NGHIÊN CỨU TRAO ĐÔI TỘI DANH BẰNG NHAU, TỘI DANH NẶNG HƠN VÀ TỘI DANH NHẸ HƠN TRỊNH TIỄN VIỆT * * Phó Giáo sư, tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội E mail ttviet@vnu edu vn Tóm tắt Tội danh gắn[.]
Trang 1NGHIÊN CỨU-TRAO ĐÔI
TỘI DANH BẰNG NHAU, TỘI DANH NẶNG HƠN VÀ TỘI DANH NHẸ HƠN
TRỊNH TIỄN VIỆT *
* Phó Giáo sư, tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội
E-mail: ttviet@vnu.edu.vn
Tóm tắt: Tội danh gắn với một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được mô tả trong Bộ luật Hình
sự, phản ánh bản chất pháp lí của hành vỉ này so với hành vi khác Tuy nhiên, li giải về tội danh và cách xác định tội danh băng nhau, tội danh nặng hơn và tội danh nhẹ hơn chưa được quan tâm nghiên cứu Bài viết làm sáng tỏ khái niệm tội danh và đưa ra những tiêu chí xác định tội danh bằng nhau, tội danh nặng hơn và tội danh nhẹ hơn qua minh họa quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, từ đó kiến nghị xây dựng các khải niệm trên nhằm bảo đảm xử lí đủng tội danh và đúng “mức độ ” trách nhiệm hình sự, bảo đảm quyêt định hình phạt được chỉnh xác, cũng như nâng cao hiệu quả công tác đẩu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Từ khoá : Tội danh; tội danh bằng nhau; tội danh nặng hơn; tội danh nhẹ hơn
Nhận bài: 14/3/2022 Hoàn thành biên tập: 25/7/2022 Duyệt đãng: 25/7/2022
SIMILAR CRIMES, MORE SEVERE CRIMES AND LESS SEVERE CRIMES
Abstract: Crime refers to an act which is dangerous to the society as prescribed in the Penal Code, reflecting the legal nature of such act compared to other acts However, there are only a few of research works on the definition of crimes and how to identify similar crimes, more severe crimes, and less severe crimes Therefore, this paper aims at clarifying the definition of crimes, identifying criteria
of similar crimes, more severe crimes, and less severe crimes as illustrated in provisions of the Penal Code 2015 to make recommendations on the definitions of these types of crimes, with the aims of ensuring proper determination of crimes and “ levels ” of penal liability, applying accurate penalties, and improving the effectiveness of crime prevention.
Keywords: Crimes; similar crimes; more severe crimes; less severe crimes
Received: Mar 14th, 2022; Editing completed: July 25th, 2022; Acceptedfor publication: July 25th, 2022
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự và
thực tiền xét xử, áp dụng pháp luật hình sự
cho thấy, bên cạnh khái niệm tội phạm, còn
có sử dụng thuật ngữ “tội danh” Do vậy, tội
danh là gì và nghiên cứu tội danh để làm gì
là nhiệm vụ cần làm sáng tỏ Bởi lẽ, luận
giải rõ ràng vấn đề này không những có cơ
sở đánh giá chính xác tính chất, mức độ
nguy hiêm cho xã hội của tội phạm đê nâng
cao hiệu quả phòng ngừa và chống tội phạm, sắp xếp cùng nhóm “khách thể loại” đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng tính chất, mà qua đó, bảo đảm quyết định hình phạt chính xác, công bằng, vì “xác định tội danh là tiền đề của định hình phạf'\ đặc biệt xác
định rõ được mức độ trách nhiệm hình sự khi tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi có tội danh nặng, tội danh nhẹ hơn
1 Đào Trí Úc (Chủ biên), Mô hình li luận về Bộ luật
Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội, 1993, tr 213
Trang 2NGHIÊN CỦI - TRA o ĐÓI
cần so sánh trước và sau khi 16 tuổi và trước
và sau khi 18 tuổi2 3 Hom nữa, việc xác định
chính xác tội danh còn giúp xác định chính
xác giới hạn xét xử của toà án trong tố tụng
hình sự tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình
sự (BLTTHS) năm 2015, sửa đổi năm 2021,
bảo đảm sự độc lập của toà án và tránh việc
trả đi, trả lại hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát,
cũng như kiểm sát được hoạt động xét xử và
bảo đảm các quyền, lợi ích của bị cáo
2 Xem cụ thể hơn: Điều 103 BLHS năm 2015 về “Tổng
hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội”.
