= = 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 0 O 0 Trần Thị Hoàng Yến TIẾNG VIỆT (Dùng cho hệ đào tạo từ xa ngành Giáo dục mầm non) Vinh 2011 = = 2 LỜI NÓI ĐẦU Để đáp ứng nhu cầu dạy và học cho thầy và trò ngành Giáo dụ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-0 O 0 -
Trần Thị Hoàng Yến
TIẾNG VIỆT
(Dùng cho hệ đào tạo từ xa - ngành Giáo dục mầm non)
Vinh - 2011
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu dạy và học cho thầy và trò ngành Giáo dục mầm
non, chúng tôi đã biên soạn giáo trình Tiếng Việt này
Khi biên soạn giáo trình chúng tôi đã tham khảo một số nội dung từ các giáo trình liên quan của các tác giả: Lê A, Đoàn Thiện Thuật … đồng thời chúng tôi luôn cố gắng cập nhật những tri thức tiếng Việt hiện đại Trong quá trình biên soạn, giáo trình chắc có ít nhiều thiếu sót Chúng tôi rất mong sự góp
ý của đồng nghiệp để cuốn sách hoàn thiện hơn
Tác giả
Trang 3
PHẦN I: ĐẠI CƯƠNG VỀ TIẾNG VIỆT
I KHÁI QUÁT VỀ TIẾNG VIỆT
1 Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt (dân tộc Kinh) đồng thời cũng là tiếng phổ thông của tất cả các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam
Chúng ta hiểu để xã hội loài người tồn tại và phát triển con người - chủ thể xã hội cần phải lao động Muốn có của cải vật chất, con người cần lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống con người Muốn đời sống tinh thần phong phú và sâu sắc thì phải tổ chức hoạt động xã hội Từ đó, để thấu hiểu đời sống tâm linh, tình cảm của từng cá nhân cộng đồng con người cần hoạt động giao tiếp để trao đổi tâm tư tình cảm Do đó, phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, đắc dụng nhất của con người là ngôn ngữ
Người Việt Nam đã sử dụng tiếng Việt làm công cụ để thực hiện các hoạt động nhận thức, tư duy và biểu lộ kết quả tư duy và trao đổi ý kiến truyền đạt kết quả nhận thức tư duy giữa người này với người khác
Điều nữa, dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc, tồn tại 54 thứ tiếng Vậy để giao tiếp với người Việt, giữa các dân tộc với nhau, người Việt Nam dùng tiếng Việt để giao tiếp mang tính chất phổ thông Do đó tiếng Việt có địa vị cao, ưu thế cao và nhiều tính ưu việt
- Trải qua hàng nghìn năm phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc, tiếng Việt ngày càng lớn mạnh Trong lịch sử dân tộc đã từng có thời kỳ bị các thế lực xâm lược ngoại bang và tầng lớp thống trị trong nước dùng tiếng nói và chữ viết nước ngoài (tiếng Hán và tiếng Pháp) làm ngôn ngữ chính thống trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hoá giáo dục Tiếng Việt bị coi rẻ, bị chèn ép Tuy nhiên tiếng Việt cũng như dân tộc Việt, không bị đồng hoá, không
bị mai một mà vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ Với sự ra đời và phát triển của chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, tiếng Việt ngày càng khẳng định địa vị của nó, trường tồn và phát triển cho đến ngày nay
2 Tiếng Việt đã và đang đảm nhiệm các chức năng xã hội trọng đại
- Tiếng Việt, trước hết, là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay Chức năng đó được biểu lộ trong lĩnh vực giao tiếp hàng ngày, trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp về chính trị, kinh tế, khoa học
