Môn Tiếng Việt là chiếc chìa khóa thần kì mở ra cánh cửa tri thức bao la cho học sinh tiểu học Đề tài nghiên cứu khao học Trần Phi Thòn ((((( M ôn Tiếng Việt là chiếc chìa khóa thần kì mở ra cánh cửa[.]
Trang 1ôn Tiếng Việt là chiếc chìa khóa thần kì mở ra cánh cửa tri thức bao la cho học sinh tiểu học Bởi vì, nếu học tập, lao động, khám phá cuộc sống xung quanh,… trước tiên trẻ cần phải có một vốn kiến thức và có các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (cơ bản nhất là nghe nói, đọc, viết ) ở một mức độ nhất định, chính những kiến thức và kỹ năng này là phương tiện phục vụ cho mọi hoạt động: giao tiếp, lao động, học tập, vui chơi Đó thật sự là những căn
cứ quan trọng để trẻ hình thành và phát triển nhân cách cá nhân.
M
Song song đó, trong quá trình học tập tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, các hoạt động hằng ngày còn giúp học sinh rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản, giúp cho các em phát triển trí tuệ, năng lực suy luận, óc phê phán, đánh giá.
Không chỉ vậy, môn Tiếng Việt còn là nguồn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giãn ban đầu về tự nhiên, xã hội con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài Từ đó, bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm đạo đức tốt, rèn luyện cho các em lối sống lành mạnh, ham thích lao động và có khả năng thích ứng với cuộc sống sau này Đồng thời hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt.
Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và thực trạng dạy Tiếng Việt chúng có mối quan hệ với nhau rất mật thiết Thực trạng dạy học là thướt đo là cơ sở để đánh giá chương trình Căn cứ vào thực trạng dạy học thực tế, kết quả dạy học thực tế thu được người ta đánh giá, tiến chương trình dạy học ngày một hoàn thiện.
Nhận thức được vai trò to lớn của Tiếng Việt đối với đời sống, lao động, học tập của con người, nhất là đối với học sinh tiểu học, thấy được thực trạng của việc sử dụng Tiếng Việt hàng ngày ở địa phương trường học, Cũng như xuất phát từ mong muốn có thêm những kiến thức kinh nghiệm để giảng dạy môn Tiếng Việt đạt hiệu quả cao em quyết định nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và thực trạng dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học Lý Thường Kiệt”.
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1.MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
1.1 Mục đích nghiên cứu:
Với đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và thực trạng dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học Lý Thường Kiệt”em mong muốn nắm bắt được một cách cơ bản các vấn
-Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học lý Thường Kiệt 1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
-Việc nắm mục tiêu chương trình, yêu cầu về kiến thức và kỹ năng sữ dụng Tiếng Việt ở lớp 5 giúp em thấy được trách nhiệm của người giáo viên tiểu học trong dạy học Tiếng Việt là phải trang bị cho học sinh các kiến thức và các kỹ năng tương ứng với mục tiêu về kiền thức, kỹ năng sữ dụng Tiếng Việt mà chương trình đã đề ra
- Nắm quan điểm biên soạn sách Tiếng Việt, cấu trúc sách giáo khoa để có thể khai thác hết vai trò của sách giáo khoa trong dạy học Tiếng Việt
-Nắm nội dung dạy học các phân môn đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn từ đó mà có kế hoạch bồi dưỡng thêm các kiến thức và các kỹ năng tưong ứng để giảng dạy tốt các phân môn này.
-Nắm phương pháp dạy học các phân môn Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn,thấy được những ưu và nhược diểm của các phương pháp trong dạy học các phân môn nàyđể rút ra
những kinh nghiệm cho bản thân,cũng như có kế hoạc tự nghiên cứu bồi dưỡng thêm
Nắm thực trang trong dạy học Tiếng Việt giúp em có được những kiến thức kinh nghiệm thực tế trong dạy học Tiếng Việt thấy được những ưu và nhược điễm của các phương pháp, hình thức tổ chức trong dạy học Tiếng Việt, chất lượng thực sự trong dạy học Tiếng Việt, để rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân để nâng cao chất lượng trong dạy học Tiếng Việt
2 Đối tượng, nội dung,phạm vi nghiên cứu
2.1.Đối tượng nghien cứu:
Trang 3Chính là: chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và thực trạng dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học Lý Thường Kiệt
2.2 Nội dung nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và thực trạng dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học Lý Thường Kiệt”thì nội dung nghiên cứu là các vấn đề sau vấn đề sau :
-Chương trình Tiếng Việt 5( tìm hiểu ở một số mặt như mục tiêu, yêu cầu về kiến thức và kỹ năng sữ dụng Tiếng Việt ở lớp 5) -Quan điểm biên soạn sách giáo khoa, cấu trúc sách giáo khoa sách học sinh Tiếng Việt 5.
