Ôn tập trang 34 Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1) Bạn đã đọc hiểu các văn bản truyện thần thoại Thần Trụ trời, Prô mê tê và loài người, Cuộc tu bổ lại các giống vật Hãy so sánh các văn bản và[.]
Trang 1Ôn tập trang 34 Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Bạn đã đọc hiểu các văn bản truyện
thần thoại Thần Trụ trời, Prô-mê-tê và loài người, Cuộc tu bổ lại các giống vật
Hãy so sánh các văn bản và rút ra nhận xét chung bằng cách điền vào Phiếu học
tập được kẻ vào vở theo mẫu sau:
Không gian, thời
- Thời gian: “thuở ấy”
Thần Prô-mê-tê và thần Ê-pi-mê-tê
Ngọc Hoàng và thiên thần
Cốt truyện Quá trình tạo lập
nên trời và đất của thần Trụ trời
Quá trình tạo nên con người và thế giới muôn loài của hai vị thần
Quá trình tu bổ, hoàn thiện các giống vật
Nhận xét chung
Không gian, thời gian
Không rõ ràng, không xác định cụ thể, mang tính cổ xưa
Nhân vật Thường là các vị thần có sức mạnh và tài năng kì lạ, phi
thường hơn người
Cốt truyện Ngắn gọn, đơn giản, xoay quanh việc tạo lập thế giới
Câu 2 (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Không gian, thời gian, nhân vật và
cốt truyện trong thần thoại có những điểm nào khác so với các thể loại truyện dân gian mà bạn đã học
Trả lời:
Thần thoại Truyện dân gian (ngụ ngôn, truyền
thuyết, cổ tích…) Không
gian
Không xác định cụ thể, không gian rộng lớn (bầu trời, mặt đất…)
Không xác định, không gian trong phạm
Trang 2Câu 3 (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Hãy kể lại một trong những truyện
thần thoại mà bạn đã học và nhận xét về cách xây dựng nhân vật trong truyện đó
Trả lời:
- Một truyện thần thoại mà em được học: truyện Thánh Gióng Ở 1 làng nọ có một
bà mẹ 60 tuổi vẫn chưa có con Một hôm bà đi thăm nương, thấy có vết chân to kì
lạ bèn ướm thử Khi đặt chân vào bà rung mình, sau đó về nhà bà có thai Bà sinh ra
một đứa con trai đặt tên là Gióng, cậu bé lên ba vẫn không biết nói, không cười
Nhưng khi nghe sứ giả tìm người đánh giặc thì tự nhiên nói với mẹ mời sứ giả đến
Gióng yêu cầu làm cho nón sắt, áo giáp sắt, ngựa sắt, roi sắt Từ lúc ấy Gióng bỗng
lớn nhanh thư thổi, ăn bao nhiêu cũng không đủ Sau khi có đầy đủ áo, mũ, ngựa và
roi sắt, Gióng bỗng trở thành tráng sĩ ra trận đánh giặc, đi đến đâu, quân giặc đều bị
tiêu diệt đến đó Đánh tan giặc, Gióng trút bỏ quần áo bay thẳng lên trời
- Nhận xét về cách xây dựng nhân vật trong truyện:
+) Xây dựng nhân vật có dấu vết của thần: ăn bao nhiêu cũng không đủ, sức mạnh
phi thường…
+) Xây dựng nhân vật đại diện cho chính nghĩa, cho khát vọng của con người
Câu 4 (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):Kẻ vào vở sơ đồ theo mẫu sau và
điền những đặc điểm của kiểu văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một truyện kể
Đặc điểm của kiểu bài nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ
thuật của một truyện kể
Trả lời:
Câu 5 (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
a Qua bài học này, bạn rút ra kinh nghiệm gì khi giới thiệu, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một truyện kể
b Khi nghe và nhận xét, đánh giá nội dung, hình thức của bài nói giới thiệu một truyện kể, bạn cần lưu ý những điều gì?
