1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 2 nghiên cứu thị trường và hành vi người tiêu dùng giáo trình marketing IUH

52 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 2 THỊ TRƯỜNG VÀ HÀNH VI TIÊU DÙNG MỤC TIÊU Sau khi học xong chương này, sinh viên cần phải hiểu được các nội dung sau đây Thị trường, hành vi tiêu dùng trong thị trường hàng tiêu dùng (HTD), hà[.]

Trang 1

CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG VÀ HÀNH VI TIÊU DÙNGMỤC TIÊU

Sau khi học xong chương này, sinh viên cần phải hiểu được các nội dung sau đây: Thị trường, hành vi tiêu dùng trong thị trường hàng tiêu dùng (HTD), hành vi tiêu dùng trong thị trường sản phẩm công nghiệp, chọn thị trường mục tiêu và định vị sản phẩm

tự nó sẽ được bán Một cách lý tưởng, marketing sẽ dẫn den kết quả là có khách hàng đã sẵn sàng mua Khi đó toàn bộ công việc phải làm là đảm bảo cho sản phàm hoặc dịch vụ luôn sẵn có

Như vậy, đế có thể bán được hàng đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp, việc đầu tiên người làm marketing phải xác định rõ nhu cầu cùa thị trường, lựa chọn khách hàng mục tiêu, rồi mới đến phát triển nhũng

Trang 2

sản phâm thích hợp, định giá phù hợp, triển khai các hoạt động phân phối

và thực hiện hoạt động chiêu thị một cách có hiệu quả

2, ỉ L 1 Định nghĩa

Thường khi nhắc đến thị trường, chúng ta sẽ nghĩ ngay rằng đó

là nơi giao lưu mua bán giữa các cá nhân, tổ chức Thị trường có thể là các chợ siêu thị hoặc các cửa hàng, đại lý, các cồng ty, sàn giao dịch Tuy nhiên khi làm marketing cho một sản phẩm/dịch vụ thị trường bao gồm tất cả những khách hàng hiện có và tiềm năng cùng chung một nhu cầu hay ước muốn nào đó và mong muốn cũng như có khả năng tham gia vào việc giao dịch đế thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn đó Vì vậy chúng

ta sẽ thấy khái niệm về thị trường của Philip Kotler có tính bao quát cao

và phù hợp hơn với thời đại công nghệ hóa của chúng ta “thị trường là tập hợp các cá nhân và tố chức hiện đang có nhu cầu mua và có nhu cầu đòi hỏi cần được thỏa mãn” (Philip Kotler, 2005)

Thị trường theo Kotler thể hiện quan điểm dưới góc nhìn

marketing thường ít chú trọng đến địa điểm hay thời gian diễn ra các hoạt động trao đồi, mua bán vì với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ như hiện nay hầu như các hoạt động của thị trường diễn ra 24/24 Trong khi đó người bán cũng không cần đến một địa điếm cụ thế

để mua thứ mình cần mà có thể thực hiện hoạt động này thông qua các thiết bị công nghệ Chẳng hạn như thay vì bạn phải ra cửa hàng để mua thức ăn khi bạn đói bụng hoặc có nhu cầu ăn uống thì bạn có thể sử dụng dịch vụ vận tải Grab liên đới với các nhà hàng, quán ăn và giao tận nơi cho bạn Trong giao dịch trên chúng ta thấy xuất hiện đồng thời nhiều chuỗi hoạt động kép của thị trường: đó là hoạt động liên minh giữa Grab với những nhà cung cấp thức àn, giữa bạn và dịch vụ Grab Từ ví dụ này bạn có thê hiêu thị trường theo nghĩa rộng nó không chỉ dừng lại ở các bên liên quan trực tiếp mà còn có cả các'thi trường trung gian Marketing

là việc tiếp cận thị trường nên cách chúng ta phân tích và tìm thấy thị trường cho các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Muốn làm marketing thành công, doanh nghiệp phải hiểu tại sao người mua lại hành động như vậy? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hành dộng của họ? Từ đó, doanh nghiệp mới có thể đưa ra các biện pháp marketing tác động đến hành vi mua của khách hàng

Trang 3

2.1.1.2 Phân loại thị trường

Phân loại theo đối tượng tiêu dùng sản phâm: dây cũng là cách phân loại mà giáo trình sử dụng dế phân tích hành vi của 2 nhóm thị trường này trong nội dung 2.3

Thị trường sản phẩnỉ tiêu dùng, người mua sắm hàng hóa dịch vụ

dể phục vụ tiêu dùng cá nhân, gia đình hoặc một nhóm người vì nhu cầu sinh hoạt Thị trường tiêu dùng bao gồm các cá nhân, các hộ gia dinh và nhóm người tập thể mua sắm hàng hóa dịch 'vụ nhằm mục đích tiêu dùng Thị trường này thường có ba đặc điểm đó là: (1) có quy mô lớn và người mua rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình dộ văn hóa và sở thích đã tạo nên sự phong phú và đa dạng về nhu cầu và mong muốn của

họ trong việc mua sắm và sử dụng hàng hóa; (2) các quyết định mua của

họ mang tính chất cá nhân có nhịp độ thay đổi rất nhanh; (3) sự tiến triên trong tiêu dùng và những thay đổi trong cơ cấu chi tiêu có thố được xem

là những rủi ro và thách đố các nỗ lực trong chiến lược marketing của các doanh nghiệp

Thị trường các yếu tố sản xuất: những người mua nham mục đích kinh doanh bao gồm những người mua là doanh nghiệp công nghiẹp, họ mua hàng hóa và dịch vụ đe sứ dụng chúng sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác đế bán; và những người bán lại (bán buôn và bán lè): mua hàng hóa, dịch vụ để bán lại nham thu lợi nhuận

Phân loại theo tính chất cạnh tranh: phần này các bạn dã dược tìm hiểu kỹ trong môn học kinh tế vi mô Nay được thê hiện tóm tăt thành các ý chính trong bảng sau:

Bảng 2.1 Phân loại thị trường theo tính chất cạnh tranh

Nguồn: tác giả tự tông hợp

hoàn toàn

khoáng

Trang 4

Cạnh tranh hoàn toàn: xảy ra khi trên thị trường có rất nhiều người bán và không có người nào có ưu thế về số lượng cưng ứng đú lớn

dô ánh hưởng tới giá cả trên thị trường Các sản phấm bán ra rất ít có sự khác biệt về quy cách, phẩm chất, mẫu mã Trong thị trường cạnh tranh hoàn toàn các doanh nghiệp bán sản phẩm và dịch vụ cùa mình ớ mức giá do thị trường xác định dựa trên quy luật cung cầu

Cạnh tranh không hoàn toàn', nếu như trong cạnh tranh hoàn toàn, không có ai có đủ khả năng chi phối thị trường, thì trong cạnh tranh không hoàn , do các diều kiện để sự cạnh tranh hoàn toàn không đầy dủ nân mỗi thành viên của thị trường đều có một mức dộ quyền lực nhất dịnh đú để tác động đến giá cả cùa sản phẩm Tùy từng biếu hiện của hình thức cạnh tranh này như sự khác biệt giữa những loại hàng hoá, dịch

vụ ở nhãn hiệu, chất lượng của chúng hay uy tín của doanh nghiộp mà cách thức tác động den việc cạnh tranh về giá cả sẽ là khác nhau

Bán độc quyền, trong dộc quyền nhóm, hình thức cạnh tranh dược tồn tại trong một số ngành chỉ có một số ít nhà sản xuất và mỗi nhà sản xuất dều nhận thức được rang giá cá của mình khồng chí phụ thuộc vào nàng suất cúa chính mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động cúa các dối thủ cạnh tranh quan trong trong ngành dó Ở mô hình cạnh tranh này, người ta không cần quan tâm đến tính thuần nhất của sản phâm mà nhấn mạnh den số lượng thành viên của thị trường, đặc thù công nghệ cùa một

số ngành sản xuất dòi hỏi quy mô tối thiêu có hiệu quả lớn đen mức không phải ai cũng có thế đáp ứng Chỉ một số lượng nhỏ doanh nghiệp vói tiềm lực tài chính và khả năng về công nghẹ có the tham gia dầu tư,

ví dụ như sản xuất ôtô, cao su, thép, xi măng v.v Khi dó, sự thay đôi về giá của mỗi doanh nghiệp se ảnh hưởng trực tiếp đen nhu cầu dối với sản phâm của doanh nghiệp khác và ngược lại Mặt khác, việc thay dối sản lượng cũa doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến quan hộ cung cầu của sán phấm và tác dộng đen sự thay đổi của giá cà sản phấm

Độc quyền hoàn toàn', cạnh tranh dộc quyền là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có một số người bán một số sản phấm thuần nhât Họ có the kiêm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm và dịch vụ bán ra trên thị trường Thị trường cạnh tranh dộc quyền không có sự cạnh tranh về giá, người bán có thể bát buộc ngưòi mua chấp nhận giá sãn pham do họ định ra Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn giá của thị trường tuỳ thuộc vào dặc diem tác dụng của từng loại sản phẩm, uy tín

Trang 5

người cung ứng nhưng mục tiêu cuối cùng là đạt được mục tiêu đề ra thường là lợi nhuận Những doanh nghiệp nhổ tham gia vào thị trường này phải chấp nhận bán theo giá của các nhà độc quyền.