3 Nguyễn Ngọc Hòa, “Tội danh và việc chuẩn hóa
các tội danh trong Bộ luật Hình sự Việt Nam”, Tạp
chí Luật học, số 6/2004, tr 50; Nguyễn Ngọc Hòa,
Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2015, tr 222.
4 Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn
ngữ học, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2019, tr 1280.
5 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr 1609.
6 Nguyễn Ngọc Điệp, 550 thuật ngữ chủ yếu trong
pháp luật hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 1997, tr 81.
7 “Triết lí” được hiểu là: “7 Li luận triết học; 2 Quan
niệm chung của con người về những vấn để nhân sinh và xã hội; 3 Thuyết lí về những vấn đề nhân sinh và xã hội", xem: Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2019,
tr 1311 - 1312.
Từ các ý nghĩa trên, việc làm rõ tội danh,
tội danh bằng nhau, tội danh nặng hơn và tội
danh nhẹ hơn là nhiệm vụ được giải quyết tại
các mục 2, 3 và 4 dưới đây
2 Tội danh
Hiện nay, có cách tiếp cận của tác giả
Nguyễn Ngọc Hòa hoàn toàn hợp lí khi nhận
xét: “Khỉ xác định hành vi phạm tội cụ thể
để quy định là tội phạm trong Phần các tội
phạm Bộ luật Hình sự (BLHS), nhà làm luật
không chỉ có nhiệm vụ mô tả hành vỉ phạm
tội (xây dựng cấu thành tội phạm) và quy
định khung hình phạt có thể áp dụng cho
người phạm tội (xây dựng khung chế tài) mà
còn có nhiệm vụ đặt tên cho loại hành vỉ
phạm tội được mô tả (đặt tội danh) Với việc
đặt tên cho từng loại hành vi phạm tội được
xác định và mô tả trong BLHS chúng ta có
hệ thống các tội danh”ĩ Ở đây, về bản chất,
tội danh chính là việc các nhà làm luật “đặt
tên” cho loại hành vi phạm tội được mô tả
(xác định) trong BLHS
Giống như khái niệm tội phạm, khái niệm “tội danh” cũng là một danh từ, được
Từ điển tiếng Việt định nghĩa là “tên gọi hành vi phạm pháp đã được quy định trong BLHS”4 hoặc là “tên tội ác và mức xử phạt
nỏ, được xác định sẵn trong các văn bản pháp luật”5; hoặc có sách thuật ngữ lại quan
niệm tội danh “là tên một tội phạm cụ thể được quy định trong các điêu luật của BLHS,
vỉ dụ Tội hiếp dâm, Tội cướp tài sản ”6.
Do đó, tội danh là tên gọi của một hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định
là tội phạm, do các nhà làm luật mô tả (hoặc xác định), qua đó, phản ánh chính xác bản chat pháp lí của hành vi được định danh này
so với những hành vi được định danh khác.