- Riêng trong lĩnh vực giáo dục, từ năm 1945, tiếng Việt được dùng làm ngôn ngữ chính thức trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu từ bậc mầm non
Trang 4đến đại học, sau đại học Đặc biệt, ngày nay có nhiều người nước ngoài học tập
và nghiên cứu về Việt Nam Họ học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và nghiên cứu
- Tiếng Việt từ lâu là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật - nghệ thuật ngôn
từ Là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là chất liệu sáng tạo nghệ thuật của người Việt, tiếng Việt luôn luôn là công cụ nhận thức tư duy của người Việt
và nó gắn bó chặt với hoạt động nhận thức, tư duy của người Việt
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TIẾNG VIỆT
1 Nguồn gốc và quan hệ họ hàng của tiếng Việt
Có nhiều quan niệm về nguồn gốc của tiếng Việt Tiêu biểu của các tác giả:
- Tabe (Taberd -1838) trong "Từ điển Việt Nam tự vị": Tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán
- H.Matxpêrô (Pháp - 1912) trong "Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt - các phụ âm đầu": Tiếng Việt có nguồn gốc từ các ngôn ngữ họ Tày - Thái
- Êđricua (1954) trong "Vị trí của Tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á": Tiếng việt có nguồn gốc từ họ Đông Nam á (chi Môn - Khơmer)
- Phạm Đức Dương, Hà Văn Tấn (1978) trong "Về ngôn ngữ tiếng Việt Mường": Tiếng Việt sinh ra do sự hỗn hợp của 2 họ ngôn ngữ Tày - Thái (qua thời kỳ tiền Việt Mường và Việt Mường chung)
Thống nhất sơ đồ nguồn gốc và quan hệ họ hàng của Tiếng Việt:
Chi Hán Tạng -Miến Mèo- Dao Tày Thái Môn-khơme Malay Mêlađini
Tiền Việt - Mường
Trang 5
Ngôn ngữ Việt Mường
Như vậy có thể kết luận về nguồn gốc của tiếng Việt:
Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Đông Nam á, họ Nam á, chi Môn - Khơmer, nhóm Việt Mường (Việt Mường chung) Ngôn ngữ của người Việt tiếp xúc với ngôn ngữ Tày Thái, đặc biệt tiếp xúc và nhận nhiều yếu tố Hán để rồi tách ra khỏi ngôn ngữ Việt Mường chung và trở thành tiếng Việt độc lập
* Chú giải về một số khái niệm:
- Ngữ hệ Đông Nam á (1 trong hơn 10 ngữ hệ trên thế giới)
Có gần 180 ngôn ngữ - 3 họ: Hán Tạng, Nam Đảo, Nam á
- Họ ngôn ngữ Nam á + Có khoảng 100 ngôn ngữ ở đồng bằng Việt Nam, Cămpuchia, Miền núi Bắc và Trung Bộ Tây Nguyên, Miến Điện, Lào
- Gồm các chi Tày, Thái, Môn - Khơme
- Chi ngôn ngữ Môn - Khơme
+ Có khoảng 60 ngôn ngữ + Gồm 6 nhóm ngôn ngữ: Khơ Mú, Ka Tu, Ba Na, Khơ me, Môn, Việt Mường Nhóm Ngữ Việt Mường:
+ Gồm 8 ngôn ngữ (số liệu 1992): Việt (Kinh), Mường, Thổ, A rem (còn gọi Mạy, Rục) Chứt, Tày hạt, Mã liếng, A hơ
Bảng so sánh từ cơ bản Việt và Môn - Khơme
Trang 6Cá Ka Ka Ka Sia
2 Quá trình phát triển của tiếng Việt
a Tiếng Việt thời kỳ cổ đại: Từ khi dựng nước Âu Lạc (TK II TCN đến
TK VII sau CN)
- Ngôn ngữ người Việt có sự tiếp xúc với các ngôn ngữ Tày - Thái cổ
Sự tiếp xúc Việt - Tày Thái xảy ra trong thời kỳ nhà nước Âu Lạc đầu tiên của Việt Nam là nhà nước Âu Lạc
