1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu Vùng đất Nam Bộ - Tập 6: Từ năm 1945 đến năm 2010 (Phần 2)

222 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 13,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ sách về vùng đất Nam Bộ nghiên cứu khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực của vùng đất phương Nam, từ điều kiện tự nhiên, quá trình lịch sử, dân cư, dân tộc, tôn giáo, thiết chế quản lý xã hội, quá trình Nam Bộ hội nhập với khu vực và quốc tế. Tập 6 của bộ sách trình bày về Nam Bộ từ năm 1945 đến năm 2010, phần 2 này tiếp tục trình bày về thực hiện thống nhất về mặt nhà nước, đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và khủng hoảng kinh tế - xã hội (1975-1985); thực hiện đường lối đổi mới, từng bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội (1986-1996);... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương III THỰC HIỆN THỐNG NHẤT

VỀ MẶT NHÀ NƯỚC, ĐỐI PHÓ VỚI

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - XÃ HỘI

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 được coi là thời điểm đánh đổ hoàn toàn chính quyền Trung ương của chế độ Sài Gòn, và đến ngày 2-5-1975, toàn bộ chủ quyền lãnh thổ và biển đảo của vùng đất Nam Bộ đã về tay nhân dân do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là đại diện về mặt pháp lý quốc tế của nhân dân miền Nam Việt Nam

1 Thi hành chế độ quân quản, tổ chức đăng ký trình diện, học tập, cải tạo đối với nhân viên chính quyền và quân đội Sài Gòn

Trong quá trình giải phóng các địa phương của Nam Bộ, chính

Trang 2

quyền cách mạng đã kịp thời tiếp quản và thay thế chính quyền các địa phương của chế độ Sài Gòn Ngay sau khi đánh đổ chính quyền Trung ương của chế độ Sài Gòn, ngày 1-5-1975, ở Nam Bộ đã thành lập Ủy ban quân quản các cấp Đây là một hình thức chính quyền quân sự lâm thời nhằm kịp thời giữ vững thành quả kháng chiến, duy trì trật tự xã hội,

ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tiến hành truy quét một số nhóm tàn quân còn ngoan cố chống đối, tổ chức đăng ký trình diện, học tập, cải tạo đối với các thành phần đã tham gia quân đội và chính quyền của chế độ cũ Biện pháp quân quản còn nhằm tạo điều kiện xây dựng, củng

cố và bảo vệ chính quyền cách mạng trong thời kỳ mới hình thành và chuyển đổi quyền lực chính trị và nhà nước trên vùng đất Nam Bộ, đồng thời đối phó với “kế hoạch hậu chiến” của Mỹ Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở phán đoán của Mỹ cho rằng: “Việt cộng có thể chiếm được thành phố (Sài Gòn) nhưng không thể giữ được thành phố quá ba tuần lễ…”

Ủy ban quân quản cấp quân khu đặt ở Sài Gòn, Chủ tịch là Thượng tướng Trần Văn Trà, Phó Chủ tịch gồm các ông Võ Văn Kiệt, Thiếu tướng Hoàng Cầm (Tư lệnh Quân đoàn 4), Thiếu tướng Trần Văn Danh, ông Cao Đăng Chiếm Ủy ban quân quản cấp tỉnh và cấp huyện ở Nam

Bộ do các bí thư và chỉ huy cao nhất về quân sự phụ trách

Ngày 7-5-1975, Ủy ban quân quản Sài Gòn ra mắt nhân dân thành phố tại Dinh Độc Lập Trong cuộc mít tinh có hàng triệu người tham gia, Chủ tịch Trần Văn Trà tuyên bố: “Cả nước đã giành được độc lập trọn vẹn và tự do thực sự Chỉ có đế quốc Mỹ là kẻ chiến bại Toàn thể dân tộc Việt Nam ta là người chiến thắng” Lời tuyên bố đó đã thể hiện

rõ quan điểm hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước về tính chất, nhiệm vụ của thời kỳ quân quản

Tại Long An, ngày 15-5-1975, 5.000 đồng bào đại diện các tầng lớp nhân dân dự cuộc mít tinh chào mừng tháng lợi kháng chiến chống Mỹ

và lễ ra mắt của Ủy ban quân quản tỉnh gồm 16 người, do ông Huỳnh Văn Xuyên, Chính ủy Sư đoàn 5 Quân giải phóng làm chủ tịch, các phó chủ tịch là Phạm Tấn Ngật - Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Mặt trận,

Trang 3

Nguyễn Văn Ấp - Phó chỉ huy lực lượng quân sự tỉnh, Phạm Văn Ngọc - Phó chính ủy Sư đoàn 5 Quân giải phóng1.

Cũng vào ngày này, tại thành phố Mỹ Tho, hơn 25.000 đồng bào đại diện nhân dân tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và Thành phố Mỹ Tho tham

dự mít tinh trọng thể chào mừng thắng lợi của dân tộc và dự lễ ra mắt

Ủy ban quân quản tại Mỹ Tho gồm 13 thành viên do ông Lê Văn Nhung (Tức Tư Việt Thắng) làm Chủ tịch Nhiệm vụ được đặt cho Ủy ban quân quản lúc này là: thiết lập trật tự xã hội mới, giữ vững và củng cố an ninh chính trị, từng bước ổn định đời sống nhân dân2

Tháng 9-1975, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 24 khóa III đã

ra Nghị quyết “Về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, trong đó nêu rõ: “Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả nước là

ra sức khôi phục và phát triển sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, tích cực đưa nền kinh tế nước ta tiến nhanh lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”

Đối với miền Nam, Bộ Chính trị đề ra ba nhiệm vụ cấp bách:

1- Nhanh chóng củng cố hệ thống chính quyền nhân dân ở các cấp, phát huy mạnh mẽ và tôn trọng thực sự quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động Dựa vào phong trào cách mạng của quần chúng mà xây dựng, kiện toàn bộ máy hành chính và bộ máy kinh tế của chính quyền

từ tỉnh, thành phố đến cơ sở xã phường… kịp thời trấn áp bọn phản cách mạng, bảo đảm vững chắc an ninh chính trị và trật tự xã hội, vừa quản lý tốt kinh tế và văn hóa, chăm lo đời sống nhân dân…

2- Đẩy mạnh khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, cải tiến các hoạt động lưu thông phân phối, phát triển mạnh thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, kiên quyết chống đầu cơ, tích trữ, ổn định thị trường và ổn định đời sống nhân dân…

1 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Long An

(1930-2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 780

2 Xem Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang: Địa chí Tiền Giang, Tập I,

Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Tiền Giang và Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch

sử và văn hóa Việt Nam xuất bản, 2005, tr 511

Trang 4

3- Xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản, xóa bỏ các tàn dư của giai cấp địa chủ phong kiến; giải quyết tốt các vụ tranh chấp ruộng đất trong nội bộ nông dân… tiến hành từng bước cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thương nghiệp tư bản tư doanh… chuẩn bị cải tạo đối với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ…Kết hợp chặt chẽ cải tạo

và xây dựng để đưa toàn bộ nền kinh tế miền Nam tiến lên theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa…

Đó cũng là ba nội dung nhiệm vụ lớn về kinh tế, xã hội được tiến hành ngay trong thời kỳ quân quản ở Nam Bộ

Chế độ quân quản trên toàn miền Nam chỉ tồn tại trong vòng một năm (1-5-1975 – 4-1976) nhưng đã giải quyết được những công việc rất lớn, đặt nền móng cho sự chuyển đổi từ thể chế chính trị phụ thuộc Mỹ sang thể chế chính trị cách mạng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc thống nhất đất nước Những sự kiện lớn trong thời kỳ quân quản ở Nam Bộ diễn ra như sau:

Truy quét tàn quân chống đối, tổ chức đăng ký trình diện, học tập,

cải tạo đối với nhân viên chính quyền và quân đội Sài Gòn: Đây là nhiệm

vụ cấp bách nhất phải tiến hành ngay sau ngày giải phóng Mặc dù quân đội Sài Gòn đã tan rã, chính quyền Trung ương của chế độ Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng nhưng tình hình xã hội đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh

Số lượng nhân viên các cấp của chính quyền và binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn có đến hàng triệu người, sau khi bộ máy tan rã, một số

di tản đi nước ngoài, hầu hết ở lại cùng gia đình Đối tượng này cư trú ở hầu hết các địa phương của miền Nam nhưng tập trung nhiều nhất ở Sài Gòn Những người này sống trong tâm trạng chờ đợi và lo lắng, không biết chính quyền cách mạng sẽ đối xử với họ như thế nào, họ có bị trả thù bằng một cuộc “tắm máu” như người Mỹ tuyên truyền hay không?

Để ổn định tinh thần nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự vùng mới giải phóng một cách cơ bản, lâu dài, chính quyền cách mạng đã tiến hành song song với việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước là tiến hành ngay việc nghiên cứu, phân loại các đối tượng trong binh sĩ

Trang 5

và nhân viên trong quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng như các đảng phái và tổ chức chính trị khác ở vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát trước đó, thực hiện các biện pháp giáo dục, cải tạo đối với từng loại đối tượng.

Từ ngày 30-4-1975 đến tháng 7-1975, Ban quân quản các cấp phối hợp với lực lượng công an và các ngành tiến hành tổ chức cho các đối tượng theo quy định đi đăng ký trình diện, đồng thời thu giữ hồ sơ, tài liệu, vũ khí, phương tiện chiến tranh do địch để lại Ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long, các Ủy ban Quân quản đã tổ chức cho các đối tượng ra đăng ký trình diện đạt kết quả tốt

Cụ thể tại tỉnh Tây Ninh đã có 30.583 đối tượng ra trình diện đăng ký, trong đó có 23.078 binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa, 3.131 nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa, 1.543 cảnh sát, 111 đảng viên Đảng Dân chủ Tại Tiền Giang có 73.112 binh sĩ quân đội, nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra đăng ký trình diện Tại tỉnh Sông Bé

có 50.000 người làm việc cho chế độ cũ, trong đó có 500 sĩ quan và hàng nghìn đối tượng khác đã đăng ký trình diện cải tạo tại chỗ Tại Vũng Tàu đã có 7.874 binh sĩ quân đội và nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ra đăng ký trình diện, trong đó có 1.585 cảnh sát, 195 đối tượng trong các đảng phái Tính từ ngày 30-4-1975 đến tháng 7-1975, trên toàn miền Nam đã có 1.036.181 đối tượng đã ra đăng ký trình diện

và tập trung giáo dục, cải tạo1

Trong hàng triệu người của chế độ cũ, có một số thuộc thành phần

ác ôn, có nhiều nợ máu với nhân dân, không kịp trốn đi nước ngoài, không dám trình diện với cách mạng và nhen nhóm chống đối, phá hoại với hy vọng mù quáng là Mỹ sẽ quay trở lại trợ giúp Đây là thành phần nguy hiểm nhất, là đối tượng phải truy quét, tiêu diệt để bảo vệ thành quả cách mạng Một số người có quan hệ với một số tổ chức nước

1 Tổng kết và phụ lục tổng kết lịch sử công tác tập trung giáo dục cải tạo đối

tượng xâm phạm an ninh quốc gia, Tài liệu Viện Lịch sử Công an Dẫn theo Đỗ

Văn Dũng: Công an nhân dân đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt

Nam (1975-1985), Luận án tiến sĩ Lịch sử.