Như vậy, thuật ngữ “tội danh” là tên gọi được các nhà làm luật định danh gắn với một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được mô tả trong BLHS phản ánh bản chất pháp lí của hành vi này so với những hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng được định danh khác, qua đó phục vụ yêu cầu xây dựng cấu thành tội phạm cụ thể, xác định mức và loại hình phạt tương ứng với từng tội danh đó Lưu ý, mồi tội danh trong BLHS khi được quy định đều mang một “triết lí”7 riêng và phản ánh qua
Trang 3NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI
“tên gọi” của nó Tuy nhiên, dưới góc độ lí
luận, chưa có nghiên cứu nào làm sáng tỏ
triết lí của từng tội danh và rộng hon là cả
nhóm tội danh trong BLHS Ví dụ: triết lí khi
xây dựng, quy định Tội phản bội Tổ quốc
xuất phát từ chồ, Hiển pháp năm 2013 đã nêu
rõ, bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và
quyền cao quý của công dân Công dân có
nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc Phản bội
Tổ quốc là tội nặng nhất Vì vậy, tội danh
này được quy định tại Điều 108 và xếp vị trí
đầu tiên trong Chương XIII - Các tội xâm
phạm an ninh quốc gia (BLHS năm 2015, sửa
đồi, bô sung năm 2017, gọi tắt là BLHS năm
2015) Hoặc BLHS quy định Tội cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201) xuất
phát từ triết lí - mục tiêu xóa bỏ bóc lột và
những mầm mong của sự thống trị, phân hoá
giai cấp trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, tiến tới xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa, không chấp nhận người nào làm giàu
từ việc bóc lột, không phải là kết quả của
lao động chân chính Hoặc BLHS quy định
Tội loạn luân (Điều 184) xuất phát từ triết lí
- ngăn chặn việc quan hệ phối giống di truyền
giữa người này với người khác có gen giống
nhau (hôn nhân cận huyết), ảnh hưởng đến
sự phát triển bình thường của giống nòi do
đặc điểm di truyền học, ngoài ra, xâm phạm
thuần phong, mĩ tục, đạo lí Do đó, nếu có
“triết lí” của từng tội danh hoặc cả nhóm tội
danh thì mồi lần sửa đổi, bo sung BLHS khi
pháp điển hoá, đặc biệt là quá trình tội
phạm hoá, phi tội phạm hoá, chúng ta sẽ có
đủ cơ sở lí luận và thực tiễn vững chắc,
cũng như bảo đảm tính thực tiễn của việc
quy định tội phạm, trách nhiệm hình sự và
hình phạt Cùng với đó, ý nghĩa của việc
xác định chính xác tội danh trong thực tiễn
điều tra, truy tố, xét xừ vụ án hình sự là ở chỗ, điều này không chỉ bảo đảm xử lí đúng người, đúng “mức độ” trách nhiệm hình sự, xác định một người có tội hay không có tội, nếu có tội thì tội danh gì, mức chế tài dự kiến thế nào, từ đó kéo theo việc quyết định hình phạt chính xác8, công bằng, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội
8 Trịnh Tiến Việt, 55 cặp tội danh dễ nhầm lẫn trong
Bộ luật Hình sự hiện hành, Nxb Chính trị Quốc gia
- Sự thật, Hà Nội, 2022, tr 17.
9 Đinh Văn Quế, “Tội đẹp”, Báo Dân trí online, https://dantri.com.vn/phap-luat/toi-dep- 1333001679.htm, truy cập 18/6/2022.
10 Đinh Văn Quế, Góc của Đinh Văn Quế, Nxb Thông
tấn, Hà Nội, 2014, tr 59.
Ngoài ra, lưu ý, trên báo chí có nơi, có chồ viết cái gọi là “tội đẹp”, “tội xấu” để nhận xét, đánh giá9 nhưng đó là cách tiếp cận và “cách gọi” của ngôn ngữ “xã hội”, còn BLHS chỉ nêu tội danh (đã được định danh) và tội phạm là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Do đó, các cơ quan, người tiến hành tố tụng bắt buộc phải “căn cứ vào các quy định của BLHS, đối chiếu với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện để xác định hành vi đó đã phạm vào tội (danh) nào, không phân biệt người phạm tội là ai, dân thường hay từng là đảng viên, cán bộ có chức, có quyền, hay tội
đó là “tội đẹp” hay “không đẹp”10
Hiện nay, BLHS năm 2015 gồm có 3 phần, 26 chương, 426 điều So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 bãi bỏ 03 điều; giữ nguyên 30 điều; sửa đổi, bổ sung
