1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tìm hiểu về tín dụng xanh - Từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam (Sách tham khảo): Phần 1

81 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín dụng xanh - Từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả Đặng Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Thị Liên Hương, Ngô Thị Ngọc, Bùi Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Khánh Linh, Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thị Thanh Nga, Đàm Thị Thanh Hà, Đào Thế Sơn, Đinh Thị Hà
Người hướng dẫn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Kim Nhung
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Sách tham khảo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của cuốn sách Tín dụng xanh - Từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam trình bày những nội dung về: tổng quan tín dụng xanh; kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh trên thế giới và bài học cho Việt Nam; đo lường lợi ích kinh tế - xã hội của triển khai tín dụng xanh ở các ngân hàng thương mại Việt Nam;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

————

SÁCH THAM KHẢO

TÍN DỤNG XANH - TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Chủ biên: Đặng Thị Minh Nguyệt

Nguyễn Thanh Phương

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Tín dụng xanh được xác định là trọng tâm trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành chỉ thị 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh Theo đó, hoạt động cấp tín dụng cần chú trọng bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người đảm bảo phát triển bền vững Thực tế tại các NHTM Việt Nam, tín dụng xanh đã được triển khai Một số dự án tài trợ theo chương trình này đã được thực hiện, đem lại những lợi ích nhất định cho các bên tham gia Cụ thể, các chương trình tín dụng xanh đã mang lại hiệu quả thiết thực cho cộng đồng, nhằm xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Triển khai tín dụng xanh là xu thế tất yếu mặc dù các NHTM đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bỡ ngỡ và tiến độ chậm chạp Hiện nay nhiều NHTM lựa chọn phương án triển khai, xác định lợi ích kinh tế - xã hội của tín dụng xanh hướng tới sự phát triển bền vững

Xuất phát từ nhận thức nêu trên, nhóm tác giả đã biên soạn Sách tham khảo

“Tín dụng xanh - Từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam” với những nội dung

chính: Tổng quan tín dụng xanh; kinh nghiệm triển khai của một số quốc gia, đo lường lợi ích kinh tế - xã hội và thực trạng tín dụng xanh tại Việt Nam; từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm phát triển tín dụng xanh ở Việt Nam, góp phần xây dựng cơ

sở lý thuyết và thực tiễn về tín dụng xanh tại Việt Nam Chúng tôi cũng hy vọng đây là tài liệu có giá trị phục vụ cho giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên, cao học viên và nghiên cứu sinh ngành Tài chính - Ngân hàng; ngoài ra đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này

Bố cục Sách tham khảo gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tín dụng xanh

Chương 2: Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Trang 3

Chương 3: Đo lường lợi ích kinh tế - xã hội của triển khai tín dụng xanh ở các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 4: Thực trạng tín dụng xanh tại các NHTM Việt Nam

Chương 5: Một số giải pháp nhằm phát triển và mở rộng tín dụng xanh ở Việt Nam

Tham gia thực hiện cuốn Sách tham khảo này gồm:

Tham gia biên soạn:

1 ThS Nguyễn Thị Liên Hương, giảng viên Bộ môn Quản trị tài chính, Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 1;

2 ThS Ngô Thị Ngọc, giảng viên Bộ môn Quản trị tài chính, Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 2;

3 ThS Bùi Thanh Tùng, Phòng Kế hoạch Tài chính, Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 2;

4 ThS Nguyễn Ngọc Khánh Linh, giảng viên Bộ môn Quản trị tài chính Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 3;

5 ThS Nguyễn Thị Hiên, giảng viên Bộ môn Toán, Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 3;

6 ThS Nguyễn Thị Thanh Nga, giảng viên Bộ môn Quản trị Thương hiệu Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 4;

7 ThS Đàm Thị Thanh Hà, Trường Đại học Nội vụ, đồng biên soạn chương 4;

8 ThS Đào Thế Sơn, Bộ môn Kinh tế học, Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 5;

Trang 4

9 ThS Đinh Thị Hà, Bộ môn Tin học, Trường Đại học Thương mại, đồng biên soạn chương 5

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS,TS Lê Thị Kim Nhung, Trưởng Khoa Tài chính - Ngân hàng, các Thầy/Cô giáo trong: Bộ môn Ngân hàng và Thị trường Tài chính, Bộ môn Tài chính công,

Bộ môn Quản trị tài chính và nhà phản biện đã có những góp ý có giá trị, giúp nâng cao chất lượng Sách tham khảo

Mặc dù tập thể tác giả đã rất cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để mang đến những thông tin hữu ích về lý thuyết cũng như thực tiễn triển khai tín dụng xanh ở Việt Nam, nhưng do trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến của bạn đọc để nội dung Sách tham khảo có thể hoàn thiện hơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG XANH 1

1.1 Bối cảnh ra đời của tín dụng xanh 1

1.1.1 Bối cảnh ra đời của tín dụng xanh trên thế giới 1

1.1.2 Bối cảnh ra đời tín dụng xanh ở Việt Nam 3

1.2 Những vấn đề cơ bản về tín dụng xanh 8

1.2.1 Quan điểm về tín dụng xanh 8

1.2.2 Phân loại tín dụng xanh 11

1.2.3 Đặc điểm của tín dụng xanh 12

1.2.4 Mục tiêu của tín dụng xanh 13

1.2.5 Vai trò của tín dụng xanh 14

1.3 Khung pháp lý về tín dụng xanh 16

1.3.1 Khung pháp lý về tín dụng xanh trên thế giới 16

1.3.2 Khung pháp lý về tín dụng xanh ở Việt Nam 20

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI TÍN DỤNG XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 29

2.1 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh của một số quốc gia trên thế giới 29

2.1.1.Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh của Trung Quốc 29

2.1.2 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh ở Ấn Độ 31

2.1.3 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh ở Bangladesh 34

2.1.4 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh ở Indonesia 38

2.1.5 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh của Thái Lan 39

2.1.6 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh tại Mỹ 40

2.1.7 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh tại Pháp 41

2.1.8 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh tại Nhật Bản 43

Trang 6

2.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 43

2.2.1 Tăng cường các hoạt động ngân hàng bền vững trong nội bộ ngân hàng 43

2.2.2 Thúc đẩy quản lý rủi ro khí hậu và môi trường ở cấp danh mục tín dụng, dự án đầu tư 44

2.2.3 Thoái vốn khỏi các dự án cho vay có hại tới môi trường và khí hậu 45

2.2.4 Đa dạng hoá nguồn lực cho tín dụng xanh với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo 46

2.2.5 Hướng dòng vốn tín dụng đến các lĩnh vực ưu tiên ở nông thôn 46

2.2.6 Ngân hàng cần đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư 46

2.2.7 Nâng cao nhận thức về tín dụng xanh của ngân hàng và khách hàng 47

2.2.8 Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ để phát triển tín dụng xanh 47

2.2.9 Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và các nước 47

CHƯƠNG 3: ĐO LƯỜNG LỢI ÍCH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TRIỂN KHAI TÍN DỤNG XANH Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 49

3.1 Quy trình tiền xử lý, phân tích để xây dựng mô hình 49

3.1.1 Định tính 49

3.1.2 Định lượng 49

3.2 Mô hình đo lường lợi ích kinh tế - xã hội của triển khai tín dụng xanh ở NHTM Việt Nam 53

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu và Dữ liệu nghiên cứu 53

3.2.2 Mô hình nghiên cứu 57

3.3 Kết quả nghiên cứu đo lường lợi ích kinh tế-xã hội của triển khai tín dụng xanh ở NHTM Việt Nam 61

3.3.1 Kiểm định hệ số tin cậy ronbach s lpha 61

3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá 64

3.3.3 Kiểm định mô hình hồi qui……….

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG XANH TẠI VIỆT NAM 72

4.1 Cơ sở pháp lý để triển khai tín dụng xanh ở Việt Nam 4.2 Thực trạng triển khai tín dụng xanh của một số ngân hàng ở Việt Nam 72

4.2.1 Thực trạng triển khai tín dụng xanh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Ngân hàng hính sách xã hội 72

Trang 7

4.2.2 Thực trạng triển khai tín dụng xanh tại một số ngân hàng thương mại cổ phần có

vốn Nhà nước chi phối 78

4.2.3 Thực trạng triển khai tín dụng xanh tại một số ngân hàng thương mại cổ phần 83 4.3 Đánh giá thực trạng tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 93

4.3.1 Kết quả đạt được 93

4.3.2 Một số hạn chế 98

4.3.3 Nguyên nhân của một số hạn 100

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG XANH Ở VIỆT NAM 104

5.1 Định hướng phát triển kinh tế xanh và tín dụng xanh ở Việt Nam 104

5.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam 104

5.1.2 Định hướng phát triển tín dụng xanh của Việt Nam 105

5.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng và phát triển tín dụng xanh 108

5.2.1 Nhóm giải pháp trước mắt 108

5.2.2 Nhóm giải pháp lâu dài 113

5.2.3 Một số giải pháp khác 117

5.3 Kiến nghị 118

5.3.1 Kiến nghị với hính Phủ 118

5.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 121

5.3.3 Kiến nghị khác 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TRIỂN KHAI TÍN DỤNG XANH TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 129

PHỤ LỤC 2: TỔNG HỢP KẾT QUẢ Ý KIẾN CHUYÊN GIA 137

PHỤ LỤC 3: GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CÁC BIẾN 139

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Thống kê các văn bản pháp lý của NHNN liên quan đến tín dụng xanh 25 Bảng 3.1: Bảng khảo sát sơ bộ đo lường lợi ích kinh tế - xã hội của triển khai tín

dụng xanh tại các NHTM Việt Nam 53

Bảng 3.2: Bảng khảo sát chính thức đo lường lợi ích kinh tế - xã hội của triển khai tín dụng xanh tại các NHTM Việt Nam 55

