “mấy chục năm rồi” Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua, gầy guộc, mà là bằng
Trang 35tất cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” của bà đối với con cháu Điệp từ “nhóm” được nhắc đi nhắc lại 4 lần trong 4 câu thơ đan kết với những chi tiết rất thực… có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp, nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho
bà cháu qua cái lạnh buốt của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình yêu thương vô hạn của bà.Lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới mùa gặt là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy cả tâm tình tuổi nhỏ Tình cảm của bà bao la giản dị như khoai sắn và cũng đậm đà như khoai sắn.Các
từ ngữ “ấp iu nồng đượm”, “yêu thương”, “ngọt bùi”, “chung vui” thể hiện sự tinh luyện của một ngòi bút nghệ thuật, đã diễn tả thật hay tình thương, niềm vui, sự no ấm, hạnh phúc mà bà đã mang lại cho con cháu Bà đã “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”, nuôi dưỡng và làm bừng sáng những ước mơ, những khát vọng của đàn cháu nhỏ.Bếp lửa bà nhen đã nhóm lên ngọn lửa của tình thương ấm áp Chính vì thế mà nhà thơ đã cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng: “Ôi! Kì lạ và thiêng liêng – Bếp lửa” Như vậy, từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra cả một “niềm tin dai dẳng” về ngày mai, cháu hiểu được linh hồn của một dân tộc vất vả, gian lao mà tình nghĩa.Đứa cháu năm xưa giờ đã trưởng thành Từ phương
xa vọng ngóng về quê hương trong nỗi nhớ và niềm tin mạnh mẽ:
“Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
– Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…”
Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với những điều mới mẻ Cháu đã được sống với những niềm vui rộng mở, nhưng giữa “ngọn khói trăm tàu, ngọn lửa trăm nhà, cháu vẫn không thể quên bếp lửa của bà, vẫn không nguôi nhớ thương bà… Mỗi ngày đều tự hỏi: “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?, mỗi ngày đều nhớ về bà
và bếp lửa của bà Hình ảnh ấy đã trở thành kỉ niệm thiêng liêng làm ấm lòng, nâng đỡ cháu trên những bước đường đời.Bài thơ Bếp lửa chứa đựng một ý nghĩa triết lí thầm kín: những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài rộng của cuộc đời Tình yêu thương và lòng biết ơn bà
Trang 36chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, quê hương,
và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng kết hợp miêu tả, biểu cảm,
tự sự và bình luận; giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm Bài thơ như ngọn lửa ấm áp toả sáng và cháy mãi trong tình cảm của người đọc
Đề bài: Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa
Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa – mẫu 1
Bằng Việt là nhà thơ cùng lứa với các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống
Mĩ cứu nước Thơ Bằng Việt hàm chứa những tình cảm rộng lớn, yêu thương Tiêu biểu cho hồn thơ ông là bài thơ “Bếp lửa” được viết năm 1963 khi tác giả đang là một sinh viên ở nước ngoài Trong hoàn cảnh sống xa quê hương, xa người thân, những tình cảm về tuổi thơ có điều kiện được đơm mầm, nảy nở, được tác giả chiêm nghiệm dài lâu
Hình ảnh người bà kính trong dòng cảm xúc miên man của người cháu được thể hiện qua những dòng thơ nhớ thương da diết, không nguôi Như một quy luật nghiệt ngã của văn chương, của sáng tạo nghệ thuật, ai cũng muốn viết về tuổi thơ của mình nhưng vì thơ viết về kỷ niệm bao giờ cũng được bao bọc không khí nhớ thương, tiếc nuối những chuyện đã qua nên thường lan man, khó tìm thấy những chi tiết đặc sắc để lay động tâm hồn bạn đọc Bằng Việt cũng viết về kỷ niệm ấu thơ thuở hoa còn là nụ nhưng nhà thơ đã chọn cho mình một chi tiết độc đáo, tuy bình dị nhưng không phải