396 điều Riêng nội dung Phần các tội phạm
cụ thể trong BLHS năm 2015 bao gồm 317
Trang 4NGHIÊN CỮU - TRA o ĐÔI
điều với 313 tội danh, chia thành 13 chương,
tăng hơn rất nhiều so với Phần các tội phạm
trong BLHS năm 1999 Cụ thể, tăng 40 tội
danh (bổ sung 30 tội danh mới, 10 tội danh
do tách ra) Do đó, khái quát các chương quy
định về tổng thể tội danh trong BLHS năm
2015 hiện hành cho thấy:
- Chương XIII - “Các tội xâm phạm an
ninh quốc gia”
Đây là nhóm tội danh có tính nguy hiểm
cho xã hội cao nhất nên chính sách hình sự
đối với các tội phạm này rất nghiêm khắc
Bởi lẽ, các tội xâm phạm an ninh quốc gia
xâm phạm trực tiếp đến sự tồn tại, ổn định
và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa và
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, cũng như sự bất khả xâm phạm về độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ quốc Chương XIII - Các tội xâm
phạm an ninh quốc gia, BLHS năm 2015
quy định 15 điều luật có 14 điều quy định 14
tội danh và 01 điều luật quy định về hình
phạt bổ sung đối với các tội danh này
- Chương XIV - “Các tội xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của
con người”
Chương XIV BLHS năm 2015 quy định
34 điều luật về 34 tội danh và chia theo các
nhóm: các tội xâm phạm tính mạng, các tội
xâm phạm sức khoẻ, các tội xâm phạm
nhân phẩm và các tội xâm phạm danh dự
của con người
- Chương XV - “Các tội xâm phạm quyền
tự do của con người, quyền tự do, dân chủ
của công dân”
Chương XV BLHS năm 2015 quy định
11 điều luật về 11 tội danh xâm phạm đến
các quyền tự do của con người và quyền tự
do, dân chủ của công dân
- Chương XVI - “Các tội xâm phạm sở hữu” Các tội xâm phạm sở hữu xâm phạm đến các quan hệ sở hữu bao gồm quyền chiếm giữ, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Chương XVI BLHS năm 2015 quy định
13 điều luật về 13 tội danh xâm phạm đến quyền sở hữu
- Chương XVII - “Các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân và gia đình”
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình xâm phạm đến hai nhóm quan hệ là quan hệ hôn nhân (kết hôn, nghĩa vụ vợ chồng, li hôn ) và quan hệ gia đình (giữa ông bà, cha mẹ, với con cháu, giữa anh chị em ) Chương XVII BLHS năm 2015 quy định 07 điều luật về 07 tội danh xâm phạm đến chế độ hôn nhân và gia đình
- Chương XVIII - “Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế”
Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế xâm phạm đến các quan hệ xã hội về trật tự quản lí kinh tế trong từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế Chương XVIII Bộ luật Hình
sự năm 2015 chia thành 03 mục về các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm
và các tội phạm khác xâm phạm trật tự quản
lí kinh tế quy định 47 điều luật về 47 tội danh
- Chương XIX - “Các tội phạm về môi trường”
Các tội phạm về môi trường xâm phạm đến việc bảo đàm an ninh môi trường, môi trường sống và tài nguyên thiên nhiên Chương XIX BLHS năm 2015 quy định 12 điều luật về 12 tội danh
- Chương XX - “Các tội phạm về ma tuý” Các tội phạm về ma túy xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lí các
Trang 5NGHIÊN CÚU - TRA o ĐÕI
chất ma túy Chương XX BLHS năm 2015
quy định 13 điều luật về 13 tội danh
- Chương XXI - “Các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng”
Chương XXI BLHS năm 2015 quy định
69 điều luật về 68 tội danh (01 bị bãi bỏ -
Điều 292)11 và chia thành bốn nhóm xâm
phạm an toàn giao thông, tội phạm trong lĩnh
vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông;
các tội phạm khác xâm phạm an toàn công
cộng và các tội phạm khác xâm phạm trật tự
công cộng
11 Lưu ý, Điều 292 BLHS năm 2015 đã bị bãi bỏ theo
khoản 141 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLHS.