Hiểu biết rõ về đặc điểm thị trường mà doanh nghiệp đang tham gia đặc biệt có ý nghĩa trong công tác định giá sản phẩm của doanh nghiệp (điều này sẽ bàn rõ hon trong chính sách giá) Hơn thế nữa, nó còn là cơ

sở để nhà marketing đưa ra những quyết định điều chỉnh các hoạt động phối hợp khác của chiến lược marketing đề đạt hiệu quả khai thác thị trường cao nhất Các bạn có thể thấy, ví dụ như trong thị trường là các sản phẩm giải khát, song những lon Pepsi và Coca cola vẫn là những sản phẩm khác biệt nhau mặc dù chức năng sử dụng như nhau Vì chúng có những hương vị riêng nên có thế người này thích uống Pepsi, còn người khác lại ưa chuộng Coca Mặc dù chúng là những thứ có thể thay thế cho nhau; song đối với những người đặc biệt ưa thích Coca, họ có thê châp nhận mua những lon coca đắt hơn một chút so với những lon Pepsi có cùng trọng lượng Điều này cho phép người bán những sản phấm khác biệt như Coca cola có thể chi phối giá trong một giới hạn nhất định Người này có thể nâng giá sản phẩm của mình lên một chút mà không sợ mất đi những khách hàng quen Và như thế, người bán không còn là người chấp nhận giá

Phân loại thị trường theo không gian kinh tế mà theo đó các quan

hệ trao đổi hàng hóa diễn ra: Theo cách này, thị trường có thể phân ra thành thị trường the giới, thị trường khu vực, thị trường quốc gia, thị trường vùng hay địa phương Thật ra, khi nói đến các thị trường theo cách phân loại này, người ta vẫn thường kết hợp với cách phân loại thị trường theo nội dung hàng hóa để xem xét một thị trường cụ thể, trên một địa bàn hay không gian kinh tế cụ the Ví dụ, người ta thường nói đến thị trường lúa, gạo, cà phô hay chung hơn, thị trường nông sản thế giới, thị trường nông sản Việt Nam hơn là nói đến một thị trường thế giới, hay Việt Nam chung chung

2.1.2 Nghiên cứu thị trưòng

"Nghiên cứu thị trường - Market Research là việc thiết ke, thu thập, phân tích và báo cáo một each hệ thống các thông tin quan trọng trong một tình huống marketing cụ thể mà doanh nghiệp phải đối mặt” {Philip

Kotler & Gary Armstrong, 2011)

Trang 6

Bài học từ Jay Lipe - chủ tịch công ty Emerge Marketing LLC với vai trò là tác giả của tập sách nhiều kỳ “The Marketing Toolkit for Growing Businesses”, cho chúng ta hiểu thêm về tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu thị trường đối với các doanh nghiệp Trước khi khi viết được bộ sách nối tiếng này ông đã trải qua rất nhiều trải nghiệm thực

tế, cả những thất bại về hoạt động marketing Trong đó có việc bán thân ông và một đối tác cùng hợp tác cho ra một loại máy giặt mới dược đánh giá là hiện đại và rất gọn gàng tiết kiệm không gian Mặc dù về mặt ý tướng và thiết kế đã được cả 2 bên thống nhất và dánh giá rất cao nhưng

để chắc chắn hơn Jay đã đề nghị nhóm nghiên cứu thăm dò ý kiến của cùa người tiêu dùng thì họ lại dùng 2 khái niệm “mỏng manh” và “dễ vỡ”

để mô tả về loại máy giặt mới của Jay và cộng sự Điều này làm nhóm thiết kế hết sức bất ngờ và đi ngược lại với những nỗ lực của họ làm cho máy giặt trở nên hiện đại và gọn gàng Ngay sau đó những cải tiến cho sản phẩm mới đã được cật lực thực hiện song song với việc tiếp tục thu nhận thông tin từ thị trường và khách hàng để đem lại kết quả thành công cuối cùng như mong đợi Jay tác giả tập sách nối tiếng đã chia sẻ, ông thậm chí còn không dám nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra nếu công ty tung sản phấm ra thị trường với mẫu thiết kế ban đầu Neu không có hoạt động ghi nhận và phân tích thông tin từ thị trường thì chắc có lẽ hàng triệu USD tiền đầu tư cùng với danh tiếng công ty đã đổ xuống sông xuống biển

Câu chuyện và những tác phẩm nổi tiếng của Jay đã đúc kết cho chúng ta rằng nghiên cứu thị trường là nội dung không thế thiếu trong chiến lược marketing nó là công việc đầu tiên và đóng vai trò quyết định cho việc xây dựng các kế hoạch các chiến lược Ke cả trước và sau khi hình thành sản phẩm Các thông tin thu được sau khi nghiên cứu thị trường

sẽ cho phép nhà đầu tư quyết định và lựa chọn sản phẩm cũng như phương thức thực hiện các phương thức marketing phù họp với nhu cầu thị trường, đảm bảo khả năng thành công và lợi nhuận khi đưa sản phẩm - hàng hóa tới người sử dụng Các nghiên cứu marketing đa phần được thực hiện theo hướng ứng dụng nhằm ứng dụng các thành tựu của hoạt động nghiên cứu vào thực tiễn của doanh nghiệp Kết quả của nghiên cứu úng dụng nhằm vào mục đích hỗ trợ trực tiếp cho việc ra quyết định Như vậy, nghiên cứu thiên về việc nghiên cún úng dụng các thành tựu của khoa học marketing vào việc nghiến cún các vấn đề marketing của doanh nghiệp, nhàm mục

Trang 7

đích hỗ trợ các nhà quán trị trong việc ra các quyết định, và thường dược gọi là nghicn cứu thị trường.

Mục đích cùa hoạt động nghiên cứu thị trường

Cung cấp thông tin tin cậy

Sự biến động không ngừng của thị trường khiến cho hoạt động sán xuất kinh doanh của doanh nghiệp dễ gặp phái rúi ro Do dó, nhà quản lý

sẽ gặp khó khăn khi phải đưa ra những quyết định kinh doanh quan trọng nhưng lại không nam hết được các diễn biến đang xay ra trên thị trường

Xuất phát từ nhu cầu này, các hoạt động nghiên cửu thị trường hướng tới việc cung cấp cho các nhà quản lý thông tin dầy đủ, chính xác

và cập nhật nhất về những diễn biến mới cùa thị trường, sự thay đối xu hướng tiêu dùng, thẩm mĩ của khách hàng hay những chuyến động ngành hàng mới nhất

Nghiên cứu thị trường không phải là phương pháp duy nhất đế có được thông tin, nhưng đây là phương pháp hữu ích nhất dể doanh nghiệp

có được thông tin kịp thời, cập nhật và có tính đại diện Tất cá là nhờ vào

sự kết họp giữa phương pháp chọn mẫu, xây dựng nội dung khảo sát và

kỹ năng chiết xuất thông tin có giá trị từ đối tượng khảo sát của nhà nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu đong thời cũng ứng dụng nhiều cồng cụ thống

kê de kicm tra tính đại diện của mẫu nghiên cứu nhằm dảm bảo thông tin thu được phải đến từ đúng đối tượng khách hàng hoặc thị trường mà doanh nghiệp đang muốn tìm hiếu

Dự háo các xu hướng thị trường

Với doanh nghiệp, mọi quyết định được đưa ra đều xoay quanh 3C (Công ty - Khách hàng - Dối thú cạnh tranh) Tuy nhiên, thị trường luôn biên động lien tục và phản ứng của khách hàng lẫn dối thú cạnh tranh luôn bất định May thay, hoạt động nghiên cứu thị trường, thông qua khai thác nguồn dữ liệu dã có về khách hàng và xu hướng thị trường có thế đưa ra một số dự báo về thị trường trong tương lai, từ đó cho phép doanh nghiệp chuẩn bị những đối sách cho những diễn biến sắp tới của thị trường

Giải quyết hài toán kinh doanh

Doanh nghiệp luôn có nhiều bài toán kinh doanh can giái quyết Vì sao doanh số bán hàng tại khu vực bị giảm? Vì sao thương hiệu cúa sản

Trang 8

phẩm không đến được với người tiêu dùng? Vì sao chiến dịch marketing không hiệu quả?

