1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số giải pháp bảo đảm thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng

7 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp bảo đảm thực hiện phương châm 'Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng'
Tác giả Đào Ngọc Báu
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 765,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT số GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHƯƠNG CHÂM "DÂN BIẾT, DẨN BÀN, DÂN LÀM, DÂN KIỂM TRA, DÂN GIÁM SÁT, DÂN THỤ HƯỞNG" ★ TS ĐÀO NGỌC BÁU Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh • T[.]

Trang 1

MỘT số GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM

★ TS ĐÀO NGỌC BÁU

Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

• Tóm tắt: Thông qua nghiên cứu thực tế thực hiện dân chủ ở cơ sở, bài viết phân tích một

số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dàn thụ hưởng”, bao gồm yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật

về thực hiện dân chủ ở cơ sở; thực hiện thực chất mô hình chính sách từ dưới lên, bảo đảm công dân có quyền được tham gia vào quản lý nhà nước; đông thời nghiên cứu tính hợp lý của các quy định pháp luật vể thực hiện dân chủ trong doanh nghiệp; yêu cầu mở rộng dân chủ trực tiếp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

• Từ khóa: dân chủ ở cơ sở; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng.

1 Cụ thể hóa phương châm thành các quy

định pháp luật chặt chẽ, đồng bộ, hệ thống

Ngay 18-02-1998, BộChính trị ’khóa VIII)đã

banhành Chỉ thị số30-CT/TWvề xây dựng và

thực hiệnQuy chếdânchủ ở cơ sở Sau đó, các

cơ quan có thẩm quyềnđãbanhànhnhiềuvăn

bản quy phạmpháp luật để cụ thể hóa chủ

trương này, bao gồm Nghị định số

29/ 1998/NĐ-CP về thực hiện Quy chế dân chủ

ở xã, phường, thị trấn, Nghị định số

71/1998/NĐ-CP về ban hành Quy chế thực

hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan,

Nghị định60/2013/NĐ-CP quy địnhchi tiết khoản 3 Điều 63Bộ luật Laođộng vềthực hiện quy chế dân chủ ở cơsở tại nơi làm việc Sau mộtthòi gian ápdụng, quy định trong các văn bảnnàyđãbộc lộnhững hạn chế nhất định, vì vậy, Quốchội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bảnmới thay thế Hiệnnay, các nội dung chủ yếu về thực hiện dânchủở cơ sở được điều chỉnh tại ba văn bản sau đây:

- Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20-4-2007 về việc thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn (Pháplệnh34);

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - số 535 (9/2022)

Trang 2

- Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày0901

-2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong

hoạt động của cơquan hành chính nhà nước và

đơn vị sựnghiệp công lập (Nghịđịnh 04);

- Nghị địnhsố145/2020/NĐ-CP ngày14-12-

2020 của Chính phủ quyđịnh chi tiếtvàhướng

dẫn thi hành một sốđiều của Bộ luật Lao động

về điều kiện lao độngvà quan hệ laođộng (Nghị

định 145)

Ngoài ra, vấnđề thực hiện dân chủởcơ sở còn

được quy địnhtrong một sốđạo luật như: Bộ

luậtLao độngnăm 2019, LuậtTiếp cậnthôngtin

năm2016, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; Luật

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015;Luật Tổ

chức chính quyền địaphương năm 2015 (sửa

đổi, bổ sung năm2019); LuậtCán bộ, công chức

năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật

Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm

2019) Nội dung chính của các văn bản quy

phạm phápluậtnêu trênđều là bảo đảm thực

hiện dânchủở cơ sở theo phương châm “Dân

biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dângiám

sát, dân thụ hưởng"