- Chương XXII - “Các tội xâm phạm trật
tự quản lí hành chính”
Các tội xâm phạm trật tự quản lí hành
chính xâm phạm đến hoạt động đúng đắn,
bình thường của người thi hành công vụ, của
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong việc
thực hiện chức năng quản lí nhà nước, qua
đó làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lí hành
chính nhà nước Chương XXII BLHS năm
2015 quy định 22 điều luật về 22 tội danh
- Chương XXIII - “Các tội phạm về
chức vụ”
Các tội phạm về chức vụ là những hành
vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ
quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện
trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ
Ngoài ra, người có chức vụ là người do
bổ nhiệm, do bầu cử, do họp đồng hoặc do
một hình thức khác, có hưởng lương hoặc
không hưởng lương, được giao thực hiện
một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn
nhất định trong khi thực hiện công vụ,
nhiệm vụ 11
Chương XXIII BLHS năm 2015 bao gồm 15 điều luật quy định 14 tội danh và 01 điều luật về khái niệm các tội phạm này và khái niệm người có chức vụ, được chia thành hai nhóm - các tội phạm về tham nhũng tại mục 1 và các tội phạm khác về chức vụ tại mục 2
- Chương XXIV - “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”
Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án Chương XXIV BLHS năm 2015 quy định 25 điều luật với 24 tội danh và 01 điều luật về khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
- Chương XXV - “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu”
Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu xâm phạm đến các quan
hệ xã hội trong quân đội giữa những quân nhân và giữa họ với các đối tượng không phải là quân nhân trong khi thực hiện nhiệm
vụ quân sự, huấn luyện quân sự, phối thuộc chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu Chương XXV BLHS năm 2015 quy định 29 điều luật với 28 tội danh và 01 điều luật về những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội danh này
- Chương XXVI - “Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh” Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền; tính mạng, sức khoẻ
Trang 6NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI
của một khu dân cư; môi trường tự nhiên,
điều kiện sống của cộng đồng dân cư
Chương XXVI BLHS năm 2015 quy định 05
điều luật với 05 tội danh
Như vậy, trong thực tiền xét xử và áp
dụng pháp luật hình sự cho thấy, quá trình
để có thể xác định được tội danh mà chủ thê
đã thực hiện đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền
do pháp luật quy định, trên cơ sở xác định,
so sánh, kiểm tra và chứng minh có sự phù
hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ
thể trên thực tế của chủ thể với các dấu hiệu
của cấu thành tội phạm của điều luật tương
ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy
định hay không, đó chính là hoạt động định
tội danh12 Tuy nhiên, như đã đề cập, nhiệm
vụ làm sáng tỏ vấn đề tội danh, đặc biệt là
tội danh bằng nhau, tội danh nặng hơn, tội
danh nhẹ hơn có ý nghĩa không những giúp
đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm để có thê đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm, phân
hoá trách nhiệm hình sự mà còn giúp xác
định chính xác giới hạn xét xử của toà án
trong tố tụng hình sự tại Điều 298 BLTTHS
năm 2015, bảo đảm sự độc lập của toà án và
tránh việc trả đi, trả lại hồ sơ nhiều lần cho
viện kiếm sát Ngoài ra, việc làm rõ vấn đề
này còn góp phần giải quyết chính xác về
“mức độ trách nhiệm hình sự” khi tổng hợp
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi có
tội danh nặng, tội danh nhẹ hơn cần so sánh
trước và sau khi 16 tuổi và trước và sau khi
18 tuổi Tuy nhiên, đến nay trong khoa học
12 Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Tổng quan luật hình
sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2022, tr 433-434.
và thực tiễn mặc dù cũng đặt ra vấn đề tội danh nặng hơn, tội danh nhẹ hơn, tội danh bằng nhau (hoặc ngang bằng nhau) nhưng chưa được lí giải, làm rõ Đặc biệt, dưới góc
độ lập pháp, trước đây, mới có một văn bản hướng dần vấn đề trên nhưng văn bản này
đã hết hiệu lực, đó là Thông tư liên tịch số
01 /1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bô sung một số điều của BLHS năm 1985 (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV)
có nêu về “tội danh nặng hơn” tại điểm 5 mục II phần B
3 Tội danh bằng nhau
Căn cứ nội dung hướng dẫn tại Thông
tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BNV có nêu về “tội danh nặng hơn” tại điểm 5 mục II phần B: “Tợí danh
nặng hơn là tội danh có mức hình phạt cao nhất cao hơn Trong trường hợp mức hình phạt cao nhất bằng nhau, thì tội danh nặng hơn là tội danh có mức hình phạt khởi diêm cao hơn" Văn bãn này hướng dẫn một số quy định cùa BLHS năm 1985, trong đó có nêu vấn đề tội danh nặng hơn nhưng đã hết hiệu lực, tuy nhiên vẫn có giá trị tham khảo cần thiết và hữu ích
Như vậy, tội danh bằng nhau là các tội danh có mức hình phạt khởi đièm (thấp nhất) và mức hình phạt cao nhất của tội danh này khi so sánh bằng với tội danh kia Nói
cách khác, trách nhiệm hình sự đối với các tội danh này khi so sánh là như nhau (hay ngang bằng nhau)
Trang 7NGHIÊU cứu- TRAO ĐỒI
Ví dụ:
So sánh Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội
của công dân (Điều 163)
Tội xâm phạm quyền tự do tínngưỡng, tôngiáo của người khác (Điều 164)
1 Ngườinào , thì bịphạt cải tạo không
giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 01 năm.