Cách thức tiếp xúc: Kết hợp một số yếu tố Việt (vốn là từ đơn tiết) với yếu tố Tày Thái để tạo thành những từ phức đẳng lập hoặc chính phụ cho tiếng Việt (theo Matxpêro (1912) còn khoảng vài trăm từ pha trộn kiểu này trong tiếng Việt)
Ví dụ: Chó má, củi đuốc, tre pheo, xe cộ, vườn tược, gây gỗ, áo xống, kiêng khem : từ ghép đẳng lập
- Dao pha, đòn càn, lược bí, mặt nạ, mưa phùn, trắng nõn, xanh lè, trắng bốp, thơm phức : từ ghép chính phụ
(Trong các từ trên, yếu tố Việt đứng trước, yếu tố Tày Thái đứng sau) Việc tạo ra những từ pha trộn như vậy đã góp phần đáng kể cho số lượng
từ Việt lúc bấy giờ, đặc biệt tạo ra một kiểu từ phức ghép nghĩa cho ngôn ngữ Việt vốn chỉ có từ đơn tiết lúc bấy giờ
- Tiếng Việt là ngôn ngữ chủ thể trong nhà nước Âu Lạc cổ đại Dưới sự lãnh đạo của Thục An Dương Vương, các tộc người Lạc Việt và
Âu Việt đã liên minh bộ lạc thành nhà nước Âu Lạc để tăng cường sức mạnh chống lại hoạ xâm lăng của Triệu Đà (TKIII -TCN) Trong nhà nước Âu Lạc, người Việt (Kinh) chiếm số lượng lớn nhất và có trình độ phát triển cao hơn Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ chủ thể trong thời kỳ nhà nước Âu Lạc
- Tiếng Việt tiếp xúc lần thứ 1 với tiếng Hán, vay mượn một số từ của ngôn ngữ này, làm thành lớp từ gốc Hán cổ trong tiếng Việt
Trang 7Điều kiện và thời gian tiếp xúc: Từ khi Triệu Đà xâm lược Việt Nam (-
179 TCN) đến trước thời kỳ VII SCN (8TK đầu của thời Bắc thuộc)
Cách thức vay mượn: qua khẩu ngữ (mượn trực tiếp qua lời nói):
Chỉ mượn các từ đơn tiết của tiếng Hán; mượn những từ cần thiết mà vốn
từ cơ bản tiếng Việt lúc bấy giờ chưa có; mượn những âm có biến âm cho phù hợp với cách phát âm lúc bấy giờ của người Việt
Ví dụ: Hán cổ Việt gốc Hán cổ
b Tiếng Việt từ thế kỷ VII đến giữa TK XIX
Lấy mốc từ đầu TK VII (đời Đường) làm mốc cho thời kỳ trung đại vì lý
do đời Đường có vai trò trong việc tăng trưởng vốn từ tiếng Việt về số lượng và chất lượng
Các biểu hiện lớn:
* Tiếng Việt tiếp xúc lần thứ 2 với tiếng Hán trung đại, vay mượn rất nhiều từ ngữ của tiếng Hán, làm thành từ Hán Việt trong tiếng Việt
- Thời gian tiếp xúc: Từ đời Đường (618 - 907) trở về sau (Tống, Nguyên, Minh, Thanh) trong đó chủ yếu vào đời Đường
- Cách thức vay mượn: mượn qua sách vở, có hệ thống, có số lượng lớn,
có khả năng chọn lựa, có giá trị ngữ nghĩa cao (hàm xúc, chính xác )
Tác động vào từ vay mượn: đa phần mượn cả cấu tạo và ngữ nghĩa, chỉ biến đổi bằng cách đọc Hán Việt
Có một số biến đổi với từ Hán Việt
* Được chế tác từ chữ Hán, chữ Nôm như một thành tựu văn hoá Việt Nam đã góp phần lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam thời trung đại
Trang 8Lý do và thời gian chế tác: Sau khi đất nước giành độc lập (TK X XIII)
và với tinh thần ý thức độc lập chữ viết của cha ông ta
Cách chế tác chữ Nôm:
Dùng nguyên một chữ Hán để làm thành chữ Nôm (những chữ Hán đơn giản ít nét) Ví dụ tài, người (nhân) ; khẩu , thượng , hạ
Kết hợp hai chữ Hán tạo thành một chữ Nôm:
* Hội ý ( hai chữ Hán đều chỉ ý):
* Hài thanh (một chữ Hán lấy ý, một chữ Hán gợi âm) Kết hợp một chữ Hán với một chữ Nôm
- Vai trò của chữ Nôm:
Đưa văn học Việt Nam chính thức bước vào nền văn học viết
Lưu giữ nhiều giá trị văn chương