Với nghiên cứu thị trường, những bài toán kinh doanh hóc búa đó

sẽ dược chuyên hóa thành những câu hỏi nghiên cứu nhỏ hơn Sau đó, bằng những kỹ thuật nghiến cứu thị trường, các nhà nghiên cứu sẽ giải quyết từng câu hỏi nghiên cứu, qua đó giúp nhà quản lý giải quyết được bài toán kinh doanh của mình

Một số bài toán kinh doanh như xác định phân khúc khách hàng hay xác định mẫu mã, giá cả sản phẩm chỉ có thể được giải quyết thông qua hoạt động nghiên cứu thị trường

Sự phát triến của công nghẹ thông tin và truyền thông cũng dần thay đôi bộ mặt của ngành nghiên cứu thị trường Từ chỗ phải phỏng vấn trực tiếp hoặc qua thư tín và chỉ giới hạn tại một số địa điểm dân cư nhất định, sự phát triên của Internet đã cho phép các nhà nghiên cứu tiếp cận big data một cách nhanh chóng và ít tốn kém, cùng với đó, hàng loạt hình thức nghiên cứu thị trường mới ra đời như phỏng vấn qua điện thoại, khảo sát quy mô lớn theo thời gian thực, khám phá trải nghiệm khách hàng cũng được các công ty nghiên cứu thị trường áp dụng nhằm đưa ra những thông tin ngày càng chính xác và có giá trị cho doanh nghiệp

2.2 HÀNH VI TIÊU DÙNG TRONG THỊ TRƯỜNG SẢN PHẲM TIÊU DÙNG

“Hành vi tiêu dùng (customer behavior) là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phấm/dịch vụ Nó bao gồm những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động dó” (James F.Engel, Roger D Blackwell & Paul w.Milliard, 2001, p.6)

Còn người tiêu dùng là những người mua sản phẩm và dịch vụ đế tiêu dùng cho cá nhân và gia đình họ Hành vi người tiêu dùng là những hành động của con người trong việc mua sắm và sử dụng sản phấm, dịch vụ bao gồm các quá trình tâm lý và xã hội trước, trong và sau khi mua Nếu làm tột công tác nghiên cứu thị trường ở phần trên ta sẽ trả lòi câu hỏi tại sao người tiêu dùng lại chọn mua sản phâm hay thương hiệu này chứ không phải loại khác? Họ lựa chọn như thế nào? Nhà quản trị marketing

sẽ sử dụng các kiến thức này để đưa ra quyết định có hiệu quả hơn như thế nào?

Trang 9

Trong nội dung tiếp theo là những kiến thức cơ bản giúp ta hình thành cơ sớ đầu tiến khi tiến hành tìm hiếu và phân tích về thị trường sản phẩm tiêu dùng.

2.2.1 Các nhân tố ảnh hu ỏ ng đến hành vi người tiêu dùng.

Các công tỵ và các nhà khoa học đã tốn nhiều công sức đế nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố kích thích của Makerting và phản ứng đáp lại của người tiêu dùng Makerting và những tác nhân của môi trường đi vào ý thức của người mua Những đặc điếm và quá trình quyêt định của ngưòi mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhât định Chúng ta phải hiếu dược điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua

J Những đặc điểm của người mua, văn hóa, xã hội, cá nhân, tâm lý, ảnh hưởng như thế nào đến người mua?

J Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào?

Nghiên cứu mô hình hành vi của người tiêu dùng sẽ giúp cho các doanh nghiệp nhận thấy được các phản ứng khác nhau của khách hàng đối với thừng sản phẩm như: chất lượng, giá cả, các chương trình quảng cáo, khuyến mãi, mẫu mã kiểu dáng, cách phân phối sản phâm hay việc chọn các đại lý qua đó nắm bắt được nhu cầu thị hiếu cùng như sở thích của từng đối tượng khách hàng mà chọn chiến lược kinh doanh hiệu quả và nâng cao khả năng cạnh tranh

Để hiểu được người tiêu dùng chúng ta phải hiếu một cách chi tiết

về hành vi của họ, theo đó có 4 nhóm tác nhân chính tác động đến hành

vi mua như sau:

Hình 2.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua của người mua

Nguồn: Philip Kotler, 2005, p ỉ 35)

\ã hội

CÁ XHÂX lllôi đòi jjiai (loạn 5011«.

Xjjhv nghiệp Hoãn canh Kĩ

Cá linh, phong each 5011«

1 ÂM I A

Dộng co

Sụ cam nhận

Sụ hiéu biêt Xiềm tin và thái (lộ

XGl OI

Ml A

Trang 10

Theo Kotler, quá trình mua hàng của khách hàng bị tác động bởi một số nhân tố mà những nhà quản trị tiếp thị không thề kiếm soát được như yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân và yếu tố tâm lý Tuy vậy những nhân tố này phải được đưa vào đế xem xét một cách đúng mức nhằm đạt được hiệu quả về mục tiêu khách hàng.

a Văn hóa: Văn hóa là yếu tố cơ bản nhất quyết định ý muốn và

hành vi của một người, phần lớn cách thức ứng xử của con người đều mang tính hiểu biết Đứa trẻ lớn lên trong xã hội thì học được những giá trị, nhận thức, sở thích và cách ứng xử cơ bán thông qua gia đình và những định chế quan trọng khác

Nen văn hoá: Nền văn hóa là hệ thống những giá trị, đức tin, truyền thống và chuẩn mực, hành vi được hình thành gắn liền với một xã hội nhất định và được tiến triển từ thế hệ này sang thế hệ khác (Arnould,

E J & Thompson, C.J., 2005) Đây là nguyên nhân dầu tiên cơ bản quyết định nhu cầu và hành vi của con người mạnh hon bất kỳ một lập luận logic nào khác Việc mua sắm hàng hoá đều chứa đựng bản sắc văn hóa

Người Việt Nam nói riêng hay các dân tộc khác nói riêng khi mua hàng bao giờ cũng bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa mang bản sác dân tộc tác động đến các giá trị lựa chọn Người làm marketing cần quan tâm đến các yếu tổ này khi thiết kế chiến lược marketing hay các thông điệp quảng cáo, màu sắc và kiểu dáng sản phấm, định hướng hoạt động bán hàng Ví dụ như các quảng cáo về thực phẩm ở thị trường Việt Nam thường sử dụng hình ảnh về gia đình để tạo thiện cảm đối với người dùng, vì người Việt coi trọng văn hoá gia đình đây là cách nhanh nhất để những người làm marketing có thể kết nối được sở thích của họ gắn liền với giá trị văn hoá mà họ gìn giữ nhờ đó giá trị tiêu dùng của sản phẩm

dễ nhận được sự đồng cảm và chấp nhận nhanh hơn so với việc quảng cáo tập trung vào việc ca ngợi sản phẩm hay ca doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đó Đặc trưng văn hoá là không thể thay đổi, hoặc mất rất nhiều thời gian để thay đôi nên mỗi doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ nhũng đặc điểm này, đi ngược lại với truyền thống vãn hoá sẽ dẫn tới sự phản úng tiêu cực đôi khi là phản úng bài trừ những sản phẩm, dịch vụ gây ảnh hưởng hoặc làm tồn thương đến nhũng giá trị văn hoá mà họ đề cao Đơn giản như việc sử dụng màu sắc của các doanh nghiệp trong các chiến lược marketing có thế thay đổi đế tránh phạm vào những điều

Trang 11

kiêng kỵ ờ một số nước Màn tía dược liên tương với sự chốt chóc ờ Barma là một sô nước Mỹ La rinh, màư tràng là màu tang tóc ỏ’ Nhật, và mầu xanh dược liên tướng với bênh tật ơ Malysia.

Nhánh văn hoá: Mỗi nền vàn hóa chứa dựng những nhóm nhơ hơn gọi là nhánh văn hóa Trong hầu hét các xã hội, các cư dân thường có nguồn gốc dân tộc, chủng tộc, tín ngưỡng, môi trường sống, cách kiếm sống khác nhau, diêu này tạo cho họ những nicm tin, giá trị, ý thích, cách

cư xử khác nhau Nhũng cư dân có cùng một dặc diem, có cùng niêm tin, thói quen từ lâu đời, quan diem, ý thích, cách cư xư sẽ hợp thành những nhánh văn hóa nhỏ hơn trong một nen văn hóa lớn."