Nhưvậy, các quy địnhpháp luật về thực hiện

dân chủ ởcơ sở ởnước ta hiện naythể hiện rải

rác ởnhiềuvănbản pháp luậr khácnhau Mô

hình này cómột sốhạn chế như: (i) gây khó khăn

cho việc tìm kiếmcácquy định có liên quan; (ii)

có thể tạo ramâu thuẫn, chồngchéogiữacác

quy định pháp luật Thực tế chothấy, hai hạn

chế đó đều đã phát sinh trong quá trìnhthực

hiện dân chủ ở cơ sởthòigianqua

Đối vói hạn chế thứnhất, hiện nay chúng ta có

ba vănbảncơ bảnquyđịnh choviệcthựchiện

dânchủ ở ba loại “cơ sở”khácnhau, đó là Pháp

lệnh34,Nghị định 04 và Nghị định 145 Điều này

tạora sự phức tạp cho hệthốngpháp luật, đồng

thòi gây khó khăn cho người dân ttong việc tra

cứu, tìmhiểucác quyềnvà nghĩa vụliênquan

đếndân chủ ở cơ sở.Ngoài ra,trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sởcó trườnghọp liên quan đến hoạtđộng của banthanhưanhân dân, nhưngcả ba vãnbản ttên đềukhôngcóquy định

về cơ quannày, thayvào đó nộidungnày được quy định tại Luật Thanh tra Vậy là, người dân cần tiếp tục viện dẫn đến một đạo luật khác mói nám được toàn diện các quyđịnhcủa pháp luật

về thực hiện dân chủ ở cơ sở Chưa kểquyđịnh củaLuậtThanh tra đối vói ban thanh ưa nhân dân cũng chưa thựcsựphùhọp, bởi Luật này chủ yếu điểu chỉnh hoạt động của thanh ưa nhà nước, một thiết chếcó bản chất khác thanh ưa nhândân, do đó việc gộp chunghaithiết chế này vàomộtđạo luật là khiêncưỡng

Đối vói hạnchế thứhai, một số mâuthuẫn phát sinh giữa các quy phạm pháp luật về thực hiệndânchủ ở cơ sở, thí dụ Pháp lệnh 34chỉ quyđịnhchính quyển cấp xã phảicông khai, thông tin cho người dân biết 11 nội dung, trong

đó 4nộidung côngkhai bàng hình thức niêm yết, 7 nội dung công khai trênhệ thống truyền thanh của địa phương và thông qua trưởng thôn, tổ trưởngtổdân phốđể thông báo đến nhân dân;ưongkhi đó, theo quy định tại Điều

5 Luật Tiếp cậnthôngtin năm 2016 thì công dân đượcquyềntiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ nhữngthông tin không được tiếp cận

và được tiếp cận có điều kiện theo quy định Như vậy, quy định của Pháp lệnh 34 về cácnội dung phải côngkhai hẹp hơn quy định củaLuật Tiếp cậnthông tin, hệ quả là khôngbảo đảm đầy đủ yêu cầu “dân biết” khi thực hiệndân chủ

ở cơsở Từ đócó thể dẫn đến suy luận rằng, chính quyển tránh thông tin những nộidung cần thiết, chỉ công khai nhữngnội dung người dân không cần thông tín

Bên cạnh đó, đã phát sinh trườnghọp quy định chồng chéo giữa các văn bản quyphạm

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ- số 535 (9/2022)