* Chữ quốc ngữ được chế tạo nhưng phạm vi sử dụng còn rất hạn chế Mục đích và lý do: Các cố đạo phương Tây tạo ra chữ quốc ngữ để truyền đạo
Giới thiệu sơ bộ:
Chữ viết ghi âm tố cho tiếng Việt, dùng bằng chữ cái La Tinh (có thay đổi chút ít)
Mức độ phổ biến từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, rất hạn chế, chỉ trong kinh bổn ở các xứ đạo
c Tiếng Việt thời kỳ từ giữa thế kỷ XIX đến nay
* Chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi dần, thay thế chữ Hán và chữ Nôm trong xã hội Việt Nam
Thời gian phổ biến, quảng bá chữ quốc ngữ: bắt đầu từ 1862 (ở Nam Bộ) đến nửa đầu thế kỷ XX (cả nước)
Thực dân Pháp phổ biến chữ viết La Tinh (chữ quốc ngữ) ở nước ta để tạo điều kiện cho việc cai trị của chúng (quản lý nhân sự, đào tạo tay sai), có mức độ (để còn thực hiện chính sách ngu dân của chúng)
Người Việt tích cực phổ biến và vận động người Việt Nam học chữ quốc ngữ vì thấy đây là công cụ sắc bén cho việc tuyên truyền giáo dục quần chúng làm cách mạng (Đông kinh nghĩa thục, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội)
Trang 9Sau Cách mạng tháng 8 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của nhà nước Việt Nam Chữ quốc ngữ được phổ cập trong toàn dân để nâng cao trình độ văn hoá, tư tưởng, tạo điều kiện mọi người thực sự làm chủ đất nước, cuộc đời, văn hoá để góp sức xây dựng tổ quốc Việt Nam
- Chữ Hán và chữ Nôm kết thúc vai trò văn tự ở Việt Nam vào cuối thời
kỳ XIX đầu thế kỷ XX ở nước ta
* Tiếng Việt tiếp xúc với một số ngôn ngữ phương Tây, vay mượn khá nhiều từ ngữ (làm thành lớp từ mượn gốc Âu trong tiếng Việt)
Thời gian tiếp xúc với các ngôn ngữ Pháp, Anh, Nga không giống nhau VD: Tiếng Pháp: Từ 1858 - 1954
Tiếng Anh: Từ 1954 - 1975 ở miền nam và hiện nay:
Tiếng Nga: Tư 1917 - 1991
Nội dung ngữ nghĩa các từ mượn gốc Âu:
Pháp: Tên hoá chất - thuốc men, tên thực phẩm gốc Âu, từ ngữ kỹ thuật, công nghệ
Anh: Thể thao, kinh tế
Nga: Chính trị, xã hội
- Từ sau Cách mạng tháng 8, tiếng Việt đảm nhận những vai trò xã hội mới và quan trọng
Tiếng Việt là quốc ngữ trong mọi hoạt động xã hội, đặc biệt trong nền giáo dục đào tạo, trong giao tiếp giữa các dân tộc ở Việt Nam, trong hoạt động đối ngoại
* Từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt từ sau cách mạng tháng 8 đến nay, tiếng Việt có sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt
Cách mạng tháng 8 đã mở ra trang mới trong lịch sử dân tộc ta Sự đổi đời
đã đem lại cho ngôn ngữ dân tộc ta những vai trò xã hội mới to lớn và quan trọng
Tiếng Việt là ngôn ngữ nhà nước chính thức của quốc gia Việt Nam, được dùng trong mọi hoạt động xã hội (kinh tế, ngoại giao, giáo dục đào tạo, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật)
Tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp chung (ngôn ngữ phổ thông) giữa 54 dân
Trang 10Tiếng Việt là công cụ sắc bén cho việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, cho việc phổ biến khoa học kỹ thuật, phát triển văn hoá
Tiếng Việt có sự phát triển mới về các mặt cấu tạo:
- Về ngữ âm:
Người dân quen dần với cách phát âm một số phụ âm kép trong từ gốc châu Âu phiên âm
Ví dụ: Brôm, Clo, Stalin, Matxcơva