Trả lời:
a Qua bài học này, em rút ra kinh nghiệm khi giới thiệu, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một truyện kể là:
- Nắm được nội dung và nghệ thuật đặc sắc của truyện
- Xác định các luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng và sắp xếp cho phù hợp
Trang 3- Khi trình bày cần lưu loát, có mở đầu và kết thúc, sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ cho
bài nói sinh động, hấp dẫn
b Khi nghe và nhận xét, đánh giá nội dung, hình thức của bài nói giới thiệu một
truyện kể, cần lưu ý:
- Nắm được nội dung truyện mà người nói trình bày
- Chuẩn bị giấy bút, nội dung cần trao đổi
- Lắng nghe với thái độ tôn trọng, nắm bắt thông tin, ghi những câu hỏi , ý kiến
muốn trao đổi
Prô-mê-tê và loài người
* Trước khi đọc:
Câu hỏi (trang sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Bạn đã từng đọc hay nghe kể về
thần thoại Hy Lạp và câu chuyện Prô-mê-tê và loài người chưa? Hãy chia sẻ với các bạn cùng lớp những điều bạn đã biết Nếu chưa biết, bạn thử đoán truyện Prô-mê-tê và loài người sẽ nói về vấn đề gì?
Trả lời:
Dựa vào vốn hiểu biết của bản thân em để trả lời
- Đã từng nghe kể về thần thoại Hi Lạp và câu chuyện về thần Prô- mê-tê: đó là câu chuyện kể về anh em nhà vị thần Prô- mê-tê sáng tạo ra các loài vật, con người Khi nhào nặn ra các con vật em của thần Prô- mê-tê ban cho các con vật một đặc ân của thần để làm vũ khí Còn loài người, thần Prô- mê-tê cho một hình hài đứng thẳng thảnh thơi làm việc và trao cho con người ngọn lửa để làm ăn sinh sống
- Chưa biết về truyện Prô- mê-tê và loài người, em đoán truyện kể về vị thần có tên là Prô- mê-tê tạo ra loài người với vóc dáng đứng thẳng và bộ óc thông minh
Trang 4Trả lời:
Đây là lời của tác giả nhấn mạnh công lao của Prô-mê-tê đã cho con người
ngọn lửa và dạy cho con người nghề để sinh sống
* Sau khi đọc:
Nội dung chính văn bản “Prô-mê-tê và loài người”: tập trung nói về quá trình tạo
nên con người và thế giới muôn loài của hai vị thần Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Bạn từng hình dung thế nào về một
vị thần? Nhân vật Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê trong Prô-mê-tê và loài người có làm
cho hình dung đó của bạn thay đổi không? Vì sao?
Trả lời:
* Sự hình dung về một vị thần: là một người có vóc dáng cao lớn khổng lồ,
tóc và râu bạc phơ, vị thần có sức mạnh siêu nhiên, có thể làm hoặc tạo ra bất cứ
thứ gì
* Nhân vật Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê trong Prô-mê-tê và loài người không làm
cho hình dung lúc ban đầu của em thay đổi Bởi: Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê là hai nhân vật có xuất thân đặc biệt, là những vị thần đầu tiên trên thế gian, họ có sức mạnh và khả năng kì lạ (có khả năng tạo ra “vũ khí” để giúp cho các con vật có những sức mạnh riêng của mình, tạo ra loài vật và con người, tạo ra lửa để giúp con người sinh sống…)
Câu 2 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Tóm tắt quá trình tạo nên con
người và thế giới muôn loài của hai vị thần đó Từ đó, nhận xét về cách xây dựng
cốt truyện và nhân vật trong Prô-mê-tê và loài người
Trả lời:
* Tóm tắt quá trình tạo nên con người và thế giới muôn loài của hai nhân vật
- Nguyên nhân: cuộc sống thế gian tẻ nhạt và buồn,nPrô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê xin phép U-ra-nôx tạo cho thế gian một cuộc sống đông vui hơn
- Thần Ê-pi-mê-tê:
+ Lấy đất và nước nhào nặn ra các loài vật và ban cho chúng một đặc ân của thần, một “vũ khí” để phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình
trong Prô-mê-tê và loài người: ngắn gọn, cụ
thể, tập trung vào việc nêu lên quá trình tạo nên con người và thế giới muôn loài của hai
vị thần Từ đó, làm nổi bật hình ảnh vĩ đại và công lao to lớn của hai
vị thần
Trang 5Câu 3 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Nêu nội dung bao quát của
truyện Prô-mê-tê và loài người Thông điệp mà người xưa muốn gửi gắm qua câu
chuyện này là gì?