Ví dụ: Nhũng người mien Trung, mien Bae, mien Nam là nhũng nhánh văn hóa trong nền văn hoá xã hội Việt Nam, tuy cùng nen văn hoá nhưng

họ lại có những phong cách sống, quan diêm và thị hieu riêng

Các nhà tiếp thị đều thừa nhận rằng văn hóa ánh hương dến hành vi tiêu dùng, trong đó các nhóm vãn hóa nhỏ ánh hướng mạnh mẽ hơn den sớ’ thích, cách lựa chọn, dánh giá, mua sắm, và tiêu dùng sán phàm Đe hiếu biết nhu cầu của người lieu dùng, các nhà tiếp thị thường phái phân biệt các khách hàng cùa mình trong những nhánh văn hóa khác nhau cùng với những dặc diêm tiêu dùng khác nhau Việc phân chia các nhánh văn hóa dặt nền tang trên các yếu tố cơ bản như dân tộc, vùng dịa lý, tuôi tác giói tính, tôn giáo, kinh tế xã hội

h Xã hội: hành vi tiêu dùng bị tác dộng bởi các yếu tố xã hội như các nhóm tham kháo, gia đình, vai trò - địa vị trong xã hội

Các nhóm tham kháo

1 lành vi cua một người tiêu dùng chịu ảnh hường mạnh mẽ của nhiêu nhỏm người Các nhóm tham kháo (reference groups) là những

Trang 12

nhóm có ánh hướng trực tiếp hoặc gián tiếp đốn quan diêm và cách thức ứng xử cua một hay nhiêu người khác như: bạn thân, láng giêng, đông nghiệp, nhũng tố chức, hiệp hội, nhóm ngưỡng mộ.

Những doanh nghiệp mà những sản phâm và nhãn hiộu cứa chúng chịu ánh hưởng mạnh cứa các nhóm tham kháo thì các doanh nghiệp dó phải tìm cách tiếp cận và ánh hưởng den những người hướng dẫn dư luận trong các nhóm dó Những người hướng dẫn dư luận cỏ ở trong mọi tầng lớp xã hội và một người hướng dẫn dư luận trong lĩnh vực sán phâm nào

dó có thổ là người chịu ảnh hưởng của dư luận trong một lĩnh vực khác Kinh nghiệm cho thay rằng thường những san phàm chịu ánh hưởng mạnh của nhóm tham khảo khi người hướng dần dư luận cứa nhóm dó được người mua kính trọng Người làm marketing xác dịnh người hướng dẫn dư luận căn cứ vào những dặc điểm dân số học và tâm lý gan liền với vai trò hướng dẫn dư luận, tìm hiểu các phương tiện truyền thông mà những người hướng dẫn dư luận thường sử dụng de hướng thông tin vào những người dó

Gia dinh', các thành viên trong gia dinh cứa người mua có the tạo nên một ánh hướng mạnh mẽ len hành vi của người mua đó Chúng ta có thế phân biệt thành hai loại gia dinh cua người mua

Gia dinh dịnh hướng (the family of orientation) bao gồm cha mẹ của người đó Từ cha mẹ, một người nào dó nhận được sự định hướng về chính trị, kinh tế và ý nghĩa của mong ước cá nhân, tình yêu và phẩm hạnh Ngay cả những người mua không còn quan hộ nhiều với cha mẹ mình, thì ảnh hướng cứa cha mẹ lên hành vi của người mua vẫn có the rất dáng ke Ớ những gia dinh mà cha mẹ vẫn tiếp tục sống chung với con cái đã trưởng thành thì ánh hướng của họ mang tính chât quyết định

Gia dinh rieng (procreation family), bao gồm vợ hoặc chồng và con cái của người mua, có ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày Gia đình là tố chức mua - tiêu dùng quan trọng bậc nhất trong

xã hội và nó dã được nghiên cứu khá rộng rãi Những người làm marketing cần chú ý đến vai trò và sự ảnh hưởng tương đối của vợ, chồng và con cái dối với việc mua sắm các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau

Sự can dự cúa chồng hay vợ thay doi rất nhiều tùy theo loại sản phấm Người vợ, từ xưa, đã là người mua sắm chính yếu trong gia đình, đặc biệt trong những Inh vực như thực phâm, quân áo và các đô gia dụng

Trang 13

khác Điều này hiện đang thay đồi, khi mà ngày càng có nhiều phụ nữ đi làm và người chồng thì muốn chăm sóc đến gia đình nhiều hơn Những người làm marketing những sản phẩm thuộc loại thiết yếu sẽ sai lầm, nếu

cứ tiếp tục nghĩ rằng phụ nữ vẫn là những khách hàng chủ yếu hoặc duy nhât mua các sán phâm của mình

Trong trường hợp các sản phấm và dịch vụ thuộc loại đắt tiền, thường là chồng và vợ cùng trao đổi đế đưa ra quyết định chung Người làm marketing cần phải xác định xem thường thì thành viên nào có ành hưởng lớn hơn đến việc mua sắm những sản phàm hoặc dịch vụ khác nhau Điều đó có thể do vai trò, thói quen hay sự thông thạo cùa họ trong mua sắm quyết định

Vai trò và địa vị xã hội

Một người đều có mặt trong nhiều nhóm: gia đình, câu lạc bộ, tố chức Vị trí của người ấy trong mỗi nhóm có thế xác định trong khuôn khố vai trò và địa vị Mỗi vai trò đều sẽ ảnh hưởng đến hành vi mua của họ

Mỗi vai trò đều gắn liền với một địa vị (status) phản ảnh sự kính trọng nói chung của xã hội, phù hợp với vai trò đó Vì vậy, người mua thường lựa chọn các sản phẩm nói lên vai trò và địa vị của họ trong xã hội Người làm marketing cần nhận thức rõ khả năng thể hiện địa vị xã hội của các sản phấm và nhãn hiệu Tuy nhiên, các biểu tượng địa vị không chỉ thay đối tùy theo các tầng lớp xã hội, mà còn khác nhau theo các vùng địa lý nữa

c Cá nhân: các quyết định của khách hàng cũng bị ảnh hưởng bởi các đặc tính cá nhân như tuổi tác và các giai đoạn của chu kỳ sống, nghề nghiệp, hoàn cánh kinh te, kiếu sống, nhân cách, quan niệm cá nhân

Tuổi tảc: người tiêu dùng thay đối hàng hóa và dịch vụ mà họ mua qua các giai đoạn của cuộc đời họ Sở thích của họ về thời trang, xe máy

và giải trí cũng cũng tùy theo tuổi tác Ví dụ như người già khi mua hàng thường dựa theo kinh nghiệm, có xu hướng hoài niêm và thần tượng nhãn hiệu sản phàm cũ đã sứ dụng trong quá khứ, tâm lý chuộng sản phẩm lâu bền, giá cả phái chăng Những người làm marketing thường chọn các nhóm khách hàng theo chu kỳ sống và hoàn cảnh sống của họ làm thị trường mục tiêu của mình

Nghề nghiệp: nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng den việc mua sắm và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ Một người công nhân sẽ mua

Trang 14

những quần áo và giày dép sử dụng trong dời sống hàng ngày với giá bình dân, thường ăn cơm hộp tại nơi làm việc trong giờ giãn ca va tìm cách ngủ một giấc ngắn lấy sức vào giờ nghỉ trưa Chù tịch cùa một công

ty thì mua những quần áo đắt tiền, du lịch bằng máy bay và làm hội viên câu lạc bộ quần vợt, bữa ăn trưa của họ có thế là buổi hẹn với đối tác hay đồng nghiệp tại một nhà hàng nào đó

Những người làm marketing cố gắng định dạng những nhóm nghề nghiẹp

có nhiều quan tâm đến các sán phẩm và dịch vụ của mình Một doanh nghiệp thậm chí có thể chuyên hóa vào việc sản xuất các sản phâm mà một nhóm nghề nghiệp đặc thù nào dó cần đến

Hoàn cảnh kinh tế: Hoàn cảnh kinh tế của một người sẽ ánh hưởng rất lớn đến sự lira chọn sản phẩm của người đó Hoàn cảnh kinh tê của một người bao gồm số thu nhập dành cho tiêu dùng (mức độ, tính ôn định và kết cấu thời gian của số thu nhập dó), số tiền gởi tiết kiệm và tài sản, kể cá khả năng vay mượn và thái độ dối với việc chi tiêu và tiết kiệm

Những người làm marketing đối với những nhóm sản phâm thuộc loại nhạy cảm với thu nhập (income - sensitive goods) cân thường xuyên chú ý đến các xu hướng thay đổi của thu nhập cá nhân, tiết kiệm và lãi suất Nếu các chỉ số kinh tế cho thấy đang có sự suy thoái, những người làm marketing có thể áp dụng những biện pháp như thiết kế hoặc định vị lại, định giá lại sản phẩm của mình, giảm mức sản xuất và tồn kho, và nhiều việc khác nữa để chúng tiếp tục đảm bảo giá trị dành cho các khách hàng mục tiêu