ai cũng nhận ra: “Bếp lửa” Nhớ về tuổi thơ, nghĩ về bếp lửa, tác giả lại nhớ, lại nghĩ đến hình ảnh người bà thương yêu – một hình ảnh xuyên suốt bài thơ, lúc nào cũng chập chờn lay động:
“Một bếp lửa chơi vơi sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Trang 37Lúc nào cũng vậy, bỏ qua không gian, bỏ qua thời gian, còn lại trong nhân vật người cháu không gì khác ngoài hình ảnh người bà Đầu tiên, ký ức đưa nhân vật trở
về những năm đói mòn đói mỏi Cái đói quay đói quắt đã ám ảnh trong văn chương một thời của ta, đói đến nỗi phải ăn đất sét (trong văn của Ngô Tất Tố), những trăn trở
về miếng ăn luôn dằn vặt trang viết của Nam Cao… Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rợ… ”Tuy nhiên, cái đói ở đây chỉ là cái cớ để tác giả nhớ về một tuổi thơ cay cực, thiếu thốn trăm bề:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc người gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Là vì khói, vì khó nhọc hay vì những tình cảm của một thời chia xa? Qua đó, nhà thơ khẳng định tuổi thơ mình dẫu thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ thiếu thốn nghĩa tình.Từ mùi khói bếp, nhân vật trữ tình lại nhớ về tiếng chim tu hú trong suốt tám năm ròng trong tuổi thơ Đoạn thơ không khỏi khiến ta chạnh nhớ về “Tiếng chim tu hú” của nữ sĩ Anh Thơ: Cũng cha già, những kỷ niệm về một thời thiếu nữ hoa niên, tiếng chim tu hú len lỏi khắp bài thơ như một tiếng chim u uẩn, không buồn mà tiếc Còn ở đây, tiếng chim tu hú bước vào thơ như một chi tiết để thêm yêu bà mà thôi:
“Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ỏ cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Còn gì hơn với những chi tiết tự sự xúc động như thế? Câu thơ giản dị lời ăn tiếng nói hàng ngày, không trau chuốt nhưng mới thực sự là thơ bởi đó là tiếng nói của
Trang 38tình cảm, của yêu thương Bà luôn bên cháu dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên, nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu Vậy mà bây giờ cháu cũng đi xa, để bà một mình khó nhọc:
“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Câu thơ mới thấm thía làm sao, xót xa làm sao! Đặc biệt, hình ảnh người bà bỗng nhiên trở nên cao lớn, vĩ đại khi Bằng Việt nhớ về những năm đau thương, vất
vả Mặc kệ “Giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”, mặc cho chiến tranh tàn phá, kho đau chất chồng, bà lúc nào cũng “đinh ninh” dặn cháu: “Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Bà là hiện thánh cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn Dẫu có thế nào đi chăng nữa thì không gì có thể lay chuyển được niềm tin dai dẳng” của bà vào tương lai được:
“Rồi sớm rồi chiều lại bén lửa bà nhen Một ngọn lừa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
Không còn là bếp nữa rồi, bây giờ ngọn lửa luôn cháy trong lòng bà Có người nói, cứ quay ngược trái tim, là tấm lòng, tâm hồn cửa bà như bao người Việt Nam đó Một niềm tin bất diệt lạ lùng Chính đức tin của bà ủ sẵn đã được truyền sang cho cháu một cách tự nhiên như truyền lửa cho thế hệ mai sau.Làm nên thành công của đoạn thơ nhớ về bà, qua dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan cài nhuần nhuyễn với nhau qua giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự Đây là nét bút pháp quen thuộc của nhà thơ Chính sự kết hợp nhuần nhị, độc đáo đó khiến cho hình ảnh của bà thật gần gũi, những mảng ký ức tuổi thơ lại hiện về sống động và chân thật, giản dị.Qua dòng hồi tưởng tinh tế đó nhà thơ trở về với hiện tại cũng là để nhớ về bà nhiều hơn, thương bà nhiều hơn:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
