1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Môn thi phá sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản

17 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản
Trường học Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Phá sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
Thể loại Bài thi kết thúc học phần
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 728,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn thi Phá sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Họ và tên sinh viên Vũ Thị Phương Thảo MSSV 030734180095 Lớp học phần LAW3[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

Môn thi: Phá sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh

Họ và tên sinh viên: Vũ Thị Phương Thảo

MSSV: 030734180095 Lớp học phần: LAW324_202_D01

THÔNG TIN BÀI THI

Bài thi có: (bằng số): 16 trang

(bằng chữ): Mười sáu trang

YÊU CẦU

Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản

BÀI LÀM

A Phần mở đầu

I Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, không khó để nhận thấy trên thị trường ngày càng nhiều các dự án khởi nghiệp kinh doanh mà chúng ta thường hay gọi là các “Start-up” Những doanh nghiệp này thường tập trung các bạn trẻ có năng lực, đam mê và

có nền tảng kiến thức vững vàng nhưng thiếu hụt kinh phí để duy trì cũng như phát triển cho dự án, do đó cần thu hút một lượng lớn vốn đến từ các nhà đầu tư bên ngoài thông qua hình thức gọi vốn Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp trụ vững trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt của nền kinh tế liên tục đào thải và có sức cạnh tranh cao hiện nay không nhiều Khi các dự án khởi nghiệp kinh doanh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán thì nghĩa vụ với các chủ nợ sẽ phát sinh trong khi tài sản của doanh nghiệp gần như không đủ và mặc dù đã lường trước rủi ro khi quyết định thực hiện đầu tư nhưng liệu quyền lợi của các chủ nợ có được đảm bảo? Điều này không chỉ xảy ra với các doanh nghiệp mới mà trong nhiều trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô lớn, có sự tín nhiệm cao vẫn đột ngột nộp đơn xin phá sản khiến thị

Trang 2

trường gặp nhiều biến động mà ở đó chủ nợ vẫn là người hứng chịu nhiều rủi ro hơn

cả

Để giải quyết vấn đề đó, Luật Phá sản năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015 thay thế cho Luật Phá sản năm 2004

đã có những quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về thủ tục phá sản nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ cũng như doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu những quy định mới đó có đủ để giảm thiểu mức rủi ro cho các chủ nợ xuống thấp nhất và đảm bảo cho chủ nợ thực hiện đầy đủ các quyền của mình trong khi tham gia vào thủ tục đặc biệt này Vì vậy, việc phân tích, đánh giá

và đưa ra ý kiến đóng góp nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của chủ nợ là cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang rơi vào tình trạng khủng hoảng do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Đó cũng chính là lý do tôi chọn chủ đề

“Bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ trong thủ tục phá sản”

B Phần nội dung

1 Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản 1.1 Quy định của pháp luật về chủ nợ và các vấn đề liên quan

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì “Chủ nợ là cá nhân,

cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm.” Mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là các doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ phát sinh khi con nợ có đủ các điều kiện để được xem là mất khả năng thanh toán Thứ nhất đó là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và thứ hai là việc thực hiện thanh toán nợ không được thực hiện trong khoảng 03 tháng kể từ ngày hết hạn thanh toán nợ Cụ thể hơn là doanh nghiệp, hợp tác xã khi đến hạn trả các khoản

nợ nhưng không thanh toán trong vòng 03 tháng thì kể từ ngày đầu của tháng thứ 04

mà vẫn tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ thì được xem là mất khả năng thanh toán Thời điểm trên cũng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác đối với con nợ, từ đó khởi động quá trình đòi nợ tập thể con nợ, tiến trình đó là một thủ tục

tố tụng tư pháp đặc biệt – thủ tục tố tụng phá sản với sự tham gia của nhiều chủ thể

mà ở đó vai trò của chủ nợ là đặc biệt quan trọng

Trang 3

1.1.1 Phân loại chủ nợ

Mặc dù một trong những đặc điểm của thủ tục tố tụng đặc biệt này là việc đòi nợ được giải quyết tập thể, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì tất

cả các chủ nợ đều được xem là bình đẳng như nhau Tuy nhiên, quyền lợi của các chủ

nợ này lại được quy định khác nhau theo Luật Phá sản 2014 Do đó, việc phân loại chủ nợ theo các tiêu chí khác nhau nhằm xác định rõ quyền lợi mà các chủ nợ được pháp luật bảo vệ bao gồm những gì

Căn cứ vào tài sản bảo đảm

- Chủ nợ có bảo đảm (Khoản 5 Điều 4 Luật Phá sản 2014) “là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.”