Phong cách sống: Người tiêu dùng tuy cùng nhóm văn hóa đặc thù hoặc tầng lớp xã hội như nhau và thậm chí cùng nghề nghiệp giống nhau, cũng vẫn có thế có sự khác biệt trong phong cách sống

Phong cách sống (life style) của một người là sự tự biểu hiện của người đó được thể hiện ra thành những hoạt động, mối quan tâm và quan điếm của người ấy trong cuộc sống Phong cách sống mô tả sinh động toàn diện một người trong sự tác động qua lại giữa người ấy với môi trường sống Phong cách sống hàm chứa nhiều nét đặc trưng hơn là tầng lớp xã hội và cá tính của riêng người đó Neu chúng ta biêt một người nào đó thuộc tầng lớp xã hội gì, chúng ta có thể suy luận ra một số biểu hiện chung về cách ứng xử của người đó; nhưng chúng ta không thô thây được người đó trong tư cách một cá nhân Và nếu biết dược cá tính của

Trang 15

một người nào dó thuộc loại gì, chúng ta cũng-có thổ suy ra một số dặc điếm tâm lý đặc trưng của người dó, nhưng chúng ta sẽ không suy ra được diều gì nhiều về hành dộng, mối quan tâm và quan diem của người

đó Phong cách sống cố gắng thiết lập cấu trúc toàn the về hành dộng và

sự ảnh hưởng qua lại trong cuộc sống của một người

Khái niêm phong cách sông, khi dược sử dụng thận trọng, có the giúp cho người làm marketing có dược sự hiếu biết về các giá trị luôn thay đổi cúa người tiêu dùng và ảnh hưởng cùa các giá trị đó đến hành vi mua sắm của họ

d Tâm lý: sự lựa chọn mua sắm của một người cũng bị ảnh hưởng bởi 5 nhân tố tâm lý chủ yếu đó là động cơ, nhận thức, kiến thức, lòng tin

và quan điểm, thái độ

Động CO', một người có thể có nhiều nhu cầu ở vào bất kỳ thời kỳ nào trong cuộc sống của họ Một số nhu cầu có tính chất bản năng Chúng phát sinh từ những trạng thái căng thắng về sinh lý của cơ thế như đói, khát, mệt mói Một số khác lại có nguồn gốc tâm lý Chúng phát sinh

từ những trạng thái căng thẳng tâm lý như nhu cầu được công nhận, ngưỡng mộ, hay kính trọng Hầu hết những nhu cầu này sẽ không có cường dộ dủ mạnh de thúc đấy người dó hành dộng vào một thời diem nhất định nào đó trong cuộc đời Các nhà tâm lý học dã phát triên nhiều

lý thuyết về động cơ cùa con người như lý thuyết về động cơ của s freud, Lý thuyết về động cơ cúa A maslow, lý thuyết về dộng cơ cùa Frederick Herzberg Mỗi lý thuyết về động cơ khi được phân tích ứng dụng trong hoạt động marketing sẽ giúp người làm marketing nhìn rõ dược bán chất cùa yếu tố thúc đấy hay cản trở quá trình mua cùa người tiêu dùng Như Ernest Dichtcr - người đã vận dụng thành công lý thuyết dộng CO' của Freud trong lĩnh vực marketing là người mà ba thập niên vừa qua đã giải thích các hoàn cảnh mua và sự lựa chọn sán phâm theo khuôn khô những động cơ vô thức E Dichter gọi phương pháp của mình

là phép nghiên cứu về động cơ thúc đầy, bao hàm việc thu thập "các cuộc phỏng vấn chiều sâu" qua vài chục người tiêu dùng dể khám phá ra những động cơ sâu xa mà sản phẩm gợi nên Ông sử dụng "các kỹ thuật ánh xạ" (projective techniques) khác nhau, như liên kết từ, bố túc câu cho trọn vẹn, giái thích hình ảnh và đóng vai Có khá nhiều dẫn chứng lý thú

về những gì có thề bao gồm trong đầu nguời mua khi họ xem xét các sản phấm nhất định Có người cho rằng, người tiêu dùng phán đối mua quả

Trang 16

khô vì nó nhăn nheo và gợi cho người ta liên tướng đến tuổi già Đàn ông hút xì gà vì thay cho việc mút tay khi dã ỉớn Nam giới hút thưồc lá dê chứng tỏ tính cách dàn ông của họ Phụ nữ ưa thích dầu thực vật hơn vì

mỡ động vật gợi cho họ cảm giác tội lỗi vì sát sinh Frederick Herzberg

dã xây dựng lý thuyết dộng cơ “hai yếu tố“ đế phân biệt những nhân tố gây nên sự không hài lòng và những nhân tố tạo nên sự hài lòng Lý thuyết động cơ này có hai hàm ý Thứ nhất, người bán phái het sức tránh những nhân tố gây nên sự không hài lòng, như sách hướng dẫn sử dụng

sơ sài hay chính sách đảm bảo dịch vụ kém cỏi Những diều này không giúp bán dược sản phấm nhưng chúng có the làm cho sán phàm không bán được Thứ hai là nhà sản xuất cần xác dịnh được những nhân tố hài lòng chủ yếu hay những dộng cơ mua sắm trên thị trường sản phâm của mình để đảm báo việc cung ứng chúng Những nhân tố tạo nên sự hài lòng này sẽ tạo ra sự khác biệt chủ yếu đê khách hàng cân nhắc xem nên mua nhãn hiệu nào của sản phâm đó Trong khi đó lý thuyết của A Maslow giúp cho những người làm marketing hiếu dược các sản phấm khác nhau phù hợp như thế nào với ý muốn, mục đích và cuộc sống của những người tiêu dùng tiềm năng

Sự cảm nhan’ , một người đã có dộng cơ thi sẵn sàng hành dộng và hành động này chịu ảnh hưởng bằng cách này hay cách khác bởi sự cảm nhận về hoàn cảnh của người đó Hai người đều có cùng trạng thái thúc dấy và hoàn cảnh khách quan như nhau vẫn có the hành dộng hoàn toàn khác nhau, vì rằng nhận thức của họ về hoàn cánh hoàn toàn khác nhau

Người ta có the có những cảm nhận khác nhau dối với cùng một nhân tố tác dộng do có ba quá trình nhận thức: sự quan tâm có chọn lọc,

sự bóp méo có chọn lọc và sự ghi nhớ có chọn lọc

Sự quan tâm có chọn /ọc: Do phải tiếp xúc vói vô số các nhân tố tác động hàng ngày, trong đó một số có vai trò ánh hưởng mạnh đen sự lựa chọn và quyết định mua của người tiêu dùng, số khác mức độ ảnh hưởng ít hơn, do đó người tiêu dùng phải tìm cách sàng lọc chúng Điều quan trọng đối với người làm marketing là phải hiếu những nhân tố tác động nào thực sự gây được sự chú ý của người tiêu dùng và vì sao chúng gây được sự chú ý đối với họ, để từ đó thiết kế các giải pháp marketing nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của người tiêu dùng Các kết quả nghiên cứu cho thây, người tiêu dùng có xu hướng chú ý đen những nhân

tô kích thích có liên quan đen một nhu cẩu hiên có, những nhân tô kích

Trang 17

thích mà họ đang mong đợi hay những nhân lố kích thích có những diem khác han với những nhân tố thông thường Ví dụ, một người đang có nhu cầu mua một xe gắn máy chắc chắn sẽ chỉ chú ý đen những quảng cáo về

xe máy mà không mấy đế ý đến những quàng cáo về thời trang, và hắn nhiên là người dó sẽ tập trung sự chú ý của mình vào quảng cáo chào bán

xe máy nhãn hiệu xe Nuovo giá 38 triệu đồng trong các dợt khuyến mãi hon là 42 triệu dồng như giá bán thường ngày

Sự bóp méo có chọn lọc: ngay cả những nhân tố kích thích đã dược chú ý đến cũng không nhất thiết dược tiếp nhận đúng như dự kiến Mọi người đều cố gò ép những thông tin nhận được vào khuôn khổ những ý nghĩ săn có của mình Sự bóp méo có chọn lọc mô lả xu hướng con người muốn gán cho thông tin những ý nghĩ của cá nhân mình Giả sử một người tiêu dùng có nhiều thiện cảm với Hãng Honda và xe máy Super Dream của nó sẽ gạt bở những điều khẳng định xấu đe biện minh cho việc mua một xe máy Super Dream Người ta giải thích thông tin theo cách ủng hộ chứ không phải thách thức những quan niệm có sẵn