Bảng 3.3: Danh sách biến của mô hình 57

Bảng 4.1: Một số sản phẩm tín dụng xanh trên thị trường 97

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ Hình vẽ 3.1 Mô hình nghiên cứu 61

Biểu đồ 4.1: Khảo sát Tín dụng xanh tại các NHTM Việt Nam 93

Biểu đồ 4.2: Dư nợ Tín dụng xanh ở Việt Nam 95

Biểu đồ 4.3: Tỷ trọng dư nợ tín dụng xanh trong tổng dư nợ 99

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TIẾNG VIỆT

BVMT Bảo vệ môi trường

ABAC Agriculture Bank and

Agricultural Cooperatives of Thailand

Ngân hàng Nông nghiệp và hợp tác

xã Nông nghiệp Thái Lan

ABBank An Binh Commercial Joint Stock

BIDV Bank for Investment and

Trang 10

management Committee Trung Quốc CDP Carbon disclosure Project Dự án công bố Carbon

CERE Center for environment education

Eps Equatoe Principles Nguyên tắc xích đạo

HD Bank Ho Chi Minh City Devolopment

Joint Stock Commercial Bank

Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh HSBC Hongking and Shanghai Banking

IFC International Finance Corporation Tập đoàn tài chính quốc tế

MB Bank Military Commercial Joint Stock

Bank

Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

MEP Ministry of Environmental

Protection of the Pople‟s Republic

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG XANH 1.1 Bối cảnh ra đời của tín dụng xanh

1.1.1 Bối cảnh ra đời của tín dụng xanh trên thế giới

Ngày nay, các quốc gia trên thế giới phải đối mặt cùng lúc với nhiều cuộc khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng tài chính và kinh tế Toàn thế giới đã nhận thấy những yếu kém và rủi ro trong cấu trúc kinh tế và sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch, sự phát thải khí nhà kính quá mức gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu Những áp lực này đã tạo ra sự qui tụ của cộng đồng các quốc gia, tổ chức, thể chế

để tìm những hướng phát triển mới hài hòa hơn với thiên nhiên vì tương lai bền vững của trái đất

Tại Hội nghị COP 16, trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) tổ chức năm 2010 tại Cancun (Mexico), các bên tham gia đã đưa ra yêu cầu “tích hợp tăng trưởng xanh trong hoạt động kinh tế”, đặt kỳ vọng là tiếp cận này góp phần ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và các cuộc khủng hoảng khác Hàn Quốc là một quốc gia điển hình đã kết hợp giải quyết khủng hoảng kinh tế với gói kích thích quan trọng cho chi tiêu xanh, chuyển mô hình tăng trưởng từ số lượng sang chất lượng, ít các-bon Những định hướng chính sách chính của Hàn Quốc là giảm GHG hiệu quả; giảm lệ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch, phát triển công nghệ xanh như là năng lượng trong tương lai; xây dựng nền tảng chính sách cho kinh tế xanh, cải thiện chất lượng cuộc sống…

Nền kinh tế xanh cũng được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, Ủy ban Liên hợp quốc về kinh tế và xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế xác định bao gồm các yếu tố: 1) đầu tư vào vốn tài nguyên; 2) tạo việc làm và công bằng xã hội; 3) thay thế năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo và công nghệ ít các-bon; 4) khuyến khích sử dụng nguồn lực và năng lượng hiệu quả hơn; 5) đô thị bền vững và giao thông ít các-bon; 6) cơ chế tài chính, tài khóa; 7) hệ thống pháp luật, chính sách hỗ trợ Đồng thời xác định mô hình kinh tế xanh sẽ cần chuyển đổi cơ bản cấu trúc kinh tế truyền thống, giải quyết hiệu quả các thách thức về kinh tế, môi trường và xã hội của khu vực, qua tiếp cận hiệu quả sinh thái

Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã đưa ra khái niệm về kinh

tế xanh: “là nền kinh tế mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái” Đây được coi

Trang 12

là định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất về kinh tế xanh Theo đó, kinh tế xanh đơn giản là một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tính công bằng về mặt xã hội Trong nền kinh tế xanh,

sự tăng trưởng về thu nhập, việc làm thông qua việc đầu tư của Nhà nước và

tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của hệ sinh thái Trong khái niệm về kinh tế xanh của UNEP, kinh tế “xanh” là khái niệm đối lập với kinh tế “nâu” Kinh tế xanh không chỉ đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế mà còn quan tâm nhiều tới hạnh phúc của con người, công bằng xã hội và các vấn đề môi trường, sinh thái Nội hàm của kinh tế xanh bao gồm: Phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đảm bảo công bằng xã hội Xét theo lĩnh vực, kinh tế xanh được xuất phát bởi việc tăng cường đầu tư cho các lĩnh vực giúp bảo vệ và phát triển vốn tự nhiên của trái đất, hạn chế suy giảm sinh thái và các rủi ro về môi trường, bao gồm: Năng lượng tái tạo, giao thông phát thải carbon thấp, xây dựng nhà hiệu quả năng lượng, các công nghệ sạch, hệ thống quản lý chất thải tiên tiến, hệ thống cung cấp nước sạch tiên tiến, và nông-lâm-ngư nghiệp bền vững (UNEP, 2010) Đặc biệt, việc đầu tư này cần được hỗ trợ bởi các cải cách về chính sách trong nước, chính sách quốc tế và những nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng của thị trường

Với những ý tưởng về nền kinh tế xanh, một nền kinh tế vừa thỏa mãn nhu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết được những thách thức về môi trường đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến từ khá sớm Trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất quan điểm, xu hướng phát triển kinh tế xanh tập trung sẽ bám sát vào 3 trụ cột chính, đó là: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định khái niệm “kinh tế xanh” không thay thế khái niệm bền vững, nhưng nó ngày càng được công nhận là mô hình phù hợp, làm nền tảng cho phát triển bền vững Trong đó tính bền vững là một mục tiêu dài hạn quan trọng, nhưng xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa mỗi quốc gia đi tới đích - phát triển bền vững

Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn, đặc biệt là cung cấp „tín dụng xanh” cho các trụ cột trong nền kinh tế nhằm hướng đến nền kinh tế xanh Do vậy, khái niệm “tín dụng xanh” được xuất hiện cùng với “kinh tế xanh”, “ngân hàng xanh”

Lần đầu xuất hiện vào năm 2003 ở các nước phương tây với mục đích bảo vệ môi trường, sau đó được nhiều nhà kinh tế sử dụng trong các nghiên cứu của mình

Trang 13

Cụ thể, ngân hàng giảm lượng carbon trong chính ngân hàng của mình bằng cách thực hiện các hoạt động trực tuyến, sử dụng hệ thống ATM, mobile banking, các loại thẻ, trao đổi qua thư điện tử…nhằm giảm thiểu các hoạt động liên quan đến giấy tờ, văn phòng phẩm, máy điều hòa… Đối với mục tiêu giảm lượng khí thải ngoài ngân hàng, các ngân hàng thực hiện tín dụng xanh hay là tài trợ cho các dự án thân thiện với môi trường, giảm thải ô nhiễm, ưu tiên đối với những ngành công nghiệp xanh Như vậy, khái niệm ngân hàng xanh có thể được hiểu theo hai khía cạnh: (i) Ngân hàng thực hiện các hoạt động trực tiếp nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường như sử dụng tiết kiệm năng lượng, nước, xử lý rác thải… (ii) Ngân hàng tác động gián tiếp đến môi trường thông qua việc tăng cường hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường như: Nhà máy sử dụng khí đốt từ chất thải, nhà máy cung cấp năng lượng tái tạo và năng lượng mặt trời, nhà máy chế tạo phân sinh học…Như vậy, ngân hàng xanh cũng giống các ngân hàng khác nhưng có cân nhắc đến yếu tố môi trường, xã hội thông qua việc giảm thiểu lượng carbon theo hướng khuyến khích hoạt động tín dụng xanh và xanh hóa các hoạt động điều hành tổ chức công việc của ngân hàng Các hoạt động của ngân hàng xanh bao gồm: hoạt động tín dụng xanh và hoạt động nội bộ ngân hàng xanh

1.1.2 Bối cảnh ra đời tín dụng xanh ở Việt Nam

Chủ trương phát triển bền vững và tăng trưởng xanh đã được Đảng và Nhà

nước ta quan tâm, đề cập trong nhiều năm qua

Đại hội XII của Đảng đã khẳng định lại chủ trương “phát triển nhanh và bền vững” và phát triển kinh tế xanh: “Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở

ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững hòa bình, ổn định để

xây dựng đất nước”

Ngay từ năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Đây là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt

Trang 14

Nam chỉ rõ: Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử

và trên thực tế, nhiều nước đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về

phát triển bền vững

Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cần được thực hiện để phát triển bền vững trong thế kỷ XXI Trong đó nêu rõ những hoạt động cần ưu tiên trong lĩnh vực

kinh tế là thực hiện “công nghiệp hóa sạch”, xây dựng nền “công nghiệp xanh”, là:

Thứ nhất, thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo

hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường, dựa trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo lại được, giảm tối đa chất thải độc hại và khó phân

hủy, duy trì lối sống của cá nhân và xã hội hài hòa, gần gũi với thiên nhiên

Thứ hai, duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao

không ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học - công nghệ và sử dụng tiết kiệm

tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường

Thứ ba, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững Trong khi phát triển

sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên: đất,

nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học

Thứ tư, phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát

triển bền vững

Thứ năm, thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”, nghĩa là ngay từ ban

đầu phải quy hoạch sự phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý

ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”