- Chủ nợ có bảo đảm một phần (Khoản 6 Điều 4 Luật Phá sản 2014) là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó

- Chủ nợ không có bảo đảm (Khoản 4 Điều 4 Luật Phá sản 2014) “là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác

xã hoặc của người thứ ba.”

Có thể dễ dàng nhận thấy trong ba chủ thể nêu trên, chủ nợ có bảo đảm là chủ thể

có mức rủi ro bằng không bởi toàn bộ khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán thì tài sản dùng để đảm bảo khoản nợ

đó thuộc về chủ nợ có bảo đảm toàn bộ mà không cần sử dụng biện pháp nào để đòi nợ như hai loại chủ nợ còn lại Do đó, trong Luật Phá sản năm 2014 có ưu tiên quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014

Trang 4

Căn cứ vào chủ thể cho doanh nghiệp vay

- Chủ nợ là Ngân hàng thương mại

Có thể thấy, kênh huy động vốn hiệu quả nhất đối với các doanh nghiệp, hợp tác

xã khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh là thông qua hợp đồng vay tín dụng với các ngân hàng thương mại Với phương thức vay vốn này, doanh nghiệp hay hợp tác xã có thể huy động được một nguồn vốn lớn trong thời gian ngắn cũng như lãi suất vay hợp lý mặc dù phải trải qua khâu kiểm tra hồ sơ năng lực khá gắt gao Vì vậy, theo nhận định của chuyên gia thì “Ước tính 80% lượng vốn cung ứng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ là từ kênh tín dụng ngân hàng.”1 Tuy nhiên, nợ xấu lại là một vấn đề nan giải, nhất là trong thời điểm đại dịch bùng phát mạnh hiện nay tỉ lệ nợ xấu có xu hướng tăng Do đó, chủ nợ là ngân hàng thương mại cũng là một chủ thể cần được bảo vệ trong pháp luật phá sản

- Chủ nợ là nhà nước

Nhà nước luôn tạo điều kiện để các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động và phát triển thông qua các chính sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách cho doanh nghiệp vay vốn,…đồng thời các doanh nghiệp, hợp tác xã cũng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đối với nhà nước Nhưng trong môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, mức độ đào thải khắc nghiệt dẫn đến việc doanh nghiệp, hợp tác xã yếu kém kiệt quệ, từ đó không đủ khả năng chi trả các khoản

nợ, trong đó có gánh nặng về nợ thuế, tiếp sau đó là khoản nợ tiền điện, tiền nước phát sinh,…Nhà nước lúc này trở thành chủ nợ của các khoản nợ đặc biệt trên

- Chủ nợ là người lao động

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã làm ăn thua lỗ dẫn đến việc ngưng hoạt động thì người lao động là chủ thể chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sau đó tất cả người lao động không thể tìm cho mình ngay những công việc mới với mức thu nhập ổn định như trước đây dẫn đến đời sống, tinh thần, sức khỏe bị giảm sút Doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán lương đúng hạn trong thời gian dài, không thực hiện nghĩa

vụ đóng bảo hiểm xã hội vừa gây ảnh hưởng đến người lao động, vừa gây ảnh

1 Thu Hà (2020), Thêm lựa chọn quan trọng về vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, 31/01/2020

Trang 5

hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và các vấn đề an sinh – xã hội Lúc này

“người lao động được xem là chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt.”2