Ghỉ nhở có chọn lọc: người ta có xu hướng quen di nhiều cái mà

họ đã học được và chỉ giữ lại những gì ủng hộ niềm tin và thái độ của mình Người tiêu dùng sẽ chỉ nhớ những điểm tốt về xe máy Super Dream mà quên đi những điếm tốt đã được nhắc đến về các xe máy khác của các hãng cạnh tranh

Tìm hiếu sự đa dạng của các yếu tố hhận thức nêu trên, những người làm marketing có những thông tin cần thiết dể thiết kế và chuyến tải chúng đến đúng đối tượng khách hàng mục tiêu của mình

Sự hiếu biết ( hay kiến thức của người mua)

Các nhà lý luận về kiến thức cho rằng sự hiểu biết của một người

có dược từ sự tương tác của những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tình huống gợi ý, những phản ứng đáp lại và sự củng cố Sự thôi thúc là một nhân tố kích thích nội tại thúc đẩy hành động Một người tiêu dùng

có thê có một thôi thúc là muốn chủ động về phương tiện đi lại Sự thôi thúc của anh ta đã trở thành một động cơ khi nó hướng vào một nhân tố kích thích cụ the có khả năng giải tỏa sự thôi thúc, trong trường hợp này

Jà chiêc xe máy Phản ứng đáp lại cúa anh ta về ý tưởng mua một chiếc

xe máy bắt nguồn từ những tình huống gợi ý xung quanh như sự ùng hộ của người vợ, những chiếc xe máy của đồng nghiệp và bạn bè, những quảng cáo về xe máy hay những thông báo về giảm giá tất thảy đều là

Trang 18

những gợi ý có thể ảnh hướng đến phản ứng đáp lại cúa anh ta dối với sự quan tâm cùa anh ta về việc mua một chiếc xe máy Giả sử anh ta quyết định mua xc máy và chọn mua một chiếc của hãng Honda Neu kinh nghiệm của anh ta là bổ ích, thì phản ứng đáp lại của anh ta đối với xe máy sẽ được củng cố Giả sử sau này anh ta lại muốn mua xe hơi chẳng hạn, rất có thế anh ta lại chọn mua một trong số những nhãn hiệu của Honda Trường hợp này ta nói'người tiêu dùng đã khái quát hóa phản ứng đáp lại của mình cho những tác nhân kích thích tương tự Ý nghĩa thực tiễn của lý luận về kiến thức đối với những người làm marketing là

ở chỗ họ có thể tạo ra nhu cầu đối với một sản phẩm bằng cách gắn liền sản phẩm ấy với những thôi thúc mạnh mẽ, sử dụng những gợi ý có tính chất thúc dẩy và đảm bảo sự cùng cố có tính chất tích cực

Niềm tin và thái độ: thông qua hoạt động và kiến thức tích lũy được, người ta có được những niềm tin và thái độ Những điều này, đến lượt chúng lại có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của họ

Niềm tin (belief) là ý nghĩ khắng định mà con người có được về những sự việc nào đó Niềm tin có thể dựa trôn cơ sở những hiểu biết, dư luận hay sự tin tưởng và có thể chịu ảnh hưởng hay không chịu ảnh hưởng của yếu tố tình cảm

Các nhà sản xuất, dĩ nhiên, cần hết sức quan tâm đến những niềm tin mà công chúng có trong đầu về những sản phẩm và dịch vụ nào đó Những niềm tin này làm nên hình ảnh về sản phẩm hoặc hình ảnh của nhãn hiệu, và dân chúng hành động dựa trên những niềm tin của họ Nếu một sô niềm tin đó là không đúng và gây trở ngại cho việc mua hàng, nhà sản xuất cần tiến hành một chiến dịch đe điều chỉnh lại các niềm tin ấy

Thái độ (attitude) mô tả những đánh giá tốt hay xấu dựa trên nhận thức, những cảm xúc và những xu hướng hành động của một người về một đối tượng hoặc một ý tưởng nào đó Người ta đều có thái độ về hầu hết mọi thứ : tôn giáo, chính trị, quần áo, thức ăn Thái dộ dẫn người ta đến quyết định ưa hay ghét một đối tượng, hướng đến hay rời xa nó Thái

độ của một người được hình thành theo một khuôn mẫu thống nhất, do

đó làm cho người ta xử sự khá nhất quán đối với những sự vật tương tự

và rất khó thay đổi Muốn thay đổi một thái độ nào đó có the phải thay đối luôn cả những thái độ khác nữa

Một doanh nghiệp sẽ được lợi rat nhiều từ viộc nghicn cứu các thái

độ khác nhau của công chúng về các sản phẩm và nhãn hiệu cùa mình

Trang 19

Doanh nghiệp tôt nhất là nân làm cho các sán phâm của mình phù họp vói những thái độ hiện có, hơn là cố gang đế sửa dối các thái độ của công chúng Dĩ nhicn là có những ngoại lộ, với mức phí tổn phái trá có thố rất lớn, cho việc cố gắng thay đối các thái dộ.

Như vậy, chúng ta cỏ thố đánh giá được những lực lượng tác động den hành vi của người tiôu dùng Việc lựa chọn của một người là kết quá

từ sự tác dộng qua lại phức tạp của những yếu tố văn hóa, xã hội và tâm

lý Có nhiều ycu tố trong số này những người làm marketing không the gây ánh hường dược Tuy nhiên, chúng có ích cho việc nhạn dạng dược những người mua dang rất quan tâm dến sán phấm Những yếu tố khác những người làm marketing có the chi phối và cung cấp cho họ những gợi ý về việc nên triển khai sản phẩm, định giá, phân phối và quảng cáo

ra sao để thu hút dược sự đáp ứng mạnh mẽ của người lieu dùng

2.2.2 Phân tích qui trình quyết định mua hàng

2,2,2,1 Định dạng người mua

Nhiệm vụ chính yếu của người làm marketing là nhận biết dúng những khách hàng mục tiêu của một sán phấm Người làm marketing cần phải biết những ai có lien quan đốn quyết định mua và mỗi người trong

sô dó có một vai trò như the nào Các vai trò trong việc mua:

Đối với nhiều sản phâm, việc nhận biết người là khá dễ dàng Phụ

nữ thường mua son môi, đàn ông mua dao cạo râu Nhưng trong nhiều trưòng hợp, nhất là khi mua các loại hàng dắt tiền, sứ dụng lâu bền, thì việc tham gia vào quyết định mua có thế bao gồm một số người Khi dó, cân phải xác dịnh vai trò của những người khác nhau tham gia quyết dịnh mua, bao gồm:

• Người đề xuất (Initiator) Người dề xuất là người dầu tiên dề nghị hoặc có ý nghĩ về việc mua một sản phẩm hay dịch vụ đặc thù nào đó

• Ngưòi ảnh hưỏng (Influencer) Người ánh hưởng là người mà quan điểm hoặc lời khuyên của họ có ảnh hưởng đen quyết định mua

• Ngưòi quyết định (Dicider) Người quyết dịnh là người sau chót xác định nen mua, hoặc bất kỳ phần nào trong quyết định ấy: mua hay không, mua cái gì, mua như thế nào hay mua ở đâu

• Ngưòi mua (Buyer) Người mua là người đích thực đi mua sắm.

Trang 20

• Nguôi sử dụng (User) Người sứ dụng là người tiêu dùng hay sứ dụng san phẩm hay dịch vụ.

Doanh nghiệp cần nhận dạng ra những vai trò này, vì chúng chứa dựng những hàm ý dối với việc thiết kế sản phẩm, xác dịnh nội dung quảng cáo và phân bố ngân sách quảng cáo

Việc tìm hiếu thành phần những người tham dự và những vai trò chính yếu của họ trong quá trình quyết dịnh mua của người tiêu dùng sẽ giúp cho ngưòi quản trị marketing diều chỉnh thích hợp các chương trình marketing của mình

2.2.2.2 Các dạng hành vi mua

Việc dưa ra quyết định mua của người tiêu dùng thay đôi tùy theo các dạng hành vi mua Có những khác biệt rất lớn giữa việc mua một ống kem đánh răng, một vợt chơi tennis, một máy chụp ánh dăt tiền, và một chiếc xe máy mới Các quyết định càng phức tạp thì hầu như số lượng tham gia và sự cân nhắc cúa người mua càng nhiêu hơn Ve cơ bán Assacl dã phân ra 4 kiểu hành vi mua của người tiêu dùng căn cứ vảo mức dộ tham gia cúa họ và sự khác biệt của các nhãn hiệu, dược trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Bốn.dạng hành vi mua của người tiêu dùng