Trang 3

pháp luật liên quan đếnthụchiện dânchủ ởcơ

sở Chẳng hạn, đối vóinộidung dân bàn, biểu

quyết liênquan đến hương ước, quy ước của

thôn, tổ dân phố được quy định tại Điều 13,

Pháp lệnh 34, cũng đồng thòi được quy định

trong Quyếtđịnhsố 22/2018/QĐ-TTg ngày 08-

5-2018 của Thủ tướng Chính phủvề xâydựng,

thựchiện hương ước, quyước

Một thí dụkhác là các nội dung về quyền bầu

cử, lấy phiếutín nhiệm các chứcdanh lãnh đạo

chính quyền địa phươnghay các quy địnhvề

quyềnphản ánh, kiếnnghị, khiếu nại, tố cáo của

người dân, hoạt động tiếpcông dân, hoạtđộng

tiếp nhậnphảnánh,kiến nghị của ngườidan-

da được quy định tại cácluậtnhư: LuậtBầu cử

đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân

dân; LuậtTrưngcầu ý dân, Luật Ban hành văn

bản quy phạm pháp luật nhưng đồng thời

cũng đượcquy định trong Pháp lệnh 34

Pháp lệnh34lẽrachỉ nênquy địnhvề “thực

hiện dân chủ” tức làcác cáchthức, phươngpháp

và biện pháp bảo đảm để ngườidân thực hiện

quyền dân chủ tạicơsở, mà không nênquy định

nội dung các quyền dân chủ cụ thể

Ngoài ra, bản thân các quy định pháp luật

hiệnhành chưathể hiện được hếtphương châm

“Dân biết, dânbàn,dân làm, dân kiểm tra, dân

giámsát, dân thụhưởng” Hai nội dung “dân

giám sát, dân thụ hưởng” mói đượcbổ sung từ

ĐạihộiXIII,trong khi các văn bản pháp luậtnói

trênđược ban hành trước đó nên cơbản chưa

đề cập đến hai nội dung mới này,đặc biệt là vấn

đề “dân thụ hưởng” Điều nàycó thế thấy ở quy

định của Điều 1, Pháp lệnh 34: Pháp lệnh này

quy định nhữngnội dung phải công khai để

nhândânbiết; những nội dungnhân dân bàn và

quyết định; những nội dung nhân dân tham gia

ý kiến trước khi cơquan có thẩm quyền quyết

định;những nội dung nhân dân giám sát; trách

nhiệmcủa chính quyền, cán bộ,công chức xã, phường, thị trấn (sau đâygọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc (sau đây gọichung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đâygọi chung là tổdân phố), của

cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vàcủa nhân dân trong việc thựchiện dân chủ ở cấp xã” Yêu cầuvề mộtvăn bản pháp luật về thực hiệndần chủ ở cơ sở do Quốc hội banhành còn xuất phát từ quy định của Hiến pháp năm 2013 Điều 6 của Hiến pháp quyđịnh“Nhândân thực hiện quyền lực nhà nước bàng dân chủ trựctiếp, bàng dân chủ đạidiệnthông qua Quốc hội,Hội đồngnhân dân và thông quacáccơ quan khác của Nhà nước”; Điểu28 quyđịnh “Công dâncó quyền thamgia quản lý nhà nước vàxã hội, tham giathảo luận vàkiến nghị vói cơ quan nhà nước vềcác vấn đề củacơ sở, địa phươngvà cả nước” và “Nhànước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nướcvà xãhội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của côngdân” Đồng thòi, Điều 14 khẳng định nguyên tác “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chếtheoquy địnhcủa luật ttong trường họpcần thiết vì lý do quốc phòng, an ninhquốcgia,ttật tự, antoànxã hội,đạođức xã hội, sức khỏe của cộng đổng” Trong khi đó,hiện nay, các quyđịnh của pháp luật điều chỉnh chung về thực hiện dân chủ ởcơ

sởđang đượcquy định bói các văn bản dưới luật (pháp lệnh và nghị định) là chưa thựcsự phù họp vóiquy định của Hiến pháp năm 2013 về tôntrọng,ghi nhận,bảovệvà bảo đảm việcthực hiện quyềndân chủ củanhân dân

Nhữnghạn chế nóitrênlà một trong những yêu cầu cơ bản đặt ra đòi hỏi phải được giải quyếttrong thời giantới Muốn vậy, cần thực hiện công tác pháp điển hóa, bàng cáchban hành Luật Thựchiện dân chủ ở cơ sở thay thế

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ số 535 (9/2022)

Trang 4

cho cácvănbản dưới luậtdoủy ban thường vụ

Quốc hội và Chính phủbanhành

2 Xây dựng cơ chế bảo đảm “dân bàn ”

một cách thực chất

Bảo đảm “dân bàn” thựcchất tức là để người

dân được tham gia ý kiến và trong một số

trường họp có quyềnquyết định đốivới việc

ban hành và tổ chức thực hiện chính sách

công, nói cáchkháclà phải thực hiện việc ban

hành và tổchứcthực thi chính sáchtheo mô

hìnhtừ dưới lên (bottom-up);ngược lại, nếu

người dân không được “bàn” mà chỉ chấp

hànhcác chínhsách do cơ quan nhà nước ban

hành thì đó là mô hình chính sách từ trên

xuống (top-down) Mô hình từ trên xuống có

hạn chế là dễ tạo ra tham nhũng, lọi ích nhóm,

người dân thờơ vói cácchính sách;thậm chí

cóthểdẫn đến phản đối tập thể mà đỉnh điểm

là tạo raxungđột hoặc điểm nóng xã hội nếu

chính sách không bảođảm lợi ích họp phápvà

hài hòacủangười dân

Theoquy định của pháp luật hiệnhành, “dân

bàn” được thể hiện dướibahìnhthức: (i)nhân

dânbànvàquyết địnhtrựctiếp, (ii) nhân dân

bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết

định,(ui)nhân dân tham gia ý kiếntrước khi cơ

quan cóthẩmquyền quyết định Ba hình thức

này cho thấy, yêu cầu về bảo đảmcho “dân bàn”

đã thể hiện đượctinh thần của mô hình chính

sách từdưới lên

Tuynhiên, thực tế thực hiện “dân bàn” thời

gian qua cho thấyhoạt động này ởmột số địa

phương chưa được tổ chức thực chất Nhiều

trườnghọpdânbàn nhưngtheo sự áp đặt của

chính quyền địaphương,đồng thời chính quyền

địaphương không thựcsự cầu thị,lángnghe ý

kiến góp ý, phản ánh của nhân dân.Nhân dân

chủ yếu bànvàquyết định các nộidung do ủy

ban nhân dân cấp xã chỉ đạo trưởng thôn, tổ

trưởng tổ dânphố đề xuất, chưa phát huy được vaiưò của người dân và các chủ thểkhác trong việc đềxuất những nộidung đưa ra nhân dân bàn vàquyếtđịnhtrực tiếp Nội dungtham gia của nhân dân vào các hoạt động của chính quyềncơ sở và của cáccấp chínhquyền,đóng góp ýkiến vào quá trìnhxâydựng,ban hànhcác quyết địnhhành chính còn hạnchế;cơ chếđối thoại giữa chính quyền và người dân chưa được thực hiện thường xuyên, hiệu quả, dẫn đến tình ttạng khiếu nại,khỏi kiệncácquyết định hành chính, đặc biệt là về đất đai, bồithường giải phóng mặt bàng

Ngoài ra, do trình độ nhận thứccủa người dânkhôngđồng đều, một bộphận người dân chưa quan tâm đến những vấn đề của địa phương, ít tham dự các buổi họp ở thôn, tổ dân phố nên chưa nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách hoặc không tham gia đóng góp ý kiến nên chính quyển khôngthể tập họp đầy đủ mongmuốn chính đáng và ý kiếnxácđáng của mọi người dân(1)

Để khắc phục hạn chế,cần xây dựngcơ chế

để “dân bàn”một cách thực chất Đó là:

- Đối với các dự án liên quan đếncộngđồng như chật cây xanh lâunămđể thay thế bằng cây mới, thu hồi ngư trường xâykhu nghỉdưỡng ven biển chính quyền sởtại bát buộc phải thựchiện “dân bàn”dưới hình thức điều tra xã hội học và phải bảođảm nguồn kinh phí đểchi trảcho người dân thamgia điều tra Như vậy, người dânsẽ tích cựctham gia hoạt động “dân bàn” và thôngtin thuđược có độ tincậycao Tuy nhiên,vấn đề nàycần quy địnhcụ thể, chỉ

rõ những việc nào cần đưa ra “dân bàn” để tránh cảnưở hoạt động chung của bộ máy nhà nước và cũng tránh việc lọi dụngthực hiện dân chủở cơsở để chống phá Nhà nước, kích động bạo loạn

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - số 535 (9/2022)

Trang 5

- Đối vói cácvấnđề liên quanđến đời sốngxã

hội, quảnlýnhànước nhưngkhông thuộc các

dự áncókinh phí thì chính quyềnphải thực sự

cầuthị tiếp thuý kiến của ngườidân, cầncóquy

định chếtàiđối vói chính quyền cơ sở không

thựchiệnnghiêm túcquyđịnh “dân bàn”, thực

hiện qua loa, hình thức, đối phó Đồng thòi, cần

có quyđịnh rõthẩm quyền, chức năng của cơ

quan nhànước,Mặt trậnTổquốcvà các tổ chức

chính trị-xã hộitrong giámsáthộiđồng nhân

dân, ủy ban nhân dânxã, phường,thị ưấn thực

hiện dânchủở cơsở Quy định rõ ừách nhiệm

cá nhân, ừách nhiệm ngườiđứng đầu trong việc

thựchiện dânchủ ở cơ sở, nếuthực hiện không

đúng, có sai phạm hoặc để xảy ra saiphạmthì

người đứngđầu phảichịu trách nhiệm cá nhân

trước pháp luật, trướcnhân dân về những sai

phạmcủa mình

3 Làm rỗ tính hợp lý của việc thực hiện

dân chủ tại doanh nghiệp

Hiện nay, thực hiện dân chủ tại doanh

nghiệp được quy định tại Nghị định số

145/2020/NĐ-CP của Chính phủquy định chi

tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Bộ

luật Lao động về điều kiện lao động và quanhệ

lao động Tuy nhiên, cần thấyràng quan hệ

giữachủ sử dụng lao độngvà người lao động

có bàn chất pháp lý khác hoàn toàn so với

quanhệgiữa Nhà nướcvàcông dân,một bên

là quan hệ lao độngvà mộtbên là quan hệ

chính trị-pháp lý

Trong quan hệgiữa Nhà nướcvàcông dân, tất

cả quyềnlực nhà nước bát nguồn từ nhân dân,

nhân dântrao quyển cho Nhànước, do vậy,

trong hoạtđộng của mình, cơ quannhànướcvà

nhân viên nhànướcchỉ được sử dụng quyền lực

công để phục vụ lợi ích chungcủanhân dân,

Nhà nước và xã hội.Hơnnữa, hoạtđộngcủacơ

quancông quyền dựa trênnguồnkinhphíchủ

yếu từ thuế của người dân, vậynên nhân dân là chủ, Nhà nước có trách nhiệm phục vụlợi ích của nhân dân Vìvậy,việc ban hành pháp luật phải bảo đảm quyền làm chủcủa nhân dân từ

cơ sở

Trong khi đó, quan hệ lao động là thỏa thuận dân sự, không cóbảnchấtchínhtrị -pháp lýnhư trên Người lao động là người được thuê làm công ănlương, người sửdụng laođộngưảlương cho người laođộng Quan hệ lao động đã được điều chỉnhhỏiphápluật lao động, vóivăn bản pháp lý trung tâm làBộ luật Lao động, theo đó ngườisử dụng lao động phải bảo đảmcác quy định của pháp luật về chế độ tiển lương, thòi gian làm việc,nghỉ ngoi, chếđộ bảo hiểm xã hội đối vói người lao động,xâydựngthỏaước lao động tậpthể

Ngoài những yêu cầu trên,người sửdụng lao động không cần thiết phải công khai những thôngtin của doanh nghiệp, nhất làthông tin về tình hình sảnxuất -kinh doanh.Nếu có tranh chấp phát sinh trongquá trình laođộng thì có thểđược giải quyếtthông qua các thiếtchếnhư đối thoại tại noi làm việc,thươnglượng tập thể, hòa giải, ttọng tài

Vìvậy,quy định về thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp có thể tạo gánh nặngcho doanhnghiệp, thậm chí dãn đến lọi dụngdân chủở cơ sở đểtạo sức épcho doanh nghiệp, tăng chi phíquản lý, sảnxuất, kinh doanh

Chính vì lý do trên nên thời gian qua,mặc

dùviệcthực hiện dânchủở doanh nghiệp theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra, dần giám sát, dân thụ hưởng” không đạt hiệu quả cao, nhưng không ảnh hưởng đếnkết quảsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Báocáokết quả thi hành pháp luậtvề thực hiện dân chủở cơ sở của Bộ Nội vụ chỉ rõ: “Sốlượng doanh nghiệp xây dựng quy

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - số 535 (9/2022)

Trang 6

chế dân chủ ởcơ sở còn thấp;đặc biệt tại một

số tỉnh, thành phố tập trung số lượng lớn

doanhnghiệp, thịtrường lao động phát triển”,

“Nội dung người lao động được biết, được

tham gia, được quyết định,được kiểmtra, giám

sát chủ yếu vẫn là các nội dung đã đượcquy

định cụ thể tại Bộ luật Lao động như thang

lương, bảnglương, nội quy lao động, quy chế

trả lương, quy chế nâng bậc, nâng lương, thỏa

ước lao động tập thể; các vấn đề của doanh

nghiệp như tình hình sản xuất kinhdoanh,giải

quyết khiếu nại,tố cáo của doanhnghiệp còn

hạn chế”, “Phần lớncác doanh nghiệp ngoài

nhà nước, doanhnghiệp cóvốn đầutư củanhà

đầu tư nước ngoài thựchiện chưa tốt những

nội dung công khai cho người lao động biết,

đặc biệt những nội dungliên quan đến nhiệm

vụ kếhoạch sản xuất kinh doanhhàngnăm

cũngnhư các chỉ tiêu về tài chính liên quan

củadoanhnghiệp”’2’

Thựctế trêncho thấy, cần xem xét lạitính họp

lý củaviệccoi doanh nghiệp cũng làmộtloại

hình“cơ sở”và chịusựđiều chỉnh củapháp luật

vềthực hiện dânchủởcơsở Nếuban hành luật

nhưng luật không có tính khảthi, dođó không

tổ chức thực hiện đượcsẽ dãnđếnhiện tượng

“nhờn” luật, đó là điều nên ưánh củahoạt động

lập pháp

4 Mở rộng dân chủ trực tiếp trong thực

hiện dân chủ ở cơ sở

Dân chủ, hiểu một cách đơn giản nhất, là

quyềnlực thuộc về nhân dân Nhà nước dân chủ

làNhà nước dựa trênnguyên tác bình đảng và

nguyên tácthiểusốphục tùng đa số, đồngthòi

tôn trọng quyền lợicủa cá nhân và thiểusốđể

quản lý cáccông việc của đấtnước Trong chế

độdân chủ, nhân dâncóchủ quyền tối cao, cao

hơn cơ quan lập pháp và chính phủ Nhândân

trao quyền của mình cho các cơ quan nhànước

thông quahiếnpháp, vìvậy, các cơ quan nhà nướckhông được hành xử vượt ngoài quy định của hiến pháp

Tuynhiên, nhân dân không trao hết quyền choNhà nước màluôngiữ lạihaiquyền cơ bản,

đó là quyền lập hiến và quyền bãi miễncác đại biểukhông còn xứng đáng Dân chủ đòi hỏi Chính phủphải tôn ttọngpháptrị, bảo đảm cho người dân có được sự bảo hộ bình đẳng từ pháp luật và quyền lọi của người dân đượcbảo hộ của thểchế tư pháp

Dân chủ có haihình thức cơ bản là dân chủ trực tiếpvà dân chủ đạidiện Dân chủtrực tiếp

là hình thức dân chủ theo đó mọingười dân đều có quyền bỏ phiếu để trựctiếp quyếtđịnh các vấn đề của đất nước Dân chủ trực tiếp được thực hiện dưới bốn hình thức chủ yếu, đó

là trưng cầu ý dân, sángkiến côngdân, sáng kiếnchương trìnhnghị sự vàbãi miễn đại biểu dân cử*3’

Trưng cầu ý dân là mộthình thức dân chủ trựctiếp, theo đó công dân bỏ phiếu tánthành hoặc không tán thành đốivói mộtsự việcquan trọng củađất nước được đề nghịđưa ra toàn dân quyết định

Sáng kiến công dân là một hình thức dân chủ trực tiếp, theo đó công dân lập đơnvà thu thập một số lượng chữ ký tối thiểu của cử tri theo luật địnhđể buộcchính quyền thựchiện trưng cầu ý dân Sáng kiếncôngdâncó thể liên quan đến việc sửa đổi Hiếnpháp, pháp luật hoặc chỉ đơn giảnlà một vấn đề trong cuộc sống đòi hỏicơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp phảigiải quyết Sáng kiến công dân có thể có hiệu lực ràngbuộc về mặtpháp lý hoặc chỉ có tính chất tham vấn vớicơ quan lập pháp, tùytheo quy định của pháp luật

- Sáng kiến chương trình nghịsự làmộthình thức dân chủ trực tiếp, theo đó người dân đề

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Sô 535 (9/2022)

Trang 7

xuất đưa mộtvấnđềcụ thể vào chưong trình

nghị sự củacơquannhà nước Khi đó, mộtvấn

đềxã hội sẽưở thànhvấn đề chính sách,buộc

cơ quan nhà nước phải xem xét đểban hành

pháp luật điều chỉnh vấn đềnày

- Bãimiễnđại biểu dân cử là hình thức dân

chủ trực tiếp, theo đó cử tri bỏphiếu quyếtđịnh

về việcchấm dứt tư cách một đại biểu dân cử

Thực tiễnthựchiện pháp luật vềdân chủở

cơ sở thòi gian qua cho thấy,các nội dung của

dânchủ trực tiếp còn hạn chế, nhiều vấn đề ở

cơ sở chủ yếu được quyếtđịnh bànghình thức

dânchủđại diện, thông qua hội đồng nhân dân

hoặc thông quacáccơ chế giámsát xã hội của

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức

thànhviên

Để cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XIII và

quy định của Hiếnpháp năm2013,thòi gian

tói cần cân nhác mở rộng dân chủ trực tiếp

trong thực hiệndânchủ ở cơ sởtrêncả bốn

lĩnh vực:trưng cầu ý dân, sángkiến công dân,

sáng kiến chươngtrình nghị sựvàbãi miễnđại

biểu dâncử.Muốnvậy, cần giải quyết một số

vấnđề sau đây:

Mở rộng phạm vicác nội dungnhàn dân được

bàn và quyết định trực tiếp như quyết định

hương ước, quyước, luật lệ,quyếtđịnhngườiđại

diệncủa cộng đồng dân cư Quyết định của

cộngđồng dân cư làquyết định có giá trị thi

hành trong cộng đồngdân cư nên khôngcần

phải xem xét, phê duyệt bởi một cơquan, tổ

chức khác, kểcảNhà nước Nhà nước chỉ can

thiệp, bãi bỏ quyếtđịnh của cộng đồng dâncư

trong trường họp quyết định đó ưái Hiến pháp

và phápluật

Quyđịnh hình thứcsángkiến nhân dân, công

nhận quyền của người dân ưong việc đề xuất các

vấn đề đểcộng đồng dâncư hoặc chính quyền

địa phương quyết định thay vì quyềnđề xuất,

sáng kiến chỉ thuộcvề Nhànướcnhưquy định hiện hành

Banhành cơ chếbảo đảm thực hiện dân chủ trựctiếp, trong đóchúý đến cácyêu cầu như:

sự cởi mở của cơ quan công quyền, bao gồm tính côngkhai, minh bạch và trách nhiệmgiải trình của chính quyền cơ sở; bảođảm về điều kiện vật chất và phương tiện kỹ thuật, bao gồm chế độ, chính sách và điều kiện hoạt động của các tổchức tự quản của cộng đồng dân cư, cơ

sở vậtchấtvà trang thiết bị kỹthuật công khai thông tin, thảo luận, bàn bạc tại cộng đồng dân cư; côngcụ đánh giá mứcđộ thựchiện dân chủ

ởcộng đồng dân cư bao gồm các thang,bảng, chỉ số đánh giá chấtlượng vàhiệu quảcủaviệc thực hiệndân chủ ở cơ sở, đánh giá mức độ tham gia và sự hài lòng của người dân đốivới các hoạt động dân chủ tạicơsở, đánhgiá sự phảnhồi của chính quyền địa phương đối vói việc thực hiện dân chủ ở cơ sử, năng lựcnhận thức của ngườidânvàchính quyền trongviệc thựchànhdân chủ □

Ngày nhận bài: 22-8-2022; Ngày bình duyệt:

18-9-2022; Ngày duyệt đăng: 26-9-2022.

(l)Tờtrìnhsố 141/TTr-CPngày21-4-2022vềDựán Luật Thựchiện dân chủ ở cơ sởcủa Chính phủ trinh Quốc hội

(2) Bộ Nộivụ: Báo cáo kết quả thi hành pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, tháng 8-2020

(3) Vũ Công Giao: “Dân chủ trực tiếp trên thế giói

và những gợi mở cho Việt Nam", trích trong Viện Chính sách công vàPhápluật, ViệnNhà nước và pháp luật, Kỷ yếu Hộithảo “Một sốvấn đề lý luận, thực tiễn vê dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên

thế giói và ở Việt Nam ”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,2014, tt.66

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - Sô 535 (9/2022)

Ngày đăng: 19/11/2022, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w