1.2 Chủ nợ là chủ thể đặc biệt cần được pháp luật phá sản bảo vệ

Như đã đề cập trong phần mở đầu, khi các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro đề đưa vốn vào thị trường kinh doanh, họ luôn mong muốn được sự bảo vệ tối đa từ pháp luật nhằm đảm bảo cho rủi ro xảy ra luôn ở mức thấp nhất Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán thì tài sản của các chủ nợ cũng rơi vào trạng thái “vô định”, hoặc chủ nợ sẽ được con nợ thanh toán bằng tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã; hoặc chủ nợ sẽ mất trắng nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời Lúc này, pháp luật là công cụ hiệu quả để giải quyết mối lo với các chủ nợ, thể hiện rõ vai trò bảo vệ chủ nợ như quy định cho phép chủ nợ có quyền nộp đơn, khiếu nại quyết định thi hành án phá sản, tham gia hội nghị chủ nợ (Quy định cụ thể tại Điều 5, Điều 18 Luật Phá sản 2014) Theo thủ tục thông thường, Tòa án sẽ chỉ giải quyết cho cá nhân nào có yêu cầu con nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nghĩa là ai đòi nợ thì xem xét giải quyết cho cá nhân người đó, việc giải quyết này độc lập không liên quan đến các chủ nợ khác, tuy nhiên đối với thủ tục phá sản thì đây lại là một thủ tục đòi nợ tập thể Tại đây pháp luật phá sản góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ bởi lẽ nhà làm luật đã phải dự tính đến trường hợp một hoặc nhiều chủ nợ không biết đến thông tin doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, nếu xét theo thủ tục thông thường thì họ sẽ là người bị thiệt hại Do đó pháp luật đảm bảo rằng các chủ nợ đều có cơ hội được thanh toán một khoản tiền nhất định Ngoài ra, quyền lợi của chủ nợ được đảm bảo một cách chặt chẽ hơn thông qua việc tài sản của con nợ sẽ được sử dụng toàn bộ để trả cho chủ nợ; cho phép chủ

nợ kiểm soát tình hình tài chính của con nợ để hạn chế rủi ro thiệt hại,…

“Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ được con nợ chính là bảo vệ chủ nợ.”3 Không phải tất cả mọi trường hợp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đều cho kết quả tuyên bố phá sản mà còn các trường hợp sau khi mở thủ tục phá sản, nhà nước

2 Nguyễn Thị Vân Quỳnh (2018, tr.25), Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội

3 Nguyễn Thị Vân Quỳnh (2018, tr.18), Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội

Trang 6

tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, hợp tác xã này có những biện pháp phục hồi kinh doanh nhằm đưa doanh nghiệp có cơ may thoát khỏi phá sản, nếu các biện pháp đề

ra được chủ nợ chấp nhận và thực hiện một cách khả quan Khi chủ nợ cảm thấy quyền và lợi ích của mình được đảm bảo thực hiện thông qua pháp luật thì phải chăng

họ sẽ dễ dàng chấp nhận các “thương vụ” đầu tư với các yêu cầu “dễ thở” hơn cho doanh nghiệp Do vậy, bảo vệ lợi ích của chủ nợ trong thủ tục phá sản là thật sự cần thiết

2 Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong thủ tục phá sản

2.1 Trong quá trình nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đây là bước đầu tiên trong quá trình tiến hành tố tụng phá sản cho phép chủ nợ quyền tự bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là căn cứ để Tòa án quyết định có mở thủ tục phá sản hay không đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản

2014 “Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn

mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Như đã đề cập ở trên, chủ nợ có bảo đảm là chủ thể có lợi lớn nhất kể cả khi doanh nghiệp, hợp tác xã không lâm vào trạng thái mất khả năng thanh vì toàn bộ khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã được bảo đảm bằng tài sản có giá trị tương đương Do vậy, Luật phá sản

2014 ưu tiên quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho hai loại chủ nợ là chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần bởi hai chủ thể này chịu rủi ro nhiều hơn so với loại chủ nợ còn lại Nếu quy định chủ nợ bảo đảm toàn bộ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đây là quy định không cần thiết trong luật do lợi ích của họ đã đương nhiên được đảm bảo bằng chính tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó Ngoài ra, khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ngoài các nội dung chủ yếu cần có quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Phá sản 2014 thì chủ nợ

có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ để chứng minh khoản nợ đến hạn “Luật Phá sản