1 Người nào , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 thảng đến 01 năm.
Bằng nhau
2 Phạmtội thuộc mộttrong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm
đến 03 năm
2 Phạm tội thuộc một ttong các trường họp sau đây, thìbị phạt tù từ 01 năm đến
03 năm
Bằng nhau
3 Người phạm tội còn có thể bị cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định từ 01 năm đến
05 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến
05 năm.
Bằng nhau
Lưu ý, về nguyên tắc chung là như vậy,
tuy nhiên, trong BLHS tìm được các tội danh
bằng nhau (tuyệt đối) về mức hình phạt thấp
nhất và mức hình phạt cao nhất (bằng nhau
hoàn toàn về trách nhiệm hình sự) là tương
đối ít, chủ yếu thể hiện ở một số tội danh
cùng nhóm tội phạm trong cùng một chương
của BLHS
4 Tội danh nặng hơn, tội danh nhẹ hơn
Hai khái niệm này được đề cập đồng thời
vì khi đối chiếu, so sánh, nếu tội danh này
nặng hơn thì đương nhiên tội danh kia là tội
danh nhẹ hơn và ngược lại
Cũng căn cứ theo nội dung hướng dẫn
tại Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC-BNV (đã nêu) trên
thì: “7ọ/ danh nặng hơn là tội danh có mức
hình phạt cao nhất cao hơn Trong trường
hợp mức hình phạt cao nhất bằng nhau, thì
tội danh nặng hơn là tội danh có mức hình
phạt khởi diêm cao hơn” Điều này có nghĩa,
trong nội dung giải thích này đã gián tiếp chỉ
ra tội danh nhẹ hơn trong khái niệm tội danh
nặng hơn Đồng thời, văn bản này cũng đã
chỉ rõ, trong trường hợp xác định tội danh nặng hơn, chúng ta cần căn cứ vào mức hình phạt khởi điểm (hay thấp nhất) hoặc mức hình phạt cao nhất Khi đó, nếu tội danh nào
có mức hình phạt cao nhất thấp hơn là tội danh nhẹ hơn; nếu mức hình phạt cao nhất của hai tội danh bằng nhau thì mức hình phạt khởi điểm của tội danh nào thấp hơn thì là tội danh nhẹ hơn và ngược lại, tội danh nào
có mức hình phạt cao nhất cao hơn thì sẽ là tội danh nặng hơn; còn nếu mức hình phạt cao nhất của hai tội danh bằng nhau thì tội danh nào có mức hình phạt khởi điểm (thấp nhất) cao hơn thì sẽ là tội danh nặng hơn Như vậy, tội danh nặng hơn là tội danh
có mức hình phạt cao nhất cao hơn hoặc có mức hình phạt khởi điểm cao hơn so với tội danh khác khi so sánh và ngược lại là tội danh nhẹ hơn.