^^-Mứcđộ tham gia

Nhãn hiệu

Mức độ tham gia cao Mức độ tham gia

thấpCác nhãn hiệu khác

nhau nhiều

Hành vi mua phức tạp Hành vi mua tìm

kiếm sự da dạngCác nhãn hiệu khác

nhau ít

Hành vi mua đảm bảo hài hòa

Hành vi mua thông thường

Nguồn: Henry Asscal, 2004, p.67

Hành vi mua phức tạp

Người tiêu dùng có hành vi mua phức tạp khi họ tham gia nhiêu vào việc mua sam và ý thức rõ những khác biệt lớn giữa các nhãn hiệu Hành vi mua phức tạp thường phố biến đối với những loại sản phẩm đắt tiền, ít khi mua, có nhiều rủi ro và có khả năng tự biôu hiện cao Người tiêu dùng ít có kiến thức về những sản phàm như vậy và họ phải mat nhiều công sức tìm kiếm Ví dụ, một người có nhu cầu mua một máy tính

cá nhan có the không hiếu biết các tính năng cơ bán nào can xem xét khi

Trang 21

chọn mua, thế nào là “16 OMB RAM’', “độ phân giái màn hình"', “card

dồ họa 4.0”

Người mua dó phải tìm kiếm thông tin dế có kiến thức về sán phấm và xây dựng niềm tin về nó, rồi hình thành thái độ, và sau đó mới tiến hành lựa chọn sản pham cần mua Đối với những sản phẩm mà người mua tham gia vào tiến trình mua với mức độ cao, người làm marketing phải

cố gắng tìm hiểu người mua đế biết được những đánh giá, niềm tin, thái

độ và hành vi của họ, và trên cơ sở dó mà xây dựng các chiến lược marketing nhàm giúp cho người mua tìm hiểu những tính năng của loại sản phẩm dó, tầm quan trọng tương đối của chúng và những đặc trưng khác biệt có ưu thế cúa nhãn hiệu của công ty mình, và động viên nhân viên bán hàng và người quen của người mua tác động đến việc lựa chọn nhãn hiệu của công ty

Hành vỉ mua hài hòa

Neu khi tham gia nhiều vào việc mua sắm những loại sản phẩm đắt tiền, ít khi mua, có nhiều rủi ro mà các nhãn hiệu lại ít có sự khác biệt, ke

cả giá bán cũng nằm trong một khoáng nhất định, thì người mua không mất nhiều thời gian khảo sát và nhanh chóng quyết định mua Cơ sở cho

sự cân nhắc của họ chủ yếu là giá bán nhãn hiệu nào rẻ hơn và điều kiện mua thuận lợi hơn mà thôi Tuy nhiên không chắc rằng mọi quyết định mua theo nhãn hiệu đã lựa chọn của người mua là hoàn toàn đúng đắn Người mua có thể tự nhận thấy món hàng mình mua không thật hài hòa

do cảm nhận một vài tính chất nào đó của sản phẩm còn đáng băn khoăn, hay nghe thấy dư luận tốt về các nhãn hiệu khác Người mua cũng sẽ rất nhạy cảm đối với những thông tin biện minh cho quyết dịnh của mình Ở đây, người tiêu dùng đã hành động trước, rồi sau đó mới có những niềm tin và sau cùng mói di đến một thái độ Vì thế, các thông tin marketing hướng vào người mua phải nham tạo dựng niềm tin và đưa ra những dánh giá đe giúp người tiêu dùng yên tâm với cách lựa chọn của mình

Hành vi mua tìm kiếm sự đa dạng

Có những trường hợp mua sắm người tiêu dùng ít để ý nhưng các nhãn hiệu cúa cùng một loại sản phẩm có sự khác nhau rất lớn Trong trường hợp này, người tiêu dùng thường thay dối nhãn hiệu rất nhiều lần

Họ dựa vào niềm tin đã có sắn cùa mình dể chọn mua một nhãn hiệu nào

dó mà không can cân nhắc nhiều, rồi khi tiêu dùng mói đánh giá nó Ó những lần mua sau, người tiêu dùng có the mua nhãn hiệu khác dể cảm

Trang 22

nhận một đặc trưng nào đó khác cùa nhãn hiệu mới chọn mua Viộc thay đổi nhãn hiệu chỉ là đế tìm kiếm sự đa dạng chứ không phải vì không hài lòng.

Người làm marketing cho những sản phẩm thuộc vào loại này phải hiếu được các hoạt động tìm kiếm thông tin và đánh giá của người mua, trên cơ sở đó mà tạo điều kiện thuận lợi cho người mua tìm hiếu các thuộc tính của loại hàng, tầm quan trọng tương đối của chúng, và vị trí hay đặc điểm riêng biệt của nhãn hiệu của mình

Hành vì mua thông thường

Đây là loại hành vi mua đơn giản nhất trong trường hợp mua các món hàng loại giá rẻ, mua thường xuyên và không có sự tham gia của người tiêu dùng và không có sự khác nhau lớn giữa các nhãn hiệu Người

ta rất ít phải đưa ra quyết định vì họ quá quen với loại sản phấm, người mua không phải mất công suy nghĩ, nghiên cứu, hoặc mất thời giờ cho việc mua Như trường hợp mua dầu lửa, muối ăn, người ta đến cửa hàng

và mua một nhãn hiệu bắt gặp, không bận tâm đến việc lựa chọn Nêu họ

cố tìm nhãn hiệu cũ thì đó chỉ là do thói quen, chứ không phải một sự trung thành nhãn hiệu

Trường hợp này, người tiêu dùng không phải trải qua trình tự thông thường niềm tin - thái độ - hành vi Họ không bó công tìm kiếm thông tin

về các nhãn hiệu, đánh giá các đặc điếm của chúng, rồi đi đên quyết định mua nhãn hiệu nào Sự cạnh tranh quảng cáo chỉ tạo ra sự quen thuộc với nhãn hiệu chứ không tạo ra sự tin tưởng vào nhãn hiệu Người tiêu dùng không hình thành một thái độ rõ ràng về một nhãn hiệu, mà lựa chọn nó chi vì nó quen thuộc Như vậy, quá trình mua sắm xuất phát từ niềm tin vào nhãn hiệu được hình thành theo kiến thức được lĩnh hội thụ động, tiếp dến là hành vi mua hàng, rồi sau đó có the là việc dánh giá sản phâm

đã được mua

Đối với những sản phẩm ít có sự tham gia của người tiêu dùng và các nhãn hiệu ít có sự khác biệt, cách tốt nhất có the chấp nhận được là người làm marketing sử dụng giá cả và các biện pháp thúc đẩy việc mua hàng để kích thích việc dùng thử sản phẩm, vì người mua không gan bó chặt chẽ với bất kỳ nhãn hiệu nào Khi quảng cáo chỉ nên nhấn mạnh một vài đặc điểm chủ yếu cúa sản phẩm và tập trung vào biếu tượng và hình ảnh vì chúng dỗ nhớ và gắn liền với nhãn hiệu Truyền hình là phương tiện thích hợp nhất, vì nó khồng đòi hỏi chăm chú nhiều nen rất phù hợp

Trang 23

vó'i việc lĩnh hội kiến thức thụ dộng Việc lập các chương trình quãng cáo phải dựa trên cơ sớ lý thuyết quyết định cố diên, theo dó người mua học dược cách nhận diện một sản phấm nhất dịnh qua nhiều lần tiếp nhận biếu tượng gan liền với sàn phâm đó.

Người làm marketing cũng cần phải dem lại sự thỏa mãn tích cực cho khách hàng hiện tại bằng cách duy trì sự ôn dịnh về phấm chất, dịch

vụ và giá cá Ngoài ra, họ cũng phải cố gắng thu hút những người mưa mới bàng cách đưa ra những tính năng, dặc diem mới của sản phâm hay gắn nó với những vấn dề liên quan dược nhiều người quan tâm, như thuốc đánh răng ngoài các tính năng cơ bản là vệ sinh răng người ta còn

bổ sung thêm vào nó tác dụng chống sâu răng và làm thơm miệng, bô sung các vitamin vào nước uống đóng chai Thêm vào dó, có thê sử dụng các cách trưng bày hấp dẫn khơi động ý nghĩ mua sắm, những dịp khuyến mãi về giá và quà tặng

2.2.2.3 Tiến trình quyết định mua của người tiêu (lừng

Tiến trình quyết dịnh mua của người tiêu dùng theo Philip Kotler

có thế dược mô hình hóa thành năm giai đoạn: Ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua Như vậy, tiến trình quyết định mua cúa người tiêu dùng dã băt đau trước khi việc mua thực sự dien ra và còn kéo dài sau khi mua

Hình 2.2 Tiến trình quyết định mua cũa người tiêu dùng

1 Nhận thức nhu cầu 2. Tìm kiếm

Nguồn: Philip Kotler and Gary Armstrong, 201 l,p 152

Mô hình về tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng trcn dây bao quát đầy đú những vấn dồ nảy sinh khi một người tiêu dùng cần lựa chọn mua sam các sản phấm và nhãn hiệu, nhất là khi đứng trước một việc mua sắm mới cần để tâm nhiều Tuy nhiên, trong trường họp những sản phẩm hay nhãn hiệu mà người tiêu dùng thường xuyên mua, ít cần de tâm, thì người mua có thể bỏ qua hay đảo lại một số giai doạn trong tiến trình đó (Kotler, 2005) De tìm hiểu những gì khách hàng hài lòng, các

Trang 24

nhà tiếp thị phải xem xét những ánh hưởng chính trên những gì, ở dâu, khi nào và làm thế nào khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ (Dibb, Simkin, Pride & Ferrell, 2001).