2014 đã loại bỏ những quy định về nghĩa vụ của chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là điểm khác so với Ðiều 7 Luật Phá sản doanh

Trang 7

nghiệp 1993 và khoản 3 Ðiều 10 Nghị định 189/CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp 1993.”4 Việc chứng minh một doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là điều vô cùng khó khăn bởi việc thu thập các báo cáo tài chính hay hồ sơ sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã tiêu tốn nhiều công sức và thời gian cho chủ nợ Thậm chí phải kể đến trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có ý định trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, từ chối cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan cho các chủ nợ Do vậy, điểm mới trên của Luật Phá sản 2014 đã giúp chủ nợ có thể dễ dàng và thuận tiện hơn trong việc tự bảo vệ lợi ích của mình thông qua thủ tục đầu tiên là nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tiếp đến theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Phá sản 2014 thì “Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn

03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.” Thực tế, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng người lao động nghỉ việc tập thể, nguồn thu nhập để duy trì cuộc sống không còn được đảm bảo, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tính thần Do đó, pháp luật phá sản góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động bằng việc trao quyền cho

cá nhân NLĐ được trực tiếp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà không cần hông qua công đoàn cơ sở hay tổ chức đại diện người lao động tại nơi làm việc Một bộ phận người lao động khi rơi vào tình trạng bị doanh nghiệp, hợp tác xã nợ lương không có hiểu biết nhiều về pháp luật phá sản, chỉ biết trông chờ vào công đoàn, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở làm việc xử lý Tuy nhiên việc giải quyết thông qua trung gian gặp nhiều bất cập như thời gian xử lý kéo dài, việc cung cấp các giấy

tờ xác minh liên quan rườm rà nên một số người lao động chấp nhận thiệt hại cho bản thân mà không có bất kì biện pháp nào buộc doanh nghiệp phải thanh toán các khoản

nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội,…Do vậy, cần phổ biến pháp luật về vấn đề trên một cách rộng rãi nhằm khuyến khích người lao động tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình

4 Nguyễn Thị Vân Quỳnh (2018), Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay (tr.30), Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội

Trang 8

2.2 Trong quá trình mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 thì “Doanh nghiệp, hợp tác

xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ

thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.” Để ra quyết định có mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì Tòa án trước tiên phải xác định rõ các điều kiện: doanh nghiệp, hợp tác xã có khoản nợ đến hạn thanh toán (nếu chưa đến hạn thì chưa coi là mất khả năng thanh toán) và doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong 03 tháng kể từ ngày hết hạn thanh toán nợ thì được xem là mất khả năng thanh toán

So sánh với Luật Phá sản 2004 quy định “Phá sản” là hiện tượng doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản khi có các điều kiện: Có các khoản nợ đến hạn; Chủ nợ đã yêu cầu thanh toán nợ; Doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ không có khả năng thanh toán Quy định mới của Luật Phá sản 2014 với cụm từ “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ” thay thế cho cụm từ “không có khả năng thanh toán” trong Luật Phá sản 2004 đã thể hiện tính quyết liệt hơn về quy chế quản lý của nhà nước trong vấn đề này Theo đó, nhà nước không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán (nhà nước không quan tâm đến khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp, hợp tác xã) Ngoài ra, việc bỏ từ “các” trong cụm từ “các khoản nợ” có nghĩa rằng nhà nước không quan tâm đến số lượng nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã nhiều hay ít mà chỉ cần có một khoản nợ cũng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa con nợ và chủ nợ Việc bỏ quy định cho rằng nếu khoản nợ đến hạn nhưng chủ nợ chưa có hành

vi “đòi nợ” thì doanh nghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản và chủ nợ cũng không được nộp đơn lên Tòa án đã góp phần bảo vệ quyền lợi của chủ nợ khi chủ nợ có quyền nộp đơn yêu càu mở thủ tục phá sản ngay khi hết thời hạn 03 tháng

mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán nợ

Ngay khi xác định đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ thì Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản theo quy định tại Điều 32 Luật Phá sản 2014, quyết định này

mở ra thủ tục tư pháp đặc biệt mà quyền và lợi ích của chủ nợ được bảo vệ thông qua việc gửi giấy đòi nợ cho các Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Trang 9

theo quy định tại Điều 66 Luật Phá sản 2014 nhằm đảm bảo tất cả chủ nợ đều có quyền bình đẳng được đảm bảo lợi ích đó là được thanh toán các khoản nợ của mình