Ngoài ra, giả thuyết nếu các tiêu chí khi
so sánh bằng nhau hoàn toàn thì chúng ta có thể tính đến so sánh một sổ tiêu chí khác như sau: tội danh nào có mức khởi điểm là hình phạt thuộc loại nhẹ hơn; tội danh nào
Trang 8NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI
có quy định hình phạt bổ sung là bắt buộc;
tội danh nào có số lượng nhiều hình phạt bổ
sung hơn, hoặc mức độ phạt trong đó cao
hơn; tội danh nào có nhiều tình tiết tăng
nặng định khung hình phạt hơn; tầm quan
trọng của khách thể được luật hình sự bảo
vệ để xác định là tội danh nặng hơn và
ngược lại
Do đó, chúng tôi xin cụ thể hóa và minh
họa từng trường hợp với các tội danh cụ thể trong BLHS khi so sánh với nhau để xác định tội danh nặng hơn, tội danh nhẹ hơn như sau:
- Trường họp khi so sánh điều luật quy định hình phạt chính đối với các tội danh, nếu tội danh nào mà điều luật có quy định về hình phạt chính nặng nhất nặng hơn thì tội danh đó sẽ là tội danh nặng hơn và ngược lại
Ví dụ:
So sánh Tội giết người (Điều 123) Tội cố ý gâythương tíchhoặc gâytổnhại
cho sức khoẻ của ngườikhác (Điều 134)
1. Người nào giết người thuộc
một trongcác trường hợp sau đây,
thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20
năm, tù chung thân hoặc tử hình
5 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đâythì bị phạt tù từ 12 năm đến
20 năm hoặc tù chung thân
Tội danh 1 nặng hơn tội danh 2
Như vậy, ở đây, nếu tội danh nào quy định
hình phạt chính nặng nhất là hình phạt tử hình
thì tội danh còn lại quy định bất kì hình phạt
nào khác đều coi là tội danh nhẹ hơn; và nếu
tội danh nào quy định hình phạt chính nặng
nhất là hình phạt tù chung thân (không quy
định hình phạt tử hình trong tội danh so sánh)
thì tội danh còn lại quy định bất kì hình phạt
nào khác đều coi là tội danh nhẹ hơn
- Trường hợp khi so sánh điều luật quy định hình phạt chính nặng nhất đối với các tội danh đều là hình phạt tù có thời hạn (không quy định hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình) thì tội danh nào mà điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội danh đó cao hơn sẽ là tội danh nặng hơn và ngược lại
Ví dụ:
So sánh Tội bức từ (Điều 130) Tộixúi giục hoặc giúp người khác
tự sát (Điều 131)
2 Phạm tội thuộc một trong các trườnghợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm
2. Phạm tội làm 02người trở lên tự sát, thì bịphạt tù từ 02 năm đến 07 năm
Tộidanh 1 nặng hơn tội danh 2
- Trường họp khi so sánh điều luật quy
định hình phạt chính nặng nhất đối với các
tội danh đều là hình phạt tử hình; hoặc đều là
hình phạt tù chung thân; hoặc đều là hình
phạt tù có thời hạn, đồng thời có mức hình
phạt tù cao nhất đối với các tội danh lại cũng bằng nhau, thì tội danh nào mà điều luật quy định có mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn
sẽ là tội danh nặng hơn và ngược lại
Vỉ dụ:
Trang 9NGHIÊN cứu - TRA o ĐÔI
So sánh Tội phản bộiTổ quốc (Điều 108) Tội gián điệp (Điều 110)
1 Công dân Việt Nam nào , thìbị phạt
tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân
hoặc tử hình.
1 Người nào , thibị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Bằng nhau
2 Phạm tội trong trường họp có nhiều
tinh tiết giảm nhẹ, thi bị phạt tù từ 07
năm đến 15 năm.
2 Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng,thì bịphạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
Tội danh 2 nhẹ hơn tội danh 1
Diễn giải cụ thể hơn, trên lý thuyết và
trong cách thiết kế điều luật khi so sánh có
thể có những tình huống (giả thuyết) sau đây:
- Trường hợp khi so sánh điều luật quy
định hình phạt chính nặng nhất đối với các
tội danh đều là hình phạt tù có thời hạn; các
tội danh này lại đều có mức hình phạt tù
khởi điểm và mức hình phạt tù cao nhất
bằng nhau, thì tội danh nào mà điều luật có quy định thêm hình phạt chính khác nhẹ hơn (ví dụ có quy định các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ), thì tội danh nào có thêm một trong các hình phạt nhẹ hơn đó đương nhiên sẽ là tội danh nhẹ hơn và ngược lại
Kỉ' dụ:
So sánh Tội buộc công chức,viên chức
thôiviệc hoặc sa thảingười lao
động trái phápluật (Điều 162)
Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân (Điều 163)
1 Người nào , thìbị phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 100.000.000
đồng, phạt cải tạo không giam giữ
đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 01 năm
1 Người nào , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 thảng đến 01 năm.
Bằng nhau về các hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn nhưng tộidanh 1 nhẹ hơn
vì có thêm hình phạt tiền
2 Phạm tội thuộc một trong các
trường họp sau đây, thì bị phạt
tiền từ 100.000.000 đồng đến
200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ
01 năm đến 03 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thìphạt tù từ
01 năm đến 03 năm
Bằng nhau về hình phạt
tù nhưng tội danh 1 nhẹ hơn vì có hình phạt tiền
3 Người phạm tội còn có thể bị
cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ 01 năm đến 05 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
từ 01 năm đến 05 năm.