Thứ sáu, thực hiện một chiến lược “công nghiệp hóa sạch” là ngay từ ban đầu

phải quy hoạch sự phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh” Những tiêu chuẩn môi trường cần được đưa vào danh mục tiêu chuẩn thiết yếu nhất để lựa chọn các ngành nghề khuyến khích đầu tư, công nghệ sản xuất và sản phẩm, quy hoạch các khu công

Trang 15

nghiệp, khu chế xuất và xây dựng các kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và

kiểm soát ô nhiễm

Ngày 12/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong đó nêu rõ: “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật

432/QĐ-tự, an toàn xã hội”; và “Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất” Mục tiêu chính của Chiến lược là:

+ Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế carbon thấp Sử

dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực

+ Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt

là tài nguyên không tái tạo Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với

biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng”

Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 cũng nêu rõ các nhiệm vụ cho giai đoạn này, trong đó có việc “Xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng carbon thấp Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Từng bước thị trường hóa giá năng lượng, nâng dần tỷ trọng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam Xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường và đưa thêm môi trường và các khía cạnh xã hội vào khuôn khổ hạch toán tài khoản quốc

gia (SNA)”

Ngoài ra, thực hiện nhiệm vụ “phát triển bền vững vùng và các địa phương, xây dựng các chương trình phát triển bền vững của vùng và địa phương”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững

địa phương giai đoạn 2013-2020” (Quyết định số 2157/QĐ-TTg ngày 11/11/2013)

Trang 16

Nhằm thực hiện chủ trương về phát triển bền vững, phát triển kinh tế xanh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 về Phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm

nhìn đến năm 2050”

Đây là bản chiến lược đầu tiên, toàn diện về lĩnh vực phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam, phù hợp với điều kiện trong nước và bắt kịp với xu hướng chung trên thế giới Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh nêu rõ: “tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu Tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng

cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế”

Ngày 26/8/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP phê duyệt chủ trương đầu tư 21 Chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020, trong đó có Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh Mục tiêu của Chương trình là tiến hành đồng thời các giải pháp thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo đảm an toàn tính mạng con người và tài sản Tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của con người

và các hệ thống tự nhiên; tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế carbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao Thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, tích cực thực hiện cam kết của Việt Nam

với cộng đồng quốc tế bảo vệ khí hậu trái đất

Chương trình cũng đặt ra mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2020 trồng mới

và phục hồi 10.000 ha rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, hấp thụ 2 triệu tấn khí CO2 mỗi năm và tạo sinh kế

ổn định cho người dân Đến năm 2020, giảm cường độ phát thải khí nhà kính từ 8% đến 10% so với mức 2010; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP từ 1% đến 1,5% mỗi năm; xây dựng Trung tâm nghiên cứu, đào tạo ứng dụng và chuyển giao công nghệ xây dựng xanh tại Việt Nam với quy mô 50 ha Xây dựng kế hoạch hành

động về tăng trưởng xanh cấp ngành, vùng và địa phương

Trang 17

Ngày 28/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg về Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Pari về biến đổi khí hậu Kế hoạch xác định

2053/QĐ-5 nhóm nhiệm vụ: giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; thích ứng với biến đổi khí hậu; chuẩn bị nguồn lực; thiết lập hệ thống công khai, minh bạch (MRV); xây dựng và hoàn thiện chính sách, thể chế Riêng hai nhóm nhiệm vụ: giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu có 38 trên tổng số 68 nhiệm vụ, tập trung vào hướng sử dụng năng lượng sạch, tăng trưởng xanh, tái cơ cấu các ngành kinh tế,

phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư

Có thể khẳng định rằng, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã thấy rõ vai trò của phát triển bền vững và đã nỗ lực đề ra nhiều chương trình, kế hoạch để triển khai

thực hiện

Chính sách của Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế xanh được xác định

rõ trong các văn bản ban hành và đang được tổ chức thực hiện ở tất cả các cấp độ Với Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững và tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam thể hiện quyết tâm và hành động trong phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển bền vững đất

nước

Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, cần có nhiều giải pháp trong đó có giải pháp tích cực triển khai tín dụng xanh với sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng và các bộ ngành

liên quan

Khoảng 5 năm về trước, tín dụng xanh là khái niệm còn khá mới mẻ với nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, khi xã hội phát triển, đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực đến môi trường, thì khái niệm “tín dụng xanh” mới thực sự được quan tâm đúng mức Đây là bước đi cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra trên toàn cầu, nhất là khi Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có mức độ ô nhiễm hàng đầu hiện nay

Tín dụng xanh là hướng đi tất yếu của ngành tài chính toàn cầu và ngành này

có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và hiện thực hóa chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam Trong kế hoạch hành động của Chính phủ, các tổ chức tín dụng được xem là thành phần quan trọng để hướng dòng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất thân thiện với môi trường, giảm thiểu rủi ro, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 18

1.2 Những vấn đề cơ bản về tín dụng xanh

1.2.1 Quan điểm về tín dụng xanh

1.2.1.1 Quan điểm về tín dụng xanh trên thế giới

Trên thế giới, tín dụng xanh đã được nhiều học giả, tổ chức nghiên cứu Các quan điểm về tín dụng xanh đã được nhiều nghiên cứu đề cập Tại Trung Quốc, tín dụng xanh được sử dụng rộng rãi theo định nghĩa trong “Nguyên tắc Xích đạo” (2002) “Nguyên tắc Xích đạo” yêu cầu các tổ chức tài chính chú ý đến các tác động môi trường và xã hội của các dự án tài chính, ngoài việc đánh giá khả năng thanh toán truyền thống và họ yêu cầu các ngân hàng sử dụng các khoản cho vay để thúc đẩy các dự án đóng vai trò tích cực trong bảo tồn năng lượng và giảm phát thải và tạo ra một xã hội ổn định

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đưa ra một loạt các chính sách xanh, bao gồm thuế xanh, mua sắm xanh, cũng như các chính sách xanh liên quan đến lĩnh vực tài chính, cụ thể là tín dụng xanh, bảo hiểm và chính sách bảo mật Trong số đó, chính sách TDX là tiên tiến nhất, với ba cơ quan (Bộ Bảo vệ Môi trường, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và Ủy ban Điều tiết Ngân hàng Trung Quốc) cùng chịu trách nhiệm thực hiện Chính sách này, sau bốn năm thực hiện, đã

tỏ ra chống lại biến động kinh tế lớn của Trung Quốc sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Thành công trong tương lai của nó phụ thuộc vào việc thu thập và phổ biến dữ liệu môi trường hiệu quả, hướng dẫn kỹ thuật và cung cấp các ưu đãi tài chính thực sự cho các ngân hàng

Cùng quan điểm như vậy, Jin và Mengqi (2011) cũng cho rằng tín dụng xanh, còn được gọi là tài chính bền vững, chủ yếu nhằm mục đích đạt được sự phát triển bền vững thông qua việc điều chỉnh triết lý kinh doanh, chính sách quản lý và các quá trình hoạt động của ngành tài chính

Bên cạnh đó, Wang và các cộng sự (2019) cho rằng tín dụng xanh sẽ khiến các

tổ chức tài chính điều chỉnh các chiến lược tín dụng của họ đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, bao gồm cả việc điều chỉnh cơ cấu tỷ lệ tín dụng dài hạn và ngắn hạn, nó sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng Một trong những mục tiêu của tín dụng xanh là giúp các doanh nghiệp giảm tiêu thụ năng lượng trong quá trình hoạt động kinh doanh Đồng thời, tín dụng xanh là cách để Chính phủ và các tổ chức tài chính thực hiện kiểm soát vĩ mô Tín dụng xanh còn là nguồn tài trợ chính cho dự án kiểm soát

ô nhiễm công nghiệp, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường Thông qua việc

Trang 19

phân bổ các nguồn tín dụng và hướng dẫn tiêu dùng và hành vi đầu tư, tín dụng xanh ảnh hưởng trực tiếp đến mức năng lượng tái tạo đầu tư (He và cộng sự, 2019) Như vậy, hiện nay trên thế giới chưa có một khái niệm thống nhất nhưng thuật ngữ “tín dụng xanh” đã được đề cập đến trong các tài liệu hướng dẫn của một số quốc gia như Ấn độ, Trung Quốc, Bangladesh, Thuật ngữ “tín dụng xanh” được dựa trên “Nguyên tắc Xích đạo” (GRI, 2006), nguyên tắc này được chính thức thành lập vào tháng năm 2002 Điều này được Tổng công ty Tài chính Quốc tế và Ngân hàng

Hà Lan đưa vào thành một tiêu chí cho vay quan trọng đối với ngành ngân hàng trong quá trình cho vay đối với doanh nghiệp Nguyên tắc Xích đạo yêu cầu các tổ chức tài chính chú ý đến các tác động môi trường và xã hội của các dự án tài chính, ngoài việc đánh giá khả năng thanh toán truyền thống họ còn yêu cầu các ngân hàng

sử dụng đòn bẩy tài chính để thúc đẩy các dự án đóng vai trò tích cực trong bảo tồn năng lượng và giảm phát thải và tạo ra một xã hội ổn định Nguyên tắc Xích đạo cũng là nguyên tắc đầu tiên trên thế giới sử dụng việc bảo vệ môi trường làm tiêu chí trong quá trình hoạt động tài chính doanh nghiệp và nó cung cấp một tiêu chuẩn dùng làm tham chiếu để phát triển ngân hàng cho hoạt động kinh doanh TDX

1.2.1.2 Quan điểm về tín dụng xanh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, mặc dù tín dụng xanh là khái niệm còn khá mới mẻ nhưng khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ngày càng ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực đến môi trường, thì khái niệm tín dụng xanh cần được quan tâm đúng mức Nhiều nghiên cứu như: Thu Hà (2019), Trúc Minh (2019), Huyền Trang (2015) cho rằng tín dụng xanh là việc các

tổ chức tín dụng cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh

mà không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung Trên thực

tế, xu hướng tăng trưởng tín dụng xanh đã phát triển từ lâu trên thế giới với các dự