Trang 39Nhà thơ khẳng định chắc chắn bếp lửa là hoá thân cụ thể của bà và bà cũng chính là bếp lửa sưởi ấm tâm hồn nhà thơ mà bà luôn nhóm:
“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm thương yêu khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”
Tình cảm của bà thật bao la, giản dị như khoai sắn và cũng ngọt bùi như khoai sắn Cuối cùng, nhà thơ khẳng định: “Ôi! kỳ lạ và thiêng liêng bếp lửa”, một câu thơ
có sức khái quát cao Qua thời gian, qua bom đạn, bếp lửa vẫn bập bùng cháy Nhưng hơn hết, nó còn là biểu tượng cho những tình cảm thiêng liêng, những ân tình thuỷ chung trong cuộc đời mỗi người.Hình ảnh của người bà, tình yêu của bà, niềm tin của
bà qua hồi tưởng và suy ngẫm của đứa cháu đã lớn, suy rộng ra là hình ảnh, tình yêu của quê hương, đất nước đối với ta Tình cảm trân trọng, yêu quý đối với bà là biểu hiện cụ thể tình yêu lớn của mỗi người đối với nơi mình sinh ra và lớn lên Ai cũng có một tuổi thơ như thế Vì vậy mà bài thơ đã đưa ta về với những ngày xưa tưởng đã ngủ yên trong quên lãng
Đề bài: Cảm nhận về tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa
Cảm nhận về tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa – mẫu 1
Tình cảm gia đình là một mảng đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Viết về đề tài này, đã có những tác phẩm ngợi ca tình mẫu tử, tình phụ tử thiêng liêng Và nhà thơ Bằng Việt đã góp phần làm phong phú thêm chủ đề bằng tình cảm bà cháu sâu đậm trong bài thơ "Bếp lửa".Bài thơ ra đời năm 1963, khi ấy nhà thơ đang học tập và sinh sống ở nước bạn Liên Xô Trong nước, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc đang dần đến hồi cam go Nhớ về
Tổ quốc trong những ngày tháng ấy, Bằng Việt gửi trọn niềm thương nỗi nhớ cho người bà tần tảo, vất vả mà giàu tình yêu thương của mình
Bài thơ có tên là "Bếp lửa" nhưng một điều dễ nhận thấy là hình ảnh đầy sức gợi ấy được gợi cảm hứng từ người bà Hay nói cách khác, bếp lửa trong kí ức nhà thơ được nhóm lên từ đôi tay của bà: sáng sáng chiều chiều bà nhen bếp lửa thổi gạo, nấu cơm một tay tảo tần nuôi cháu, Bởi thế, hình ảnh bếp lửa bập bùng trong bài thơ để
Trang 40hình ảnh thiêng liêng ấy gắn bó mật thiết với hình ảnh của bà Nhắc về bà là nhớ về bếp lửa và nhớ về bếp lửa là nhớ về bà "Bếp lửa" là bài ca về tình bà cháu ấm áp, cảm động Bài thơ mở đầu bằng những hình ảnh thơ đầy ám ảnh:
"Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa"
Ngọn lửa "chờn vờn sương sớm" là ngọn lửa thực trong lòng bếp lửa được nhen lên trong mỗi sớm mai Còn ngọn lửa "ấp iu nồng đượm" là ngọn lửa của yêu thương
mà bà dành cho cháu Bởi vậy nên nhắc đến bếp lửa là nhắc đến bà với bao tình thương
và nỗi nhớ: "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa" Những nắng mưa ấy là gì? Là cuộc đời đầy vất vả nhọc nhằn không chỉ nuôi con mà còn thay con nuôi cháu:
"Đó là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy"
Nhà thơ nhắc lại những năm tháng khủng khiếp của nạn đói 1945 Ngày tháng
ấy đến người cha đương sức trẻ phải "khô rạc ngựa gầy" mà không đủ ăn Vậy mà bà
đã già cả, ốm yếu lại một tay nuôi dạy cháu Cái đói, cái chết rình mò nhưng bà vẫn dành tất cả yêu thương mang đến cho cháu những bữa ăn nhọc nhằn:
"Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói"
"Khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay"
Cùng với hình ảnh bếp lửa, còn có một âm thanh tha thiết gắn với người bà: tiếng tu hú:
"Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế"
"Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trẽn những cánh đồng xa"