BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TPHCM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG Môn: CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌCĐỀ TÀITÁCH CHIẾT FLAVONOID TỪ DIẾP CÁGVHD: Lại Đình BiênLỚP: 12CDSH2NHÓM: FLAVONOIDtổng quan về tài liệu1.1 Tổng quan về thực vật:Cây Diếp cá còn có tên là cây Giấp cá, Lá giấp, Ngư tinh thảo. Tên khoa học là Houttuynia cordata ThunbTên tiếng Anh của nó là heartleaf (lá hình tim) hay lizardtail (đuôi thằn lằn).Phân loại:Giới Thực vật (Plantae) - Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) - Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) - Bộ Hồ tiêu (Pip rals) - Họ Lá giấp (Saururac a ) - Chi Diếp cá (Houttuynia Thunb.) - Diếp cá (Houttuynia cordata Thunb.) - Phân lớp Ngọc lan (Magnoliida ) 1.1.1 Mô tả thực vật : Cây thuộc thảo, thân ngầm, rễ mọc ở các đốt. thân trên mặt đất mọc đứng cao 40cm, có long. Lá hình tim, mền nhẵn, mặt dưới tím nhạt, khi vò có mùi tanh như cá do đó có tên là diếp cá hay ngư tinh thảo. Cụm hoa là bông, màu vàng không có hoa, có 4 lá bắc trắng; tất cả nhìn như một cái hoa đơn độc. Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn 1.1.2 Phân bố, sinh thái Phân bố từ Nhật Bản, Trung Quốc tới Nêpan, Ấn Độ, các nước Đông Dương và Indonsia. Ở nước ta, cây mọc rất phổ biến. Cây mọc hoang ở những nơi ẩm thấp. Ở miền Nam được trồng nhiều làm rau sống.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TPHCM
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Môn: CÁC HOẠT CHẤT SINH HỌC
TÁCH CHIẾT FLAVONOID
TỪ DIẾP CÁ
GVHD: Lại Đình Biên LỚP: 12CDSH2
NHÓM: FLAVONOID
Trang 2 1.1 Tổng quan về thực vật:
Cây Diếp cá còn có tên là cây Giấp cá, Lá giấp, Ngư tinh thảo
Tên khoa học là Houttuynia cordata Thunb
Tên tiếng Anh của nó là heartleaf (lá hình tim) hay liza
rdtail (đuôi thằn lằn)
Trang 3 - Chi Diếp cá (Houttuynia Thunb.)
- Diếp cá (Houttuynia cordata Thunb.)
- Phân lớp Ngọc lan (Magnoliida )
Trang 5 Cây thuộc thảo, thân ngầm, rễ mọc ở các đốt thân trên mặt đất mọc đứng cao 40cm, có long Lá hình tim, mền nhẵn, mặt dưới tím nhạt, khi vò có mùi tanh như cá do đó có tên là diếp cá hay ngư tinh
thảo Cụm hoa là bông, màu vàng không có hoa,
có 4 lá bắc trắng; tất cả nhìn như một cái hoa đơn độc Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn
Trang 6 Phân bố từ Nhật Bản, Trung Quốc tới Nêpan, Ấn
Độ, các nước Đông Dương và Indonsia
Ở nước ta, cây mọc rất phổ biến Cây mọc hoang ở những nơi ẩm thấp Ở miền Nam được trồng nhiều làm rau sống
Trang 7 - Các flavonoid: quercitrin (=quercetin 3-
rhamnosid), isoquercitrin (quercetin 3-glucosid)
- Tinh dầu: Đây là thành phần làm cho dược liệu
có mùi đặc biệt Thành phần chủ yếu của tinh dầu
là methylnonylceton, laurylaldehyd, caprylaldehyd
và decanonyl acetaldehyd Chất sau cùng này là thành phần chính nhưng không bền và dễ bị phân huỷ khi chưng cất
- Ngoài ra trong diếp cá còn có nhiều chất khác: (4-hydroxystyryl)-benzamid, aristolactam, các
N-alcaloid nhân pyridin, 1,3,5 - tridecanonylbenzen
Trang 8 - Tác dụng kháng nhiều loại virus đã được nghiên cứu Thành phần có tác dụng là quercitrin và tinh Tinh dầu ức chế trực
tiếp các virus sau: Virus gây bệnh herpes (mụn rộp) chủng 1 (HSV-1), virus gây bệnh cúm và HIV chủng 1 của người (HIV- 1) nhưng không thấy có tác dụng chống virus gây bệnh bại liệt
- Diếp cá còn có tác dụng kháng viêm, thông tiểu Tác dụng
làm bền mao mạch của quercitric đã được chứng minh
- Dược điển Trung quốc chỉ định dùng lá diếp cá trong các
trường hợp apxe phổi, ho khó thở, lỵ, nhiễm trùng đường tiểu tiện, mụn nhọt
- Có thể dùng diếp cá tươi để chữa đau mắt đỏ có tụ máu (giã nhỏ lá, ép vào hai miếng giấy bản, đắp vào mắt), bệnh trĩ (hãm lấy nước uống và rửa) Diếp cá là thứ rau ăn thông thường ở miền Nam Đây cũng là nguồn cung cấp vitamin P rất tốt cho
cơ thể
Trang 92.1 QUY TRÌNH CHIẾT XUẤT CAO DIẾP
CÁ
Bột Diếp Cá được làm ẩm với cồn 96% trong 2h, nạp vào bình ngấm kiệt, thêm cồn vào bình chiết, ngâm trong 12h
Rút dịch chiết ở tốc độ 10-12 giọt/phút cho đến khi dịch chiết nhạt màu Gộp toàn bộ dịch chiết cồn, cô thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được dịch
chiết đậm đặc
Trang 10 Dịch A (mục 3.1.1.) được pha loãng với 1 lít nước, lắc phân bố với CHCl3 đến khi dịch
CHCl3 không còn cho màu xanh nhạt với TT
FeCl3 5%, dịch CHCl3 được rửa nước nhiều lần, gộp các dịch CHCl3, cô thu hồi dung môi được cao A1 (12 )
Trang 11 Dịch A còn lại được lắc phân bố với ethyl acetat đến khi dịch ethyl acetat không còn cho màu xanh rêu
đậm với TT FeCl3 3,5%, rửa dịch ethyl acetat với 100 ml nước cất, gộp các dịch ethylacetat, cô thu hồi dung môi được cao lỏng A2 (54 g) A2 được dùng làm mẫu để phân lập các flavonoid bằng sắc ký cột nhanh (VLC)
Dịch A còn lại tiếp tục được lắc phân bố với nbutanol đến khi dịch nbutanol không còn cho màu xanh đen với TT FeCl3 3 ,5% Dịch n-butanol thu được, rửa nước nhiều lần, gộp các dịch n-butanol, cô thu hồi dung
môi được cao A3 (7 g)
Trang 13 Định tính flavonoid trong các cao A1, A2,
A3 bằng phản ứng cyannidin và sắc ký lớp mỏng
Kết quả: phân đoạn 2 – cao A2 giàu
flavonoid so với phân đoạn 1 và phân đoạn 3,
do đó A2 được dùng để phân lập các flavonoid bằng sắc ký cột
Trang 14Phân lập flavonoid từ cao A2 bằng SKC chân
không
Thăm dò hệ dung môi trên sắc ký lớp mỏng
Khảo sát một số hệ dung môi, tiến
hành thăm dò trên sắc ký lớp mỏng tráng sẵn
(silica gel F254), phát hiện bằng TT FeCl3 5%,
soi UV 254nm, UV 365nm và thu được kết quả
như sau:
Trang 15STT Hệ dung môi trên sắc kí Khả năng tách
1 Butyl acetat-acid formic ++
Trang 16Kết quả: Hệ Butyl acetat- nước (15:5) có khả năng tách tốt, R1 thích hợp nên được dùng để tiến
hành triển khai trên sắc ký cột chân không Tuy nhiên
do không có mặt của acid formic nên các vết tách kéo đuôi, do đó silica gel sẽ được tầm 5% acid formic để tách gọn hơn
Trang 17 Phân lập flavonoid bằng sắc ký cột chân không
- Pha động: Butyl acetat- nước (15:5)
- Nhồi bột: Nhồi bột khô, sau đó cho 15ml pha động chảy qua cột , hút chân không đến khi không còn dung môi
- Khối lượng mẫu: 25g cao A2
- Nạp mẫu dạng dung dịch Mẫu được nạp đều lên bề mặt silica gel, hút chân không đến khi mẫu thấm hết xuống silica gel, sau đó tiến hành hứng phân đoạn
- Thể tích hứng mỗi phân đoạn là 150ml
- Kiểm tra các phân đoạn trên bảng sắc ký lớp mỏng tráng sẵn với dung môi Butyl acetat- nước-acid formic (15:5:5), phát hiện dưới ánh sáng thường, UV 254nm, UV 365nm, thuốc thử FeCl3
Trang 18 Kết quả : Thu được 5 phân đoạn được ghi ở bảng sau:
Phân đoạn V(ml) P(g) Thành phần
Bảng 3.1 Kết quả phân lập flavonoid bằng dung môi butyl acetat- nước (15:5)
A
B _
C _
D _
E _
F _
G _
H _ _ _
I _ _
J _ _
TP 1 2 3 4 5
Trang 19Nhận xét:
Phân đoạn 1 (1,1g) được kết tinh trong methanol thu
được tinh thể tinh thiết màu vàng chanh , đặt tên là DC1
(34mg) Tinh thể được kiểm tra trên sắc ký lớp mỏng qua 4
hệ dung môi khác nhau ethyl acetat-nước-acid
Trang 20 Phân đoạn 2 (3,7g) có ít nhất 3 vết phát quang màu dưới đèn UV
365 nm và cho màu xanh đen TT.FeCl3, trong đó có 1 vết chiếm lượng lớn , tiến hành kết tinh phân đoạn này nhiều lần trong methanol bằng cách hòa tan hoàn toàn phân đoạn này trong lượng vừa đủ methanol, lọc qua phễu thủy tinh xốp Dung dịch được để trong tủ lạnh, cho bay hơi dung môi từ từ, lọc và rửa tinh thể methanol lạnh Tinh thể được
kiểm tra trên sắc ký lớp mỏng qua 4 hệ dung môi khác nhau ethyl
acetat-nước-acid formic-acetic, Etoac-aceton-(H20) , CHCl3
-HCOOH-CH3COOH , butyl - nước- acid formic, phát hiện bằng TT Vanillin-
asulfuric,TT.FeCl3, soi UV 365 nm, UV 254 nm Tinh thể được thu màu vàng tươi đặt tên là DC2 (450 mg)
Phân đoạn 4 (2,3g) và phân đoạn 5 (11,6g) khá giống nhau nên
gộp chung, tiến hành kết tinh, cô thu hồi 2 phân đoạn, kiểm tra trên sắc
ký lớp mỏng nhận thấy vết G bị phân hủy thành 2 vết là G và G’ ( có thể là sự góp mặt ủa acid formicm), Do đó để phân lập chat G thì cần phải khảo sát lại hệ dung môi khai triển mà không có mặt của acid
Trang 21 Các phân đoạn còn lại do khối lượng ít và có nhiều vết nên không tiếp tục nghiên cứu
Phân đoạn Chất tinh
Trang 22 Mục đích : Để tiếp tục phân lập chất G hay các flavonoid còn lại trong cao A2, tiens hành khảo sát lại một số hệ dung môi khai triển
Pha động: Ethyl acetat – aceton – H2O (8:1,9:0,1)
Khối lượng mẫu: 25g cao A2
Nạp mẫu: nạp mẫu khô
Thể tích hứng mỗi phân đoạn là :150 ml
Kiểm tra các phân đoạn trên bảng sắc ký lớp mỏng tráng sẵn với hệ dung môi butyl acetat – nước – acid formic (15:5:5), phát hiện dưới ánh thường,UV 254 nm, UV 365nm, thuốc thử FeCl35%
Trang 23 Kết quả: thu được 6 phân đoạn được ghi nhận ở bảng sau:
Phân đoạn Dung môi V (ml) P(g) Thành phần
1 (1-5) Ethyl acetat 100% 750 1.3 Tạp kém phân cực
2 (6-7) Ethyl acetat- aceton- nước
Trang 24 Lực chọn pha tĩnh
Thông thường, kỹ thuật sắc ký pha đảo với cột C8 hay C18 là sự lựa chon đầu tiên cho sự phân tách các chất có nguồn gốc tự nhiên và cũng dùng để cô đặc
hoạt chất Việc lựa chọn loại cột phù hợp với hợp chất hợp chất quan tâm phụ thuộc nhiều vào điều kiện thí nghiệm Do đó, sẽ thật khó khăn nếu thiếu sự hiểu biết
về nhóm hợp chất cần quan tâm Tuy nhiên, việc chạy thử với 2 hay 3 điều kiện cột pha đảo khác nhau sẽ
mang lại nhiều lợi ích, cho ta những dữ kiện cơ bản về nhóm hợp chất quan tâm có thể thăm dò được một điều kiện phân tách thành công
Trang 25Lượng mẫu tiêm vào cột và lượng chất tinh khiết phụ thược nhiều vào từng yêu cầu nhất định Khi không áp dụng
kỹ thuật cột quá tải và tiến hành thăm dò điều kiện sắc ký cho cột điều chế bằng cột phân tích thì lượng mẫu tiêm vào cột được giới hạn bởi độ hoà tan của mẫu trong dung môi và khả năng chịu tải của cột
Với yêu cầu cần một lượng khá lớn chất tinh khiết, cần thực hiện tiêm mẫu nhiều lần với một lượng mẫu ban đầu phù hợp để thu đủ lượng chất tinh khiết cần
Với điều kiện lí tưởng là cột điều chế và cột phân tích
có cùng chiều dài được sản xuất với cùng một kĩ thuật nhồi cột của cùng một hãng sản xuất,ta có thể phát triển sang
phương pháp điều chế dễ dàng hơn và có thể dự đoán trước được
Lựa chọn phương pháp
Trang 26 Sự lựa chọn dung môi
Đối với sắc ký pha đảo, nước được sử dụng như một dung môi yếu trong khi các dung môi hữu cơ như MEOH,
MeCN hay THF là các dung môi mạnh Các dung môi này có
độ truyền qua rất tốt cho đầu dò UV và làm thay đổi độ chọn lọc của các chất trong phân tách
Nếu một dung môi không thích hớp để đạt được sự tách chiết theo mong muốn, ta có thể thay thế bằng một dung môi khác Trong hầu hết các trường hợp, hỗn hợp 2 dung môi
là thích hợp cho sự phân tách các hỗn hợp, khi đó hỗn hợp 3 hay 4 dung môi là không cần thiết
Trang 274.1 Kết luận:
Chiết suất: từ 6 kg dượcliệu đã chiết ngấm kiệt với cồn 96% thu được 54g cao A2, cao A2
chứa hàm lượng lớn flavonoid
Phânlập: Từ 50g cao A2 tiến hành phân lập các flavonoid bằng sắc ký cột chân không (cột 1 vàcột 2) đã thu được 3 hợp chất tinh khiết là DC1, DC2, DC3 với khối lượng tương ứng
34mg, 670mg, 800mg
Cấu trúc của các chất được xác định lần lượtlà: quercetin (DC1), quercitrin(DC2), quercetin - 3-0- -D-galactoppyranosid (DC3)
Trang 284.2 Nhận định
bằng phương pháp ngấm kiệt với cồn 96% và phương háp siêu âm
quercetin -3-0- -D-galactoppyranosid (DC3) bằng sắc
ký cột chân không hoặc HPLC điều chế
chiếu cho các mục đích nghiên cứu về Diếp cá
phương pháp sắc ký cột chân không, tuy nhiên cần phải
có máy móc hiện đại, điều này không phải cơ sở sản xuất Dược phẩm nào cũng được, nên khó được áp
dụng rộng rãi hơn so với phương pháp sắc ký chân
không
Trang 29 Trong bài tiểu luận của nhóm có tham khảo và sử dụng một số hình ảnh từ Google, một số tài liệu từ sách Hóa Sinh Học và từ INTERNET