Trả lời:
- Nội dung bao quát của truyện Prô-mê-tê và loài người: Nói về sự ra đời của
muôn loài và con người, mỗi loài cũng như con người có đặc điểm đặc trưng
Đồng thời giúp người đọc hình dung công trạng của các vị thần trong việc tạo dựng
thế gian
- Thông điệp mà người xưa muốn gửi gắm qua câu chuyện: Mỗi loài (con vật, con
người) đều có những đặc điểm riêng tạo nên đặc trưng giống loài Và thế gian được
tạo dựng là do các vị thần nhào nặn
Câu 4 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Truyện Prô-mê-tê và loài
người giúp bạn hiểu thêm gì về nhận thức và cách lí giải nguồn gốc con người và
thế giới muôn loài của người Hy Lạp xưa?
Trả lời:
Qua Prô-mê-tê và loài người ta thấy cách nhận thức và lí giải nguồn gốc
con người và thế giới muôn loài của người Hy Lạp xưa chủ yếu dựa vào sự tưởng
tượng của người xưa, và niềm tin vào các vị thần linh Các vị thần chính là lực
lượng tạo lập nên thế giới
Câu 5 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận
ra Prô-mê-tê và loài người là một truyện thần thoại?
Trả lời:
Những dấu hiệu nhận ra Prô-mê-tê và loài người là một truyện thần thoại:
không gian, thời gian, nhân vật
- Không gian: không gian vũ trụ, không cụ thể “thế gian”
- Thời gian: không xác định và mang tính vĩnh hằng “thuở ấy”
- Nhân vật: là những vị thần có sức mạnh và việc làm phi thường
- Có các yếu tố hư cấu tưởng tượng
Câu 6 (trang 17 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt
giữa hai truyện Thần Trụ trời và Prô-mê-tê và loài người
Trả lời:
* Sự tương đồng:
- Cả hai truyện đều thuộc thể loại truyện thần thoại và nói về việc tạo lập thế giới
- Cả hai truyện có những yếu tố tưởng tượng, hư cấu, đều lí giải bằng trực quan và bằng tưởng tượng
* Sự khác biệt:
Thần Trụ trời Prô-mê-tê và loài người
- Thần thoại Việt Nam
- Quá trình tạo lập trời và đất
- Thần thoại Hy Lạp
- Quá trình tạo nên con người và thế giới muôn loài
Trang 6Thần Trụ trời
* Trước khi đọc:
Câu hỏi (trang 13 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Bạn biết những truyện thần thoại nào? Hãy chia sẻ với các bạn trong nhóm về
những truyện thần thoại ấy
Trả lời:
Em biết một số truyện thần thoại:
Trứng điếng Đây là một truyện thần thoại của Việt Nam kể về nguồn
gốc của dân tộc Mường và các dân tộc Việt Nam
Nữ Oa vá trời Đây là thần thoại Trung Quốc, kể về bà Nữ Oa một mình
đội đá vá trời cứu loài người
Thần Trụ trời
Đây là một truyện thần thoại được lưu truyền khá sớm trong dân gian Việt Nam, giải thích sự hình thành của trời đất tự nhiên: biển, hồ, sông, núi,
* Đọc văn bản:
