Phong cách học tập và vai trò của giáo viên trong tổ chức hoạt động trải nghiệm ở môn Toán 196 HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI 10 18173/2354 1075 2018 0019 Educational Sciences, 2018, Vol 63, Iss 2, pp 19[.]
Trang 1196
HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0019 Educational Sciences, 2018, Vol 63, Iss 2, pp 196-204
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM MẦM NON
Đinh Đức Hợi
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Tóm tắt Với sinh viên, ngoài việc trau rồi kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề thì sinh viên cần
được bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp, nhất là sinh viên sư phạm mầm non Bài viết tập trung nghiên cứu, làm rõ thực trạng việc Giáo dục các phẩm chất chính trị; Thế giới quan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ; Giáo dục lòng yêu người, yêu trẻ, tôn trọng nhân cách người học; Giáo dục lòng yêu nghề sâu sắc, ý thức giữ gìn bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo, tinh thần lao động nghêm túc, chuyên nghiệp; Giáo dục tác phong mẫu mực, quan hệ ứng xử tốt với người khác và với cộng đồng; Giáo dục các phẩm chất ý chí, tinh thần vượt khó vươn lên hoàn thành mọi nhiệm vụ được phân công; Giáo dục ý thức tự học, tự bồi dưỡng, không ngần ngại phấn đấu trở thành tấm gương về mọi mặt cho trẻ noi theo thông qua các phương pháp nghiên cứu phỏng vấn, điều tra, quan sát, thống kê toán học Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non được diễn ra khá thường xuyên, song một số nội dung chưa thật sự hiệu quả Từ đó, chúng tôi đề xuất một
số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non
Từ khóa: Giáo dục, đạo đức, nghề nghiệp, sinh viên, mầm non
1 Mở đầu
Theo J.A Comenxki (1592-1670) - nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc - trong quá trình giảng dạy cho thanh niên, học sinh, ông quan tâm đến phương pháp nêu cho học sinh bắt chước, đặc biệt là sự gương mẫu của thầy giáo, cha mẹ và những người thân, phải giáo dục trẻ bằng tình yêu thương chân thành “Việc trau dồi đức hạnh cần phải bắt đầu từ lúc còn thơ, trước khi tâm hồn
bị hoen ố" và "đức hạnh của con người có thể trau dồi được bằng cách luôn luôn xử sự chân chính" [theo 11; 9]
Theo Pétxtalôdi (1746 - 1827) - nhà giáo dục người Thụy Sĩ- người thầy giáo phải là
"người cha của mọi đứa trẻ, tất cả cho người khác, không gì riêng cho mình" [theo 11; 9] Theo K.Đ Usinxki (1824 - 1870), người thầy giáo là người giữ gìn, truyền đạt di huấn thiêng liêng của các bậc tiền bối đã đấu tranh cho chân lý và hạnh phúc "Dạy học là một nghề vinh quang nhưng phải thường xuyên bồi dưỡng để tiến kịp với thời đại" [theo 11; 9]
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 "Quy định về đạo đức nhà giáo" Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 1 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
Ngày nhận bài: 09/8/2017 Ngày chỉnh sửa: 25/11/2017 Ngày nhận đăng: 02/12/2017
Tác giả liên hệ: Đinh Đức Hợi, e-mail: hoitamlyhoc@gmail.com
Trang 2197
hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non [2] Đây chính là những căn cứ pháp lý quan trọng để chúng ta tiến hành công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm nói chung và sinh viên sư phạm mầm non nói riêng
Tóm lại, đã có nhiều công trình khoa học trong nước và ở nước ngoài đã đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp Tuy nhiên, việc nghiên cứu giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên một ngành nghề cụ thể như sinh viên sư phạm mầm non còn hạn chế
và chưa được quan tâm nhiều Đối với sinh viên sư phạm mầm non, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tâm hồn lành mạnh, trong sáng và tình yêu nghề, yêu trẻ là những yêu cầu vô cùng quan trọng để họ có thể thực hiện xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành sứ mệnh cao cả mà xã hội giao cho