án tiết kiệm năng lượng, tái tạo năng lượng và công nghệ sạch nhằm hướng đến mục tiêu “kép” là tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường

Theo Trúc Minh (2019), khái niệm "xanh" trước kia thường được hiểu là các

dự án liên quan đến môi trường, liên quan nhiều đến việc tài trợ các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch Các dự án này thường có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn lâu, nên ít tổ chức tín dụng mặn mà Tuy nhiên, đến thời điểm này các dự án xanh được hiểu theo nghĩa rộng hơn

Ở góc nhìn khác, Trần Trọng Phong và cộng sự (2016) đề cập đến quan điểm

về tín dụng xanh là những khoản tín dụng mà ngân hàng cấp phát cho các dự án sản

Trang 20

xuất kinh doanh không gây rủi ro hoặc nhằm mục đích bảo vệ môi trường Thông qua việc giảm các tác động tiêu cực của khối doanh nghiệp đến môi trường - xã hội, TDX không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và còn góp phần vào quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế

Còn trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Châu (2016) đã tổng hợp các quan điểm về ngân hàng xanh và TDX Theo đó các hoạt động tín dụng xanh bao gồm: cho vay thế chấp xanh, cho vay thiết bị gia đình xanh, cho vay xây dựng tòa nhà thương mại xanh, cho vay mua xe xanh, thẻ tín dụng xanh và tài trợ dự án xanh Cho vay thế chấp xanh là những khoản vay với lãi suất thấp hơn hẳn so với thị trường được áp dụng cho những khách hàng mua những ngôi nhà dùng năng lượng xanh Đối với các dự án xây tòa nhà thương mại có mức tiêu thụ năng lượng thấp hơn (khoảng 15% - 25%), giảm chất thải và ít ô nhiễm hơn so với các tòa nhà truyền thống, ngân hàng sẽ thiết kế và đưa ra các thỏa thuận vay hấp dẫn với sản phẩm cho vay xây dựng tòa nhà thương mại xanh Tương tự, ngân hàng sẽ áp dụng lãi suất ưu đãi khi cho vay mua thiết bị gia đình xanh hoặc cho vay mua xe xanh - những chiếc xe có cường độ khí nhà kính thấp hoặc được tiết kiệm cao về nhiên liệu Hoạt động tài trợ dự án xanh dành cho khách hàng doanh nghiệp, được ngân hàng thực hiện bằng cách tạo ra các nhóm dành riêng cho việc xem xét tài trợ các

dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch quy mô lớn, lập danh mục nợ cam kết tài trợ hoàn toàn hoặc một phần dự án Ngoài ra, rủi ro liên quan đến môi trường, xã hội như lao động trẻ em, biến đổi khí hậu… sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để các ngân hàng xét đến khi thực hiện các khoản cho vay, tài trợ dự án của mình

Tín dụng xanh cũng được xem là những khoản tín dụng được ngành ngân hàng hỗ trợ các dự án sản xuất kinh doanh không gây rủi ro hoặc nhằm mục đích bảo vệ môi trường Xu hướng tăng trưởng TDX đã phát triển từ lâu trên thế giới với mục đích hướng tới các dự án tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ sạch Các sản phẩm TDX góp phần đem lại những lợi ích to lớn về phát triển nền kinh tế, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh Thông qua việc giảm các tác động tiêu cực của khối doanh đến môi trường - xã hội, TDX không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, mà còn góp phần vào quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế Vì vậy, “xanh hóa” tín dụng là một hành động rất cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra trên toàn cầu

Trang 21

Như vậy quan điểm về tín dụng xanh được nghiên cứu đa chiều ở các nghiên cứu Ở các góc nhìn khác nhau, các tác giả đã làm rõ tín dụng xanh là hoạt động cấp vốn của các NHTM cho các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh Các dự

án tín dụng xanh không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung, các dự án liên quan đến trẻ em và biến đổi khí hậu

1.2.2 Phân loại tín dụng xanh

Phân loại TDX cũng giống như phân loại tín dụng thông thường, điều khác biệt ở chỗ các hoạt động tín dụng gắn với với vốn “xanh”

* Phân loại tín dụng xanh theo thời hạn cấp tín dụng

Theo cách phân loại này TDX bao gồm: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn Trong đó:

Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay xanh có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng

Tín dụng trung, dài hạn là những khoản cho vay xanh được xác định chủ yếu

để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án xanh có quy mô thu hồi vốn rất lớn Loại cho vay xanh thường chiếm tỷ trọng lớn trong ngân hàng Thời hạn cho vay trung hạn từ

12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời gian hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án đầu tư phục vụ đời sống

* Phân loại tín dụng xanh theo mục đích

Theo mục đích TDX bao gồm cho vay bất động sản, cho vay đối với các tổ chức tài chính, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và thương mại, cho vay đối với các cá nhân và cho vay khác

- Cho vay bất động sản bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước ngoài Đối với loại hình cho vay này, ngân hàng được đảm bảo bằng chính tài sản thực: đất đai, toà nhà và các công trình khác

- Cho vay đối với các tổ chức tài chính bao gồm các khoản tín dụng cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác

Trang 22

- Cho vay nông nghiệp nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt động gieo trồng, thu hoạch, chế biến, bảo quản sản phẩm

- Cho vay công nghiệp và thương mại giúp doanh nghiệp trang trải các chi phí như mua hàng, nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân viên

- Cho vay đối với các cá nhân giúp tài trợ cho việc mua ô tô, nhà ở, trang thiết

bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hoá nhà cửa hay trang trải các khoản viện phí và các chi phí cá nhân khác

- Cho vay khác gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán, liên quan đến các loại chứng khoán xanh

* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Căn cứ vào tiêu thức phân loại trên TDX gồm tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản và tín dụng có bảo đảm bằng tài sản

- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng Ngân hàng không nắm giữ bất cứ một tài sản nào của người vay để thanh lý nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà thay vào đó là những điều kiện, phương án kinh doanh được ngân hàng đánh giá là có tính khả thi,

có khả năng đem lại lợi nhuận cao, doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề từ thời điểm vay vốn

- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người bảo lãnh Các hình thức bảo đảm thường gặp là; thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng

có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn Các tài sản đảm bảo ở đây thường là các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên đi vay, được phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản được bảo hiểm theo quy định của pháp luật

1.2.3 Đặc điểm của tín dụng xanh

Tín dụng xanh có những đặc điểm riêng biệt sau:

Thứ nhất: Tín dụng xanh được cấp cho các dự án sản xuất, kinh doanh xanh,

không gây rủi ro đối với môi trường

Hoạt động cấp tín dụng nói chung của ngân hàng dựa trên ba nguyên tắc là: (i) Người vay cam kết thực hiện đúng các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng tín

Trang 23

dụng; (ii) Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; (iii) Ngân hàng cấp tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo Như vậy, bất kỳ pháp nhân hay thể nhân thỏa mãn đồng thời cả 3 nguyên tắc trên sẽ được ngân hàng xem xét cấp vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, ngoài ba nguyên tắc trên khi ngân hàng cấp TDX, bắt buộc ngân hàng phải thẩm định kỹ yếu tố “xanh” của các dự án Yêu cầu trên làm cho hoạt động cấp TDX của ngân hàng trở nên khó khăn hơn so với hoạt động cấp tín dụng thông thường Thời gian hoàn vốn của các dự án xanh thường kéo dài hơn các dự án cho vay thông thường do đó mức độ rủi ro của các dự án này cũng cao hơn

Thứ hai: Chủ yếu nguồn vốn được sử dụng để cấp TDX là nguồn vốn xanh

Hoạt động cấp tín dụng nói chung của ngân hàng được thực hiện bằng nguồn vốn mua bán trực tiếp với hội sở (đối với các ngân hàng đang áp dụng mô hình quản lý vốn tập trung) hoặc từ nguồn tiền gửi của cá nhân và các tổ chức kinh tế (đối với các ngân hàng đang áp dụng mô hình quản lý vốn bán tập trung hoặc phân tán)

Các ngân hàng có thể tiếp cận nguồn vốn xanh thông qua các quỹ hỗ trợ TDX hoặc trực tiếp phát hành trái phiếu xanh trên thị trường để huy động nguồn vốn xanh

Thứ ba: Hoạt động cấp TDX của ngân hàng có liên quan đến nhiều cơ quan

chức năng

Tín dụng xanh cấp cho các dự án xanh, chi phí đầu tư thường lớn, giá thành sản phẩm cao thời gian thu hồi vốn dài Do đó để khuyến khích nhà đầu tư, chính phủ hỗ trợ thông qua chính sách thuế và cam kết giá đầu ra ổn định cho các doanh nghiệp đầu tư cho các dự án thuộc diện ưu tiên hướng tới bảo vệ môi trường; ngân hàng cam kết cung ứng vốn dài hạn, lãi suất ưu đãi Việc tạo ra một thị trường cạnh tranh về cung cấp năng lượng tái tạo cho vùng nông thôn, thông qua việc kết hợp giữa hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ vốn và các ưu đãi tài chính khác là rất quan trọng

Mặt khác, TDX chỉ có thể phát huy hiệu quả tốt khi có được sự nhất trí cao của các bên có liên quan (Bộ/ngành chủ quản, doanh nghiệp, người tiêu dùng) Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế về các vấn đề liên quan đến tài chính xanh, trao đổi giữa các nhà lập chính sách để sớm ban hành các qui định liên quan đến tài chính xanh cho tất cả các định chế tài chính