Trang 6

ngoài được cài lại nhằm thực hiện kế hoạch hậu chiến, đang ẩn mình chờ thời cơ Một số khác do lo sợ bị trả thù nên lẩn tránh không ra trình diện, và một số quen lối cướp bóc cũng lợi dụng lúc giao thời để hoạt động Nhìn chung, các nhóm chống đối này chưa liên kết được với nhau

để hoạt động lớn nhưng cũng gây ra nhiều vụ phá hoại nhỏ, thậm chí gây được một số vụ nổ ở một số trụ sở của chính quyền xã, ấp

Trước những khó khăn, phức tạp về an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội của vùng đất Nam Bộ sau ngày giải phóng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 29-9-1975 đã nêu rõ nhiệm vụ quốc phòng an ninh đối với miền Nam trong giai đoạn mới là: “Tiếp tục truy quét tàn quân địch, các lực lượng phản cách mạng hiện hành, sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn, phá hoại, chống đối của chúng, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng”1.Thực hiện chủ trương của Đảng, nhằm đập tan sự chống đối của tàn quân, Ban quân quản các cấp đã huy động lực lượng vũ trang gồm một số đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến hành nhiều đợt truy quét ở các vùng địa hình mà tàn quân có thể ẩn nấp, tiêu diệt và làm tan rã nhiều tổ chức đang nhen nhóm, bắt được một số phần

tử ngoan cố cầm đầu Trong hoạt động này, lực lượng vũ trang đã được

sự trợ giúp rất nhiều của nhân dân, phần lớn các mục tiêu truy quét có hiệu quả là do nhân dân phát hiện và báo cho chính quyền

Chỉ tính riêng tại thành phố Sài Gòn - Gia Định, chính quyền cách mạng đã phá 312 ổ nhóm phản động lớn, nhỏ trong các tôn giáo và các

tổ chức phản động khác, bắt 4.323 đối tượng cầm đầu; phối hợp với công an các tỉnh phía nam bắt 4.513 đối tượng phản động khác, thu 915 súng các loại, 153 kg chất nổ, trên 9,5 tấn tài liệu phản động các loại và nhiều súng đạn2

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 36, tr 400

2 Bộ Nội vụ: Tổng kết thành tích 10 năm đấu tranh chống phản động của Công

an Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu của Viện Lịch sử Công an Dẫn theo Đỗ Văn

Dũng: Công an nhân dân đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam

(1975-1985), Luận án tiến sĩ lịch sử.

Trang 7

Việc tiến hành tổ chức đăng ký trình diện cho nhân viên và quân đội chế độ cũ, đồng thời tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về chính sách khoan hồng, chính sách hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù đạt kết quả tốt: hầu hết những người làm việc cho chế độ cũ đã trình diện, số trốn tránh không đáng kể

Sau khi hoàn tất công tác đăng ký trình diện, Ban quân quản các cấp tiến hành phân loại và phân cấp quản lý Trên cơ sở đó tiến hành

tổ chức các đợt học tập ngắn ngày và dài ngày cho từng đối tượng Những nhân viên cấp thấp trong chính quyền cũ và thành phần binh lính trong quân đội Sài Gòn chỉ phải học tập lớp ngắn ngày về các chính sách của cách mạng rồi được trở về sinh sống cùng gia đình Thành phần quan chức và sĩ quan cao cấp được đưa đến các trung tâm học tập, cải tạo dài ngày

Công tác trấn áp, truy quét các phần tử phản động đã diễn ra hết sức phức tạp, nhất là đối với các tổ chức, nhóm phản động nằm sâu trong các tôn giáo, trong đó có những đối tượng cầm đầu hết sức nguy hiểm Chúng được một số tổ chức nước ngoài bí mật cung cấp vũ khí, tiền, các phương tiện in ấn, thông tin… để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền cách mạng, gây rối trật tự trị an, làm hoang mang tinh thần quần chúng nhân dân

Được sự giúp đỡ của quần chúng, chính quyền cách mạng đã kịp thời phát hiện và tiến hành các biện pháp trấn áp, trừng trị những phần tử phản động và các tổ chức, ổ nhóm của chúng Tiêu biểu như các vụ trấn áp tổ chức phản động “Phong trào cách mạng dân tộc nhân dân” do Trần Văn Nam và linh mục Trần Văn Thông cầm đầu, bắt 52 đối tượng chủ chốt, thu 25 súng các loại và các phương tiện máy in, tiền; truy quét tổ chức phản cách mạng “Lực lượng vũ trang nhân dân Phục quốc Việt Nam” tại rừng Long Khánh thuộc Đông Nam Bộ vào tháng 10-1975; kịp thời phát hiện và tiêu diệt hai nhóm “Phục quốc”

ở nội thành thành phố Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ; phá vụ án ở Nhà thờ Vinh Sơn, bắt giữ những phần tử

Trang 8

phản động ẩn nấp ở đây, đập tan âm mưu in tiền giả và lập đài phát thanh phản động của chúng1

Nhìn chung công tác truy quét các lực lượng chống đối đã đạt được kết quả tốt, kịp thời làm thất bại nhiều âm mưu phá hoại của những phần tử ngoan cố, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo đảm an toàn cho chính quyền các cấp và các mục tiêu quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa

Việc tổ chức cho binh sĩ quân đội và nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đảng viên của các đảng phái phản động, các nhân viên trong các tổ chức chính trị phản động ra đăng ký, trình diện, khai báo, đồng thời phân loại, đưa đi tập trung giáo dục, cải tạo dài hạn, ngắn hạn và học tập cải tạo tại chỗ đã được thực hiện đúng quy định Công tác giáo dục, cải tạo đã góp phần phân hóa lực lượng phản động, chống đối, cô lập những đối tượng cầm đầu ngoan cố, đập tan luận điệu chiến tranh tâm lý của địch “sẽ có tắm máu ở miền Nam sau ngày giải phóng” Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh tình hình Nam Bộ khi cách mạng vừa thành công, chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương còn yếu

và gặp nhiều khó khăn

Nhiệm vụ cấp bách nhất của Ủy ban quân quản các cấp ở Nam Bộ

đã hoàn thành tốt, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản để tiến hành các mặt công tác khác trong thời kỳ đầu mới giải phóng

2 Xây dựng chính quyền cách mạng các cấp, duy trì trật tự xã hội, từng bước ổn định đời sống nhân dân, phục hồi sản xuất

Trong kháng chiến chống Mỹ, cơ cấu lãnh đạo, chỉ huy ở Nam Bộ

có cấp cao nhất là Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền, cấp khu ủy và quân khu, cấp tỉnh ủy và tỉnh đội, cấp huyện ủy và huyện đội, cấp xã ủy

1 Bộ Nội vụ: Tổng kết thành tích 10 năm đấu tranh chống phản động của Công

an Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu của Viện Lịch sử Công an Dẫn theo Đỗ Văn

Dũng: Công an nhân dân đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam

(1975-1985), Luận án tiến sĩ Lịch sử.

Trang 9

và xã đội, cấp chi bộ và ấp đội Các cơ quan đó có các ban, ngành, đoàn thể nhưng chưa hình thành hệ thống chính quyền dân sự ở cấp cơ sở.Ngay sau ngày giải phóng (4-1975), yêu cầu đặt ra đối với Nam Bộ cần phải có cơ cấu lãnh đạo quản lý kinh tế - xã hội thời bình khác với lãnh đạo chỉ huy thời chiến Từ đòi hỏi của tình hình thực tế, Trung ương Cục, Hội đồng Cố vấn và Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định giải thể cơ quan lãnh đạo cấp khu, đồng thời nhanh chóng xây dựng chính quyền cơ sở từ cấp tỉnh trở xuống đến cấp huyện, xã.

Cơ cấu lãnh đạo, quản lý ở các tỉnh Nam Bộ gồm có các bộ phận

cơ bản là: Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Ban Chỉ huy quân sự, các sở, ban, ngành, các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Ở các cấp dưới cũng có

cơ cấu tổ chức tương ứng nhưng quy mô nhỏ hơn

Ở Sài Gòn, chính quyền mới đã đưa 2.500 cán bộ quân đội về xây dựng chính quyền cơ sở phường, xã

Chính quyền và hệ thống chính trị các cấp ở Nam Bộ được xây dựng nhanh chóng nhưng hầu hết còn trong tình trạng rất thiếu về nhân sự, nhất là các vị trí đòi hỏi có chuyên môn về quản lý hành chính, quản lý kinh tế, xã hội và khoa học - kỹ thuật Trong điều kiện đó, cán bộ của các cấp chính quyền đều do cán bộ Đảng và cán bộ quân sự đảm nhiệm nên vừa thiếu kinh nghiệm chuyên môn, vừa phải kiêm nhiệm nhiều chức

vụ khác Vì vậy, hiệu quả công việc của chính quyền chưa cao nhưng các công tác vẫn được tiến hành khá tốt, tình hình trật tự xã hội khá ổn định, chưa xuất hiện các hoạt động của các băng nhóm tội phạm vì khí thế chiến thắng và uy thế của chính quyền cách mạng đang rất cao đối với mọi tầng lớp nhân dân và các thành phần xã hội Để khắc phục một phần tình trạng thiếu cán bộ ở miền Nam, các tỉnh miền Bắc đã được chỉ đạo đưa một số cán bộ chính quyền và cán bộ chuyên môn vào tăng cường cho các tỉnh miền Nam đã kết nghĩa từ trong kháng chiến

Mặc dù chưa đầy đủ về nhân sự và chuyên môn nhưng trong thời kỳ quân quản, chính quyền cách mạng và hệ thống chính trị đã hình thành

hệ thống chặt chẽ ở tất cả các cấp và các vùng Đó là cơ sở vững chắc

Trang 10

để chính quyền cách mạng quản lý và điều hành toàn bộ đời sống kinh

tế - xã hội trên vùng đất Nam Bộ

Đánh giá về kết quả xây dựng chính quyền ở Sài Gòn trong thời kỳ quân quản, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định: “Một hệ thống chính quyền cách mạng đã hình thành ngày càng vững mạnh, đủ sức quản lý các mặt đời sống xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự

xã hội” Vấn đề xây dựng chính quyền ở các tỉnh thuộc Nam Bộ tuy gặp khó khăn, thiếu cán bộ, nhưng tình hình xã hội không phức tạp như ở thành phố Sài Gòn, nên chính quyền mới ở các tỉnh đã nhanh chóng kiểm soát được tình hình kinh tế, xã hội tại các địa phương Tuy nhiên, việc duy trì trật tự xã hội, ổn định đời sống nhân dân, phục hồi sản xuất đặt ra hết sức cấp bách lúc đó

Về trật tự xã hội: Sự kết thúc chiến tranh ở vùng đất Nam Bộ không

đơn thuần là chấm dứt các hoạt động quân sự trên chiến trường mà còn

là sự đánh đổ cả một chính quyền cùng một thể chế chính trị cũ, xây dựng một chính quyền và thể chế chính trị mới, đồng thời thay đổi cả một nếp sống của hàng triệu người dân Do đó, trong thời kỳ quá độ của sự chuyển đổi này không tránh khỏi những thiếu sót và đó chính là thời cơ cho các băng nhóm tội phạm và tệ nạn xã hội hoạt động trở lại Nam Bộ là mảnh đất có nhiều biến động trong đó có sự du nhập lối sống Mỹ qua hơn 20 năm nên vấn đề tội phạm xã hội phát triển khá mạnh Tính riêng thành phố Sài Gòn, chế độ cũ đã để lại 500.000 người thất nghiệp, 170.000 thương, phế binh, 700.000 người nhập cư lánh nạn chiến tranh, 100.000 gái mại dâm, 150.000 con nghiện ma túy, 10.000 trẻ bụi đời, 10.000 người ăn xin, 200.000 trẻ mồ côi, 200.000 lưu manh du đãng, 200.000 con bạc, buôn lậu… và khoảng 400.000 binh lính trong quân đội của chế độ cũ tan rã tại chỗ, đang sinh sống cùng gia đình1

Do các biện pháp quân quản và uy thế của cách mạng rất cao nên trong những ngày đầu mới giải phóng, các băng nhóm tội phạm và tệ

1 Viện Kinh tế học: 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1990, tr 390.

Trang 11

nạn xã hội hầu như lắng xuống hoàn toàn, chưa dám hoạt động cướp bóc hay thanh toán lẫn nhau Nhìn chung, trật tự xã hội được duy trì khá tốt ở cả đô thị và nông thôn Đó là một trong những thành công rất lớn của thời kỳ quân quản.