Nội dung dạy học các phân môn Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn.
-Phương pháp dạy học các phân môn :Tập đọc, Chính tả, Luyện
từ và câu, Tập làm văn Các biện pháp,tiến trình lên lớp trong dạy học các phân môn này
-Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học lý Thường Kiệt.
2.3 Phạm vi nghiên cứu:
Do hạn chế về thời gian, nên em chỉ đi sâu, làm rõ các vấn đề sau: Chương trình Tiếng Việt 5 (thể hiện ở các mặt mục tiêu, yêu cầu về kiến thức và kỹ năng sữ dụng Tiếng Việt ở lớp 5)
-Quan điểm biên soạn sách giáo khoa, cấu trúc sách giáo khoa sách học sinh Tiếng Việt 5
-Nội dung dạy học các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Không nghiên cứu phân môn Kể chuyện.
-Phương pháp dạy học các phân môn :Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Các biện pháp,tiến trình lên lớp trong dạy học các phân môn này
-Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học lý Thường Kiệt ở lớp 5/6 Trường tiểu học Lý Thường Kiệt
3 Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Nghiên cứu tài liệu:
Để có thêm những cơ sở, đảm bảo tính khách quan, khoa học cho đề tài em đã tham khảo các tài liệu sau trong quá trình nghiên cứu:
-Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, để nắm cấu trúc,nội dung dạy học từng phân môn cụ thể,thời lượng của từng phân môn … thể hiện trong đó -Sách giáo viên Tiếng Việt 5 để nắm mục tiêu chương trình, yêu cầu
về kiến thức và kỹ nâng dối với môn Tiếng Việt ở lớp 5,quan điểm biên soạn sách giáo khoa, các phương pháp,biện pháp, hình thức tổ chức… trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 5
-Tài liệu phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học của nhà xuất nhà xuất bản đại học sư phạm, tạp chí thế giới trong ta… nhằm tìm hiểu thêm một số vấn đề trong dạy học Tiếng Việt như: cơ sở khoa học của việc dạy học Tiếng Việt, các biện pháp, hình thức tổ chức thường
được vận dụng trong dạy học Tiếng Việt nhằm phát huy cao vai trò
Trang 4tích cực, tự giác của học sinh.Cũng như tham khảo học tập các sáng kiến, bài học kinh nghiệm hay của các giáo viên phổ thông trong dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học.
3.2 khảo sát thống kê:
Khảo sát thông kê các về các kỹ năng đọc của học sinh,ký năng viết Chính tả vốn từ,câu kỹ…
3.3 quan sát dự giờ:
Các tiêt dạy Tiếng Việt ở các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ
và câu, Tập làm văn Nhằm tìm hiểu thực trạng daỵ học trong từng phân môn đó,các kiến thức kỹ năng mà học sinh đã thể hiện một cách thực tế sinh động qua các phân môn này
3.4 trao đổi trò chuyện:
Với các giáo viên: Giáo viên chủ nhiêm lớp 5/6, cô Nguyễn Thị Hồng Nga, các giáo viên chủ nhiêm ở khối 5, học sinh lớp 5/6 và các học sinh
ở các lớp khối 5 khác, nhằm tìm hiểu tình hình học tạp của học sinh trong môn Tiếng Việt, chia sẽ những kinh nghiệm trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 5…
3.5 thực nghiệm dạy học :
Đã trực tiếp đứng lớp dạy tiết Tập đọc bài :”Hộp thư mât tại”, tiết Chính tả nghe viết “Ai là thủy tổ loài người” tại lớp 5/6, nhằm mục đích nắm một cách cơ bản nhất thực trạng dạy -học Tiếng Việt tại lớp 5/6 cũng như thực trạng dạy học Tiếng Việt ở các lớp khối 5 trường tiểu học Lý Thường Kiệt
1 Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
1.1 Một số vấn đề về chương trình Tiếng Việt lớp 5
1.1.1 Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt 5 :
Lớp 5 là lớp cuối cấp tiểu học, hoàn thành mục tiêu đặt ra cho môn Tiếng Việt ở toàn cấp tiểu học là :
-Hoàn hành phát học sinh các kỹ năng sữ dụng Tiếng Việt đó là
(nghe, nói, đọc, viết)để học tập và hoạt động phù hơp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi -Thông qua dạy học,giáo duc rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản, phát triến trí tuệ cho các em.
-Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giãn, ban đăù về Tiếng Việt và những kiến thức sơ giãn về tự nhiên xã hội,con người vê văn hóa Việt nam và thế giới.
-Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt, ý thức,thói quen giữ gìn
sự trong sang, giàu dẹp của môn Tiếng Việt góp phần hình thành
nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
Trang 5* Ở lớp 5 mục tiêu của môn Tiếng Việt cụ thể hóa thành những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần đạt được,cụ thể như sau: a.Nghe:
+Nghe và có khả năng nhận biết thái độ, tình cảm,chủ đích của người nói trong giao tiếp.
+Nghe và nắm được nội dung chủ đích của các bài viết về khoa học thường thức, về đạo đức, thẫm mĩ,tình ban…phù hợp với đặc điểm tâm sin lý lứa tuôi học sinh tiểu học ; bước đầ có khả năng nhận xet, đánh giá về một số nội dung thông tin đã nghe.
+Nghe và có khả năng nắm đại ý đề tài của các tác phẩm (hay trích đọan) văn xuôi, thơ, kịch,; bước đầu có khả năng nhận xét đánh giá về tính cách, hành động của nhân vật và các chi tiết có giá trị nghệ thuật trong tác phẫm ; có khả năng tóm tắt nội dung tác phẩm
+Có thể ghi được một cách khái quát ý chính của bài nghe.
b Nói:
-Nói trong hội thoại :
+ Biết dung lời nói phù hợp với các quy tắc giao tiếp trong gia
đình,trong nhà trường và ngoài xã hội
+ Biết lý giải thêm một số vấn đề đang trao đổi :tán thành hay không tán thành một ý kiến nào đó
-Nói thành bài:
Biết phát triển một chủ dề đơn giản trước lớp
+ Biết cách giới thiệu về lịch sữ, văn hóa, về các danh nhân tiêu biểu của địa phương với khách
+ Biết cách giới thiệu về văn hóa, lịch sử,các nhân vật tiêu biểu của địa phương với khách
+ Thuật một câu chuyện đã đọc hay một sự kiện đã biết ;bước đầu có
kĩ năng thay đổi ngôi kể.
c Đọc:
*Tốc độ đọc tối thiểu 120 tiếng /phút
-Đọc thành tiếng và đọc thầm:
+ Biết cách đọc với các loại văn bản khác nhau(nghệ thuật,hành
chính, khoa học, báo chí,…), Biết cách đọc một màn kịch hay một vở kịch ngắn có giọng đọc phù hợp với nhân vật và tình huống kịch
+Biết cách đọc diễn cảm một bài thơ hay một đoạn văn đã học.
Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4.
-Đọc hiểu:
+Biết tìm đại ý, tóm tắt bài văn, chia đoạn, rút ra dàn ý của bài.
+ Nhận biết mồi quan hệ giữa các nhân vật sự kiện trong bài.
+ bước dầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài Tập đọccó giá tri văn chương.
+ Hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ -Phát triển các kĩ năng bổ trợ ;
+ Kĩ năng dùng từ điển.
+biết ghi chép các thồng tin đã đọc.
Trang 6Thuộc lòng một số đoạn văn vân và bài văn xuôi
-Viết bài văn:
+Chuyển doạn văn nói sang văn viết và ngược lại.
+Biết cách tả cảng tả người; kể lại một câu chuyện đã chứng kiến hay tham gia.; viết đơn từ biên bản.
+ Tự phát hiện và sửa một số lổi trong bài văn.
Kiến thức Tiếng Việt và văn học:
+Nắm được đặc điểm và bước đầu biết sữ dụng đại từ quan hệ từ.
+ Nắm được cáu tạo câu ghép và cách tạo câu ghép.
+ Hệ thống hóa kiến thức về câu và dấu câu đã học.
-Về văn bản:
+Biết cách đặt đầu đề cho văn bản.
+Biết liên kết các câu và đoạn trong văn bản.
-Về văn học:
+ Có hiểu biết về gieo vần.
Làm quen với một số trích đoạn kịch.
1.1.2 Quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt 5:
1.1.2.1 Quan điểm dạy học giao tiếp:
Để thực hiện mục tiêu hình thành và phát triến ở học sinh các kỹ năng sữ dụng Tiếng Việt( cơ bản nhất là nghe, nói, đọc, viết) để để học tập và giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học Cúng như các sách giáo khoa các lớp dưới sách giáo khoa Tiếng Việt 5 lấy nguyên tắc giao tiếp làm nguyên tắc định hướng cơ bản.
Chúng ta ai cũng điều biết rằng giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng tình cảm, cảm xúc,…nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hay cộng tác giữa các thành viên trong xã hội Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện giao tiếp phổ biến và thong dụng nhất là ngôn ngữ.