1.2.4 Mục tiêu của tín dụng xanh

* Mục tiêu chung

Trang 24

Tín dụng xanh với các mảng nghiệp vụ của ngân hàng khuyến khích các hoạt động vì môi trường, như việc áp dụng tiêu chuẩn về môi trường khi duyệt vốn vay hay cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm CO2 hoặc tài trợ cho công nghệ, dự án, ngành sản xuất, doanh nghiệp định hướng thân thiện với môi trường Từ đó, xây dựng nền kinh tế carbon thấp, giảm phát thải tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính và hướng đến một nền kinh tế bền vững

* Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất: Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế tín dụng tại các NHTM theo

hướng xanh hoá các nghiệp vụ hiện có, khuyến khích phát triển các nghiệp vụ tín dụng đầu tư hiệu quả vào năng lượng và tài nguyên với giá trị tăng cao

Thứ hai: Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi hoạt động TDX nhằm tìm

kiếm, thẩm định và đầu tư cho các dự án sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, góp phần ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậụ

Thứ ba: Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi

trường thông qua tạo nhiều việc làm từ các dự án từ nguồn vốn TDX tại các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh

1.2.5 Vai trò của tín dụng xanh

* Vai trò của TDX đối với nền kinh tế

Tín dụng xanh nói riêng và tín dụng ngân hàng nói chung có vai trò to lớn trong việc:

Thứ nhất: Tập trung, tích tụ vốn cho nền kinh tế NHTM giúp tập trung nguồn

vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế, từ các nguồn vốn nhỏ bé của từng chủ thể thành các khoản vốn lớn tài trợ cho đầu tư và tiêu dùng của doanh nghiệp, nhà nước và người dân

Thứ hai: Tín dụng ngân hàng thực hiện việc điều hoà dòng lưu chuyển tiền tệ

và lưu chuyển tài chính trong xã hội, là trung gian tài chính giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng vốn

Thứ ba: Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tài sản xuất mở

rộng, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước cũng như tăng thị phần xuất khẩu ra nhiều thị trường trên thế giới

Trang 25

Thứ tư: TDX nói riêng và tín dụng ngân hàng nói chung thúc đẩy quá trình

phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế Các doanh nghiệp khi được cấp vốn để mở rộng kinh doanh đều phải thuê thêm lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, quy mô sản xuất cũng như tăng thêm sản phẩm mới Hơn nữa việc mở rộng quy mô không những trong nước mà cả trong khu vực và trên thế giới, điều này thúc đẩy việc hợp tác, liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài, đưa nền kinh tế nước ta hội nhập nền kinh tế thế giới

* Vai trò của TDX đối với NHTM

Thứ nhất: TDX nói riêng và tín dụng nói chung là hoạt động cơ bản, mang lại

thu nhập chủ yếu cho các NHTM trong nước Hoạt động khởi đầu và truyền thống của NHTM là tín dụng Mặc dù NHTM hiện đại đã mở ra nhiều dịch vụ phi tín dụng, nhưng nghiệp vụ tín dụng vẫn mang lại doanh thu và lợi nhuận lớn cho NHTM

Thứ hai: TDX nói riêng và tín dụng nói chung tạo điều kiện phát triển các

dịch vụ ngân hàng khác Một mặt, các dịch vụ ngân hàng khác được phát triển trên chính các chủ thể có quan hệ tín dụng với ngân hàng Mặt khác hoạt động tín dụng ngân hàng cung cấp nguồn tài trợ cho các hoạt động khác thông qua nguồn vốn huy động được

Thứ ba: TDX nói riêng và tín dụng nói chung giúp NHTM thực thi các hoạt

động kiểm soát hỗ trợ cho các khoản đầu tư trực tiếp của ngân hàng vào doanh nghiệp Trong thực tế, nhiều ngân hàng đã chuyển các khoản vay thành đầu tư khi muốn kiểm soát doanh nghiệp Các dữ liệu về thu nhập của doanh nghiệp giúp ngân hàng có thể ra quyết định đầu tư đúng đắn

* Vai trò của TDX đối với môi trường

Thứ nhất: TDX góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ môi trường, chống

biến đổi khí hậu Vai trò quan trọng nhất phải kể đến khi các NHTM triển khai TDX là những tác động tích cực tới môi trường-xã hội bằng việc cấp tín dụng cho các dự án liên quan đến môi trường như tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo…thông qua khuyến khích các doanh nghiệp, khách hàng áp dụng các thông lệ kinh doanh bền vững

Thứ hai: TDX là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó giúp

cho việc tích tụ và tập trung ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường-xã hôi trong sản xuất Nhờ có nguồn vốn TDX của ngân hàng nên các doanh nghiệp sản xuất gắn liền với bảo vệ môi trường có điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay

Trang 26

mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới tăng tính cạnh tranh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường

Thứ ba: TDX giúp việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn định thị trường tiền

tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, chuyển dịch sang cơ cấu kinh tế xanh bền vững

1.3 Khung pháp lý về tín dụng xanh

1.3.1 Khung pháp lý về tín dụng xanh trên thế giới

1.3.1.1 Sáng kiến Tài chính của chương trình môi trường liên hợp quốc

Sáng kiến tài chính của chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEPFI) là một chương trình hành động được Liên hợp quốc xây dựng vào năm 1992 Xuất phát từ nhu cầu thực tế cần có một sự liên kết giữa lĩnh vực tài chính và các vấn đề liên quan tới môi trường, UNEPFI được coi như là một nền tảng để kết nối giữa Liên hợp quốc với khu vực tài chính toàn cầu, cũng như tăng cường vai trò của khu vực tài chính trong phát triển bền vững

Tuyên bố của chuong trình môi trường liên hợp quốc sẽ là một chuẩn mực duy nhất của Liên hiệp quốc đặc biệt chú trọng đến ngành Ngân hàng, cung cấp một nền tảng duy nhất cho tất cả các ngân hàng trong nỗ lực thúc đẩy các vấn đề bền vững

Để đạt được mục tiêu chung như vậy, Bộ Hướng dẫn về ngân hàng và sự bền vững của UNEPFI được xây dựng với ba mục tiêu cụ thể sau: (i) Cung cấp cho các tổ chức thành viên ngân hàng của UNEPFI một sự hiểu biết rõ ràng và vận dụng đúng Tuyên bố của UNEP và biết cách tuân thủ với Tuyên bố này trong từng hoạt động ngân hàng cụ thể; (ii) Cung cấp cho tất cả các ngân hàng đang chuẩn bị theo đuổi (hoặc tiếp tục) mục tiêu bền vững một chuẩn mực ban đầu; (iii) Đẩy mạnh việc hiện thực hóa tầm nhìn của UNEPFI và các tổ chức ký kết theo lộ trình ngân hàng và sự bền vững tới một cộng đồng các bên liên quan rộng lớn hơn

UNEPFI phối hợp chặt chẽ với gần 200 định chế tài chính kí cam kết, cùng với một loạt các đối tác khác để thúc đẩy mối liên kết giữa phát triển bền vững và hoạt động tài chính Bằng mạng lưới và các chương trình đào tạo của mình, UNEPFI thực hiện sứ mệnh xác định, thúc đẩy và công nhận các phương pháp tốt nhất trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở tất cả các cấp độ hoạt động của định chế tài chính Điều này chứng tỏ nhận thức ngày càng cao của khu vực tài chính thế giới về tầm quan trọng của phát triển bền vững UNEPFI cũng liên

Trang 27

kết chặt chẽ với Liên hợp quốc cũng như các tổ chức khác để hợp tác trong những hoạt động quan trọng nhằm tăng cường nhận thức và hỗ trợ phát triển bền vững UNEPFI yêu cầu thành viên của mình tuân thủ theo 19 cam kết cơ bản, được chia làm 3 nhóm, bao gồm: (i) Cam kết đối với phát triển bền vững (5 cam kết); Quản trị bền vững (7 cam kết); (iii) Nhận thức của công chúng và trao đổi thông tin (7 cam kết)

1.3.1.2 Tiêu chuẩn hoạt động của tập đoàn tài chính quốc tế

Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) đã đưa ra 08 tiêu chuẩn hoạt động về bền vững môi trường xã hội dành cho khách hàng của các định chế tài chính thành viên của mình như sau: (1) Đánh giá, quản trị rủi ro và tác động đối với môi trường xã hội; (2) Lao động và điều kiện làm việc; (3) Sử dụng hiệu quả tài nguyên và ngăn ngừa ô nhiễm; (4) Sức khỏe, an toàn, an ninh cộng đồng; (5) Mua đất và tái định cư bắt buộc; (6) Bảo vệ đa dạng sinh thái và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên sống; (7) Không gây ảnh hưởng tới người bản địa, người dân tộc thiểu số; (8) Di sản văn hóa

Tiêu chuẩn (1) được áp dụng đối với tất cả các dự án có rủi ro và tác động tới môi trường xã hội Tùy thuộc vào từng dự án cụ thể, tiêu chuẩn (2) tới (8) có thể được áp dụng đồng thời Các tiêu chuẩn hoạt động phải được tham khảo cùng nhau

và nếu cần phải được sử dụng để tham chiếu chéo

Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn toạt động, khách hàng còn phải tuân thủ tất

cả các điều luật được áp dụng của quốc gia sở tại, bao gồm cả những điều luật quốc

tế mà quốc gia sở tại phải áp dụng Hướng dẫn về môi trường, sức khỏe và an toàn của WB (EHS) là tài liệu được dùng để tham chiếu về mặt kĩ thuật Khi luật pháp tại quốc gia sở tại khác với những yêu cầu và mức độ áp dụng của EHS, các dự án phải tuân theo quy định nào nghiêm khắc hơn Trong trường hợp dự án phù hợp với những yêu cầu ít nghiêm khắc hơn, phải có một bản giải trình chi tiết để trình bày tính hợp lý của đề xuất đó

1.3.1.3 Bộ Nguyên tắc xích đạo

Nguyên tắc Xích đạo là bộ tiêu chuẩn mang tính chất tự nguyện cho ngành dịch vụ tài chính nhằm xác định, đánh giá và quản lý các rủi ro môi trường, xã hội trong các dự án một cách hệ thống và liên tục, được xây dựng trên cơ sở tham khảo các chuẩn mực hiện có và nhu cầu của các nhà đầu tư tài chính Các định chế tài chính áp dụng bộ nguyên tắc này với mong muốn đảm bảo rằng các dự án họ tài trợ,

tư vấn sẽ được triển khai một cách có trách nhiệm đối với xã hội, quản lý môi

Trang 28

trường bền vững, đồng thời vẫn mang lại những kết quả kinh tế tích cực Việc tuân thủ và tôn trọng Nguyên tắc Xích đạo sẽ mang lại lợi ích đáng kể không chỉ cho các nhà tài trợ và tư vấn, bên nhận tài trợ mà cả các bên liên quan ở địa phương thông qua cam kết giữa bên nhận tài trợ với các cộng đồng địa phương chịu ảnh hưởng

Bộ Nguyên tắc Xích đạo được xây dựng lần đầu vào năm 2003 và đã trải qua hai lần điều chỉnh (vào những năm 2006 và 2013) dựa trên thực tế và kinh nghiệm triển khai nhằm cập nhật những bài học cũng như điển hình tốt Nguyên tắc Xích đạo III (2013) chính thức có hiệu lực từ 04/6/2013, giai đoạn chuyển tiếp áp dụng Nguyên tắc Xích đạo II sang Nguyên tắc Xích đạo III kết thúc vào 31/12/2013 và

Bộ Nguyên tắc 2013 là bắt buộc đối với tất cả các giao dịch ký kết từ 01/01/2014 Nguyên tắc Xích đạo III không áp dụng nguyên tắc hồi tố do đó các thành viên Hiệp hội Nguyên tắc Xích đạo không được chấp nhận chuyển từ Nguyên tắc Xích đạo II sang Nguyên tắc Xích đạo III đối với các giao dịch được ký kết trước 01/01/2014

Đến nay, đã có 67 định chế tài chính của 27 quốc gia hoạt động trong hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã áp dụng Bộ Nguyên tắc Xích đạo Các tổ chức phát triển song phương và đa phương cũng sử dụng những khuôn khổ tương tự nguyên tắc này trong việc cấp tài chính trong cả khu vực công và khu vực tư nhân Các định chế tài chính ở Việt Nam có thể lựa chọn một trong hai hình thức áp dụng: (i) áp dụng toàn bộ các nguyên tắc này và đăng ký tham gia với Hiệp hội nguyên tắc xích đạo, đồng thời công bố việc áp dụng; hoặc (ii) tham khảo và tự xây dựng bộ tiêu chuẩn riêng phù hợp với điều kiện và nhu cầu của bản thân

1.3.1.4.Thỏa thuận Paris COP 21 về chống biến đổi khí hậu và những cam kết quốc

tế

Vấn đề môi trường và sự nóng lên toàn cầu ngày càng trở thành tâm điểm của các mối quan tâm toàn cầu Những nỗ lực quốc tế để chống biến đổi khí hậu đã được thực hiện từ nhiều năm nay Sau 20 năm đàm phán, ngày 12/12/2015, thỏa thuận Paris (COP 21) với mục tiêu ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu đã đạt được sự đồng thuận của 195 quốc gia trên thế giới Đây được coi là bước đột phá sau gần hai thập kỷ đàm phán để đi đến một thỏa thuận chung trong nỗ lực cứu Trái đất Theo

đó, thế giới đã có một hệ thống pháp lý mới ràng buộc các nước tham gia nỗ lực giảm bớt lượng khí thải, đồng thời mang lại những cơ hội cho các nước đang phát triển có hàm lượng phát thải khí nhà kính thấp nhưng phải chịu tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu thực hiện các giải pháp giảm thiểu

Trang 29

Thỏa thuận Paris không chỉ ghi nhận cam kết của các nước trong việc giảm phát thải do sử dụng nhiên liệu hóa thạch mà còn đặt ra khuôn khổ luật lệ để giám sát và xác nhận việc thực thi các cam kết đó cũng như cung cấp sự hỗ trợ tài chính

và kỹ thuật cho các quốc gia đang phát triển Theo đó, các quốc gia tham gia nhất trí kiềm chế mức tăng nhiệt độ trên toàn cầu không quá 2 độ C so với nhiệt độ của thời

kỳ tiền cách mạng công nghiệp (vào khoảng những năm 1850) Về khía cạnh tài chính, Thỏa thuận Paris đề cập tới yêu cầu điều chỉnh dòng tài chính phù hợp với lộ trình phát triển phát thải thấp, thích ứng, thích nghi với khí hậu Các nước phát triển

có nghĩa vụ huy động và cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ các nước đang phát triển với mục tiêu đến năm 2020, các nước phát triển sẽ huy động tối thiểu 100 tỷ USD mỗi năm để giúp các nước đang phát triển chuyển đổi sang sử dụng những nguồn năng lượng sạch và ứng phó với biến đổi khí hậu

Có thể nói, Thỏa thuận Paris làm cơ sở để thế giới chung tay thực hiện hiệu quả các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ Trái Đất, ngôi nhà chung của các thế hệ hôm nay và mai sau, đồng thời giúp giải quyết những mối

đe dọa an ninh đối với toàn cầu, khu vực và quốc gia bắt nguồn từ những căng thẳng, thậm chí là xung đột và khủng bố do biến đổi khí hậu gây ra

Cộng đồng quốc tế cũng đòi hỏi Việt Nam phải chuyển sang hướng phát triển

ít phát thải Hiện Việt Nam, cùng với Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia được cho là chiếm tới ¾ số lượng nhà máy nhiệt điện chạy bằng than trên thế giới đã và sẽ xây dựng trong 5 năm tới - cảnh báo về nguồn phát thải các bon được coi là thảm họa cho hành tinh Việt Nam đã cam kết sẽ cắt giảm 8% lượng khí thải nhà kính vô điều kiện vào năm 2030, và có thể cắt giảm tới 25% nếu có nguồn hỗ trợ quốc tế Là một quốc gia dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là trước những hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra như hạn hán, bão, lũ lụt, và những hệ luỵ như nước biển dâng, xâm nhập mặn, việc tham gia ký kết thoả thuận này thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; đồng thời mở ra cơ hội để Việt Nam chuyển dịch nền kinh tế sang hướng ít phát thải các bon, nâng cao sức cạnh tranh, tiếp cận với công nghệ hiện đại, tiên tiến, tận dụng các nguồn lực tài chính quốc tế, tăng cường năng lực từ

cơ hội hợp tác, trao đổi song phương và đa phương; chuyển hoá thách thức do biến đổi khí hậu gây ra thành những cơ hội mới để phát triển đất nước Về lâu dài, tận dụng tốt thỏa thuận này sẽ giúp Việt Nam giải quyết tận gốc vấn đề biến đổi khí

Trang 30

hậu, chuyển đổi mô hình phát triển sang hướng bền vững, thoát bẫy thu nhập trung bình, đạt tới một xã hội công bằng và văn minh

1.3.2 Khung pháp lý về tín dụng xanh ở Việt Nam

1.3.2.1 Luật và các văn bản hướng dẫn Luật

* Luật Bảo vệ môi trường

Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) (1993, 2005, 2014) là khuôn khổ pháp lý quốc gia quan trọng nhất về vấn đề bảo vệ môi trường nói chung, trong đó nhấn mạnh vào việc bảo vệ, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, khai thác,

sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời khuyến khích các hoạt động sản xuất, kinh doanh hướng tới bảo vệ môi trường

Luật quy định trách nhiệm của các nhà đầu tư trong việc ngăn ngừa suy thoái môi trường và ô nhiễm ở bất cứ lĩnh vực hay quy mô nào Tất cả các nhà đầu tư phải được cấp phép bảo vệ môi trường từ cơ quan quản lý nhà nước trước khi bắt đầu xây dựng dự án Có 02 loại giấy phép bảo vệ môi trường: (i) Phê duyệt đánh giá tác động môi trường (ĐTM) áp dụng cho 146 loại hình dự án (thường là các dự án lớn, có tác động tiêu cực đến môi trường như các dự án trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng, chế biến, sản xuất công nghiệp, y tế, giáo dục) Nhà đầu tư phải thuê chuyên gia hỗ trợ để thực hiện ĐTM do tính phức tạp và kỹ thuật của báo cáo này ĐTM được rà soát, phê duyệt tại Sở Tài nguyên và Môi trường; (ii) Đăng ký Cam kết bảo

vệ môi trường: áp dụng cho tất cả các dự án còn lại không nằm trong danh sách 146 loại hình dự án yêu cầu phải có ĐTM Bản cam kết này đơn giản hơn Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan chịu trách nhiệm rà soát và đăng ký các cam kết này cho doanh nghiệp

Theo Điều 18, Luật BVMT 2014 quy định, có 3 nhóm đối tượng phải lập ĐTM Đó là: Các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam đã được xếp hạng; Các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường Việc đối tượng lập báo cáo ĐTM được thu hẹp lại hơn so với Luật BVMT 2005 (Luật BVMT 2005 có 7 nhóm đối tượng phải lập ĐTM) có thể nhận định việc hạn chế lạm dụng yêu cầu phải làm báo cáo ĐTM và tính lý thuyết của một số ĐTM trong thực tiễn

Luật BVMT 2005 có quy định về tiêu chuẩn môi trường Trong khi, Luật BVMT 2014 quy định bổ sung quy chuẩn kỹ thuật môi trường tại Chương XI (từ

Trang 31

Điều 113 – Điều 120) Điều này phù hợp với quy định tại Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 Theo đó, Luật BVMT 2014 có các quy định chi tiết về quy chuẩn kỹ thuật môi trường xung quanh, quy chuẩn kỹ thuật chất thải và các quy chuẩn kỹ thuật môi trường khác Ngoài ra, còn có các quy định: nguyên tắc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật môi trường; ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật môi trường; yêu cầu đối với quy chuẩn kỹ thuật… Đặc biệt điểm mới ở đây là việc quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương do UBND cấp tỉnh ban hành

Luật BVMT 2014 quy định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường tại điều 151 Trong đó, Nhà nước ưu đãi, hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường sau: Xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt; Xây dựng cơ sở tái chế, xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, khu chôn lấp chất thải; Xây dựng trạm quan trắc môi trường; Xây dựng cơ sở công nghiệp môi trường, công trình bảo vệ môi trường phục vụ lợi ích công cộng; Sản xuất, kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường; Chuyển đổi hoạt động của khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ

sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Ngoài ra, Luật BVMT 2014 cũng đã bổ sung các quy định về tăng trưởng xanh, cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững; bổ sung các quy định về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm; kiểm soát chất độc Dioxin có nguồn gốc diệt cỏ do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam; kiểm soát việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất nói chung và đặc biệt là thuốc bảo vệ thực vật, thú y; bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn Giao Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; tái sử dụng chất thải; thời hiệu khởi kiện về môi trường… Bổ sung và làm rõ hơn trách nhiệm công bố thông tin về môi trường, về tình trạng môi trường, trách nhiệm báo cáo công tác quản lý môi trường của cơ quan nhà nước các cấp

Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường, trong đó nêu rõ “Nhà nước thực hiện ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, vốn; miễn giảm thuế đối với các hoạt động bảo vệ môi trường; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm từ hoạt động bảo vệ môi trường và các

ưu đãi, hỗ trợ khác từ hoạt động bảo vệ môi trường” Liên quan tới ưu đãi về huy động vốn đầu tư từ các quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ bảo vệ môi trường địa phương và các TCTD khác, chủ đầu tư dự án nếu đáp ứng được các yêu cầu bảo

vệ môi trường được vay vốn với lãi suất ưu đãi so với mức lãi suất tín dụng đầu tư

Trang 32

của Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền công bố tại thời điểm cho vay, được ưu tiên hỗ trợ sau đầu tư hoặc bảo lãnh vay vốn

* Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam

Luật NHNN năm 2010 quy định vị trí chức năng của NHNN là cơ quan ngang Bộ và là NHTW của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 1 Điều 2) Theo đó NHNN có chức năng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Khoản 1 và 2 Điều 4) Như vậy, NHNN là cơ quan có thẩm quyền để tham mưu với Chính phủ xây dựng và triển khai thực hiện

cơ chế, chính sách, chương trình phù hợp để phát triển ngân hàng xanh, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh

Tóm lại, khuôn khổ pháp luật hiện hành đã đủ cơ sở để xác định các hoạt động bảo vệ môi trường được hưởng ưu đãi, hỗ trợ của xã hội nói chung và của Nhà nước nói riêng, bao gồm cả những hỗ trợ về mặt tài chính; đồng thời cơ sở xác định vai trò chức năng của ngành Ngân hàng nói chung trong việc thiết lập các kênh ưu đãi,

hỗ trợ và vai trò của NHNN nói riêng trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, thiết lập cơ chế chính sách để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo hướng xanh hóa và phát triển bền vững

1.3.2.2 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

- Chương trình Nghị sự 21 (2004)

Đây chính là văn bản đầu tiên khái quát và đầy đủ nhất về phát triển bền vững

tại Việt Nam Một trong những nguyên tắc chính là tăng cường bảo vệ và cải thiện

chất lượng môi trường Chương trình xác định 19 lĩnh vực ưu tiên trong đó có 5 lĩnh vực về xã hội, 5 lĩnh vực về kinh tế và 9 lĩnh vực về nguồn tài nguyên thiên nhiên

và môi trường Mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế nhanh và hiệu quả, giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến y tế, giáo dục trong

khi vẫn đảm bảo bảo vệ môi trường

Chương trình thúc đẩy định hướng phát triển các sáng kiến sản xuất và tiêu dùng thân thiện với môi trường, phát triển “công nghệ sạch”; thúc đẩy bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường nông nghiệp, nông thôn; tạo việc làm, mở rộng thị trường lao động, cải thiện điều kiện việc làm Đặc biệt, chương trình đề cập đến nội dung “Sử dụng các công cụ tài chính phục vụ cho phát triển bền vững” trong đó

có việc khuyến khích các tổ chức tài chính tham gia vào việc cung cấp tài chính cho

Trang 33

sự nghiệp phát triển bền vững đất nước bên cạnh các nguồn tài chính khác từ ngân sách Nhà nước, từ các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và các dự án ODA

Được thông qua tại Đại hội Đại biểu lần thứ XI của Đảng, nhấn mạnh yếu tố phát triển bền vững, phản ánh sự thừa nhận tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá không còn thích hợp trong giai đoạn hiện nay: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu” Như vậy có thể khẳng định, Việt Nam đang đi theo xu hướng đúng đắn mà nhiều nước trên thế giới đang hướng tới

- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Hội nghị Trung ƣơng 7 khóa XI

Nghị quyết trên có nội dung về chống biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và định hướng tăng trưởng xanh Mục tiêu tổng quát đến năm

2020 là hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường Trong 4 nhiệm vụ trọng tâm, có nhiệm vụ “Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Ban hành bộ chỉ số đánh giá kết quả phát triển bền vững, tăng trưởng xanh đưa vào bộ tiêu chí quốc gia; thí điểm phát triển mô hình kinh tế xanh, công nghiệp xanh, đô thị xanh, nông thôn xanh” Nghị quyết cũng đưa ra 5 nhóm giải pháp chủ yếu để ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường Theo đó, có nội dung về “Quán triệt và vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc: người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường; người được hưởng lợi từ tài nguyên, môi trường phải có nghĩa vụ đóng góp để đầu tư trở lại cho quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”

Thực hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tham gia hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; hỗ trợ người dân trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển, người dân bị ảnh hưởng do khai thác tài nguyên thái quá

Có lộ trình xóa bỏ các cơ chế, chính sách hỗ trợ giá đối với nhiên liệu hoá thạch; thực hiện bù giá 10 năm đầu đối với các dự án phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế chất thải, sản xuất điện từ chất thải

- Chiến lƣợc phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Trang 34

Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 432/2012/QĐ-TTg ngày 16/4/2012; Kế hoạch hành động phát triển bền vững giai đoạn 2013-2025 ban hành kèm Quyết định số 160/2013/QĐ-TTg ngày 12/11/2013: Trong đó nêu rõ định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020 là: “Duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo” Cụ thể: Xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng các bon thấp Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Nâng dần tỷ trọng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam

- Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam giai đoạn

2011-2020,

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 hướng tới 2050 ban hành kèm theo Quyết định số 1393/2012/QĐTTg ngày 25/9/2012 đề ra 3 nhiệm vụ: (i) giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (ii) xanh hóa sản xuất Thực hiện một chiến lược “công nghiệp hóa sạch” thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm; (iii) xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững Ngoài ra, Chiến lược cũng quy định về trách nhiệm huy động nguồn lực thực hiện tăng trưởng xanh tại Điều 1, mục III, khoản 14, trong đó có việc: Ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa triển khai các hoạt đọng sản xuất kinh doanh theo tiêu chí tăng trưởng xanh; Sử dụng hệ thống các công cụ tài chính, tín dụng, thị trường để khuyến khích và hỗ trợ phát triển kinh tế xanh, sản phẩm xanh Tiến đến xây dựng

hệ thống quản lý, giao dịch phá thải khí nhà kính, thuế, phí các bon

- Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020

Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 403/2014/QĐ-TTg ngày 20/3/2014, với 66 hành động gồm 04 chủ đề chính, 12 nhóm hoạt động và 66 nhiệm vụ hành động cụ thể Trong

đó NHNN phối hợp với Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước chủ trì hành động số 37

“Hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực hoạt động tài chính - tín dụng của các

Trang 35

NHTM phục vụ tăng trưởng xanh giai đoạn 2013-2020” Theo đó NHNN cần (i) Rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế về tài chính và tín dụng cho phù hợp với những mục tiêu tăng trưởng xanh; (ii) Tổ chức đào tạo, tập huấn nhằm tăng cường năng lực cho các hoạt động NHTM và các tổ chức tài chính trong hoạt động tài chính - TDX; (iii) Xây dựng và phát triển các dịch vụ tài chính - ngân hàng hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tăng trưởng xanh

Ngoài ra còn có Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững

Ngoài ra có một số văn bản khác như Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quyết định 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam

1.3.2.3 Các văn bản pháp lý của Ngân hàng Nhà nước

Bảng 1.1: Thống kê các văn bản pháp lý của NHNN liên quan đến tín dụng xanh

bản

Loại văn bản

Nội dung văn bản

24/03/2015 03/CT-NHNN Chỉ thị Thúc đẩy tăng trưởng TDX và quản lý rủi ro môi

trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng 6/8/2015 1552/QĐ-

NHNN

Quyết định Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng

nhằm góp phần và hỗ trợ thực hiện Chiến lược tang trưởng xanh của Quốc gia

10/01/2017 01/CT-NHNN Chỉ thị Xác định triển khai kế hoạch hành động của ngành

Ngân hàng, thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020

NHNN

14/2018/TT-Thông tư Hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công

cụ CSTT để hỗ trợ các TCTD cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn

07/08/2018 1604/QĐ- Quyết định Phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt

Trang 36

NHNN Nam 31/08/2018 1731/QĐ-

NHNN

Quyết định Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện

Chươngtrìnhnghịsự 2030 vì sự phát triển bền vững

(Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu tổng hợp)

- Chỉ thị 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 do NHNN phát hành về thúc đẩy tăng trưởng TDX và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng Nội dung chỉ thị nêu rõ, hoạt động cấp tín dụng của ngành ngân hàng cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững Theo chỉ thị, các TCTD cần chủ động xây dựng chương trình, chính sách TDX nằm tăng dần tỷ trọng TDX trong cơ cấu danh mục đầu tư tín dụng của mình, khuyến khích nghiên cứu xây dựng và triển khai các giải pháp quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng Hàng quý các TCTD phải báo cáo kết quả triển khai tăng trưởng TDX

- Quyết định số 1552/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 06/8/2015 về kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng nhằm góp phần hỗ trợ thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của Quốc gia Theo đó, hoạt động cấp tín dụng của ngành Ngân hàng trong thời gian tới sẽ chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lược, cải thiện chất lượng môi trường

và bảo vệ sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững

- Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 10/01/2017 của Ngân hàng Nhà nước tiếp tục xác định triển khai kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020 Đồng thời, ban hành danh mục Dự án xanh kèm theo công văn số 237/NHNN-BQLDA3 ngày 24/04/2017 và Danh mục thống kê báo cáo TDX theo Phụ lục 3 tại công văn số 9050/NHNN-TD ngày 03/11/2017

- Để thực hiện các nhiệm vụ tại quyết định số 1552/QĐ-NHNN và Chỉ thị 03/CT-NHNN, NHNN đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/08/2018 phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam Bên cạnh đó, NHNN đã phối hợp với IFC phát hành Sổ tay hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường

& xã hội cho một số ngành kinh tế trong hoạt động cấp tín dụng

- Ngày 31/08/2018, NHNN tiếp tục ban hành Quyết định số 1731/QĐ-NHNN

về Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chương trình nghị sự 2030

vì sự phát triển bền vững, tiếp tục khuyến khích TCTD thiết kế, triển khai các

Trang 37

chương trình, sản phẩm phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp sử dụng công nghệ than thiện môi trường, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng có lợi ích cho môi trường

- Tiếp nối các chính sách tổng thể trong năm 2018, trong năm 2019, Chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 ban hành kèm Quyết định 34/QĐ-NHNN ngày 07/01/2019 đã

cụ thể hóa các yêu cầu trong việc tổ chức thực hiện Quyết định 986/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Trên cơ sở Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/5/2015 và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi bổ sung nghị định 55/2015/NĐ-CP về hỗ trợ các TCTD cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua việc sử dụng các công cụ điều hành CSTT, NHNN đã ban hành Thông tư 14/2018/TT-NHNN ngày 29/05/2018 hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ CSTT để hỗ trợ các TCTD cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, trong đó quy định các biện pháp hỗ trợ TCTD cho vay nông nghiệp nông thôn thông qua việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND thấp hơn so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHNN quy định trong từng thời kỳ Bên cạnh đó, NHNN thực hiện tái cấp vốn (dưới hình thức cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng) để hỗ trợ TCTD có nguồn vốn ổn định để cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Qua đó, nguồn tái cấp vốn của NHNN góp phần tích cực

hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng trưởng xanh, trồng rừng, sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao

- Nội dung về phát triển TDX, ngân hàng xanh được NHNN lồng ghép vào cơ chế cho vay của TCTD đối với khách hàng theo hướng hoạt động cho vạy được thực hiện theo thỏa thuận giữa TCTD đối với khách hàng, nhưng đảm bảo phù hợp với quy định về cơ chế cho vay và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm pháp luật về bảo vệ môi trường Đồng thời, TCTD cũng triển khai một số chương trình tín dụng đặc thù hướng đến hỗ trợ phát triển kinh tế xanh thông qua việc ưu

đãi về lãi suất cho vay hoặc cho vay không có tài sản đảm bảo: (i) Chính sách tín

dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP;

(ii) Chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo

Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg; (iii) Chương trình cho vay khuyến khích phát triển

nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Quyết định

813/QĐ-NHNN; (iv) Thông tư số 27/2015/TT-NHNNngày 15/12/2015 quy định về chính

Trang 38

sách cho vay trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi quy định tại Nghị định số

75/2015/NĐ-CP; (v) Chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết số 14/NQ-CP; (vi) Công văn số 6847/NHNN-TD ngày 30/08/2019

về cấp tín dụng đối với điện mặt trời trên cơ sở Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự

án điện mặt trời tại Việt Nam

Trang 39

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI TÍN DỤNG XANH TRÊN THẾ

GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 2.1 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh của một số quốc gia trên thế giới

2.1.1 Kinh nghiệm triển khai tín dụng xanh của Trung Quốc

Trung Quốc đã và đang rất nỗ lực phát triển khu vực công nghệ sạch và năng lượng tái tạo Năm 1995, Bộ Bảo vệ môi trường Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (MEP) và NHTW Trung Quốc (PBC) đưa ra các chính sách, mà lần đầu tiên trực tiếp liên quan đến việc xem xét các vấn đề môi trường trong chính sách cho vay của các ngân hàng Từ năm 1995 đến năm 2005, số lượng những chính sách mới về các vấn đề môi trường và xã hội còn rất hạn chế Đến tháng 7/2007, Trung Quốc đã ban hành “Hướng dẫn TDX”, phát hành bởi Ủy ban quản lý giám sát ngân hàng Trung Quốc (CBRC), là bộ hướng dẫn mới nhất được ban hành về tài chính xanh nhằm khuyến khích các ngân hàng Trung Quốc thực hiện cấp tín dụng cho các dự án ít gây ô nhiễm, thân thiện với môi trường hay sử dụng năng lượng tái tạo Tuy nhiên, Trung Quốc đã mất gần 5 năm kể từ khi bắt đầu ra chính sách cho đến khi xây dựng được một hướng dẫn tương đối chi tiết để thực hiện chính sách này (tháng 02/2012) Trước đó, một số các nghiên cứu độc lập về việc thực hiện chính sách này đều đánh giá không cao hiệu quả của nó đối với các hoạt động thực tiễn của các ngân hàng Trung Quốc Một trong những khó khăn lớn nhất của việc thực hiện chính sách này

ở Trung Quốc là việc thiếu đi một hệ thống đánh giá đáng tin cậy về các ngành nghề và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường để làm căn cứ cho các ngân hàng phân loại dự án, đặc biệt là khi nhiều ngành gây ô nhiễm cũng đang là những ngành mang lại lợi nhuận cao cho nhiều địa phương Cũng theo nghiên cứu này, số cơ sở gây ô nhiễm được đưa vào danh sách đen (không thể vay vốn ngân hàng cho đến khi họ cải thiện được tình trạng gây ô nhiễm) được cho là quá ít so với số cơ sở bị phạt bởi Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc do gây ô nhiễm (38 so với 8.000 năm 2007)

Trong hội nghị thượng đỉnh về Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) tại Copenhagen năm 2009, Trung Quốc cũng là một trong các

Trang 40

quốc gia cam kết vô điều kiện việc giảm thiểu hoặc giới hạn mức độ ô nhiễm bon vào năm 2020 Các ngân hàng tại Trung Quốc đã, đang và sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc đóng góp vào quá trình giảm thiểu 40-50% khí các-bon vào năm 2020 như đã cam kết

Trung Quốc đã xây dựng bản Hướng dẫn TDX nhằm mục đích khuyến khích các tổ chức ngân hàng, bằng cách tập trung vào TDX, chủ động điều chỉnh cơ cấu tín dụng, có hiệu quả chống lại các rủi ro môi trường và xã hội, phục vụ tốt hơn các nền kinh tế thực, và thúc đẩy sự chuyển đổi để tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Các đặc điểm chính của Hướng dẫn TDX tại Trung Quốc là:

(i) Các tổ chức ngân hàng khuyến khích để thúc đẩy TDX một cách có chiến lược, cả về hỗ trợ cho nền kinh tế xanh với khí thải các-bon thấp lẫn cải thiện môi trường và xã hội;

(ii) Việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát hiệu quả các rủi ro liên quan đến môi trường và xã hội (E&S) là rất quan trọng, thông qua một cơ chế quản

lý rủi ro, chính sách tín dụng và quá trình quản lý;

(iii) Quản lý cấp cao (hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát) được khuyến khích để làm chủ việc thúc đẩy TDX trong các tổ chức của họ;

(iv) Quy trình quản lý là cốt lõi để cải thiện TDX: bao gồm xác định hoạt động của khách hàng có nguy cơ, việc sử dụng các nguyên tắc cấp tín dụng cụ thể

và tùy chỉnh dành cho các ngành công nghiệp nhất định, cải thiện việc quản lý quá trình thẩm định và phê duyệt tín dụng, thay đổi các điều khoản hợp đồng và quản lý hậu cho vay;

(v) Công khai thông tin và tính minh bạch cũng được đẩy mạnh

Các chỉ dẫn này chỉ mang tính khái quát vì thế còn thiếu những hướng dẫn hoặc phương thức cụ thể Lợi ích của nó là cho phép các ngân hàng phát triển và cải cách ở tốc độ mà họ mong muốn và tạo điểu kiện cho sự đổi mới Những hạn chế, đặc biệt với các ngân hàng còn bỡ ngỡ với tài chính xanh, là việc họ không được hướng dẫn cụ thể rõ ràng về quy trình triển khai loại hình này

Ngày đăng: 19/11/2022, 19:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w