Tội danh 2 có nhiều hình phạt bổ sung hơn nêntội danh 1 nhẹ hơn
- Trường hợp khi so sánh điều luật lại quy
định những hình phạt chính đối với các tội
danh giống nhau, thì có các trường hợp để
xác định tiếp tội danh nặng hơn, tội danh nhẹ hơn như sau: (i) Trường hợp điều luật của tội danh nào quy định thêm hình phạt bổ sung thì
Trang 10NGHIÊN cứu - TRA o ĐÓI
tội danh đó sẽ là tội danh nặng hơn Trường
hợp điều luật của các tội danh trên cùng quy
định hình phạt bổ sung giống nhau, thì so
sánh tiếp đến mức độ cụ thể, ví dụ cùng là
phạt tiền là hình phạt bổ sung, thì tội danh
nào có mức phạt tiền cao hơn sẽ là tội danh
nặng hơn và ngược lại; (ii) Trường hợp vẫn
tiếp tục bằng nhau thì căn cứ tiếp đến hình
phạt bổ sung với tội danh này là bắt buộc, còn
đối với tội danh khác lại quy định hình phạt
bổ sung là lựa chọn (tùy nghi), thì tội danh nào mà điều luật quy định hình phạt bổ sung
là bắt buộc sẽ là tội danh nặng hơn và ngược lại; (iii) Trường hợp điều luật lại quy định các tội danh đều có hình phạt bổ sung và đều có mức độ cũng bằng nhau và cùng bắt buộc hoặc lựa chọn, thì tội danh nào có nhiều hình phạt bổ sung hơn tội danh kia sẽ là tội danh nặng hơn và ngược lại
Vỉ dụ:
So sánh Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
(Điều 172)
Tội trộm cắp tài sản (Điều 173)
1 Người nào thì bị phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
1. Người nào , thì bịphạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
Bằng nhau
2 Phạm tội thuộc một trong các
trường họp sau đây, thìbị phạt tù từ
02 năm đến 07 năm
2 Phạm tội thuộc một ưong các trường họp sau đây, thì bị phạt tù
từ 02 năm đến 07 năm
Bằng nhau
3. Phạm tội thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
07 năm đến 15 năm
3 Phạm tội thuộc một ttong các trường hợp sau đây, thì bịphạt tù
từ 07 năm đến 15 năm
Bằng nhau
4 Phạm tội thuộc một trong các
trường họp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm
4 Phạm tội thuộc một ưong các trường họp sau đây, thì bịphạt tù
từ 12 năm đến 20 năm
Bằng nhau
5 Người phạm tội còn có thể bị
phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng.
5 Người phạm tội còn có thể bị
phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Tội danh 1 nặng hơn tội danh 2 vi hình phạt tiền bổ sung có mức khởiđiểm cao hơn
Như vậy, thực tiễn vẫn chưa liệt kê đầy
đủ hết, vì còn tùy thuộc vào kĩ thuật lập pháp
và cách thiết kế của các nhà làm luật thể hiện
trong BLHS hiện hành Vì sẽ còn có trường
hợp bằng nhau hết các tiêu chí (đã nêu), thì
chúng ta căn cứ thêm vào tiêu chí phụ như:
số lượng tình tiết định khung trong các
khung tăng nặng trách nhiệm hình sự trong
các tội danh; tội danh nào có quy định miễn
trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; tội danh nào không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tầm quan trọng của khách thể được luật hình sự bảo vệ , từ đó, nhận định và đánh giá chính xác nhất13
13 Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, 55 cặp tội danh dễ nhầm lẫn trong Bộ luật Hình sự hiện hành, sđd,
tr 31.