Từng bước ổn định đời sống nhân dân: Trong cuộc kháng chiến

trường kỳ, ở Nam Bộ có rất nhiều vùng chiến sự ác liệt buộc nhân dân phải tản cư, lánh nạn đến những vùng ít bom đạn hơn (chỉ tính riêng một huyện ở vùng ven Sài Gòn là Đức Hòa thuộc tỉnh Long An đã

có 15.000 người phải tản cư) Khi chiến tranh chấm dứt, nhu cầu hồi hương của nhân dân ở hầu hết các địa phương là rất lớn Tuy nhiên, sự hồi hương không dễ dàng vì có rất nhiều khu vực chưa gỡ hết bom, mìn, của cả hai bên, một số nơi đất đai còn bị nhiễm chất độc hóa học Một

số người dân đã bị thương khi về ruộng vườn cũ của mình, nên gặp phải những khó khăn mà người dân không thể tự khắc phục, cần phải có sự

hỗ trợ của chính quyền và lực lượng vũ trang trong việc phục hồi sản xuất trên đất đai đã bị bỏ hoang hóa trong nhiều năm

Giải quyết nạn đói: Ngay sau giải phóng, ở một số địa phương của

Nam Bộ đã bị nạn đói đe dọa Cụ thể như huyện Đức Hòa thuộc tỉnh Long An, chính quyền địa phương đã phải xin trợ cấp hàng chục tấn lương thực của tỉnh để cứu đói khẩn cấp cho những đối tượng đặc biệt khó khăn Chính quyền huyện Đức Hòa còn cử cán bộ đi liên hệ với các địa phương khác tìm kiếm giống cây lương thực ngắn ngày để kịp thời cứu đói (như lên Tây Ninh xin cây khoai mỳ)

Với những cố gắng vượt bậc của nhân dân và chính quyền các cấp, đến giữa năm 1976, ở Nam Bộ đã cơ bản khắc phục được nạn đói, nhưng tình trạng thiếu lương thực cục bộ vẫn tồn tại một thời gian dài

ở một số nơi

Riêng ở Sài Gòn, Trung ương đã chi viện 130.000 tấn gạo cứu đói, lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn thành phố cũng phải tiết kiệm trên

60 tấn gạo để chia sẻ khó khăn với nhân dân

Công tác giáo dục, y tế: Ngay trong những ngày đầu mới giải phóng,

chính quyền mới của các địa phương đã chăm lo ngay đến giáo dục bằng

Trang 12

những biện pháp cụ thể như: tiếp quản các trường học, cử cán bộ phụ trách, động viên, thuyết phục các thầy cô giáo ở lại trường chuẩn bị cho năm học mới, nhanh chóng sửa chữa những trường lớp bị hư hại trong chiến tranh… và vận động nhân dân đăng ký cho con em đến trường Tất cả những công việc ấy được tiến hành gấp rút trong điều kiện thiếu thốn nhưng đầy tinh thần trách nhiệm nên năm học đầu tiên sau giải phóng (1975-1976) đã được khai giảng đúng thời gian ở hầu hết các địa phương, và nhân dân rất phấn khởi đưa con em đến trường vào năm học mới Đây là một cố gắng và thành công rất lớn của chính quyền cách mạng các cấp trong những ngày đầu làm chức năng quản lý xã hội

Về công tác y tế, chính quyền mới đã tiếp quản tốt các bệnh viện lớn, sử dụng được phần lớn đội ngũ y, bác sĩ đang làm việc và duy trì được hoạt động bình thường của các bệnh viện Ở các vùng nông thôn

xa đô thị, chính quyền cách mạng cũng đã nhanh chóng triển khai các trạm dân y, trạm hộ sinh và các trạm quân y dã chiến của các đơn vị vũ trang nhằm kịp thời khám, chữa bệnh cho nhân dân

Ở Sài Gòn và các thị xã lớn, đời sống kinh tế - xã hội của người dân hầu như không có sự xáo trộn lớn: điện, nước vẫn được cung cấp đầy

đủ, các phương tiện giao thông vẫn hoạt động bình thường, chợ búa, mua bán vẫn diễn ra tấp nập… Chỉ sau một ngày tạm ngưng, đài phát thanh và đài truyền hình của thành phố lại phát sóng, kịp thời đưa tin tức cả nước và phổ biến đường lối, chính sách của cách mạng

Giải quyết chính sách thương binh xã hội: Cuộc kháng chiến diễn

ra ở miền Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng trong cả thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ kéo dài suốt 30 năm nên đối tượng thương binh liệt

sĩ, gia đình có công với cách mạng cần giải quyết chính sách có số lượng rất lớn Công việc trước mắt là xác nhận các đối tượng chính sách để kịp thời thực hiện các chế độ trợ cấp Công tác tìm kiếm, xác minh, quy tập hài cốt liệt sĩ, tử sĩ cũng có khối lượng công việc rất lớn và rất phức tạp, lại thiếu cán bộ chuyên môn nghiệp vụ Chính quyền các cấp coi đây là công tác hết sức quan trọng, là thể hiện đạo lý nhưng do thiếu nguồn lực nên công việc không thể tiến hành nhanh chóng

Trang 13

Khôi phục sản xuất: Do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt và kéo dài,

do âm mưu phá hoại và tranh chấp ruộng đất của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trước đây, nên sau giải phóng, ở Nam Bộ, ruộng đất bị xáo trộn khá nhiều Tình trạng nông dân ở những khu vực do chính quyền Sài Gòn kiểm soát dài ngày và vùng tranh chấp quyết liệt không có ruộng hoặc thiếu ruộng là hiện tượng phổ biến, nhất là ở khu vực Nam Bộ

Để thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ nhân dân trở về ruộng vườn cũ, khôi phục sản xuất nông nghiệp, Ban quân quản các cấp đã tổ chức các đơn

vị lực lượng vũ trang chuyên trách công tác rà phá bom mìn, giải phóng được hàng vạn hécta đất canh tác cho nhân dân (riêng huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã rà phá bom mìn hơn 100 khu vực, giải phóng hàng trăm hécta)

Cùng với việc giải phóng đất đai để canh tác, lực lượng vũ trang còn trực tiếp giúp đỡ những gia đình thuộc diện chính sách và những gia đình quá khó khăn trong việc dựng nhà, khai hoang, phục hóa Chính quyền địa phương đã cung cấp một số vật liệu xây dựng (tấm lợp, xi măng, gỗ, ván)… cho một số gia đình thương binh, liệt sĩ có hoàn cảnh neo đơn

Đồng thời với việc tạo điều kiện cho nông dân trở về ruộng vườn

cũ, khôi phục sản xuất nông nghiệp, các tỉnh Nam Bộ còn triệt để thực hiện tinh thần Nghị quyết 254-CT của Bộ Chính trị về giải quyết vấn đề chia ruộng đất cho các hộ thiếu ruộng hoặc không có ruộng Theo đó, các tỉnh đã tiến hành quốc hữu hóa đồn điền và ruộng đất của tư bản nước ngoài, tịch thu toàn bộ ruộng đất của địa chủ phản quốc, địa chủ đã chạy ra nước ngoài, của tư sản mại bản, vận động địa chủ thường hiến ruộng đất Nếu họ không chịu hiến ruộng đất, chính quyền tỉnh ra lệnh trưng thu Đối với địa chủ kháng chiến, vận động họ hiến ruộng đất là chính, hoặc có thể trưng mua một phần ruộng đất

Đối với phú nông và tư sản nông thôn, các tỉnh cũng vận động

họ hiến điền, hoặc có thể tịch thu, trưng thu, trưng mua phần ruộng đất thừa quá mức bình quân đầu người về ruộng đất Đối với ruộng

Trang 14

đất của những người làm trong bộ máy chính quyền hoặc quân đội Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy ra nước ngoài cũng bị thu hồi để chia cho nông dân.

Với những cố gắng to lớn của nhân dân và các cấp chính quyền cùng với sự giúp đỡ trực tiếp của lực lượng vũ trang, chỉ trong mấy tháng cuối năm 1975, hầu hết những gia đình tản cư đã trở lại ruộng vườn của mình, từng bước ổn định cuộc sống, bắt tay vào khai hoang phục hóa, canh tác vụ lúa đầu tiên trong hòa bình, và đến cuối năm

1976, ở các tỉnh Nam Bộ đã dần dần hoàn thành việc xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất và tàn tích bóc lột của địa chủ, kết hợp với khôi phục sản xuất Tuy nhiên, sản xuất và đời sống trước mắt của nhân dân còn rất nhiều khó khăn do thiếu vốn, thiếu vật tư nông nghiệp và thiếu lương thực dự trữ

Trong năm đầu giải phóng, công tác khôi phục sản xuất chủ yếu nhằm vào nông nghiệp, lấy cây lương thực ngắn ngày làm chính để giải quyết ngay nạn đói đang đe dọa ở một số địa phương, do đó, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tư nhân tạm thời bị ngưng trệ vì thiếu nguyên liệu và chờ đợi chính sách mới Tình trạng

đó đã gây ra nạn khan hiếm hàng tiêu dùng thiết yếu hằng ngày của nhân dân

Nhìn chung, nhiệm vụ ổn định đời sống nhân dân và phục hồi sản xuất trong thời kỳ quân quản ở Nam Bộ gặp nhiều khó khăn, thử thách lớn nhưng về cơ bản đã giữ được ổn định xã hội, không để xảy ra những xáo trộn lớn Đối với nhiệm vụ phục hồi sản xuất cũng mới đạt được kết quả khiêm tốn ban đầu

Xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản và tàn dư phong kiến: Việc xóa bỏ

giai cấp tư sản mại bản và tàn dư phong kiến ở Nam Bộ diễn ra hết sức khó khăn, phức tạp, bởi vì giai cấp tư sản ở đây có tiềm lực kinh tế

và chính trị khá lớn Sau giải phóng, trên toàn miền Nam có khoảng 20.000 nhà tư sản, họ có vốn lớn và có liên hệ rất rộng rãi, chặt chẽ với tiểu thương, nông dân và cả thị trường ngoài Việt Nam Do đó, Đảng

Trang 15

chủ trương: “Đối với xí nghiệp tư bản tư doanh, phải cải tạo xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng con đường công tư hợp doanh”1 Còn đối với tư sản công nghiệp thì cải tạo theo hình thức: Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư sản mại bản của nhân viên cao cấp trong guồng máy chính quyền cũ; đối với tư bản tư doanh của giai cấp tư sản dân tộc thì áp dụng hình thức công tư hợp doanh, hợp tác xã hay hình thức nào đó của chủ nghĩa tư bản nhà nước; một số xí nghiệp nhỏ có thể tiếp tục để cho

tư nhân kinh doanh với điều kiện phải tuân theo sự hướng dẫn và chỉ huy của Nhà nước như tham gia liên hiệp các xí nghiệp, hoặc làm “vệ tinh” trong các tổ hợp công nghiệp, các nhóm sản phẩm do Nhà nước lãnh đạo2

Thực hiện chủ trương lúc đó của Đảng, ngay từ quý IV năm 1975, đợt 1 của chiến dịch cải tạo tư sản mại bản ở các thành phố lớn miền Nam, đã kiểm kê và trưng thu tài sản hàng hóa của 170 nhà tư sản mại bản và 48 nhà tư thương lớn, đồng thời đánh thuế siêu ngạch hàng tồn kho của 1.420 hộ tư sản thương nghiệp, tịch thu 270 cơ sở kinh doanh Cuối năm 1976, đợt 2 của chiến dịch đã được tiến hành nhằm vào tư sản mại bản chưa được cải tạo trong đợt 1

Kết quả là đã hình thành một mạng lưới kinh doanh rộng khắp ở thành thị và nông thôn Nam Bộ do các tư sản thương nghiệp và tầng lớp thương nhân lớn, nhỏ tiến hành Trong điều kiện nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, kém phát triển, chưa tạo đủ việc làm cho người lao động thì tình trạng số người tham gia buôn bán là hiện tượng khó tránh khỏi ở Nam Bộ lúc bấy giờ

Thực hiện chủ trương của Đảng về xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản và phong kiến, ngay trong năm 1975, và năm 1976 ở Nam Bộ đã tiến hành hai đợt cải tạo, riêng ở Sài Gòn đã tiến hành quốc hữu hóa toàn bộ tài sản của 171 nhà tư sản công nghiệp và 59 nhà tư sản thương mại cỡ lớn,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 37, tr 1017.

2 Xem Lê Duẩn: Cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội,

1980, tr 69.

Trang 16

quốc doanh hóa được 400 xí nghiệp công nghiệp, khôi phục sản xuất 14.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp

Có thể nói, công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh

ở Nam Bộ được tiến hành rất khẩn trương Các xí nghiệp của tư sản mại bản và tư sản bỏ chạy ra nước ngoài đều nhanh chóng bị quốc hữu hóa và chuyển sang quốc doanh Vận tải đường sắt, đường biển, hàng không, ngân hàng tư nhân, độc quyền phát hành tiền tệ, ngoại thương, kinh doanh lương thực, xăng dầu, mua bán vàng bạc, đá quý… đều được quốc hữu hóa Việc cải tạo một cách vội vàng các thành phần kinh

tế lúc đó được gọi là “phi xã hội chủ nghĩa” theo mô hình ở miền Bắc trước đây mà không tính đến những điều kiện cụ thể của miền Nam nói chung, của Nam Bộ nói riêng đã là nguyên nhân gây nên nhiều yếu kém, bất cập, kéo hiệu quả của một nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp rất thiếu năng động

Thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc: Cuộc kháng chiến chống Mỹ

có những yếu tố của một cuộc nội chiến Tính chất ấy xuất hiện trong thời kỳ đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh Yếu tố ấy tạo ra sự phân cách ngay trong khối quần chúng nhân dân, thậm chí ngay trong một dòng họ, một gia đình: một bên là những người phục vụ trong chính quyền và quân đội Việt Nam cộng hòa - một bên là những người tham gia kháng chiến Khi chiến tranh chấm dứt, trong xã hội không tránh khỏi sự phân biệt giữa bên chiến thắng và bên thất bại, thậm chí có thể xảy ra sự trả thù cá nhân Yếu tố tâm lý xã hội này được phía Mỹ lợi dụng để tuyên truyền về một cuộc “tắm máu” sau chiến tranh Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra vì Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã kịp thời đưa ra chính sách hòa hợp dân tộc đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng và tình cảm của nhân dân Chính sách ấy được Chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn - Gia Định, Thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố với những người đã tham gia Chính phủ do ông Dương Văn Minh làm tổng thống: “Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam

Trang 17

chúng ta thắng Mỹ”1 Lời tuyên bố ấy đã làm yên lòng nhiều người đã từng phục vụ cho chế độ Sài Gòn trước đó và họ đã tự nguyện trình diện, thực hiện tốt các đợt học tập để được trở về đoàn tụ với gia đình, tiếp tục cuộc sống bình thường của một công dân

Tinh thần hòa hợp dân tộc và xóa bỏ hận thù không chỉ thể hiện ở quan điểm chính trị mà còn diễn ra rất tự nhiên trong từng cộng đồng

và từng gia đình vì thực chất đây là vấn đề nội bộ của một nền văn hóa đã có bề dày lịch sử mấy ngàn năm Nền văn hóa ấy không thể bị chia cắt bằng mấy chục năm dùng bạo lực và lối sống thực dụng của phương Tây

Tinh thần hòa hợp dân tộc được thể hiện cụ thể bằng việc trả tự

do và quyền công dân cho 400.000 binh lính chế độ cũ chỉ sau 3 ngày tập trung học tập chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước Hơn 30.000 sĩ quan trung, cao cấp của quân đội Sài Gòn đã không bị coi là “tù binh chiến tranh” mà chỉ phải tập trung học tập, cải tạo và lần lượt được phục hồi quyền công dân (chỉ trừ một số ngoan cố, cực đoan phải học tập lâu hơn) Thành công bước đầu của việc thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc là yếu tố thuận lợi căn bản để bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới

1 Chung một bóng cờ (về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 814

Trang 18

về việc điều chỉnh hợp nhất một số tỉnh miền Nam, tháng 2-1976, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã

ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam Theo các văn bản trên, từ năm 1976, toàn miền Nam bao gồm 20 tỉnh và một thành phố lớn Trong đó, miền Trung, Tây Nguyên và Nam Trung

Bộ gồm 8 tỉnh là: Bình Trị Thiên, Quảng Nam Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Gia Lai Kon Tum, Đắk Lắk, Thuận Hải, Lâm Đồng

Riêng địa bàn Nam Bộ có sự điều chỉnh về tổ chức hành chính như sau:

Tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa và thành phố Biên Hòa hợp nhất thành tỉnh Đồng Nai

Tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước hợp nhất thành tỉnh Sông Bé.Tỉnh Long An, Kiến Tường hợp nhất thành tỉnh Long An

Tỉnh Mỹ Tho, Gò Công và thành phố Mỹ Tho hợp nhất thành tỉnh Tiền Giang

Tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh hợp nhất thành tỉnh Cửu Long

Tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ hợp nhất thành tỉnh Hậu Giang

Tỉnh Kiến Phong và một số huyện của Sa Đéc hợp nhất thành tỉnh Đồng Tháp

Tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu hợp nhất thành tỉnh Minh Hải

Tỉnh Rạch Giá và một số huyện của Long Châu Hà hợp nhất thành tỉnh Kiên Giang

Tỉnh An Giang, một số huyện của Sa Đéc, một số huyện của Long Châu Hà, một số huyện của Long Châu Tiền hợp nhất thành tỉnh An Giang

Trang 19

triển toàn diện về kinh tế - xã hội Tuy nhiên trên thực tế, việc này đã tạo

ra sự xáo trộn và gây khá nhiều khó khăn về quản lý hồ sơ hành chính và quản lý dân số Mặt khác, quy mô dân số lớn, địa bàn quá rộng đã vượt quá khả năng kiểm soát và quản lý của chính quyền các cấp

Về hành chính, trước khi đất nước thống nhất, ở miền Nam đã từng tồn tại hai hệ thống chính quyền đối lập Trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát, tên gọi các vùng đất khác nhau của đất nước như Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt được thay đổi, gọi là Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần; đồng thời chính quyền Sài Gòn sáp nhập Cao nguyên miền Nam cũ với Trung Việt cũ thành Trung nguyên Trung Phần; chia Nam Phần ra Đông Nam Phần và Tây Nam Phần Tỉnh chia ra quận, quận chia ra tổng, tổng chia ra xã, ở Trung phần, quận chia ra xã, không có tổng Đến tháng 10-1956, chính quyền Sài Gòn chia lại Nam phần gồm

Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh1

Trong vùng tự do và sau đó là vùng giải phóng trước khi thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam năm

1969, từ vĩ tuyến 17 trở vào có hệ thống các liên khu, khu, tỉnh, huyện,

xã Ở Nam Bộ có Xứ ủy Nam Bộ (từ năm 1961 là Trung ương Cục miền Nam) Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất lãnh đạo tập trung thống nhất các bộ và các cấp chính quyền Ở khu

có Ban đại diện Chính phủ, ở các tỉnh, huyện, xã đều thành lập ủy ban nhân dân cách mạng và các tổ chức đảng, đoàn thể cách mạng trong Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Về tổ chức quân sự, trong kháng chiến chống Mỹ, ở Nam Bộ có ba quân khu là Quân khu 7, Quân khu 8, Quân khu 9 và Khu Sài Gòn - Gia Định Sau khi giải thể cấp khu ủy, các quân khu cũng được tổ chức lại thành hai quân khu: Quân khu 7 (gồm Quân khu 7 và Khu Sài Gòn - Gia Định) và Quân khu 9 (gồm Quân khu 8 và Quân khu 9)

1 Nguyễn Quang Ân: Việt Nam, những thay đổi địa danh và địa giới hành

chính (1945-2002), Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2003, tr 65.

Trang 20

Địa bàn Quân khu 7 gồm các tỉnh thành: Sài Gòn - Gia Định, Long

An, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai

Địa bàn Quân khu 9 gồm các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp,

An Giang, Kiên Giang, Minh Hải

Về lực lượng vũ trang, mỗi quân khu có một sư đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng, hỏa lực cấp tiểu đoàn và trung đoàn Mỗi tỉnh có từ

1 đến 2 tiểu đoàn bộ binh và một số phân đội hỏa lực Mỗi huyện có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh, mỗi xã có từ 1 đến 2 trung đội dân quân du kích, mỗi ấp có 1 tổ đến 1 tiểu đội du kích Ngoài ra, đứng chân và hoạt động trên địa bàn Nam Bộ còn có Quân đoàn 4 và các đơn vị của các binh, quân chủng do Bộ Tổng tham mưu quản lý

4 Tổ chức Hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước

Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 9-1975)

đề ra nhiệm vụ thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, đã khẳng định:

“Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”1 Hội nghị nhấn mạnh: “Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng thiết tha bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam”2

Thực hiện chủ trương ấy, ngày 27-10-1975, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã họp phiên đặc biệt thông qua đề

án thực hiện thống nhất đất nước về mặt Nhà nước và cử đoàn đại biểu miền Bắc dự hội nghị hiệp thương với đoàn đại biểu miền Nam

Ngày 5 và 6-11-1975, tại thành phố Sài Gòn cũng tiến hành hội nghị

mở rộng gồm: đại biểu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ

và hòa bình Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn Chính phủ và đại biểu nhân sĩ, trí thức miền Nam Hội nghị đã thảo luận về chủ trương và các biện pháp thống

1, 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr 397, 395

Trang 21

nhất đất nước và cử đoàn đại biểu miền Nam tiến hành hội nghị hiệp thương với đoàn đại biểu miền Bắc.

Hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước tiến hành từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975 tại thành phố Sài Gòn Đoàn đại biểu miền Bắc gồm 25 thành viên, Trưởng đoàn là Trường Chinh - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Các Phó Trưởng đoàn là Hoàng Văn Hoan, Trần Hữu Dực Đoàn đại biểu miền Nam có 25 thành viên, trưởng đoàn là Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư Đảng bộ miền Nam Các Phó Trưởng đoàn gồm: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, luật sư Trịnh Đình Thảo Hội nghị đã diễn ra trong không khí phấn khởi, thắm tình ruột thịt Bắc Nam

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đọc diễn văn khai mạc hội nghị hiệp thương

thống nhất đất nước Diễn văn khẳng định: “Thắng lợi của kháng chiến

chống Mỹ là thắng lợi rất vững chắc của sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc …đó là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam ta, Nam, Bắc cùng kề vai sát cánh chiến đấu chống kẻ thù chung Thắng lợi đó đã

mở ra một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam: giai đoạn hoàn thành

sự nghiệp thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội…Thống nhất nước nhà vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử của Việt Nam”.

Trưởng đoàn đại biểu miền Bắc Trường Chinh đọc báo cáo chính

trị “Thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nước” Trưởng đoàn đại biểu miền Nam Phạm Hùng đọc báo cáo “Tiến lên sớm hoàn thành

thống nhất tổ quốc”.

Hội nghị xác định: thống nhất nước nhà là thống nhất giữa hai miền về chính trị và xã hội, cụ thể là về cơ cấu kinh tế, quan hệ sản xuất, thành phần xã hội, tổ chức nhà nước, Hiến pháp, pháp luật, văn hóa và

Trang 22

tư tưởng… Hội nghị cũng xác định “thống nhất về nhà nước là khâu

chính” Hội nghị khẳng định: “Cần hoàn thành thống nhất nước nhà trên

cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là sự thống nhất trọn vẹn và vững chắc nhất”

Hội nghị đã ra thông báo khẳng định nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, và Hội nghị nhấn mạnh: Cần tổ chức sớm cuộc tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước Là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và chủ nghĩa xã hội Quốc hội đó sẽ xác định thể chế nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất

Hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước đã thành công tốt đẹp,

đã đạt được sự thống nhất rất cao về tất cả các vấn đề sẽ tiến hành như thời gian và biện pháp tiến hành tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của cả nước

Hội nghị có hai văn kiện quan trọng nhất là “Thông cáo của hội nghị

hiệp thương chính trị thống nhất đất nước” và văn kiện “Những vấn đề

đã được hai đoàn đại biểu nhất trí thông qua trong hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc”.

Trong kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa V nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 22 đến 27-12-1975, Ban Thường vụ Quốc hội đã đạt được sự nhất trí với các cơ quan có trách nhiệm ở miền Nam Việt Nam

về chương trình ba điểm:

Một là, tổ chức hội nghị hiệp thương chính trị giữa đại biểu hai

miền Bắc, Nam nhằm thống nhất nhận định về yêu cầu và nội dung của toàn bộ sự nghiệp hoàn thành thống nhất nước nhà, về tầm quan trọng

và tính cấp bách cũng như bước đi, biện pháp của việc thống nhất về mặt Nhà nước

Hai là, bàn về việc tổ chức tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của

cả nước Việt Nam thống nhất trên cả nước theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Cuộc bầu cử sẽ được tổ chức trên

cả nước vào cùng một ngày vào thời gian nửa đầu năm 1976

Trang 23

Ba là, triệu tập kỳ họp đầu tiên của Quốc hội chung của cả nước để

nghe Hội đồng bầu cử toàn quốc báo cáo kết quả cuộc tổng tuyển cử và xác nhận tư cách đại biểu, nghe báo cáo về dự thảo hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất, bầu Ủy ban dự thảo hiến pháp của Quốc hội, quyết định tên nước, Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca và Thủ đô, bầu

cơ quan lãnh đạo của nhà nước…

Kết quả kỳ họp đã chính thức phê chuẩn kết quả của hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước

Ở miền Nam, Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng tiến hành phê chuẩn chính thức kết quả của hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước

Đến cuối năm 1975, Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã hoàn tất cơ sở chính trị và pháp lý cho việc thống nhất đất nước bằng những văn kiện cụ thể của “hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước” do các đoàn đại biểu của hai miền tiến hành tại Sài Gòn Tinh thần của sự thống nhất mang tính toàn diện và triệt để từ thể chế chính trị, ý thức hệ, kinh tế, xã hội, văn hóa và chủ quyền lãnh thổ

Ngày 25-4-1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung trên phạm vi cả nước được tiến hành và thành công tốt đẹp Đây là lần thứ hai cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trong cả nước sau lần Tổng tuyển

cử đầu tiên (tổ chức ngày 6-1-1946) Hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số

cử tri) đi bầu đã bầu ra 492 đại biểu Riêng ở Nam Bộ đã có 97% cử tri tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân ba cấp (phần lớn binh

sĩ trong quân đội Sài Gòn đã được phục hồi quyền công dân cũng được tham gia bầu cử)

Sau khi thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, miền Nam Việt Nam nói chung và vùng đất Nam Bộ nói riêng đã trở thành một bộ phận lãnh thổ của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Thể chế Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ trong sự nghiệp thống nhất Tổ quốc và kết thúc sứ mạng lịch sử vẻ vang của mình

Trang 24

Từ ngày 24-6 đến ngày 2-7-1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên ở Hà Nội Quốc hội thông qua chính sách đối nội và đối ngoại của nước Việt Nam thống nhất Về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Quốc hội quyết định lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ

ngày 2-7-1976), Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca,

Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội

là Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất, thành phố Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh

Khoảng thời gian sau một năm giải phóng là thời kỳ thực hiện chế độ quân quản, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ở miền Nam Việt Nam nói chung và trên vùng đất Nam Bộ nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn, nhất là sự kiện thống nhất nước nhà

về mặt Nhà nước, đã chứng tỏ một cách hùng hồn ý chí của toàn dân đối với việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và

đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời Nam Bộ cũng đứng trước những thử thách, khó khăn không nhỏ của thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường

Những thành tựu lớn nhất đã đạt được trong thời kỳ này là đã thu hồi trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ miền Nam nói chung, trong đó có vùng đất Nam Bộ, kịp thời trấn áp các hoạt động phá hoại của tàn quân, quản

lý chặt chẽ các đối tượng đã tham gia quân đội và chính quyền trong chế

độ cũ; xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng các cấp; giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội; ổn định từng bước đời sống nhân dân, khắc phục nạn đói, chăm lo y tế, giáo dục, bước đầu khôi phục sản xuất nông nghiệp; thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù sau chiến tranh

Trang 25

Bên cạnh những thành tích to lớn đã đạt được như giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, bước đầu ổn định đời sống nhân dân vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, thử thách lớn trong thời kỳ này là:

Mỹ chưa từ bỏ âm mưu và các thủ đoạn phá hoại, bạo loạn ở miền Nam

và kế đó là bao vây, cấm vận hòng gây khó khăn cho nước Việt Nam thống nhất Lực lượng của “kế hoạch hậu chiến” do Mỹ nuôi dưỡng còn

ở lại khá nhiều, các nhóm tàn quân chống đối còn có khả năng hoạt động phá hoại ở nhiều địa phương Hậu quả chiến tranh rất nặng nề cả

về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường Đã xuất hiện tình trạng thiếu đói cục bộ, tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng, nhiều ngành kinh tế đình đốn Tệ nạn xã hội đang tiềm ẩn nguy cơ bùng phát Rất thiếu cán

bộ để xây dựng chính quyền, thiếu nhân lực và nguồn lực để giải quyết khối lượng công tác thương binh xã hội rất lớn Tình trạng vượt biên trái phép diễn ra ồ ạt và rộng khắp ở nhiều địa phương, gây không khí hoang mang, giảm sút lòng tin trong nhân dân Gánh nặng về quản lý,

tổ chức học tập, cải tạo cho hàng vạn sĩ quan và nhân viên cao cấp trong chính quyền của chế độ cũ, thiếu nhân lực và nguồn lực để khắc phục hậu quả về môi trường phục vụ cho sản xuất như rà phá bom mìn, làm sạch các khu vực bị nhiễm chất độc hóa học…

Với bề dày truyền thống dựng nước, giữ nước và đấu tranh cách mạng, với khí thế hân hoan chào đón hòa bình, chào đón sự kiện thống nhất đất nước, nhân dân Nam Bộ cùng cả nước nỗ lực vượt qua những khó khăn thử thách để bước vào thời kỳ mới: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thống nhất, tiến lên xã hội chủ nghĩa

II- BẢO VỆ CHỦ QUYỀN VÀ AN NINH TỔ QUỐC Ở TUYẾN BIÊN GIỚI TÂY NAM, GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ, TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI

Đây là thời kỳ rất đặc biệt đối với vùng đất Nam Bộ vì nó là thử thách lớn nhất sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngay sau khi đất nước thống nhất và vùng đất Nam Bộ đã trở thành một bộ phận không thể tách rời, đồng thời giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp

Trang 26

bảo vệ, xây dựng và phát triển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là thời kỳ vừa phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới với Campuchia Dân chủ, vừa đối phó với tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn biến ngày càng gay gắt Những khó khăn, thử thách đó là sự cản trở rất lớn đối với công cuộc xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ.

Bên cạnh những khó khăn rất lớn, thời kỳ này cũng có những thuận lợi cơ bản là: đất nước đã thống nhất, các vùng lãnh thổ đều được phát triển và bảo vệ bằng tiềm lực và sức mạnh của cả nước Đối với quan

hệ quốc tế, vị thế và uy tín của Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ

Đó là những điều kiện khách quan và chủ quan của vùng đất Nam

Bộ trong thời kỳ phát triển này

1 Bảo vệ chủ quyền và an ninh Tổ quốc ở biên giới Tây Nam

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam do tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary

ở Campuchia gây ra ngay sau khi Việt Nam vừa mới giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đó là một bất ngờ lớn đối với Việt Nam và cộng đồng quốc tế

a- Nguồn gốc và quá trình dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam

Cuộc chiến tranh biên giới với Campuchia do tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary gây ra, nếu muốn hiểu rõ nguồn gốc của nó phải bắt đầu từ sự xuất hiện chế độ Khmer đỏ do Pol Pot đứng đầu

Trong thời kỳ Mỹ thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh

ở miền Nam Việt Nam, ý đồ chiến lược của Mỹ là mở rộng chiến tranh

ra toàn cõi Đông Dương nhằm đánh vào “yết hầu” và “dạ dày” của cuộc kháng chiến ở miền Nam, để nó tự tàn lụi Cụ thể là Mỹ sẽ đánh lên khu vực Nam Lào và Đông Bắc Campuchia là hai đầu của con đường chiến lược Trường Sơn - nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, nơi có đầu mối các con đường vận chuyển quân sự và

Trang 27

tập trung nhiều kho tàng chứa vũ khí, khí tài và lương thực của các lực lượng kháng chiến ở miền Nam.

Để chuẩn bị cho việc thực hiện ý đồ này, Mỹ đã bật đèn xanh cho nhóm Lon Nol Siric Matak làm đảo chính lật đổ Quốc trưởng Norodom Sihanouk ngày 18-3-1970 Đây là hành động nhằm làm thay đổi chính sách trung lập ở Campuchia, dọn đường về pháp lý cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn có thể đưa quân chiến đấu vượt qua đường biên giới tấn công sang đất Campuchia Ngay sau khi đưa Lon Nol lên nắm quyền, ngày 29-4-1970, một lực lượng lớn của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa từ Nam Bộ vượt biên giới tấn công sâu vào lãnh thổ của vùng Đông Bắc Campuchia

Thực hiện chủ trương “Đông Dương là một chiến trường” của Trung ương Cục miền Nam, đồng thời để giúp đỡ cách mạng Campuchia, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã triển khai lực lượng chủ lực chặn đánh các cánh quân Mỹ và quân đội Sài Gòn để bảo vệ và mở rộng căn cứ địa ở Nam Lào và Đông Bắc Campuchia

Sau khi quân Mỹ rút khỏi Campuchia, đầu năm 1971, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã mở hai chiến dịch quy mô lớn đánh sang Nam Lào

và Đông Bắc Campuchia Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng quân sự do miền Bắc chi viện đã đánh bại hai cuộc hành quân lớn này, giữ vững tuyến đường chiến lược và làm suy yếu đáng kể khối chủ lực của quân đội Sài Gòn

Phát huy thắng lợi trên chiến trường Lào và Campuchia, giữa năm 1971, Quân giải phóng miền Nam đã phát triển, tấn công đánh bại hoàn toàn hai cuộc hành quân lớn của lực lượng của Lon Nol

là các chiến dịch Chen La 1 và Chen La 2, giúp cho lực lượng của Khmer đỏ mở rộng vùng giải phóng và làm chủ tình hình Campuchia

“Khmer đỏ” lúc đầu là lực lượng kháng chiến của những người yêu nước Campuchia đã cùng sát cánh với Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp Sau đó, những người cách mạng chân chính như Sơn Ngọc Minh, Tu Sa Muk lần lượt bị thủ tiêu và Pol Pot chiếm lấy vị trí lãnh đạo Khmer đỏ

Trang 28

Ngay từ khi ký Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương (tháng 7-1954), Pol Pot đã tỏ thái độ bất đồng với những quan điểm của Đảng Lao động Việt Nam trong quan hệ hữu nghị với chính quyền vương quốc Campuchia Sách lược của Pol Pot là lợi dụng Việt Nam để chống Mỹ, nhưng ngầm coi Việt Nam là kẻ thù của Campuchia Cuối năm 1971, Pol Pot từ Pháp trở về Campuchia làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đồng thời chỉ thị cho hàng ngàn cán bộ, đảng viên Campuchia tập kết ra miền Bắc Việt Nam năm 1954 phải trở về Campuchia hoạt động Từ đó Pol Pot thực hiện chính sách vừa lợi dụng lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong việc đánh lại Lon Nol vừa ngấm ngầm tiến hành những hành động chống Việt Nam Pol Pot đã triệu tập hội nghị cán bộ ở vùng giải phóng Campuchia

và mời đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tham dự với mục đích nhắc lại những quan điểm thù địch Sau hội nghị này, Pol Pot vừa thanh trừng nội bộ, gạt hết những người cho là thân Việt Nam, vừa ngấm ngầm phá hoại, cướp phá các cơ sở hậu cần và giết hại cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam1 Những hành động ấy được Pol Pot giải thích với phía Việt Nam là “trên không có chủ trương, do dưới manh động” nhằm tránh né việc điều tra và giải quyết

Sau khi Hiệp định Paris (tháng 1-1973) được ký kết, theo đề nghị của Khmer đỏ, phần lớn lực lượng Quân giải phóng rút về miền Nam, chỉ để lại một số đơn vị và vũ khí lớn giúp họ đánh bại Lon Nol, chiếm Phnôm Pênh và giải phóng Campuchia ngày 17-4-1975

Ngay sau khi chiếm được PhnômPênh, Pol Pot bắt đầu thực hiện chính sách “10 không” (không tôn giáo, không thành thị, không tiền

tệ, không trường học, không buôn bán, không bệnh viện…) mà thực chất là chính sách “diệt chủng” Khmer đỏ đuổi hết dân ra khỏi Thủ đô Phnôm Pênh và các đô thị khác, bắt họ về các vùng nông thôn làm lao

1 Theo tài liệu tổng kết của Quân khu 7, năm 1972, lực lượng của Pol Pot đã cướp phá một số kho tàng, cướp đi một số lương thực, vũ khí, giết hại và làm bị thương 580 cán bộ chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam

Trang 29

động khổ sai Những người tỏ ra phản đối sẽ bị giết không cần xét xử Chúng tiến hành rất nhiều cuộc sát hại tập thể, đồng thời thành lập nhiều trại tập trung lớn để giam giữ và thủ tiêu hàng triệu người dân vô tội Theo Pol Pot, mục tiêu của những biện pháp này là nhằm thanh lọc triệt để, chỉ để lại những người thật trung thành với Khmer đỏ để tiến hành chiến tranh chống Việt Nam.

Tất cả những gì diễn ra ở Campuchia, Việt Nam chỉ coi là “những vấn đề nội bộ của bạn” nên không xử lý như một nguy cơ có thể dẫn đến xung đột quân sự giữa hai nước, thậm chí Việt Nam còn buông lỏng việc nắm bắt tình hình Campuchia (giải thể bộ phận tình báo và cơ quan đại diện ở Phnôm Pênh) nên không nắm được tính chất phức tạp và nguy hiểm đang diễn ra ở Campuchia

Ngày 30-4-1975, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam giải phóng Sài Gòn Ngày 2-5-1975, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam giải phóng hoàn toàn các tỉnh Tây Nam Bộ Ngày 8-5-1975, Pol Pot cho lực lượng đánh chiếm đảo Phú Quốc, tiến công, tàn sát dân thường Việt Nam ở đảo Thổ Chu và một vài điểm trên biên giới tỉnh An Giang

Từ ngày 15 đến ngày 18-5-1975, lực lượng Quân khu 9 và Hải quân Việt Nam đã tiến công giành lại đảo Phú Quốc; từ ngày 21 đến ngày 30-5-1975 lấy lại đảo Thổ Chu và một số đảo nhỏ khác

Ngay từ những tháng cuối năm 1975 và suốt năm 1976, tập đoàn Pol Pot vừa xây dựng lực lượng, vừa hoạt động phá hoại ven biên giới với Nam Bộ nhằm trinh sát địa hình, cướp bóc và thăm dò thái độ phản ứng của Việt Nam Tháng 7-1975, chúng đột nhập kho vũ khí của Việt Nam ở Đồi Thơ thuộc Tây Ninh, giết hại người giữ kho và lấy đi 80 khẩu súng Ở Tây Ninh, chúng dời một số cột mốc biên giới ở Gò Dầu, Kà Tum, xâm canh ở Mộc Bài, Khuốc, Vạc Sa, Tà Nốt, Tà Đạt… Chúng còn tấn công đồn biên phòng số 7 và số 8 ở Bu Prăng Chúng thường xuyên cho những toán nhỏ từ một tiểu đội đến trung đội biệt kích thọc sâu vào đất Việt Nam, tiến hành gài mìn, bắt trâu, bò, giết người Tính chung trong nửa cuối năm 1975, chúng xâm phạm biên giới Nam Bộ 18 vụ, trong năm

1976, số vụ xâm phạm tăng lên đến 171 vụ Tính từ năm 1973 đến năm 1976,

Trang 30

chính quyền Pol Pot - Ieng Sary đã khủng bố, tàn sát, cướp bóc và đuổi 28.000 hộ gồm 206.692 Việt kiều về nước.

Đó là nguồn gốc và quá trình dẫn đến nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới Thực tế lịch sử cho thấy những hoạt động khiêu khích ấy xuất phát từ lòng hận thù dân tộc của tập đoàn Pol Pot

mà vấn đề biên giới chỉ là cái cớ để tiến hành chiến tranh xâm lược Tuy nhiên, quá trình diễn ra khá đặc biệt: trong khi phía Pol Pot chuẩn bị khá ráo riết và trắng trợn, còn phía lãnh đạo Việt Nam lại chưa coi đó là nguy cơ xảy ra xung đột quân sự nên chỉ đối phó theo từng sự vụ, chưa vạch ra chiến lược bảo vệ biên giới một cách rõ ràng

b- Diễn biến cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở vùng Nam Bộ

Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Việt Nam với Campuchia chỉ kéo dài hai năm (1977-1979) nhưng hậu quả kinh tế - xã hội của nó khá nặng nề đối với Việt Nam Cuộc chiến tranh ấy có ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: Pol Pot phát động chiến tranh xâm lấn biên giới, Việt Nam đối phó bị động; giai đoạn thứ hai: Việt Nam phản công đẩy lùi lực lượng Khmer đỏ về lãnh thổ Campuchia; giai đoạn thứ ba: Việt Nam cùng lực lượng cách mạng Campuchia tấn công đánh đổ chế

độ diệt chủng Khmer đỏ, chấm dứt chiến tranh biên giới

Giai đoạn 1: Pol Pot phát động chiến tranh xâm lấn biên giới, Việt Nam đối phó bị động (4-1977 – 12-1977)

Đến đầu năm 1977, lực lượng vũ trang của Pol Pot có tổng cộng 12

sư đoàn, tổng quân số khoảng 110 ngàn quân Chúng đưa 5 sư đoàn (gồm các sư đoàn mang số hiệu 801, 920, 3, 4, 230, chiếm 41% tổng lực lượng) áp sát các vị trí then chốt dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, tăng cường hoạt động khiêu khích, do thám và chuẩn bị tấn công Đúng vào dịp kỷ niệm 2 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, đêm 30-4-1977, chính quyền Pol Pot - Ieng Sary huy động 3 trung đoàn của Sư đoàn 2, 4 tiểu đoàn kỹ thuật pháo binh mặt đất, pháo cao xạ, cơ giới và trinh sát thuộc Quân khu Tây Nam, 2 tiểu đoàn địa phương quân của hai tỉnh Kandal và Tà Keo và một số binh sĩ quân đội

Trang 31

Việt Nam Cộng hòa cũ người Khmer Nam Bộ đồng loạt tiến công trên toàn tuyến biên giới miền Tây Nam Bộ từ Hà Tiên đến An Giang với tham vọng rất lớn là “thành lập tỉnh thứ 19 của Campuchia ở An Giang”.Hướng tấn công chủ yếu của chúng nhằm vào An Giang và Kiên Giang, hướng nghi binh, phối hợp là Hà Tiên, Tịnh Biên.

Ở hướng nghi binh, chúng tấn công hàng chục điểm gồm: Hà Tiên, Giang Thành, Đầm Chích, Tịnh Biên, Bảy Núi, Châu Đốc, Khánh Bình, Khánh An, Hồng Ngự, Tân Hồng… Chúng đánh chiếm đến đâu đóng chốt đến đó và tăng thêm lực lượng để mở rộng vùng kiểm soát

Ở hướng chủ yếu, chúng tấn công xuống Phú Tân rồi đánh xuống núi Phú Cường thuộc An Giang Ở Kiên Giang, chúng đánh chiếm trận địa pháo binh ở Giồng Kè, tấn công Nhà máy xi măng Kiên Lương

Các đơn vị thọc sâu của Pol Pot đã tấn công vào nông trường của Sư đoàn 4 của Quân khu 9 ở khu vực rừng tràm thuộc Hà Tiên; chúng phá cầu trên lộ 48 - đoạn từ Châu Đốc đi Tịnh Biên, Chi Lăng Chúng còn xuống tận Vĩnh Xương thuộc Đồng Tháp để cướp và giết hại trâu, bò

Quân khu 9 đã triển khai lực lượng vũ trang ngăn chặn các cánh quân của Pol Pot nhưng trong tình thế bị bất ngờ nên bị động về thế trận, hiệu quả chiến đấu rất hạn chế, không bảo vệ được sự an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân ở những nơi bị địch tấn công Cụ thể như Sư đoàn 330 của Quân khu 9 vừa phải đối phó với cánh quân địch tấn công ở Phú Tân, vừa phải cơ động về chặn đánh địch ở núi Phú Cường

Mặc dù phải đối phó khá bị động nhưng lực lượng Quân khu 9 cũng

đã gây cho địch khá nhiều thương vong (theo số liệu Quân khu 9, các lực lượng vũ trang Việt Nam loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.500 lính Khmer đỏ), đẩy lùi nhiều cánh quân địch trở về bên kia biên giới; nhưng lực lượng Pol Pot còn giữ được ba điểm trên địa phận tỉnh An Giang là

xã Khánh Bình, xã Khánh An và xã Lạc Quới

Sau sự kiện quân Pol Pot tấn công xâm lấn biên giới, Quân khu 9,

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam nhận định: “Đây là

Trang 32

một sự kiện cực kỳ nghiêm trọng vi phạm trắng trợn lãnh thổ của ta do Khmer đỏ gây ra, Bộ Chính trị chỉ thị báo động cho các quân khu tăng cường chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đối phó với địch”.

Ngày 6-7-1977, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam đã gửi Công hàm cho Đảng và Chính phủ Campuchia Dân chủ do Pol Pot lãnh đạo Nội dung Công hàm phản đối hành động gây chiến tranh biên giới của phía Campuchia và bày tỏ thiện chí của Việt Nam là hai bên cùng đàm phán để giải quyết các vấn đề tồn tại về xung đột biên giới Phía Pol Pot đã không đáp ứng thiện chí này mà tiếp tục chuẩn bị chiến tranh

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Thường

vụ Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 họp hội nghị ngày 12-5-1977 xác định quyết tâm “…bất cứ tình huống nào lực lượng vũ trang Quân khu cũng sẵn sàng chiến đấu, khẩn trương hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, bảo vệ toàn vẹn tuyến biên giới toàn Quân khu, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, cơ sở sản xuất, các kho tàng ở biên giới, tránh những thiệt hại cho dân và lực lượng vũ trang của ta, không để bị bất ngờ, bị động đối phó lúng túng…”

Thực hiện quyết tâm trên, Quân khu 7 đã nhanh chóng triển khai kế hoạch phòng thủ biên giới, phân công trách nhiệm như sau: lực lượng

vũ trang địa phương làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chủ lực Quân khu và Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ cơ động, sẽ tổ chức những trận đánh tiêu diệt quân địch nếu chúng vượt biên giới Quân khu tổ chức thêm 3 trung đoàn biên phòng (Trung đoàn 201, 205, 6), xây dựng, củng cố một số đồn, chốt dọc biên giới, làm kế hoạch sơ tán dân các xã giáp biên giới

Về kế hoạch tác chiến: theo chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, Quân khu 7 và Quân đoàn 4 làm kế hoạch hợp đồng, xác định các khu vực tác chiến phòng thủ chủ yếu gồm: nam - bắc liên tỉnh lộ 13 (Phước Tân, Ba Chàm, Tà Nông), nam - bắc quốc lộ 1 (Mộc Bài, Bến Cầu), bắc đến tây bắc thị xã Tây Ninh (Xa Mát, Lò Gò) Quân đoàn 4 sẵn sàng triển khai

từ 1 đến 2 trung đoàn phối hợp chiến đấu với Quân khu 7

Trang 33

Tháng 7-1977, lực lượng Quân đoàn 4 (phối hợp với Quân khu 7) được lệnh rút về phía sau huấn luyện, và Quân khu 7 nhận được chỉ thị thành lập thêm 1 sư đoàn mới (Sư đoàn 303).

Đầu tháng 9-1977, Quân khu 7 triển khai lực lượng bộ binh, pháo binh

và thiết giáp lên Tây Ninh và Sông Bé làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.Thời kỳ chuẩn bị chiến đấu của Quân khu 7 kéo dài hơn 4 tháng (30-4-1977 – 25-9-1977) nhưng “…còn bộc lộ nhiều thiếu sót trong kế hoạch phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu… nhiều đơn vị có biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác nghiêm trọng… chậm xác định kẻ thù và đối tượng tác chiến…” Như vậy là mặc dù đã có thực tế về sự kiện biên giới Quân khu 9 bị quân Pol Pot tiến công xâm lấn và Quân Khu 7 đã triển khai lực lượng nhưng về chiến lược vẫn chưa đánh giá hết ý đồ rất nguy hiểm của Khmer đỏ Theo lôgich thông thường thì dường như Khmer

đỏ không có động cơ, không có mục tiêu cụ thể và không đủ khả năng

để tấn công với quy mô lớn hơn ở An Giang và Kiên Giang

Ngày 18-9-1977, chính quyền Pol Pot - Ieng Sary lại mở cuộc tiến công vào biên giới Việt Nam ở khu vực Cồn Ông (Đồng Tháp) Đêm 21-9, chúng đồng loạt nổ súng tiến công các đồn, trạm trên toàn tuyến biên giới với tỉnh Đồng Tháp Cuộc tiến công quy mô lớn của quân Pol Pot trên toàn tuyến biên giới miền Đông Nam Bộ nổ ra lúc 0 giờ ngày 25-9-1977 Lực lượng địch gồm 2 sư đoàn, 2 trung đoàn và 7 tiểu đoàn tổ chức tiến công tuyến biên giới thuộc ba huyện của Tây Ninh là Tân Biên, Châu Thành và Bến Cầu Ý đồ của chúng là giết hại dân thường người Việt Nam, cướp phá tài sản, chiếm đất, sửa lại đường biên giới, nếu điều kiện thuận lợi có thể chiếm luôn thị xã Tây Ninh

Ở khu vực Tân Biên: Địch sử dụng 1 sư đoàn, 1 trung đoàn và 3 tiểu đoàn địa phương tấn công, cướp bóc và tàn sát dân thường ở các xã Tân Phú, Tân Lập, Tân Hội Chúng tấn công 4 chốt biên phòng (ở Tà Đạt, Đập Đá, đồi 62, Khuốc) Chúng tập kích làm thiệt hại nặng và đẩy lui một đại đội của Trung đoàn 201 đang đóng quân ở gần Xa Mát Chúng tấn công đồn biên phòng Xa Mát nhưng bị đẩy lui Ở nhiều địa điểm khác, chiến sự diễn ra ở thế giằng co

Trang 34

Ở khu vực Bến Cầu, Châu Thành: Lực lượng địch có 1 trung đoàn, 3 tiểu đoàn địa phương tấn công trên chính diện rộng 20 km, chiều sâu 5 km, bao gồm các điểm: Bến Cầu, Long Khánh, Cây Me, Thúc Múc, Long Phước… Thủ đoạn của địch là: dùng lực lượng nhỏ tấn công kiềm chế, giữ chân các đơn vị vũ trang của Việt Nam để cho lực lượng chính tàn sát, giết hại và cướp bóc Trên khu vực này, chúng tàn sát hơn 800 dân thường, đốt cháy gần 500 nóc nhà, cướp đi gần 300 trâu, bò.

Mặc dù đã chuẩn bị kế hoạch tác chiến nhưng do chủ quan nên trong ngày đầu tấn công của địch, lực lượng Quân khu 7 vẫn bị bất ngờ

và bị động đối phó Kết quả chiến đấu: Ta diệt được hàng trăm tên địch, thu 30 súng nhưng thiệt hại của ta cũng khá lớn: lực lượng vũ trang hy sinh 31 người, bị thương 49 người, mất tích 2 người, dân thường bị giết gần 1.000 người, hàng trăm nóc nhà bị cháy, hàng trăm gia súc bị giết

và bị cướp

Sau một ngày địch tấn công vùng biên giới Tây Ninh, ngày 26-9-1977, Quân khu 7 thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương đóng ở Thiện Ngôn (thuộc Tân Biên), đồng thời ra lệnh điều động Sư đoàn 5 cùng pháo binh, cao xạ, cơ giới lên vùng biên giới Tây Ninh Cùng ngày, Quân khu 7 được tăng cường một trung đoàn của Quân đoàn 4

Lực lượng lớn của Quân khu 7 bắt đầu thực hành phản công từ ngày 29-9-1977 Trên hướng Tân Biên, phản kích địch ở Xa Mát, Tà Nông.Trên hướng Bến Cầu, Châu Thành, ta dùng không quân ném bom chốt địch ở Cây Me và Bến Trại Đến ngày 2-10-1977, lực lượng Quân đoàn 4 và Tây Ninh có thiết giáp hộ tống tiến công địch ở các điểm Cây Me, Long Thuận, Bến Trại, cầu Thúc Múc, Long Khánh… Các trận đánh diệt được hơn 60 tên lính Pol Pot, thu được 10 khẩu súng Cũng trong thời gian từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10-1977, lực lượng Quân khu 7 phản công địch ở nam Xa Mát và bắc Bảy Bàu nhưng không đẩy lui được địch

Sau hơn một tuần đối phó với cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới, ngày 3-10-1977, Quân khu ủy Quân khu 7 họp hội nghị và ra nghị quyết

về nhiệm vụ mới nêu rõ: “… các lực lượng vũ trang Quân khu kiên

Trang 35

quyết hoàn thành nhiệm vụ: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, không dung thứ bất cứ xâm phạm nào của bọn phản động Campuchia… đồng thời luôn tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Campuchia… khi cần thiết phải chủ động, kịp thời tấn công mạnh… tuyên truyền, vận động nhân dân

và lực lượng vũ trang Campuchia cùng ta giải quyết nghiêm chỉnh vấn

đề biên giới…”

Từ ngày 8-10-1977, trên địa bàn Quân khu 7 có sự điều chỉnh về lực lượng phối thuộc của các đơn vị và bàn giao trách nhiệm chiến đấu trên địa bàn Tân Biên cho Quân đoàn 3 Bộ Chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng tham mưu quyết định sẽ mở chiến dịch phản công trên toàn tuyến biên giới từ ngày 23 đến ngày 31-10-1977 Mục tiêu của chiến dịch này

là đẩy lui quân địch về đất Campuchia Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 4 sư đoàn của Quân khu 7, Quân đoàn 4, Quân đoàn 3

Trên cả ba hướng phản công của Quân khu 7, Quân đoàn 4 và Quân đoàn 3, quân địch đều bị đẩy lùi về đất Campuchia, các đơn vị Việt Nam

đã truy đuổi sâu vào đất địch từ 5 - 10 km rồi nhanh chóng rút về đất Việt Nam

Ngày 4-11-1977, lực lượng Quân đoàn 4 đã tấn công Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 203 của Pol Pot, diệt hơn 200 tên, bắt sống 5 tên Mặc dù bị thiệt hại khá nhiều và phải lui về đất Campuchia nhưng quân địch không từ bỏ những hành động phiêu lưu mới Đến ngày 15-11-1977, địch tập trung lực lượng lớn gồm 5 sư đoàn chủ lực và 5 trung đoàn địa phương chuẩn bị mở đợt tiến công lớn Mục tiêu của đợt tấn công này

là các khu vực sông Vàm Cỏ, Bến Sỏi và thị xã Tây Ninh

Đêm 16-11-1977, địch tiến hành tấn công trên hai hướng: nam, bắc tỉnh lộ 13 - đoạn từ Lò Gò đến bắc Sà Neng có chiều dài 25 km, chúng tiến sâu vào đất Việt Nam từ 7 đến 8 km, đốt phá hàng trăm nóc nhà và cướp lúa của dân Hướng đánh về Bến Sỏi bị chặn lại cách mục tiêu 3 km

Trong suốt tháng 11-1977, lực lượng hai bên chiến đấu giằng co trên các khu vực: cao điểm 79, 62, làng 24, Tà Nốt, Tà Đạt, địch đánh chiếm đồn biên phòng Phước Tân nhưng sau đó, lực lượng Sư đoàn 9

Trang 36

và biên phòng Việt Nam chiếm lại, cả hai bên đều bị thiệt hại khá nhiều Địch đóng một số chốt trên tuyến sông Vàm Cỏ và thường xuyên hoạt động đánh phá trên khu vực từ Bến Cầu, Tà Đạt, Xóm Giữa, Bàu Ky đến phía tây Bến Sỏi

Trước tình hình đó, Quân khu 7 chủ trương tăng cường các biện pháp hỗ trợ phòng thủ như công sự, chiến hào, bờ tường đất, gài mìn, lựu đạn để hạn chế hoạt động của địch Biện pháp này nhằm tạo điều kiện rút một số đơn vị về phía sau để củng cố, bổ sung quân số, chuẩn

bị cho nhiệm vụ tiếp theo

Kết quả chiến đấu: Các lực lượng vũ trang của Việt Nam đã tiêu diệt

750 tên địch, làm bị thương hàng ngàn tên, thu hơn 400 súng, đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn của Pol Pot Phía Việt Nam hy sinh và bị thương

606 người, sử dụng 507 tấn vũ khí, đạn dược

Nhìn chung diễn biến giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến tranh bảo

vệ biên giới trên toàn tuyến thuộc địa bàn Nam Bộ từ tháng 4-1977 đến tháng 12-1977 có những biểu hiện phía Việt Nam chủ quan, nên bị bất ngờ về chiến lược, chậm xác định bản chất của cuộc xung đột nên chưa

có chiến lược rõ ràng về tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên giới; bị động về chiến dịch và chiến thuật nên không ngăn chặn có hiệu quả các cánh quân của địch, không tấn công truy kích sâu vào đất địch nên để chúng phục hồi nhanh chóng và tiếp tục tấn công sang đất Việt Nam; chưa bảo vệ hiệu quả tài sản và tính mạng của nhân dân vùng biên giới

Giai đoạn 2: Tiến hành phản công đuổi quân địch về đất Campuchia, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới (12-1977 – 12-1978).

Cuối tháng 11-1977, riêng khu vực đối diện với Quân khu 7, Khmer

đỏ bố trí 11 sư đoàn áp sát biên giới với ý định tấn công đường 22, liên tỉnh lộ 13 và uy hiếp trực tiếp thị xã Tây Ninh

Để đối phó trực tiếp với âm mưu này, phía Việt Nam đã có sự chuẩn

bị kế hoạch phản công như sau: lực lượng Quân khu 7, Quân đoàn 4, Quân đoàn 3 được củng cố, dàn thế trận phản công nhằm quét sạch quân địch khỏi lãnh thổ Việt Nam Cụ thể là sẽ tấn công các khu vực:

Trang 37

Rumđuôn, Phum Đa, Mê Mốt, Sam Rông, Snuon, cầu sông Tê, cầu sông Sơ Lông… Đó là những bàn đạp tấn công của Khmer đỏ trên đất Campuchia, đồng thời sẽ đánh địch phản kích trên khu vực lộ 7 thuộc đất Việt Nam.

Đêm 21-12-1977, chiến dịch phản công lớn bắt đầu Bước thứ nhất:

từ ngày 22-12 đến ngày 25-12-1977, lực lượng Quân khu 7 bất ngờ tiến công Mê Mốt và một số điểm trên lộ số 7, quân địch tháo chạy về bên kia biên giới Bước thứ hai: từ ngày 25-12-1977 đến ngày 5-1-1978, lực lượng Quân khu đánh chiếm Snuon và đánh phản kích trên đường liên tỉnh số 13

Cùng thời gian, lực lượng Quân đoàn 3 tiến công Krết, Strưng, Đầm

Be, Prathit (Công Pông Chàm) Quân đoàn 4 tấn công hướng Bến Cầu (Tây Ninh), giải phóng một số vùng đất thuộc Việt Nam bị quân Khmer

đỏ chiếm giữ dọc đường số 1 và một số mục tiêu trên đất Campuchia như: Chi Pu, chấk, Prasốt, Công Pông Rô

Bị tấn công mạnh và lo sợ sự nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia chân chính, Khmer đỏ vừa chống đỡ vừa mở mặt trận ngoại giao Ngày 31-12-1977, chúng đã vu cáo Việt Nam xâm lược trước dư luận thế giới

Cùng ngày 31-12-1977, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng chính thức thông báo với thế giới về cuộc xung đột biên giới giữa Việt Nam và Campuchia và nêu rõ những hành động gây chiến của Khmer đỏ và về quyền tự vệ chính đáng của Việt Nam nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình Để tỏ rõ thiện chí hòa bình với Campuchia, ngày 5-1-1978, toàn bộ lực lượng Việt Nam đã rút về nước sau khi đã truy kích địch sang một số nơi thuộc đất Campuchia sát biên giới

Kết quả chiến dịch phản công của Việt Nam từ 21-12-1977 đến ngày 5-1-1978 đã quét sạch được quân Khmer đỏ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, đánh thiệt hại nặng một số đơn vị cấp tiểu đoàn của chúng, tiêu diệt 320 tên, bắt sống 74 tên, thu được 517 khẩu súng và một số kho tàng quân

Trang 38

sự Chiến dịch này, lực lượng Việt Nam còn bảo vệ được 15.897 người dân Campuchia đã lánh nạn chiến tranh sang Việt Nam Việc quân đội Việt Nam rút hết về nước đêm 5-1-1978 đã chứng tỏ cho thế giới thấy lập trường hòa bình của Việt Nam và làm cho Khmer đỏ không còn cớ

để xuyên tạc, vu khống

Ngày 12-1-1978, Bộ Tổng tham mưu Việt Nam ra mệnh lệnh số 04/ML về chủ trương trước mắt đối với vấn đề biên giới Campuchia là: đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ngoại giao, kết hợp với trừng trị bằng quân sự, phân hóa nội bộ địch, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận quốc tế đối với lập trường đúng đắn, có tình, có lý của Việt Nam

Bộ Tổng tham mưu cũng ra lệnh cho lực lượng vũ trang luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất, kiên quyết đập tan mọi mưu đồ của địch xâm phạm lãnh thổ, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang, nhanh chóng xây dựng tuyến phòng thủ biên giới vững chắc, đồng thời ổn định trật tự xã hội ở nội địa

Về phía Khmer đỏ: Ngày 13-1-1978, Trung ương Đảng của Pol Pot

đã đưa ra chỉ thị về đường lối tiến hành chiến tranh toàn diện và lâu dài chống Việt Nam với bốn biện pháp cơ bản: “Đánh địch về mặt quân sự, đánh địch về mặt chính trị, gián điệp, tâm lý chiến, đánh địch về kinh

tế làm cho chúng đói kém liên tục, đánh địch và tìm mọi cách cắt đứt đường vận chuyển lương thực, đạn dược của quân đội khi chúng vào đất nước ta”

Mặc dù thái độ thù địch của Campuchia đã rõ ràng và trắng trợn nhưng ngày 5-2-1978, phía Việt Nam vẫn kiên trì đưa ra đề nghị giải quyết hòa bình cuộc xung đột bằng nội dung gồm ba điểm:

Một là, chấm dứt ngay mọi hoạt động thù địch ở vùng biên giới, lực

lượng vũ trang mỗi bên đóng quân sâu trong lãnh thổ của mình, cách đường biên giới 5 km

Hai là, hai bên sẽ gặp nhau tại Hà Nội hoặc Phnôm Pênh, hoặc một

địa điểm trên biên giới giữa hai nước để bàn và ký một hiệp ước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau

Trang 39

Ba là, hai bên sẽ thỏa thuận một hình thức thích hợp bảo đảm quốc

tế và quan sát quốc tế đối với hiệp ước biên giới1

Không chấp nhận các đề nghị thiện chí của Việt Nam, phía Campuchia tiếp tục những động thái chuẩn bị cho những cuộc tấn công quân sự tiếp theo Họ vẫn điều động và bố trí 19/23 sư đoàn dọc biên giới với Việt Nam Thủ đoạn hoạt động mới của địch là hoạt động đột kích nhỏ trên diện rộng (từ lộ số 1 đến liên tỉnh lộ 13 và đường 22), cùng lúc đánh nhiều điểm trên vùng biên giới rồi rút quân về đất Campuchia Trong vòng một tháng từ ngày 16-1 đến ngày 18-2-1978, trên khu vực này, quân Khmer đỏ đã gây ra 398 vụ vi phạm biên giới, trong đó có 66 cuộc hành quân lấn chiếm (như đánh chiếm lộ ủi, bắc Kà Tum, Bảy Bàu,

Tà Nốt, Tà Đạt, vây ép đồn biên phòng Tống Lê Chân…), 168 lần bắn pháo sang các làng mạc Việt Nam, làm cháy 97 ngôi nhà, giết chết 139 người Lực lượng Việt Nam đã đánh trả những hành động lấn chiếm, diệt một số tên địch nhưng không ngăn được các hoạt động quấy rối diễn ra liên tục

Trong tháng 3-1978, Khmer đỏ tập trung hơn 5 sư đoàn trên khu vực bắc Tây Ninh, Sông Bé, chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân cấp tiểu đoàn, liên tục đánh phá và lấn chiếm các vùng đất Việt Nam Ngày 16-3-1978, quân Khmer đỏ đã gây ra vụ thảm sát lớn ở hai thôn Thiên Hương và Thiên Phước thuộc huyện Bù Đốp, tỉnh Sông Bé Chúng đã hủy diệt hai thôn này, sát hại gần 300 người - phần lớn là người già và trẻ em Trong tháng này, quân Khmer đỏ gây ra 442 vụ vi phạm biên giới (trong đó có 146 cuộc hành quân lấn chiếm, 155 lần bắn pháo vào làng mạc Việt Nam)

Từ cuối tháng 3-1978, phía Việt Nam bắt đầu thay đổi phương pháp bảo vệ biên giới: các quân khu và các địa phương được lệnh phải huy động lực lượng tại chỗ và từ phía sau chi viện để xây dựng tuyến phòng thủ biên giới bằng các biện pháp cụ thể như: đào công sự chiến

1 Xem Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2000, tr 313

Trang 40

đấu, đào chiến hào cơ động lực lượng, đắp tường chống đạn kết hợp đào hào chống tăng, gài mìn, lựu đạn, cắm chông, trồng tre làm vật cản… trên toàn tuyến biên giới Đối với lực lượng vũ trang, kiên quyết khắc phục tình trạng phòng ngự bị động, hoạt động quân sự không còn bị giới hạn trên đất Việt Nam mà sẽ tổ chức các đơn vị cơ động mạnh, tổ chức các cuộc tiến công một số địa bàn bên đất Campuchia nhằm ngăn chặn các hoạt động của địch, hỗ trợ công tác xây dựng tuyến phòng thủ biên giới

Trong công cuộc xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, phía Việt Nam không chỉ sử dụng lực lượng vũ trang và nhân dân tại chỗ mà còn huy động tất cả nhân lực và vật lực của cả các ngành kinh tế, các địa phương không có biên giới đóng góp sức người, sức của trực tiếp xây dựng tuyến phòng thủ Riêng các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã đóng góp khoảng 80.000 lượt người (đi dân công), tổng cộng 640.000 ngày công, đào đắp 543.888 m3 đất, trồng 800.000 gốc tre tạo thành lũy tre dài 28.786 m, cắm 1,5 triệu cây chông, hình thành một tuyến dài 34.352 m, bố trí 37.812 bàn chông sắt, đào 9.629 m hào, dựng 5.585 m rào kẽm gai… và xây dựng nhiều chướng ngại vật khác Như vậy, công việc bảo vệ và phòng thủ biên giới là công sức của toàn thể nhân dân Nam Bộ

Tính chung kết quả chiến đấu 6 tháng đầu năm 1978, lực lượng Quân khu 7 đã loại khỏi vòng chiến đấu 3.969 tên địch, bắt sống 74 tên, thu được 1.764 súng các loại cùng với 13 tấn đạn dược Lực lượng Quân khu hy sinh 271 người, bị thương 1.977 người, dùng hết 1.896 tấn vũ khí, mất 88 khẩu súng, bị phá hủy 4 xe bọc thép M113

Từ tháng 5-1978, phía Việt Nam đã giúp đỡ lực lượng kháng chiến Campuchia thành lập “Lực lượng vũ trang đoàn kết Campuchia” với quân số 125 người do Hun Xen chỉ huy Quân khu 7 có nhiệm vụ tiếp tục giúp bạn nhằm tăng quân số lên từ 1.000 đến 2.000 quân, tổ chức từ 1 đến 2 tiểu đoàn có khả năng chiến đấu

Bước sang tháng 5-1978, tình hình nội bộ Khmer đỏ có sự phân hóa mạnh, Pol Pot thẳng tay đàn áp và thanh trừng, buộc những người

Ngày đăng: 19/11/2022, 19:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w