Quen dần với phụ âm (p) đầu một số âm tiết trong từ gốc Âu phiên âm
Ví dụ: Pin, Pênixilin, Páplốp, Pôpơlin
* Tiếp nhận từ phương ngữ Nam bộ một số từ có vỏ ngữ âm: mãng cầu, măng cụt…
- Về từ vựng:
Vốn từ tăng trưởng nhanh chóng và đáng kể, nhất là từ ngữ chính trị, xã hội, luật pháp, khoa học kỹ thuật
Tiếp nhận vào ngôn ngữ toàn dân một số từ ngữ ở các phương ngữ (nhất
là phương ngữ Nam bộ)
VD: Xoài riêng, lồ ô, tầm vông, măng cầu, mít tố nữ
Loại bỏ một số từ cũ không hợp thời nữa
Xây dựng được các bộ thuật ngữ khoa học cho tất cả các chuyên ngành, càng ngày càng có nhiều từ ngữ được sưu tập vào từ điển các loại (từ thông dụng, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ láy .) để phổ cập vốn từ ngữ cho mọi người sử dụng tiếng Việt
- Về ngữ pháp:
Giữ gìn và phát huy cách diễn đạt truyền thống (câu ngắn dễ hiểu) đồng thời tiếp thu cách diễn đạt của ngôn ngữ khoa học chính luận Châu Âu
Nhiều thể loại ngôn ngữ viết ra đời và phát triển: Ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính
Nhiều thể loại văn học xuất hiện và phát triển: Kịch, phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ tự do, thơ văn xuôi
Câu văn tiếng Việt trở nên đa dạng: Câu có thêm những thành phần phụ:
Đề ngữ, trạng ngữ cách thức, vị ngữ phụ, câu có nhiều tầng bậc
III LOẠI HÌNH NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
Trang 111 Loại hình ngôn ngữ là gì?
* Loại hình ngôn ngữ là một tập hợp các ngôn ngữ có chung những đặc điểm nào đó về kiểu cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ (nhất là kiểu cấu tạo từ), kiểu diễn đạt các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp
2 Loại hình ngôn ngữ tiếng Việt:
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm loại hình của tiếng Việt được biểu
hiện:
a Đặc điểm tính âm tiết
Đây là đặc điểm cơ bản, đặc điểm gốc về mặt loại hình của tiếng Việt
Nội dung: Trong tiếng Việt, âm tiết thường là võ ngữ âm của một hình vị, và
nhiều khi cũng là vỏ ngữ âm của một từ gốc (từ trong vốn từ cơ bản)
Nghĩa là:
- Trong tiếng Việt, âm tiết (tiếng) là đơn vị phát âm ngắn nhất, tự nhiên nhất và cũng là đơn vị được tiếp nhận bằng thính giác dễ dàng và tự nhiên nhất
Âm tiết gồm một hoặc một số âm vị đoạn tính kết hợp lại một cách chặt chẽ và được phát âm với 1 trong số 6 thanh điệu
- Đơn vị phát âm nói trên có chức năng làm đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, tức
là chức năng của một hình vị đơn vị cơ sở của ngữ pháp dùng để cấu tạo từ
- Đơn vị phát âm nói trên (âm tiết) xét về mặt chức năng làm đơn vị nhỏ phát dùng để đặt câu thì trong vốn từ cơ bản của tiếng Việt, âm tiết thường cũng
là võ ngữ âm của từ cơ bản
Như vậy, một "tiếng" đứng ở 3 góc nhìn khác nhau (ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp) lại là 3 đơn vị khác nhau
= Âm tiết (ngữ âm) Tiếng "nhà" = Hình vị (cấu tạo từ): Nhà (máy)
= Từ cơ bản (ngữ pháp): Nhà này mới xây
Vì thế Nguyễn Kim Thản (1974) gọi đây là đặc điểm "1thể 3 ngôi" (1 hình thức nhưng đủ tư cách của 3 đơn vị khác nhau)
Như vậy, đặc điểm "tính âm tiết" chỉ rõ tính chất đặc biệt nổi trội của đơn
vị "tiếng" (âm tiết) đối với tiếng Việt Thể hiện (chi phối) trong cấu trúc nội bộ