Ỷ thức về nhu cầu

Tiến trình mua khởi đầu với việc người mưa ý thức dược nhu cầu Người mua cám thấy có sự khác biệt giữa trạng thái thực tế và trạng thái mong muốn Nhu cầu có the bắt nguồn từ các tác nhản kích thích bên trong và ben ngoài của chù the Trong trường hợp các tác nhân bên trong, một trong số những nhu cầu bình thường của người ta như dói, khát, tính dục tăng dần len đến một mức độ nào dó và trở thành một niềm thôi thúc

Đo kinh nghiệm có trước dó, người ta hiếu được cách thức giải quyết sự thôi thúc này và dộng cơ của nó sẽ hướng đến những phương tiện có thê thỏa mãn dược sự thôi thúc

Hoặc một nhu cầu có the phát sinh từ một tác nhân kích thích từ ben ngoài, chẳng hạn từ báo chí, quảng cáo, bạn bè, xã hội Một người

di ngang qua tiệm phở và cảm nhận được hương vị thơm ngon bốc lên cúa phở đã kích thích làm cho người dó cảm thấy đói Một người phụ nữ nhìn thấy một chiếc váy đcp của cô hàng xóm hay xem một chương trình quảng cáo về một loại nước hoa mới Tất cả những tác nhân kích thích

đó có the gợi mở một vấn đề hay nhu cầu

Người làm marketing ở giai đoạn này cần xác định được các hoàn cảnh thường làm cho người tiêu dùng nhanh chóng hiếu rõ vấn đề Họ nôn nghiên cứu người tiêu dùng dế tìm ra những dạng cám giác dã làm phát sinh van đề hay nhu cầu, lý giải xem cái gì tạo ra chúng, và làm thế nào chúng tác dộng làm cho người tiêu dùng đi đến lựa chọn mua một sản phấm nhất dịnh

Tìm kiếm thông tin

Một ngưòi tiêu dùng đã có nhu cầu, thì bắt đầu tìm kiếm thông tin Nêu sự thôi thúc của người tiêu dùng mạnh, và sản phấm vừa ý nằm trong tầm tay, người tiêu dùng rất có thề sẽ mua ngay Neu không, người tiêu dùng dơn giản chỉ lưu giữ nhu cầu trong tiềm thức Người tiêu dùng

có thể không chịu tìm hiểu thêm thông tin, tìm hiểu thêm một số thông tin, hoặc rất tích cực tìm kiếm thông tin liên quan đến nhu cầu Trong trường họp họ muốn tìm kiếm các thông tin, thường có các nguồn thông tin sau

Trang 25

Nguồn thông tin cá nhân thu nhận được từ gia đình, bạn bè, hàng xóm và người quen.

Nguồn thông ỉỉn thỉĩơng mại thu thập được qua quảng cáo, nhân viên bán hàng, nhà buôn, bao bì hay các cuộc trung bày sản phấm

Nguồn thông tin công cộngúux nhận được từ các phương tiện truyền thông đại chúng và các tổ chức

Nguồn thông tin từ kinh nghiệm bản thân có được qua tiếp xúc, khảo sát hay sử dụng sản phẩm

Ánh hưởng tương đối của những nguồn thông tin này đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng thay đổi tùy theo loại sản phấm và các đặc điếm của người mua Nói chung, người tiêu dùng tiếp nhận hầu hết những thông tin về các sản phấm từ các nguồn thồng tin thương mại, tức

là các nguồn thông tin mà người làm marketing có thể chi phối được Tuy nhiên những biểu hiện hiệu quả nhất có xu hướng đến từ các nguồn thông tin cá nhân Vì nguồn thông tin thương mại thường thực hiện chức năng thông báo, còn nguồn thông tin cá nhân thì thực hiện chức năng đánh giá và khẳng định Ví dụ, các chuyên gia lập trình tin học thường biết về các sản phẩm phần mềm tin học qua các nguồn thông tin thương mại, nhưng lại đi trao đổi với các các chuyên gia lập trình khác về những thông tin đánh giá về các sản phẩm phần mềm đó

Người làm marketing cần định dạng thận trọng các nguồn thông tin cúa người tiêu dùng và tầm quan trọng của mỗi nguôn thông tin đó Nen phỏng vấn người tiêu dùng xem họ nghe nói đến nhãn hiệu sản phẩm lân đầu tiên ra sao, họ đã nhận dược thông tin gì, và tầm quan trọng mà họ dành cho các nguồn thông tin khác nhau ấy Thông tin này rất cần thiêt trong việc soạn thảo nội dung truyền đạt một cách có hiệu quả cho các thị trường mục tiêu của mình

Đánh giả các phương án lựa chọn

Người làm marketing cần phải tìm hiếu xem người tiêu dùng đã xử

lý thông tin ra sao đề lựa chọn nhãn hiệu cần mua trong số các nhãn hiệu ọúa loại sản phâm mà họ quan tâm

Khi lựa chọn sản phẩm để mua và tiêu dùng, người tiêu dùng muốn thỏa mãn ở mức độ cao nhất nhu cầu của mình bằng chính sản phàm đó

Họ tìm kiếm trong giải, pháp của sản phẩm những lợi ích nhất định Người tiêu dùng xem mỗi sàn phẩm như một tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại những lợi ích mà họ mong muôn có được và

Trang 26

thỏa mãn nhu cầu của họ ở những mức độ khác nhau Những thuộc tính

mà người tiêu dùng quan tâm thay đổi tùy theo sản phẩm Đối với máy thu hình là độ nét của hình ảnh, chất lượng của âm thanh, độ trung thực cùa màu sắc, tính dễ sử dụng và giá cả hợp lý Đối với xe hơi là mức độ

an toàn, sự tiện nghi, kiếu dáng hợp thời và độ bền sử dụng

Ngay cả khi đánh giá về một sản phẩm, sự nhìn nhận của họ về những thuộc tính mà họ cho là quan trọng nhất hay nối bật nhất cũng không hoàn toàn giống nhau Cũng cần lưu ý rằng, những thuộc tính nổi bật nhất không phải bao giờ cũng là những thuộc tính quan trọng nhất Một số thuộc tính nổi bật lên vì người tiêu dùng bị ảnh hưởng của một quảng cáo có nhấn mạnh về thuộc tính ấy Ngưọc lại, một thuộc tính nào

đó không thật sự nối bật có thế do người tiêu dùng đã lãng quên nó, nhưng khi được nhắc đến thì được thừa nhận là quan trọng

Điều thực sự khó khăn cho những người làm marketing là tất cả các khách hàng, hoặc ngay cả một khách hàng trong tất cả các tình huống mua, đều không sử dụng một tiến trình quyết định mua đơn giản và duy nhất Có nhiều tiến trình đánh giá đế đi đến một quyết định mua Tuy nhiên, hầu hết các tiến trình đánh giá của người tiêu dùng đều định hướng theo nhận thức, tức là khi hình thành những nhận xét về sản phẩm, người tiêu dùng chủ yếu dựa trên cơ sở ý thức và tính hợp lý Người tiêu dùng có xu hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu, trong đó chúng được đánh giá theo những thuộc tính riêng biệt Những niềm tin về nhãn hiệu tạo nên hình ảnh về nhãn hiệu Niềm tin vào nhãn hiệu của người tiêu dùng sẽ thay đổi theo kinh nghiệm của

họ và tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp meo có chọn lọc hay ghi nhớ có chọn lọc Người tiêu dùng hình thành các thái độ (nhận xct, ưa thích) đối với các nhãn hiệu qua một quá trình đánh giá

Một phương pháp đánh giá phố biến là cân nhắc nhiều tiêu chuẩn cho từng nhãn hiệu và tổng họp bằng cách cho điểm đế đánh giá Ví dụ sau đây mô tả cách đánh giá của người tiêu dùng đối với các nhãn hiệu khác nhau có thế chọn mua khi quyết định mua một chiếc điện thoại smart phone Giả -định mức dộ quan trọng của các đặc tính này giảm dần

từ 0.4 0.3->0.2~>0.1

Ngày đăng: 20/11/2022, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm