Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 10 trang 71 Tập 1 Câu 1 (trang 71 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1) Tìm và sửa lỗi dùng từ trong các trường hợp sau a Thời cơ đã chín mùi nhưng họ lại không biết nắm bắt b Nó[.]
Trang 1Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 10 trang 71 Tập 1
Câu 1 (trang 71 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Tìm và sửa lỗi dùng từ trong các trường hợp sau:
a Thời cơ đã chín mùi nhưng họ lại không biết nắm bắt.
b Nó không giấu giếm với ba mẹ chuyện gì
c Ngày mai, lớp em sẽ đi thăm quan động Hương Tích
d Những bài hát bất tử ấy sẽ còn lại mãi với thời gian
đ Tôi rất thích bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu vì bài “Thơ duyên” của Xuân
Diệu rất hay
e Tôi xin phiền Ban Giám hiệu xem xét và giải quyết vấn đề này giúp tôi
Trả lời:
a
- Lỗi sai: lỗi dùng từ không đúng hình thức ngữ âm
- Sửa : Thời cơ đã chín muồi nhưng họ lại không biết nắm bắt.
b
- Lỗi sai: Lỗi dùng từ không phù hợp với khả năng kết hợp (từ “giấu giếm”
không kết hợp với từ “với”)
- Sửa : Nó không giấu giếm ba mẹ chuyện gì.
c
- Lỗi sai: Lỗi dùng từ không đúng hình thức ngữ âm
+Sửa : Ngày mai, lớp em sẽ đi tham quan động Hương Tích.
d
- Lỗi sai: Lỗi dùng từ không đúng nghĩa (Từ “bất tử” chỉ dành cho con người,
không dùng cho các loại hình nghệ thuật)
- Sửa: Những bài hát bất hủ ấy sẽ còn lại mãi với thời gian.
đ
- Lỗi sai: Lỗi lặp từ
- Sửa: Tôi rất thích bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu bởi nó rất hay.
e
- Lỗi sai: Lỗi dùng từ không phù hợp với kiểu văn bản (Trong văn bản hành chính, không nên dùng từ “phiền”)
- Sửa: Tôi hi vọng Ban Giám hiệu xem xét và giải quyết vấn đề này giúp tôi.
Câu 2 (trang 71 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Lựa chọn từ ngữ ở cột A với nghĩa tương ứng ở cột B
Trả lời:
Câu 3 (trang 71 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Đặt câu với các từ sau để thấy rõ sự khác biệt về ý nghĩa của chúng
Trang 2- Làm bộ: chỉ sự giả vờ, không thật.
Đặt câu: Cô ấy làm bộ như không biết chuyện gì đã xảy ra
- Làm dáng: chú ý về vẻ bề ngoài, làm đẹp.
Đặt câu: Hoa biết mình đẹp nên làm dáng ghê lắm
- Làm cao: sự kiêu ngạo, chảnh.
Đặt câu: Bạn A làm cao lắm!
b
- Nhẹ nhàng: chỉ thái độ hoặc hành động hoặc tính chất nhỏ nhẹ, không gây
tiếng động, tạo sự nhã nhặn, gợi sự nhàn hạ trong công việc
Đặt câu: Bạn Lan nói năng rất nhẹ nhàng
- Nhè nhẹ: hơi nhẹ, gợi sự chuyển động lướt qua nhẹ nhàng.
Đặt câu: Gió thổi nhè nhẹ qua từng kẽ lá
- Nhẹ nhõm: cảm giác thanh thản, khoan khoái, không bị vướng bận hay nặng
nề bởi thứ gì
Đặt câu: Thi xong, B thấy nhẹ nhõm hẳn
c
- Nho nhỏ: hơi nhỏ.
Đặt câu: Những bông hoa nho nhỏ đang tỏa ngát hương
- Nhỏ nhoi: nhỏ bé, ít ỏi, mỏng manh.
Đặt câu: Mình còn chút vốn liếng nhỏ nhoi, bạn cầm lấy để làm việc cần thiết
nhé!
- Nhỏ nhen: hẹp hòi, hay chú ý đến những việc nhỏ nhặt.
Đặt câu: Anh C thật hẹp hòi
- Nhỏ nhặt: những điều không đáng kể.
Từ đọc đến viết
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) thể hiện niềm giao cảm với thiên nhiên và con
người, trong đó có sử dụng các từ ngữ gợi cảm xúc
Trả lời:
Thiên Thiên nhiên chính là những sự vật có sẵn ở tự nhiên bao quanh con người mà chúng ta nhìn thấy hằng ngày: nước, đất, không khí, cây cối, Con người chúng ta sinh sống và tồn tại trong thiên nhiên, thiên nhiên cũng giao hòa cùng con người Đó là một mối quan hệ gắn bó khắng khít, chặt chẽ, tương hỗ cho nhau Thiên nhiên mang lại sự sống cho con người, là nơi con người sinh sống, phát triển Không chỉ thế, trong văn học thiên nhiên còn đóng vai trò là một nguồn tư liệu bất tận trong các sáng tác thơ văn Thiên nhiên có sức mạnh cảm hóa con người, nuôi dưỡng cái đẹp Con người biết yêu thiên nhiên, quan tâm, chăm sóc, bảo tồn cũng sẽ góp phần tạo nên một hệ sinh thái xanh – sạch – đẹp Một không gian thiên nhiên thoáng đãng, tươi xanh sẽ giúp con người khỏe mạnh, tươi trẻ và thoải mái Chính vì vậy, khi thiên nhiên bị hủy hoại cũng chính là lúc cuộc sống con người bị đe dọa, ảnh hưởng nặng nề Điển hình như việc biến đổi khí hậu hay thiên tai, lũ lụt hằng năm Con người và thiên nhiên đều là một phần sự sống trên trái đất, hiện hữu và tồn tại song song nhau, tác động qua lại cho nhau Vì vậy, con người chúng ta cần có ý thức giữ gìn và bảo
vệ thiên nhiên, “rừng là lá phổi xanh của con người” bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ
sự vật quanh ta chính là bảo vệ môi trường sống của chính mình Hãy coi thiên nhiên như con người để bảo vệ và trân quý nó! Hãy cùng chung tay giữ vững mối quan hệ đó để tất cả đều được phát triển trong những đều kiện tốt nhất
- Các từ ngữ gợi cảm xúc: yêu, thoải mái, tươi trẻ
Trang 3Soạn bài Tri thức ngữ văn lớp 10 trang 63 Tập 1
- Chủ thể trữ tình là khái niệm chỉ người thể hiện thái độ, cảm xúc, tư tưởng
của mình trong suốt văn bản thơ Đọc thơ trữ tình, trước mắt ta không chỉ xuất
hiện những cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt, những con người, sự kiện mà
còn gọi lên hình tượng một ai đó đang ngắm nhìn, đang rung động, suy tưởng
về chúng, về cuộc sống nói chung Hình tượng ấy chính là chủ thể trữ tình
trong thơ Chủ thể trữ tình thường xuất hiện trực tiếp với các đại từ nhân
xưng: “tôi”, “ta”, “chúng ta”, “anh”, “em”, hoặc nhập vai vào một nhân vật
nào đó, cũng có thể là “chủ thể ẩn” Các hình thức xuất hiện nêu trên của chủ
thể trữ tình cũng có thể thay đổi, xen kẽ trong một bài thơ
- Vần và nhịp là những yếu tố quan trọng tạo nên nhạc điệu trong thơ.
+ Vần tạo nên sự kết nối, cộng hưởng âm thanh giữa các dòng thơ, đồng thời
làm cho thơ dễ nhớ, dễ thuộc hơn Cách gieo vần phụ thuộc vào yêu cầu và quy
cách riêng của mỗi thể thơ Nhưng nói chung, xét về vị trí xuất hiện, có cần
chân (cuộc vận) là vần giữa các chữ ở cuối dòng thơ, cần lưng (yêu vận) là vần
giữa chữ cuối của dòng trước với chữ ở gần cuối hay ở khoảng giữa của dòng
thơ sau, hoặc giữa các chữ ngay trong một dòng thơ Xét về thanh điệu, có vấn
thanh trặc (T) và vận thanh bằng (B)
+ Nhịp (hay ngắt nhịp) là cách tổ chức sắp xếp sự vận động của lời thơ, thể hiện
qua các chỗ dùng, chỗ nghỉ khi đọc bài thơ Cách ngắt dòng, ngắt nhịp trong
từng dòng thơ, câu thơ tạo nên hình thức của nhịp thơ Nhịp thơ là nhân tố tạo
nên bước đi của thơ với âm vang nhanh, chậm, dài ngắn, nhặt, khoan
| Trước hết, ngắt nhịp liên quan đến cách xuống dòng Điều này phụ thuộc vào
số lượng chữ của dòng thơ Ví dụ: thơ lục bát luân phiên ngắt dòng 6 – 8, thơ
song thất lục bát luân phiên ngắt dòng7 -7 – 6 – 8; các thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6
chữ,7 chữ, 8 chữ, đều có nhịp ngắt dòng riêng Với thơ tự do, cách ngắt nhịp
theo dòng rất đa dạng, bởi số tiếng trong mỗi dòng thơ không bị ràng buộc chặt
chẽ
Thứ đến, nhịp thơ còn toát ra từ cách ngắt nhịp trong từng dòng thơ, câu thơ
Ví dụ: thơ 7 chữ thường ngắt nhịp 4/3, thơ 5 chữ thường ngắt nhịp 2/3; việc
thay đổi cách ngắt nhịp quen thuộc trong dòng thơ thường là có dụng ý: cũng
là câu thơ lục bát nhưng cách ngắt nhịp khác nhau tạo nên hiệu quả khác nhau
- Từ ngữ, hình ảnh trong thơ mang lại sức gợi cảm lón, có khả năng chứa
đựng nhiều tầng ý nghĩa Hình ảnh trong thơ có thể được miêu tả trực quan, các hình thức láy, điệp làm cho đường nét, màu sắc trở nên lung linh, sống động, hoặc có thể gọi tả gián tiếp bằng liên tưởng, tưởng tượng, các biện pháp tu từ như So sánh, ẩn nhân hoá, hoán dụ, làm cho cái vô hình trở nên hữu hình, ấn tượng, cái vô tri, vô giác trở nên có hồn và giàu ý nghĩa Hình ảnh trong thơ luôn chứa đựng tâm hồn của nhà thơ
Lưu ý: Cần phân biệt lỗi lặp từ với biện pháp lặp từ để liên kết văn bản (phép lặp) hoặc để nhấn mạnh một nội dung nào đó (phép điệp)
• Lỗi dùng từ không đúng hình thức ngữ âm Ví dụ: Anh ấy đã kịp thời khắc phục những thiếu sót của mình
Cách sửa: Sửa lại từ cho đúng với hình thức ngữ âm Trong cấu trên, chúng ta phải dùng từ “thiếu sót”
• Lỗi dùng từ không đúng nghĩa Ví dụ: Những kiến thức về thơ thầy giáo truyền tụng, chúng em đều rất hứng thú
Từ “truyền tụng” thường dùng với ý nghĩa “truyền miệng cho nhau với lòng ngưỡng mộ” Trong trường hợp này, chúng ta không dùng từ “truyền tụng”.Cách sửa: Thay thế từ đúng nghĩa Trong ví dụ trên, chúng ta thay từ “truyền tụng” bằng “truyền đạt”
Trang 4• Lỗi dùng từ không phù hợp với khả năng kết hợp Ví dụ: Chúng tôi rất quan
tâm vấn đề ô nhiễm môi trường
Trong ví dụ trên, từ “quan tâm” không thể kết hợp trực tiếp với“vấn đề ô nhiễm
môi trường” mà cần có thêm một quan hệ từ “đến” hoặc “tới”
Cách sửa: Thêm, bớt, thay thế từ ngữ cho phù hợp với khả năng kết hợp của từ
Trong câu trên, chúng ta cần thêm từ “đến” hoặc “tới” sau từ “quan tâm”: Chúng
tôi rất quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường
• Lỗi dùng từ không phù hợp với kiểu văn bản
Ví dụ: Trong bản kiểm điểm, học sinh viết: Nhỏ Lan đã móc cô giáo 0 1ị em và
Nam gây lộn trong giờ giải lao Trong câu trên, các từ ngữ “nhỏ”, “mác”, “vụ”,
“gây lộn” không phù hợp với kiểu văn bản
Cách sửa: Thay thế từ ngữ phù hợp Bạn Lan đã nói với cô giáo chuyện em và
Nam tranh cãi trong giờ giải lao
Soạn bài Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một bài thơ
*Tri thức về kiểu bài Kiểu bài:
Phân tích, đánh giá một bài thơ: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật là kiểu bài nghị luận văn học dùng lí lẽ và bằng chứng để làm rõ giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ ấy
Yêu cầu đối với kiểu bài:
- Về kĩ năng:
• Lập luận chặt chẽ, thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của người viết về bài thơ
• Có bằng chứng tin cậy từ bài thơ
• Diễn đạt mạch lạc, sử dụng được các câu chuyển tiếp, các từ ngữ liên kết giúp người đọc nhận ra mạch lập luận
• Bố cục bài viết gồm 3 phần:
Mở bài: giới thiệu bài thơ và tác giả; nêu nhận xét khái quát về nội dung, nghệ
thuật của bài thơ
Thân bài: lần lượt phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật
của bài thơ
Trang 5Kết bài: khẳng định lại giá trị chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của
bài thơ; tác động của bài thơ đối với bản thân hoặc cảm nghĩ về tác phẩm
*Đọc ngữ liệu tham khảo: Sức gợi tả của hình ảnh trong bài thơ Thu
Điếu (Nguyễn Khuyến)
Câu 1 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Ngữ liệu trên có phải một bài viết hoàn chỉnh không? Căn cứ vào đâu để nhận
định như vậy?
Trả lời:
- Theo em, ngữ liệu trên chưa phải là một bài viết hoàn chỉnh
- Căn cứ vào những yếu tố sau:
+ Trong bài viết ở ngữ liệu chưa đảm bảo hình thức cấu trúc một bài viết vì chỉ
có phần phân tích, chưa có phần mở bài giới thiệu vấn đề sẽ nói trong bài và
kết luận về những giá trị của bài thơ
Câu 2 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo cách tách riêng chủ đề, những
nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật hay kết hợp hai nội dung? Cách trình bày
như vậy có ưu điểm gì?
Trả lời:
- Nội dung phân tích, đánh giá được trình bày theo lối kết hợp cả chủ đề và
những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
- Cách trình bày như vậy giúp người đọc, người nghe có những hiểu biết chi tiết
về tất cả những vấn đề có liên quan đến luận điểm chính, tạo sự hài hòa cho bài
viết khi có sự xen kẽ
Câu 3 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Xác định các ý chính được trình bày trong ngữ liệu
Trả lời:
- Các ý chính được trình bày trong ngữ liệu:
+ Không gian trong và lạnh của ao thu
+ Sự tĩnh lặng của không gian
+ Sự cao rộng của không gian
Câu 4 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Để làm sáng tỏ sức gợi tả của hình ảnh trong bài thơ Thu điếu, tác giả đã dùng
những dẫn chứng, lí lẽ nào?
Trả lời:
- Những dẫn chứng, lí lẽ được tác giả sử dụng để gợi tả hình ảnh trong bài
thơ Thu điếu:
+ Không gian trong và lạnh: lạnh lẽo, trong veo.
+ Phong cảnh ao thu tươi tắn, yên tĩnh: sóng biếc, lá gàng, gợn tí, khẽ đưa + Trời trong xanh, yên tĩnh, cao vút: trời xanh ngắt, vắng teo, lơ lửng.
Câu 5 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật có xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm không?
Trả lời:
Việc đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm Mỗi thể loại sẽ có những đặc điểm nhận dạng khác nhau như các bài thơ trữ tình sẽ thiên về hình ảnh với cảm xúc lãng mạn, Việc đánh giá như vậy sẽ giúp người đọc, người nghe hình dung rõ ràng nhất về thể loại
mà bài viết muốn nói đến
*Thực hành viết theo quy trình
Đề bài (trang 75 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Hãy viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá về chủ đề và một số nét đặc sắc về nghệ thuật của một bài thơ (thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt)
Bước 1: Chuẩn bị viết
Xác định đề tài, mục đích viết, người đọc
Nên chọn phân tích, đánh giá bài thơ đáp ứng những tiêu chí như:
• Được bản thân và nhiều bạn khác yêu thích
• Có chủ đề và những điểm đặc sắc về hình thức nghệ thuật dễ nhận thấy
• Có độ dài phù hợp
Trả lời các câu hỏi sau để xác định mục đích viết, người đọc: Việc viết văn bản này nhằm mục đích gì? Ai sẽ là người đọc căn bản?
Trang 6Thu thập tư liệu
Phạm vi lựa chọn của bạn khá rộng Đó có thể là:
• Một bài ca dao
• Một bài thơ bát cú, một bài thơ tứ tuyệt (hay thơ bốn câu)
Bạn cần quyết định chọn một bài thơ, đoạn thơ trong các trường hợp trên làm
đối tượng phân tích đánh giá, đồng thời tìm đọc một số bài viết liên quan
Khi đọc tư liệu, bạn cần:
• Ghi chép, đánh dấu những ý kiến nhận xét, đánh giá liên quan đến văn bản
mình sẽ phân tích
• Xem xét các ý kiến đã đề cập đến những phương diện nào, chưa đề cập phương
diện nào của văn bản thơ mà bạn sẽ phân tích? Bản thân mình đồng tình với ý
kiến nào hoặc có ý kiến khác không?
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý
Tìm ý
• Trả lời các câu hỏi:
- Bài thơ đề cập đến vấn đề gì? Tác giả đề cập đến vấn đề đó với thái độ, tình
cảm như thế nào?
- Đưa ra một số dẫn chúng quan trọng (trích dẫn từ bài thơ) có thể minh hoạ
cho các ý tưởng
• Khi tìm ý cho việc phân tích, đánh giá chủ đề của một bài thơ, bạn cần đặt và
trả lời các câu hỏi: Chủ đề của bài thơ này là gì? Chủ đề đó có gì sâu sắc, mới
mẻ? Chủ đề đó bao gồm các khía cạnh nào?,
• Khi tìm ý cho việc phân tích, đánh giá nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của
một bài thơ, bạn cần đặt và trả lời các câu hỏi phù hợp với đặc trưng thể loại
của bài thơ ấy Các câu hỏi có thể là: Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào,
thể thơ ấu có những điểm gì đáng lưu ý? Các yếu tố hình thức như cần, nhịp,
từ ngữ, hình ảnh, kết cấu bài thơ có gì đặc sắc và đã góp phần thể hiện chủ đề như thế nào?
Một ví dụ khác: Trong ngữ liệu tham khảo, khi phân tích, đánh giá Sức gợi tả của hình ảnh trong bài “Thu điếu”, luận điểm (lí lẽ và bằng chứng) được tác
giả sắp xếp như sau:
1 Ấn tượng về không gian “trong” và “lạnh” từ các hình ảnh: ao thu, mặt nước,
| thuyền câu (ở hai câu đề)
2 Ấn tượng về không gian tĩnh lặng từ các hình ảnh: “sóng biếc”, “lá vàng”
3 Ấn tượng về không gian cao rộng, thanh vắng từ các hình ảnh “tầng mây”,
“ngõ trúc”, các tính từ “lơ lửng xanh ngắt”, “vắng teo”,
Bước 3:Viết bài
• Cách thức tiến hành viết bài như đã thực hiện khi viết bài nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một truyện kể (Bài 1)
• Tập trung phân tích, đánh giá sức biểu cảm của các yếu tố hình thức nghệ thuật trong bài thơ
Trang 7• Nêu rõ ý kiến nhận xét, đánh giá của người viết về những nét đặc sắc của tác
phẩm
• Làm sáng tỏ các ý kiến nhận xét, đánh giá về chủ đề và nghệ thuật bằng việc
trích dẫn các hình ảnh, chi tiết, biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong tác phẩm
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa
Đọc lại bài viết và tự đánh giá theo bảng kiểm
Trang 8Bài viết tham khảo
Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, đồng thời Bác cũng là một tác gia tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam Về cuộc đời cách mạng, cả đời Bác chỉ có một mục tiêu duy nhất đó là dành lại độc lập cho đất nước, đó là làm sao để dân hết khổ, cụ già có áo mặc và em thơ có sữa,
về sự nghiệp sáng tác Bác là một nhà thơ tài năng với nhiều tác phẩm có giá trị
để lại cho đời Một trong những tác phẩm ấy phải kể đến bài thơ Rằm Tháng Giêng được viết tại chiến khu Việt Bắc năm 1948 – giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp lần 2
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với ngôn ngữ trong sáng, giản
dị nhưng vô cùng hay,đặc sắc tinh tế
Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân;
Trăng là nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân, như Lí Bạch trong Tĩnh Dạ Tứ
“ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương” hay vẻ đẹp “khuôn trăng đầy đặn” của nàng Thúy Vân trong truyện Kiều Trăng không còn xa lạ với thi nhân và cả bạn đọc nhưng có lẽ ánh trăng trong bài thơ Rằm tháng giêng lại cho
ta cái nhìn và cảm nhận khác với vẻ đẹp, ẩn chứa nhiều suy tư sâu sắc Có lẽ đây là thời gian vào mùa thu, đêm trăng tròn đẹp nhất, ánh trăng sáng tỏ như gương, lan tỏa khắp núi rừng việt bắc Chính sự giao hòa giữa cảnh vật và con người đã khiến cho Bác nhiều cảm hứng để sáng tác bài thơ này
Đã có rất nhiều nhà thơ sáng tác bài thơ về trăng, ánh trăng như “ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm của Nguyễn Khuyến Hay Ánh Trăng của Nguyễn Duy: “Hồi chiến tranh ở rừng/ Vầng trăng thành tri kỉ” Nhưng bàn về ánh trăng của Bác trong bài thơ Rằm Tháng giêng ta mới thấy được cái đẹp của Trăng tròn đầy sức sống
Tháng giêng là tháng đầu tiên của mùa xuân, đánh dấu sự khởi đầu của năm mới tiết trời xuân mát mẻ, không gian xuân tươi xanh đẹp đẽ nhất trong năm với nắng ấm, thời tiết dịu nhẹ, cây cối đâm chồi nảy lộc, nhiều sức sống Có lẽ vậy mà ánh trăng và ngày rằm cũng rất khác so với những mùa trong năm Bác
sử dụng hình ảnh “rằm xuân lồng lộng trăng sói” cho thấy ánh trăng rất tỏ, rất sáng, sáng vằng vặc Ánh trăng sáng đến nỗi bao trùm cả không gian kết hợp với không gian mùa xuân lồng lộng, tươi mới rạng rỡ
Trang 9Đặc biệt, tác giả sử dụng từ xuân nhiều đến nỗi câu thơ cảm giác như chỉ thấy
mùa xuân, thấy sức sống của mùa xuân Cả vầng trăng, cả dòng sông, cả bầu
trời đều ngập tràn hương vị mùa xuân, hương vị của sự sống, của tình yêu và
khát vọng Đọc hai câu thơ chúng ta hình dung ra một mùa xuân đẹp thế nào
Có lẽ đây là mùa xuân hi vọng với những chiến công sắp tới, có lẽ tâm trạng
của Bác lúc này đang rất vui và nhiều niềm tin vào tương lai
Câu thơ là sự kết hợp hài hòa của yếu tố cổ điển và hiện đại Trong thơ ca cổ,
giang, thủy, nguyệt, thiên vốn rất quen thuộc Nhưng khi vào thơ Bác thì lại vô
cùng hiện đại, sáng tạo, rực rỡ và đầy sức sống
Phân tích bài thơ rằm tháng giêng – Có mùa xuân nào lại ngập tràn sức sống
như mùa xuân, như ánh trăng mùa xuân trong Rằm Tháng Giêng của Bác? Ta
biết, Xuân Diệu từng có mùa xuân trong vội vàng, với xuân hồng mơn mởn
muốn cắn vào để ngập tràn trong mùa xuân, trong sự sống Ta cũng biết có mùa
xuân trong Thanh Hải, một mùa xuân nho nhỏ mà tác giả muốn hứng từng giọt
để có thể tận hưởng hết vẻ đẹp, sức sống mùa xuân Nhưng có lẽ, mùa xuân
trong thơ Bác vẫn có sự tươi mới, sáng tạo, dù sử dụng nhiều từ xuân nhưng
không nhàm chán, người đọc lại chỉ cảm thấy sự sống và niềm hạnh phúc, khát
vọng trong đó Cách sử dụng từ rất hay, rất khéo, rất hài hòa trong khung cảnh
ánh trăng đêm rằm mùa xuân
Bức tranh thiên nhiên mùa xuân sẽ thật khiếm khuyết nếu thiếu đi hình ảnh con
người Con người chính là sự sống, sự vận động của vũ trụ Vì vậy, sang hai
câu thơ cuối, bức tranh về con người hiện ra thật đẹp, nhiều sức sống
Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
Con người trong bức tranh khiến cho bức tranh thiên nhiên càng thêm đẹp và
hài hòa hơn Đêm trăng vằng vặc êm lặng như một bức tranh thủy mặc, bỗng
trở nên sống động bởi sự góp mặt của Bác và các đồng chí cách mạng – những
con người chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn Ơ đó, họ
cùng nhau bàn bạc việc quân, việc nước, những công việc quan trọng Lẽ ra,
trong khi bàn việc lớn ai cũng phải đăm chiêu, suy nghĩ, căng thẳng và mệt
mỏi Nhưng không, Bác vẫn rất bình tĩnh,ung dung, lạc quan, thưởng thức trăng
Ánh trăng đêm rằm đẹp như thế, sao có thể bỏ lỡ? Với cách sử dụng nghệ thuật
lấy sáng tả đêm, ánh trăng càng sáng chứng tỏ đêm đã về khuya, tĩnh lặng Bác
cùng các đồng chí dường như quên thời gian khi làm việc, quên đi lợi ích riêng
và vì lợi ích chung của cả dân tộc
Khuya đã về, ánh trăng càng sáng hơn Con thuyền chở đầy trăng là một hình ảnh đẹp, một hình ảnh liên tưởng và lãng mạn Con thuyền như chở đầy ánh trăng hay hiểu đúng hơn đó là con thuyền cách mạng, đang chở chiến thắng, chở hi vọng, chở niềm tin và tương lai rực rỡ huy hoàng
Ánh trăng không chỉ là ánh trăng mà đó là bạn, là kỉ niệm, là tri kỉ, là nhân chứng lịch sử Ánh trăng đã chứng kiến biết bao nhiêu tình cảm đồng chí đồng đội cùng nhau sát cánh, vượt qua mọi gian khó để có thể vững tay chèo lái con thuyền cách mạng và chiến thắng kẻ thù Trong bài thơ Đồng Chí – Chính Hữu, ánh trăng cũng biểu hiện cho hòa bình, cho khát vọng với câu thơ “Trăng treo đầu súng” Hay như trong bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy lại là ánh trăng của tình cảm, của những kỉ niệm, ánh trăng nhắc nhở chúng ta về một thời chiến đấu bên nhau:
Bài thơ khép lại cho ta nhiều cảm xúc và những suy tư trăn trở của bác về đất nước và nhân dân Vẫn là Bác với tình yêu thiên nhiên tha thiết, đồng thời cũng bộc lộ tình yêu nước sâu sắc Vẫn là Bác với phong thái ung dung, tự tại trước mọi hoàn cảnh Bài thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng chắt lọc mọi tinh tế, mang đến cho bạn đọc nhiều cảm xúc khác nhau Không chỉ vậy, nó còn là tâm hồn của chiến sĩ, luôn ngày đêm lo lắng cho sự nghiệp cứu nước và lạc quan trước cuộc kháng chiến đầy gian khổ
Trang 10Soạn bài Giới thiệu, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một bài thơ
Bước 1: Chuẩn bị nói
Xác định đề tài: Đề tài của bài nói là bài thơ mà bạn chọn để giới thiệu Bạn
có thể sử dụng bài thơ mình đã thực hiện bài viết Nếu chọn bài thơ khác, bạn
sử dụng tiêu chí lựa chọn như với bài viết
Việc xác định mục đích nói, đối tượng người nghe, không gian và thời
gian nói: tìm ý, lập dàn ý và luyện tập: bạn có thể thực hiện như đã tiến
hành khi giới thiệu một truyện kể (Bài 1)
Bước 2: Trình bày bài nói
Bạn thực hiện bước này như khi trình bày bài nói giói thiệu, đánh giá nội
dung, nghệ thuật của một truyện kể Những lưu ý:
• Thể hiện được cảm nhận riêng của mình về bài thơ
• Giọng đọc, giọng nói cần truyền cảm, nhất là khi đọc bài thơ và các trích dẫn
thơ
Bước 3: Trao đổi, đánh giá
Trao đổi: Khi trao đổi với người nghe, bạn cần:
• Lắng nghe với thái độ cầu thị và ghi chép tóm lược ý kiến, những vấn đề cần
trao đổi thêm
• Dành thời gian phù hợp để trao đổi những nội dung cần thiết
Đánh giá: Trong vai trò người nói cũng như vai trò người nghe, bạn có thể
đánh giá phần trình bày dựa vào bảng kiểm duới đây
Bài nói tham khảo
Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới,
đồng thời Bác cũng là một tác gia tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam Về cuộc
đời cách mạng, cả đời Bác chỉ có một mục tiêu duy nhất đó là dành lại độc lập
cho đất nước, đó là làm sao để dân hết khổ, cụ già có áo mặc và em thơ có sữa,
về sự nghiệp sáng tác Bác là một nhà thơ tài năng với nhiều tác phẩm có giá trị
để lại cho đời Một trong những tác phẩm ấy phải kể đến bài thơ Rằm Tháng Giêng được viết tại chiến khu Việt Bắc năm 1948 – giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp lần 2
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với ngôn ngữ trong sáng, giản
dị nhưng vô cùng hay,đặc sắc tinh tế
Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân;
Trăng là nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân, như Lí Bạch trong Tĩnh Dạ Tứ
“ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương” hay vẻ đẹp “khuôn trăng đầy đặn” của nàng Thúy Vân trong truyện Kiều Trăng không còn xa lạ với thi nhân và cả bạn đọc nhưng có lẽ ánh trăng trong bài thơ Rằm tháng giêng lại cho
ta cái nhìn và cảm nhận khác với vẻ đẹp, ẩn chứa nhiều suy tư sâu sắc Có lẽ đây là thời gian vào mùa thu, đêm trăng tròn đẹp nhất, ánh trăng sáng tỏ như gương, lan tỏa khắp núi rừng việt bắc Chính sự giao hòa giữa cảnh vật và con người đã khiến cho Bác nhiều cảm hứng để sáng tác bài thơ này
Đã có rất nhiều nhà thơ sáng tác bài thơ về trăng, ánh trăng như “ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” trong Thu ẩm của Nguyễn Khuyến Hay Ánh Trăng của Nguyễn Duy: “Hồi chiến tranh ở rừng/ Vầng trăng thành tri kỉ” Nhưng bàn về ánh trăng của Bác trong bài thơ Rằm Tháng giêng ta mới thấy được cái đẹp của Trăng tròn đầy sức sống
Tháng giêng là tháng đầu tiên của mùa xuân, đánh dấu sự khởi đầu của năm mới tiết trời xuân mát mẻ, không gian xuân tươi xanh đẹp đẽ nhất trong năm với nắng ấm, thời tiết dịu nhẹ, cây cối đâm chồi nảy lộc, nhiều sức sống Có lẽ vậy mà ánh trăng và ngày rằm cũng rất khác so với những mùa trong năm Bác
sử dụng hình ảnh “rằm xuân lồng lộng trăng sói” cho thấy ánh trăng rất tỏ, rất sáng, sáng vằng vặc Ánh trăng sáng đến nỗi bao trùm cả không gian kết hợp với không gian mùa xuân lồng lộng, tươi mới rạng rỡ
Đặc biệt, tác giả sử dụng từ xuân nhiều đến nỗi câu thơ cảm giác như chỉ thấy mùa xuân, thấy sức sống của mùa xuân Cả vầng trăng, cả dòng sông, cả bầu trời đều ngập tràn hương vị mùa xuân, hương vị của sự sống, của tình yêu và khát vọng Đọc hai câu thơ chúng ta hình dung ra một mùa xuân đẹp thế nào
Có lẽ đây là mùa xuân hi vọng với những chiến công sắp tới, có lẽ tâm trạng của Bác lúc này đang rất vui và nhiều niềm tin vào tương lai
Trang 11Câu thơ là sự kết hợp hài hòa của yếu tố cổ điển và hiện đại Trong thơ ca cổ,
giang, thủy, nguyệt, thiên vốn rất quen thuộc Nhưng khi vào thơ Bác thì lại vô
cùng hiện đại, sáng tạo, rực rỡ và đầy sức sống
Phân tích bài thơ rằm tháng giêng – Có mùa xuân nào lại ngập tràn sức sống
như mùa xuân, như ánh trăng mùa xuân trong Rằm Tháng Giêng của Bác? Ta
biết, Xuân Diệu từng có mùa xuân trong vội vàng, với xuân hồng mơn mởn
muốn cắn vào để ngập tràn trong mùa xuân, trong sự sống Ta cũng biết có mùa
xuân trong Thanh Hải, một mùa xuân nho nhỏ mà tác giả muốn hứng từng giọt
để có thể tận hưởng hết vẻ đẹp, sức sống mùa xuân Nhưng có lẽ, mùa xuân
trong thơ Bác vẫn có sự tươi mới, sáng tạo, dù sử dụng nhiều từ xuân nhưng
không nhàm chán, người đọc lại chỉ cảm thấy sự sống và niềm hạnh phúc, khát
vọng trong đó Cách sử dụng từ rất hay, rất khéo, rất hài hòa trong khung cảnh
ánh trăng đêm rằm mùa xuân
Bức tranh thiên nhiên mùa xuân sẽ thật khiếm khuyết nếu thiếu đi hình ảnh con
người Con người chính là sự sống, sự vận động của vũ trụ Vì vậy, sang hai
câu thơ cuối, bức tranh về con người hiện ra thật đẹp, nhiều sức sống
Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
Con người trong bức tranh khiến cho bức tranh thiên nhiên càng thêm đẹp và
hài hòa hơn Đêm trăng vằng vặc êm lặng như một bức tranh thủy mặc, bỗng
trở nên sống động bởi sự góp mặt của Bác và các đồng chí cách mạng – những
con người chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn Ơ đó, họ
cùng nhau bàn bạc việc quân, việc nước, những công việc quan trọng Lẽ ra,
trong khi bàn việc lớn ai cũng phải đăm chiêu, suy nghĩ, căng thẳng và mệt mỏi
Nhưng không, Bác vẫn rất bình tĩnh, ung dung, lạc quan, thưởng thức trăng
Ánh trăng đêm rằm đẹp như thế, sao có thể bỏ lỡ? Với cách sử dụng nghệ thuật
lấy sáng tả đêm, ánh trăng càng sáng chứng tỏ đêm đã về khuya, tĩnh lặng Bác
cùng các đồng chí dường như quên thời gian khi làm việc, quên đi lợi ích riêng
và vì lợi ích chung của cả dân tộc
Khuya đã về, ánh trăng càng sáng hơn Con thuyền chở đầy trăng là một hình
ảnh đẹp, một hình ảnh liên tưởng và lãng mạn Con thuyền như chở đầy ánh
trăng hay hiểu đúng hơn đó là con thuyền cách mạng, đang chở chiến thắng,
chở hi vọng, chở niềm tin và tương lai rực rỡ huy hoàng
Ánh trăng không chỉ là ánh trăng mà đó là bạn, là kỉ niệm, là tri kỉ, là nhân chứng lịch sử Ánh trăng đã chứng kiến biết bao nhiêu tình cảm đồng chí đồng đội cùng nhau sát cánh, vượt qua mọi gian khó để có thể vững tay chèo lái con thuyền cách mạng và chiến thắng kẻ thù Trong bài thơ Đồng Chí – Chính Hữu, ánh trăng cũng biểu hiện cho hòa bình, cho khát vọng với câu thơ “Trăng treo đầu súng” Hay như trong bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy lại là ánh trăng của tình cảm, của những kỉ niệm, ánh trăng nhắc nhở chúng ta về một thời chiến đấu bên nhau:
Bài thơ khép lại cho ta nhiều cảm xúc và những suy tư trăn trở của bác về đất nước và nhân dân Vẫn là Bác với tình yêu thiên nhiên tha thiết, đồng thời cũng bộc lộ tình yêu nước sâu sắc Vẫn là Bác với phong thái ung dung, tự tại trước mọi hoàn cảnh Bài thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng chắt lọc mọi tinh tế, mang đến cho bạn đọc nhiều cảm xúc khác nhau Không chỉ vậy, nó còn là tâm hồn của chiến sĩ, luôn ngày đêm lo lắng cho sự nghiệp cứu nước và lạc quan trước cuộc kháng chiến đầy gian khổ