Trang 7Hoạt động giao tiếp gòm hai hành vi : nhận thông tin và phát thông tin thể hiện ở bồn hình thức biểu hiện của nó là nghe, nói,đoc, viết.
Quan điểm dạy học thông qua giao tiếp thể hiện trên hai phương diện noi dung và hình thức.Về nội dung, thông qua các môn Tập đọc,
Kể chuyện, Luyện từ và câu,Chính tả,tập làm văn,Tiếng Việt 5 tạo ra môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng từ theo dịnh hướng,trang bị các tri thức nền và phát triển các kĩ năng Tiếng Việt trong giao tiếp Về phương pháp dạy học,các kỹ năng trên được dạy thong qua việc tổ chức cá hoạt động giaon tieepsn cho học sinh.
1.1.2.2 Quan điểm tích hợp:
Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học,thậm chí một tiets học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức có lien quan với nhau ngăm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học Có thể hiện tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc.
Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức văn học thiên nhiên con xã ghội theo nguyên tác đồng quy.Hướng tập hợp này được sách giáo khoa Tiếng Việt 5 thể hiện hiện thông qua các chủ điểm học tập theo quan điểm tích hợp các phân môn(Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu,Tập làm văn)trước đay ít gắn bó nhau,nay được tập hợp lại xung quanh chủ điểm và các bài đọc;các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ hơn trước
Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng mới với kiến thức và kỹ năng đã hoc trước đó đó theo nguyên tắc đồng tâm( còn gọi là nguyên tắc đòng trục hay vòng xoắn ốc).Cụ thể là kiến thức và kỹ năng của lớp trên bao hàm kiến thức và kỹ năng ủa lớp dưới bật học dưới
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 chủ điểm được chọn làm
khung cho cả cuốn sách mỗi củ ddiemr ứng với một đơn vị học và được dạy trong ba tuần vá chỉ xuất hiện một lần.
Ở lớp 5 các chủ điểm học tập xoay quanh các vấn đề lớn đặt ra cho cả đất nước, dân tộc, và cả nhân loại như:
+ Yêu tổ quốc( Việt Nam –Tổ quốc em).
+ Bảo vệ hòa bình, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc(cánh chim hòa bình)
+ Sống hài hòa với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên( Con người với thiên nhiên).
+ Bảo vệ môi trường (giữ lấy màu xanh).
+ Chống bệnh tật,đói nghèo lạc hậu.(Vì hạnh phúc con người)
Trang 8+ Sống, làm việc, theo pháp luật, xây dựng xã hội văn minh (Người công dân).
+ Bảo vệ an ninh, trật tự xã hội(Vì cuộc sống thanh bình).
+ Giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc(Nhớ nguồn).
+ Thực hiện quyền bình đẳng nam nữ (nam và nữ).
+ Thực hiện quền trẻ em (những chủ nhân tương lai).
-Các kỹ năng về giao tiếp ở các lớp đòi hỏi nâng cao dần về mức độ, chẳng hạn từ yêu cầu đọc trơn nâng lên yêu cầu đọc thầm, rồi đọc lướt để nắm ý;từ yêu cầu giao tiếp thông thường nâng lên yêu cầu giao tiếp chính thức.
1.1.2.3 Quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh:
Tích cực hóa hoạt động của học sinh là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của chương trình Tiếng Việt 2000 Chương trình Tiếng Việt đổi mới lần này chú trọng đổi mới căn bản về phương pháp dạy
và học Nghĩa là, chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống(dạy học theo kiểu truyền thụ “thầy đọc”,”trò chép”) sang phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm(giáo viên không trực tiếp cung cấp tri thức cho học sinh theo kiểu nhồi nhét mà giáo viên là người tổ
chức, gợi mở Học sinh giữ vai trò chủ động, tích cực, tự giác học tập
để tự chiếm lĩnh tri thức cho bản thân.)tức là với phương pháp dạy học tích cực hóa hay dạy học lấy họ sinh làm trung tâm thì mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ khả năng của mình
và được phát triển.