1 Tưởng tượng: Bạn hình dung như thế nào về vị thần Trụ trời?
Trả lời:
Hình dung về vị thần Trụ trời theo suy nghĩ của em:
- Hình dáng: khổng lồ, chân dài, có thể bước từ vùng này qua vùng khác, từ đỉnh
núi này sang đỉnh núi khác
- Hành động: Ngẩng đầu đội trời lên, đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột vừa
cao, vừa to để chống trời
=> Vị thần Trụ trời có vóc dáng kì lạ khác thường, hành động phi thường mà người
phàm không thể làm được
2 Tưởng tượng: Trời và đất thay đổi như thế nào sau khi có cột chống trời?
Trả lời:
- Khi có cột chống trời, trời và đất có những thay đổi:
+ Trời như một tấm màn rộng mênh mông + Vòm trời đẩy lên mãi phía mây xanh mù mịt
+ Trời đất phân đôi, chia tách
+ Đất phẳng như cái mâm vuông, trời trùm lên như cái bát úp
3 Suy luận: Bạn có nhận xét gì về cách kết thúc truyện?
để khẳng định công lao của thần Trụ trời trong việc tạo ra trời đất Qua đây chúng
ta hiểu thêm được cách đặt tên các vị thần trong truyện cổ xưa
* Sau khi đọc:
Nội dung chính văn bản “Thần Trụ trời”:
Văn bản nói về cách tạo ra đất, trời, thế gian của thần Trụ trời và các vị thần khác Cách lí giải dưới góc độ văn học dân gian và đầy sáng tạo, đề cao giá trị truyền thống
Trang 7
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (trang 14 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Chỉ ra các chi tiết về không gian, thời gian của câu chuyện
Thời gian không cụ thể
Câu 2 (trang 14 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận ra Thần Trụ trời là một truyện thần thoại?
Trả lời:
- Dựa vào những dấu hiệu của thần thoại: không gian, thời gian, cốt truyện, nhân
vật trong Thần Trụ trời để xác định đây là một thần thoại
+ Không gian: không gian vũ trụ gồm có đất và trời, không phải một địa điểm cụ
thể nào
+ Thời gian: “Thủa ấy” là thời gian định tính không cụ thể, chính xác
+ Cốt truyện: kể về vị thần Trụ trời trong quá trình tạo ra thế giới, nguồn gốc của các sự vật và con người
+ Nhân vật: là các vị thần có sức mạnh phi thường, nhân vật không có thực trong đời sống
+ Câu chuyện là một tác phẩm thống nhất, toàn vẹn, các bộ phận, yếu tố, chi tiết…đều có ý nghĩa và được gắn kết với nhau một cách chặt chẽ, thể hiện một nội dung chung của bài
Câu 3: (trang 14 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Tóm tắt quá trình tạo lập nên trời và đất của nhân vật thần Trụ trời Từ đó, hãy
nhận xét về đặc điểm của nhân vật này
Trả lời:
Tóm tắt quá trình tạo lập nên trời và đất của nhân
vật thần Trụ trời
Nhận xét về đặc điểm của nhân vật
- Tự đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột vừa cao, vừa to để chống trời
- Có năng lực phi thường, ý chí
- Thần hì hục đào, đắp, cột đá cao lên đẩy vòm trời lên mãi mây xanh
- Mạnh mẽ và tài năng
- Khi trời cao và khô, thần phá cột, lấy đất đá ném tung đi khắp nơi à tạo ra hòn núi, hòn đảo, gò, đống, những dải đồi cao là mặt đất ngày nay thường không bằng phẳng
- Có công tạo ra đất trời
Câu 4 (trang 14 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Nêu nội dung bao quát của truyện Thần Trụ trời
Trả lời:
Trang 8Thần Trụ trời lí giải quá trình tạo lập thế giới, trời đất, các sự vật dưới bàn tay của
Thần Trụ trời và các vị thần khác Đây là một truyện thần thoại lí giải nguồn gốc
sự xuất hiện của vũ trụ và các sự vật tự nhiên dưới góc độ dân gian
Câu 5 (trang 14 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Nhận xét về cách giải thích quá trình tạo lập thế giới của tác giả dân gian Ngày
nay, cách giải thích ấy có còn phù hợp không? Vì sao?
Trả lời:
- Cách giải thích quá trình tạo lập thế giới của tác giả dân gian dựa vào sự quan sát
tự nhiên, dựa trên trí tượng tượng, sáng tạo chưa có đầy đủ căn cứ, không có minh
chứng về độ chính xác
- Ngày nay cách giải thích ấy không còn phù hợp bởi vì khoa học phát triển đã
đưa ra những căn cứ, minh chứng cho việc hình thành trái đất
Câu 6 (trang 14 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Cách hình dung và miêu tả đất, trời
trong câu “đất phẳng như cái mâm vuông, trời trùm lên như cái bát úp…” trong
truyện Thần Trụ trời gợi cho bạn nhớ đến truyền thuyết nào của người Việt Nam?
Hãy tóm tắt truyền thuyết ấy và chỉ ra điểm tương đồng giữa hai tác phẩm
Trả lời:
- Cách hình dung và miêu tả đất, trời trong câu “đất phẳng như cái mâm vuông,
trời trùm lên như cái bát úp,…” trong truyện Thần Trụ trời gợi nhớ đến truyền
thuyết “Sự tích bánh chưng, bánh dày” của người Việt Nam
- Tóm tắt: Vua Hùng thứ sáu có hai mươi người con trai, nhà vua muốn lựa chọn
một người để nối nghiệp nên bảo các con, ai làm vừa ý nhà vua trong lễ Tiên vương
thì sẽ được đức vua truyền ngôi cho Các con đều đua nhau sắm những lễ vật thật
hậu, thật ngon và độc nhất vô nhị, đây đều là những sản vật được các lang cho người
đi khắp nơi tìm kiếm chỉ với mong muốn lấy được lòng của nhà vua Nhưng chỉ
duy nhất có người con trai thứ mười tám của đức vua là Lang Liêu, chàng vẫn rất
buồn vì chàng rất nghèo, chàng không có đủ tiền để tìm kiếm sản vật như các anh
trai của mình được Chàng làm nông nghiệp nên chỉ có dư lúa gạo Vì suy nghĩ quá nhiều mà chàng đã thiếp đi, trong giấc mơ, một vị thần đã bảo với chàng cách làm
lễ vật Tỉnh dậy, chàng thực hiện theo là lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn làm thành hai thứ bánh, một loại bánh tròn tượng trưng cho trời, một loại bánh vuông, tượng trưng cho đất Bánh tròn chàng đặt tên là bánh giầy, bánh hình vuông là bánh chưng Nhà vua rất hài lòng về lễ vật của Lang Liêu dâng lên nên ngài đã quyết định nhường ngôi cho chàng
- Điểm tương đồng giữa hai tác phẩm: Đều đưa ra lí giải sự xuất hiện của trời và
đất Trong hai văn bản đều mang tính hư cấu tưởng tượng, có xuất hiện các vị
thần Thời gian và không gian không xác định
Trang 9Thực hành tiếng Việt trang 19 Câu 1 (trang 19 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Chỉ ra lỗi thiếu mạch lạc trong những đoạn trích dưới đây và nêu cách sửa:
a Trong ca dao Việt Nam, những bài hát về tình yêu nam nữ là những bài nhiều
hơn tất cả Họ yêu gia đình, yêu cái tổ ấm cùng nhau chung sống, yêu nơi chôn rau
cắt rốn Họ yêu người làng, người nước, yêu từ cảnh ruộng đồng, đến công việc
trong xóm, ngoài làng Tình yêu đó nồng nhiệt, đằm thắm và sâu sắc (Dẫn theo
Bùi Minh Toán)
b Qua truyện Thần Trụ trời, ta thấy người thời cổ nhận thức và lí giải về cách
hình thành thế giới rất giản đơn Trời đất ban đầu dính vào nhau
c Hình tượng người nông dân trong văn học hiện thực phê phán có những nét đẹp
truyền thống Nếu đặt họ bên những nhân vật phản diện như Nghị Lại, Nghị Quế,
thì họ hoàn toàn đối lập với bản chất kệch cỡm, nhố nhăng, tàn ác của bọn quan
lại Chị Dậu không như Thúy Kiều hay Kiều Nguyệt Nga khi gặp hoạn nạn thì vào
cõi Phật để hưởng chút bình an, mà chị đã đấu tranh để bảo vệ nhân phẩm (Dẫn
theo Bùi Minh Toán)
Trả lời:
a
- Lỗi sai: lạc chủ đề Câu chủ đề nói đến những bài hát về tình yêu nam nữ nhưng
những câu phía sau trình bày cả tình yêu nam nữ và tình yêu quê hương, đất nước
- Cách chỉnh sửa: sửa lại câu chủ đề: Trong ca dao Việt Nam, những bài hát về tình
yêu nam nữ và tình yêu quê hương đất nước là những bài nhiều hơn tất cả
b
- Lỗi sai: Triển khai chưa rõ ý chủ đề
- Cách chỉnh sửa: Thêm các ý để làm rõ chủ đề: Qua truyện Thần Trụ trời, ta thấy
người thời cổ nhận thức và lí giải về cách hình thành thế giới rất giản đơn Trời
đất ban đầu dính vào nhau Dưới bàn tay của thần Trụ trời, các cột đá cứ cao dần,
cao dần và đẩy vòm trời lên mãi phía mây xanh mù tịt Từ đó, trời đất mới phân đôi
c
- Lỗi sai: so sánh khập khiễng không cùng chủ đề Câu chủ đề nói về hình tượng người nông dân nhưng trong câu văn số ba xuất hiện hai nhân vật Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga
- Cách chỉnh sửa: chỉnh sửa câu văn thứ ba cho phù hợp với chủ đề Hình tượng người nông dân trong văn học hiện thực phê phán có những nét đẹp truyền thống Nếu đặt họ bên những nhân vật phản diện như Nghị Lại, Nghị Quế, thì họ hoàn toàn đối lập với bản chất kệch cỡm, nhố nhăng, tàn ác của bọn quan lại Chị Dậu không như lão Hạc, cùng quẫn chọn cái chết để giải thoát, mà chị đã đấu tranh để bảo vệ nhân phẩm
Câu 2 (trang 20 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Sắp xếp những câu văn dưới đây
theo trình tự hợp lí để tạo thành đoạn văn mạch lạc
a (1) Cần ghi nhớ tuyệt đối không được hứa cho qua chuyện để lấy lòng (2) Trước hết, chúng ta cần phải biết coi trọng lời hứa, không gian đối với mình và với người (3) Người xưa có câu: Một lần thất tín, vạn lần bất tin (4) Nếu cảm thấy không chắc chắn hoặc lời hứa ấy vượt quá khả năng của mình, chúng ta không nên vội hứa hẹn (5) Chúng ta nên làm gì để có thể giữ chữ tín của mình?
b (1) Bản tên là Hua Tát (2) Từ thung lũng Hua Tát đi ra bên ngoài có nhiều lối
đi (3) Xung quanh hồ, khi thu đến, hoa cúc dại nở vàng đến nhức mắt (4) Ở Tây Bắc có một bản nhỏ người Thái đem nằm cách chân đèo Chiềng Đông chừng dặm đường (5) Lối đi chính rải đá, vừa một con trâu (6) Bản Hua Tát ở thung lũng hẹo và dài, ba bề bốn bên là núi bao bọc, cuối thung lũng có hồ nước nhỏ, nước gần như không bao giờ cạn (7) Hai bên lối đi đầy những cây mè loi, tre, vầu, bứa, muỗm và hàng trăm thứ dây leo không biết tên gọi là gì
Trả lời:
Trang 10a Sắp xếp lại: 3 → 5 → 2 → 1 → 4
b Sắp xếp lại: 4 → 1 → 6→ 3→ 5 → 7
Câu 3 (trang 20 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Chỉ ra và nêu cách sửa lỗi liên kết
trong những trường hợp sau:
a Ngoài sân vang lên tiếng guốc khua lộp cộp Và tôi không nghe thấy gì
b Trong quá trình tồn tại và phát triển, kho tàng thần thoại Hy Lạp đã trải qua
nhiều biến đổi, pha trộn rất phức tạp Tuy nhiên, những gì còn lưu giữ được đến
hiện nay về thần thoại Hy Lạp không phải ở dạng nguyên sơ nhất
c Văn bản Đi san mặt đất giúp người đọc hiểu về quá trình tạo lập thế giới trong
nhận thức của người Lô Lô xưa Họ còn khá giản đơn Họ cũng đã hiểu được vai
trò của con người trong việc cải tạo thiên nhiên
d Hiếu rất thích đọc truyện Mười hai sứ quân Em đã học được nhiều bài học quý
giá ở họ
Trả lời:
a
- Lỗi sai: dùng sai từ liên kết “và tôi không nghe thấy gì”
- Cách chỉnh sửa: thay và bằng nhưng/ tuy nhiên
b
- Lỗi sai: dùng sai từ liên kết: “Tuy nhiên, những gì còn lưu giữ ”
- Cách chỉnh sửa: thay tuy nhiên thành vì vậy/ do đó/ vì thế
c
- Lỗi sai: thiếu từ liên kết: “Họ cũng hiểu được vai trò…”
- Cách chỉnh sửa: thêm tuy nhiên/ cho dù vậy để tạo sự liên kết
d
- Lỗi sai: thiếu từ liên kết “Em đã học được nhiều bài học quý giá ở họ”
- Cách chỉnh sửa: thêm qua đó để tạo sự liên kết giữa hai câu văn
* Từ đọc đến viết (trang 20 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1):
Đề bài: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) chia sẻ suy nghĩ của bạn về một
truyện thần thoại mà bạn cho là đặc sắc
Đoạn văn tham khảo:
Thần thoại là một trong những thể loại đặc trưng của văn học dân gian và thể hiện được trí tượng, tri thức của con người thủa sơ khai về thế giới Trong kho tàng truyện thần thoại, em thích nhất truyện Prô-mê-tê và loài người Khi thế gian mới được khai phá mới chỉ có vài vị thần, các vị thần cảm thấy tẻ nhạt nên đã cùng nhau sáng tạo ra muôn loài để cuộc sống vui tươi Điều đặc biệt trong truyện là cách các
vị thần sáng tạo ra muôn loài, đó là các vị thần lấy đất và nước nhào nặn ra các loài vật và ban cho chúng một đặc ân của thần, một “vũ khí” để phòng thân, hộ mệnh, bảo vệ được cuộc sống của giống loài mình Ấn tượng hơn nữa là thần Prô-mê-tê dựa theo thân hình trang nhã của các vị thần tái tạo lại thân hình cho con người gọn gàng, đứng thẳng và thần tạo ra ngọn lửa để giúp loài người sinh sống và phát triển Với những chi tiết hư cấu thần kì đó, người đọc thấy được sức mạnh phi thường của các vị thần đồng thời hiểu được cách người xưa lí giải sự ra đời của muôn loài Bằng cốt truyện ngắn gọn, cụ thể, tập trung vào việc nêu lên quá trình tạo nên con người
và thế giới muôn loài của hai vị thần Từ đó, làm nổi bật hình ảnh vĩ đại và công lao
to lớn của hai vị thần