2 Nội dung nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp (ĐĐNN) cho sinh viên sư phạm mầm non dựa trên 4 phương pháp: Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp điều tra; Phương pháp toán thống kê Với khách thể điều tra: 100 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ 4 và 14 giảng viên sư phạm thuộc Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, kết quả thu được cụ thể là:
2.1 Nhận thức của các giảng viên và sinh viên về các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết, đặc thù của người giáo viên mầm non
Để tìm hiểu nhận thức của giảng viên và sinh viên sư phạm mầm non về các phẩm chất ĐĐNN cần thiết, đặc thù của người giáo viên mầm non (GVMN), chúng tôi đưa ra hệ thống các phẩm chất đạo đức nghề nghiepek và yêu cầu các đối tượng khảo sát hãy đánh giá vai trò của những phẩm chất đạo đức đó
của người giáo viên mầm non với 3 mức độ lựa chọn: “Cần thiết”, “Bình thường” và “Không cần thiết”
Kết quả được thể hiện ở bảng 1 Kết quả bảng 1 cho thấy: Đối với giảng viên: đa số giảng viên cho rằng các phẩm chất đạo đức nêu trên đều “Cần thiết” Họ đánh giá rất cao các phẩm chất như: Yêu nghề, yêu trẻ, tận tụy với công việc chăm sóc và giáo dục trẻ, kiên trì và nhẫn lại khi tiếp xúc với trẻ, tôn trọng nhân cách trẻ, có lý tưởng , niềm tin nghề nghiệp, có trách nhiệm trong chăm sóc , giáo dục trẻ,Công bằng, trong sáng trong đánh giá kết quả giáo dục trẻ,bao dung, độ lượng,
vị tha, cao thượng, không trù dập trẻ (100%), có niềm tin ở trẻ, quan tâm tới sự tiến bộ của trẻ (100%) Cũng có một số ý kiến được hỏi cho rằng các phẩm chất: Linh hoạt (50%), nhạy cảm (57,1%), hài hước (71,5%), dũng cảm trong phê bình và phê bình (57,2%) đều được đánh giá ở mức độ bình thường
Đối với sinh viên: nhiều sinh viên cho rằng các phẩm chất ĐĐNN đã nêu đều “ Cần thiết” Trong đó những phẩm chất được sinh viên cho rằng “Cần thiết” chiếm tỷ lệ nhiều nhất cũng có phần tương đồng với sự lựa chọn của giảng viên, đó là các phẩm chất: Yêu nghề và gắn bó với nghề (100%); Yêu quý trẻ (100%); Tận tụy với công việc chăm sóc trẻ (100%); Có tình thương với trẻ nhỏ (100%);Tôn trọng nhân cách trẻ em (100%); Trung thực trong chăm sóc và giáo dục trẻ (100%); Bao dung, độ lượng, vị tha, cao thượng, không trù dập trẻ (100%); Có lý tưởng, niềm tin nghề nghiệp (92%); Dũng cảm trong phê bình và tự phê bình (84%); Kiên trì, nhẫn nại khi tiếp xúc với trẻ (82%)
Trang 3198
Trang 4199
Trang 5200
Kết quả Bảng 1 cho thấy:
Đối với giảng viên: đa số giảng viên cho rằng các phẩm chất đạo đức nêu trên đều “Cần thiết” Họ đánh giá rất cao các phẩm chất như: Yêu nghề, yêu trẻ, tận tụy với công việc chăm sóc
và giáo dục trẻ, kiên trì và nhẫn lại khi tiếp xúc với trẻ, tôn trọng nhân cách trẻ, có lý tưởng , niềm tin nghề nghiệp, có trách nhiệm trong chăm sóc , giáo dục trẻ,Công bằng, trong sáng trong đánh giá kết quả giáo dục trẻ,bao dung, độ lượng, vị tha, cao thượng, không trù dập trẻ (100%),
có niềm tin ở trẻ, quan tâm tới sự tiến bộ của trẻ (100%) Cũng có một số ý kiến được hỏi cho rằng các phẩm chất: Linh hoạt (50%), nhạy cảm (57,1%), hài hước (71,5%), dũng cảm trong phê bình và phê bình (57,2%) đều được đánh giá ở mức độ bình thường
Đối với sinh viên: nhiều sinh viên cho rằng các phẩm chất ĐĐNN đã nêu đều “ Cần thiết” Trong đó những phẩm chất được sinh viên cho rằng “Cần thiết” chiếm tỷ lệ nhiều nhất cũng có phần tương đồng với sự lựa chọn của giảng viên, đó là các phẩm chất: Yêu nghề và gắn bó với nghề (100%); Yêu quý trẻ (100%); Tận tụy với công việc chăm sóc trẻ (100%); Có tình thương với trẻ nhỏ (100%);Tôn trọng nhân cách trẻ em (100%); Trung thực trong chăm sóc và giáo dục trẻ (100%); Bao dung, độ lượng, vị tha, cao thượng, không trù dập trẻ (100%); Có lý tưởng, niềm tin nghề nghiệp (92%); Dũng cảm trong phê bình và tự phê bình (84%); Kiên trì, nhẫn nại khi tiếp xúc với trẻ( 82%)
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận sinh viên nhận định các phẩm chất ĐĐNN nêu trên là
“Không cần thiết” Cụ thể: Kiên trì, nhẫn nại khi tiếp xúc với trẻ có 10% (K49: 4%; K50: 12%; K51: 28%); Nhạy cảm có 4% (K48: 4%; K50: 8%; K51: 4%); Công bằng, trong sáng trong đánh giá các kết quả giáo dục có 12% (K48: 8%; K49: 8%; K50: 4%; K51: 12%); Linh hoạt có 6% (K48: 4%; K49: 8%; K50: 4%; K51: 8%) Điều này có thể lý giải là do một số sinh viên chưa thực sự hiểu nghề, chưa nhận thức được những khó khăn, vất vả của nghề và cũng còn mơ hồ về những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, cho nên các em đã coi nhẹ những phẩm chất như kiên trì, nhẫn nại, linh hoạt… đối với nghề GVMN
Qua phân tích số liệu cho thấy, về cơ bản sinh viên sư phạm mầm non đã thấy được sự cần thiết của các phẩm chất ĐĐNN, đặc biệt là các phẩm chất đặc thù trong công tác của người GVMN Đây là cơ sở để các giảng viên tích cực hơn trong hoạt động giảng dạy của mình và chú trọng công tác giáo dục các phẩm chất nghề nghiệp mang tính đặc thù, đặc trưng trong nghề nghiệp của người GVMN Bên cạnh đó, cũng cần phải chú ý tới việc giáo dục các phẩm chất nghề nghiệp cho sinh viên một cách toàn diện hơn nữa để sinh viên có sự nhận thức đầy đủ về hệ thống các phẩm chất đạo đức quan trọng của nghề GVMN
2.2 Mức độ thực hiện giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non
Để tìm hiểu thực trạng việc thực hiện các nội dung giáo dục ĐĐNN cho sinh viên sư phạm mầm non Chúng tôi tiến hành điều tra ở ba mức độ sau: “ Thường xuyên”, “Bình thường” và
“Không thường xuyên” Kết quả thể hiện ở Biểu đồ 1:
Kết quả Biểu đồ 1 cho thấy:
Khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tiến hành giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non Cụ thể, 100% ý kiến của giảng viên và 75% ý kiến của sinh viên cho rằng khoa “thường xuyên” thực hiện giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
Trang 6201
sinh viên mầm non Đây là một tín hiệu tốt vì minh chứng rằng song song với các hoạt động đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, khoa Giáo dục Mầm non đã chú ý đến công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Biểu đồ 1 Đánh giá của giảng viên và sinh viên về mức độ thực hiện giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non
Tuy nhiên, còn một số ít ý kiến của sinh viên lại cho rằng Khoa không thường xuyên thực hiện giáo dục ĐĐNN (5%) Lý giải điều này, có thể là do hoạt động của Khoa chưa thật rõ nét hoặc do chính bản thân sinh viên chưa thực sự tự giác, tích cực tham gia vào các hoạt động mà khoa đã tổ chức nên các sinh viên còn mơ hồ về các hoạt động giáo dục ĐĐNN cho sinh viên của Khoa Điều này cho thấy, các hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cần phải được tổ chức một cách khoa học, thiết thực hơn nữa, để sinh viên nhận thấy ý nghĩa sâu sắc của các hoạt động đó
2.3 Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục ĐĐNN cho sinh viên sư phạm mầm non
Để tìm hiểu mức độ thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non Chúng tôi tiến hành điều tra ở ba mức độ sau: “Thường xuyên”, “Bình thường”
và “Không thường xuyên” Kết quả được thể hiện ở Bảng 2
Kết quả Bảng 2 cho thấy:
Hầu hết các nội dung giáo dục ĐĐNN đều đã được nhà trường, thầy cô giáo thực hiện, nhưng mức độ thực hiện có khác nhau Theo đánh giá của sinh viên khoa Giáo dục Mầm non, các nội dung giáo dục ĐĐNN được thực hiện thường xuyên nhất đó là: Giáo dục lòng tự trọng, giữ gìn uy tín, danh dự của bản thân, nghề nghiệp (96%); Tinh thần trách nhiệm với nghề (96%); Tính trung thực, thẳng thắn (94%); Giáo dục lòng yêu nghề (92%); Lối sống lành mạnh, tích cực (90%); Giáo dục lòng yêu trẻ (88%); Lối sống giản dị, khiêm tốn (82%);
Kỹ năng giao tiếp, ứng xử sư phạm (82%); Giáo dục tác phong mô phạm, mẫu mực (80%); Qua đó cho thấy, khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã chú trọng đến việc giáo dục cho sinh viên những nội dung có tính đặc trưng của nghề
Trang 7202