Để dáp ứng yêu cầu của phương pháp dạy học tích cực hóa sách giáo khoa Tiếng Việt 5 không trình bày kiến thức như là những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động nhằm tự chiếm lĩnh tri thức và củng cố hoàn thiện các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
1.1.2 Cấu trúc của sách Tiếng Việt lớp 5:
Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm hai tập ứng với 10 đơn vị học tập, mỗi đươn vị học tập lại tương ứng với một chủ điểm và học trong
3 tuần( trừ chủ điểm Vì hạnh phúc con người học trong 4 tuần) giữa
và cuối học kỳ đều có dành một tuần để ôn tập và kiểm tra là
* Nội dung dạy học Tập đọc:
`Phân môn Tập đọc nhằm rèn cho học sinh các kỹ năng đọc,
nghe, nói thông qua hệ thống các bài đọc quanh chủ điểm và những
Trang 9câu hỏi tìm hiểu bài phân môn Tập đọc góp phần cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con người, cung cấp vốn
từ tăng cường khả năng diễn đạt trang bị một số kiến thức ban đầu về văn học(như đề tài, côt truyện, nhân vật,…)Góp phần to lớn vào việc rèn luyện nhân cách cho học sinh.
Các bài Tập đọc ở lớp 5 có số lượng từ nhiều hơn, việc luyện đọc chú ý nhiều hơn tới yêu cầu biểu cảm,câu hỏi tìm hiểu bài chúy ý khai thác nghệ thuật biểu hiện nhiều hơn.
Các văn bản mở đầu mỗi tuần thường là chuyện kể hay kịch, các văn bản giữa tuần thường là thơ, văn bản khoa học, văn miêu tả.
1.2.3.2 Phân môn Chính tả:
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 (hai tập) gồm
Nội dung dạy học phân môn Chính tả:
-Phân môn Chính tả nhằm rèn cho học sinh kỹ năng nghe, viết
và đọc Nhiệm vụ của học sinh là làm các bài tập Chính tả đoạn,
bài(nghe -viết hay nhớ -viết một đoạn hay một bài văn ngắn), Chính tả
âm, vần(rèn cách viết đúng các âm vần dễ lẫn d ảnh hưởng của phát
âm địa phương)và Chính tả viết hoa( rèn cách viết đúng các tên
riêng) Bên cạnh tác dụng rèn cho học sinh kỹ năng viết, nghe, đọc các bài tập Chính tả ở các lớp 4-5 không có hình thức Chính tả tập chép; các bài tập Chính tả âm, vần cũng đòi hỏi ở mức dộ cao hơn
Rèn cho học sinh kỹ năng viết Chính tả và kỹ năng nghe.
a Chính tả đoạn, bài
Nghe -viết, nhớ viết một doạn từ bài Tập đọchay các văn bản in khác
có nội dung phù hợp với chủ điểm học tập ở mỗi tuần với độ dài
+Phụ âm đầu: l/n; tr/ch; s/x; r/d/g.
+ vần: an/ang; ăn /ăng; ân/ âng; en/ eng; uôn/uông; ơn/ơng; iên /iêng;
ăt /ăc; ăt/ât ; uốt /uốc; uc /u; ơt /ơc; iết /iêc; ên /ênh; êt /ech; im/ iêm; iu/ iêu;vần chứa âm chính o/ô.
+ thanh : thanh hỏi /thanh ngx.
-Về hình thức các âm vần thanh dễ lẫn dược rèn luyện thong qua các bài tập sau:
+ Điền âm vần thanh vao chổ trống hoặc điền thanh trên cữ chưa
đánh dấu thanh trong câu, đoạnb hay bài văn.
+ Điền tiếng vào chổ trống trong câu đoạn hay bài văn.
1
Trang 10+ Chọn tiếng thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh đoạn văn hay bài văn.
+ Tìm tiếng có nghĩa trong bảng để kết hợp với phụ âm đầu -vần.
+ Đặt câu để phâ biệt các hình thức Chính tả dễ lẫn.
+ Giải câu đố để phân biệt các từ có hình thức Chính tả đễ lẫn.
+ Tìm từ phù hợp với hình thức Chính tả và nghĩa đã cho.
+Tìm những trường hợp chỉ có một hình thức Chính tả duy nhất.
+Phân biệt các chữ viết đúng Chính tả với các chữ viết sai Chính tả +Chữa lổi chính tả trong sách giáo khoa hay trong bài làm của mình Ghi vào sổ tay Chính tả các lỗi Chính tả thường mắc và cách sửa
…
Mở rộng vốn hiểu biết góp phần hình thành nhân cách con người -Thông qua nội dung các bài tập Chính tả, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống con người cho học sinh.
-Thông qua cách tổ chức thực hiện các bài tập Chính tả, bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết trong công Việt
như:cẩn thận, chính xác, có óc thẫm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm,…
1.2.3.2 Phân môn Luyện từ và câu:
Phân môn luyện từ và câu cung cấp cho học sinh những kiến thức giãn yếu về Tiếng Việt rèn cho học sing kỹ năng dùng từ,đặt câu (nói, viết), kỹ năng đọc cho học sinh chương trình lớp 5 có những tiết riêng trang bị kiến thức cho học sinh.
Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu:
a.Mở rộng và hệ thống hóa vồn từ:
từ ngữ được mở rộng và hệ thống hỏa trong phân môn luyện từ và câu lớp 5 bao gồm cá từ thuần Việt, Hán Việt, thành ngữ và tục ngữ phù hợp với từng chủ điểm học tập.
b Trang bị các kiến thức sơ giản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và văn bản; rèn luyện kỹ năng dung từ, đặt câu, lien kết câu và sử dụng dấu câu
* nội dung kiền thức cụ thể:
-Ngữ âm:
+Các bộ phận của vần(âm đệm, âm chính, âm cuối).
2
Trang 11+Cách đánh dấu thanh trên phần vần
+ Liên kết các câu trong bài bằng lặp từ ngữ.
+ Liên kết các câu trong bài bằng thay thế từ ngữ.
+ Liên kết câ trong bài bằng từ ngữ nối.
1.2.3.3 Phân môn tập làm văn:
-Trang bị kiến thức và rèn các kỹ năng làm văn.
-Góp phần cùng các môn khác mở rộng vốn sống,rèn luyên tư duy gic tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn cảm xúc thẫm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh.
lô-* Nội dung dạy học Tập làm văn:
A Trang bị kiến thức và rèn kĩ năng làm văn
a Cấu trúc chương trình tập làm văn:
Chương trình tập làm văn lớp 5 thiết kế như sau:
04 03 03 04
04 03 03 18
Trang 1203 03
02 03 02 03 03 03
+Nhận diện kiểu văn bản.
-Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+xác định dàn ý của bài văn cho sẵn
1.2.4 Cấu trúc bài học các phân môn:
1.2.4.1 Cấu trúc bài học phân môn Tập đọc:
-Phía trên góc bên trái là tên phân môn Tập đọc.
-Phía dưới tên phân môn Tập đọc là tên bài Tập đọc (trình bày kiểu canh giữa.
-Phía dưới tên bài là nội dung toàn văn bản Tập đọc.
Hết nội dung bài là tên tác giả, hay trích đoạn của tác giả,tác phẩm(ghi ở bên phải ngay sát phía sau nội dung văn bản Tập đọc) -Tranh minh họa thường trình bày ngay sau tên bài Tập đọc hay giữa bài tập đoc hay cuối bày.
-kí hiệu Phần ghi các từ ngữ được chú giải
-kí hiệu: các câu hỏi của phần tìm hiểu bài.
Dưới kí hiệu này là nội dung cụ thể các câu hỏi tìm hiểu bài.
1.2.4.2 Cấu trúc bài học phân môn Chính tả:
Cấu trúc bài Chính tả:Gồm hai phần sau;
:
Trang 13-Phần 1: Chính tả đoạn/ bài Đây là bài viết Chính tả có nội dung theo chủ điểm học của tuần Bài viết có thể là trích đoạn của bài Tập đọc
dã học cho phù hợp với mục tiêu của dạy học, hoặc có thể là một bài viết được trọn ở ngoài sách giáo khoa Tiếng Việt Yêu cầu về dung lượng bài viết và thời gian viết dành cho học sinh mỗi khối là khác nhau.
*Lớp 5 :Nghe -viết hoặc nhớ -viết bài Chính tả độ dài khoảng 100 chữ.yêu cầu về tốc độ là khoảng 6-7 chữ /phút.
-Phần 2:
Chính tả âm vần Phần này gồm các bài tập luyện các kỹ năng Chính
tả cho học sinh.Có hai nhóm bài tập chính âm vần:
+Nhóm bài tập bắt buột dành cho mọi đối tượng học sinh Đây là bài tập cung cấp kiến thức, kỹ năng Chính tả cho học sinh các vùng-miền khác nhau.
+Nhóm bài tập nhiều lựa trọn (để trong dấu ngoặc đơn) Đây là loại bài tập Chính tả phương ngữ Để thực hiện bài tập này, học sinh phải thực hiện các thao tác đối chiếu, so sánh, lựa chọn.Tùy đặc điểm phương ngữ của từng đối tượng học sinh, giáo viên lựa trọn bài tập Chính tả thích hợp cho học sinh luyện tập, thậm chí giáo viên có thể biên soạn thêm các bài tập lựa trọn cho học sinh của mình nếu nhận thấy các bài tập trong sách giáo khoa không thực sự phù hợp với đặc điểm phương ngữ của đối tượng học sinh lớp mình.
1.2.4.3 cấu trúc bài học phân môn Luyện từ và câu:
* Cấu trúc bài học của phân môn Luyện từ và câu có hai dang;
a Dạy lý thuyết:
-Đầu tiên là tên phân môn luyện từ và câu.
-Tên bài học cụ thể(ví dụ :”Từ đồng âm”, “Câu ghép”,…).
-Nhận xét là phần cung cấp nhữ liệu và nêu câu hỏi(bài tập)gởi ý hướng dẫn học sinh phân tích tìm tòi nhằm tìm ra kiến thức lý thuyết.
Để đảm bảo tính tích hợp, thường dung được rút ra từ các bài Tập đọc, Các từ ngữ mang tính điển cao và có số lượng hạn chế đảm bảo tính hiệu quả của việc phân tích tránh mất thời học tập.
Sau phần nhận xét là phần ghi nhớ.
Ghi nhớ là phần chốt lai những kiến thức chính yếu về kiến thức được rút ra từ việc phân tích ngữ liệu của phần nhận xét Học sinh cần nắm vững các kiến thức này để vận dụng vào làm các bài tập.
-Luyện tập là phần cũng cố những kiến thức đã học.
b Dạng bài dạy thực hành:
Các bài mở rộng hế thống hóa vốn từ, ôn tập, tổng kêt đều được thể hiện dưới hình thức bài tập thực hành Những bài tập thực hành chủ yếu là:
+Tìm từ ngữ theo nghĩa và hình thức cấu tạo đã cho.
+Xác định nghĩa của từ và các yếu tố cấu tạo từ.
+Đặt câu với từ ngữ đã cho.
+Lập bảng tổng kết kến thức đẫ học.
Trang 14+ Xác định tình huống sữ dụng tục ngữ, thành ngữ.
1.3 Nhận xét về chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
-Về chương trình;
-về sách giáo khoa:
2 Tìm hiểu phương pháp dạy học Tiếng Việt ở lớp 5/6
2.1 Những điểm mới về nội dung dạy học của phân môn:
2.2 Các biện pháp dạy học của phân môn:
2.2.1 Các biện pháp dạy học môn Tập đọc:
+ Đọc câu, đoạn:
Nhằm mục đích hướng đẫn gọi ý hoặc “tạo tình huống”, để học sinh nhận xét tìm ra cách đọc( có thể đọc vài lần trong quá trình dạy học).
Tổ chức cho học sinh luyện đọc cá nhân để chửa lỗi phát âm cho từng học sinh.
+ Giới hạn thời gian để tăng dần tốc độ đọc thầm cho học sinh sinh Cách thường vận dụng là từng bước rút ngắn thời gian đọc thầm cho học sinh, nâng dần về độ khó của nhiệm vụ( Chẳng hạn yêu cầu học sinh đọc lướt để tìm từ ngữ, hnhf ảnh nhất định trong một phút, hai phút,…đọc lướt để nắm nôi dung chính của đoạn bài trong 1 phút,
2 phút,…)
2 2.1.2 Hướng dẫn tìm hiểu bài:
a Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ ngữ mới:
-Trước tiên giáo viên cần giúp học sinh:
Trang 15+ Xác định từ ngữ mới trong bài cần tìm hiểu đó là:
Từ ngữ khó(được chú giải trong sách giáo khoa).
Từ ngữ phổ thông mà địa phương học sinh chưa quen.
Từ ngữ đóng vai trò quan trọng để tìm hiểu nộ dung bài
* Biện pháp giúp học sinh tìm hiểu nghĩa của từ ngữ mới:
+ Đọc phần giải nghĩa( phần chú giải trong sách giáo khoa).
+ Sử dụng các đồ dùng dạy học (tranh ảnh vật thật, mô hình,…) để minh họa cho từ ngữ được giải nghĩa(khi giảng nghĩa từ dựa trên đồ dùng cầm chỉ cụ thể trên đồ dùng đó.
+ Miêu tả sự vật, đặc điểm biểu thijowr từ ngữ cần được giải nghĩa( có thể kết hợp với các động tac, cử chỉ, điệu bộ).
+ Thông qua các bài tạp nhỏ( tìm từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa,…) với
từ ngữ cần giải nghĩa.
*Điểm cần chú ý khi giải nghĩa từ là cần giới hạn phạm vi nghĩa của bài Tập đọc, tránh mở rộng ra quá nhiều nghĩa chưa cần thiết ở học sinh tiểu học, tránh giải nghĩa quá nhiều từ ngữ, hay sữ dụng các bịên pháp cồng kềnh làm cho giờ Tập đọc thiên về yêu cầu học từ ngữ.
B Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài:
-Giáo viên căn cứ vào câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài (có thể sữ dụng thêm những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để học sinh dễ trả lời) Tránh việc đặtu thêm những câu hỏi khai thác những nội dung vượt quá yêu cầu bài hocvaf không phù hợp với học sinh.
-Giáo viên nêu câu hỏi định hướng choi học sinh đọc thầm và trả lời đúng nội dung( đôi khi có thể kết hộp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác đọc thầm sau đó trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra).
-trong việc tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài giáo viên cần dùng nhiều hình thức tổ chức khác nhau( thảo luận, trả lời cá nhân,…) để học sinh luyện tập một cách tích cực nhất Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, giáo viên cần kết hợp rèn luyện cho học sinh cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý trả lời bằng các câu văn ngắn gọn,
rõ ràng Sau mỗ câu trả lời của học sinh giáo viên phải tổ chức cho lớp nhận, xét bổ xung giáo viên là người đánh giá, chốt lại ý đúng sau cùng
và ghi bảng ý chính( nếu cần).
nói, đọc, viết)để học tập và hoạt động phù hơp với đặc điểm tâm sinh
lý lứa tuổi.
2.2.2 Các biện pháp dạy học phân môn Chính tả
a Hướng dẫn học sinh chuẩn bị và viết Chính tả;
-Các hoạt động mà giáo viên thường làm ở khâu này là:
+ Đọc toàn bài cho học sinh nghe một lượt trước khi viết Khi đọc giáo viên phải chú ý phát âm rõ ràng, tốc độ phù hợp tạo điều kiện cho học sinh chú ý các hiện tượng chính tả cần viết đúng.
Trang 16+ đọc cho học sinh nghe viết theo từng câu ngắn hay cụm từ mỗi câu hay cụm từ đọc 2-3 lần Khi đọc cần chú ý đọc lượt đầu chậm raqix cho học sinh nghe, đọc lại 1-2 lần cho học sinh viết theo tốc độ quy định với từng khối lớp
+ Đọc toàn bài lần cuối cho học sinh soát lỗi
Trong khi học sinh viết chính tả giáo viên theo dõi và nhắc học sinh ý thức trình bày bài viết chính tả đúng đẹp.
b Tố chức chấm và chữ bài chính tả:
-Mỗi giờ chính tả giáo viên nên chọn ra một số bài của học sinh
để chấm(thường là chấm ngay tại lớp) nên chọn 5 bài trở lên Đối
tượng được chọn chấm mỗi giờ là:
+ Những học sinh đến lược chám bài.
+ Những học sinh thường mắc lổi khi viết chính tả.
*Sau khi học sinh viết chính tả xong giáo viên có thẻ áp dụng các biện pháp sau đây để học sinh soát lổi chính tả:
-Giáo viên viết toàn bộ bài chính tả lên bảng để học sinh tự soát lổi hay đổi cho học sinh đỏi chéo vở để soát lổi cho nhau.
-Giáo viên đọc từng câu và chỉ dẫn hững chữ viết sai để học sinh soát lỏi chính tả.
*Qua chấm bài giáo viên phải nên ra những kết luận và nêu hướng khắc phục lỗi chính tả cho cả lớp.
c Hướng dẫn học sinh làm bài tập Chính tả âm vần:
-Giúp học nắm vững yêu cầu của bài tập ( bằng câu hỏi, lời giải thích ngắn gọn)b theo các bước sau :
+ Cho học sinh đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu bài tập.
+ Sau khi học sinh trình bày xong về yêu cầu bài tập giáo viên cần giải thích thêm cho học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập.
+Tổ chức cho học sinh thực hiện mẫu một phần bài tập(nếu là bài tập phức tập).
-Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập
+ Tùy từng bài tập cụ thể mà giáo viên cho học sinh thực hiện bài tập theo các hình thức khác nhau( cá nhân, cặp, nhóm,…
+Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bài tập theo nhiều hình thức tùy theo cách tổ chức cho học sinh làm bài tập.
+ Trong quả trình học làm bài tập giáo viên càn trao đổi với học sinh hay tổ chức cho các em trao đổi góp ý cho nhau, giáo viên là người sơ kết tổng hợp lại những ý kiến đó.
2.2.3 Các biện pháp dạy học phân môn Luyện từ và câu:
a Cung cấp các kiến thức mới:
-Giáo viên cho học sinh làm các bài tập của phần nhận xét theo các hình thức:
+ Cho học sinh thảo luận chung cả lớp.
+ Cho học sinh trao đổi trong nhóm, cặp, tổ, bàn.
+ Cho học sinh tự làm bài cá nhân.