“Theo kết quả tổng hợp báo cáo của các Tòa án nhân dân thì, từ khi Luật Phá sản

2014 có hiệu lực thi hành đến ngày 31/3/2020, bên cạnh việc tiếp tục giải quyết 229

vụ việc đã thụ lý từ những năm trước, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý mới 587 vụ việc phá sản Trong đó, Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 287 vụ việc, ra quyết định không mở thủ tục phá sản 97 vụ việc, ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản 139 vụ việc, ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 67 vụ việc, áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh 6 vụ việc) Như vậy, so với 9 năm thi hành Luật Phá sản 2004 (từ 2004-2013: Tòa án các cấp chỉ thụ lý 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, ra 236 Quyết định mở thủ tục phá sản, trong đó ra 83 Quyết định tuyên bố phá sản).”5 từ số liệu thống kê trên cho thấy các quy định mới đã góp phần giải quyết một phần tình trạng tồn đọng trong việc thụ lý đơn yêu cầu phá sản và “giải phóng” cho các doanh nghiệp, hợp tác xã yếu kém phá sản, thanh lọc nền kinh tế thị trường

2.3 Trong quá trình tiến hành hội nghị chủ nợ và phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Hội nghị chủ nợ được xem là một tiến trình quan trọng trong thủ tục phá sản nhằm giải quyết các vấn đề giữa con nợ và chủ nợ Ở đó, các chủ nợ được nêu lên ý kiến riêng từ đó thống nhất các quan điểm thông qua các nghị quyết và đi đến quyết định về vấn đề tài sản của mình cũng như có hay không nên cho con nợ một “con đường sống”

2.3.1 Quyền tham gia vào hội nghị chủ nợ

Theo quy định tại Điều 77 Luật Phá sản 2014 thì những người sau đây có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ:

“1 Chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ Chủ nợ có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ và người được ủy quyền có quyền, nghĩa

vụ như chủ nợ;

5 Thái Vũ – Cảnh Dinh (2020), Hội thảo Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014

Trang 10

2 Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền; trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ;

3 Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; trường hợp này người bảo lãnh trở thành chủ nợ không có bảo đảm.” Ngoài ra theo quy định tại khoản 1 Điều 78 thì “Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 5 của Luật này, chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ.”

Pháp luật phá sản ưu tiên quyền tự bảo vệ của các chủ nợ thông qua quy định tại hai điều khoản trên giúp chủ nợ thể hiện tiếng nói của mình thông qua Hội nghị vì rằng khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì người chịu thiệt hại hơn cả vẫn là các chủ nợ Khi chủ nợ trình bày quan điểm của mình thì tất yếu sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn trong việc xem xét giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã

2.3.2 Quyền của chủ nợ trong việc tổ chức Hội nghị chủ nợ

Pháp luật đảm bảo cho quyền và lợi ích của các chủ nợ là bình đẳng như sau nhưng vẫn có sự khác biệt về quyền lợi và vai trò của mỗi loại chủ nợ trong Hội nghị chủ nợ được thể hiện thông qua quy định tại Điều 79 Luật Phá sản 2014, cụ thể điều kiện hợp lệ cho hội nghị chủ nợ bao gồm:

“1 Có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm Chủ nợ không tham gia Hội nghị chủ nợ nhưng có ý kiến bằng văn bản gửi cho Thẩm phán trước ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ, trong đó ghi rõ ý kiến về những nội dung quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật này thì được coi như chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ

2 Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được phân công giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải tham gia Hội nghị chủ nợ.”

Ngày đăng: 18/11/2022, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Nguyễn Thị Vân Quỳnh (2018), Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Quỳnh
Năm: 2018
[4] Thu Hà ( 2020), Thêm lựa chọn quan trọng về vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, 31/01/2020, từ https://vietnamfinance.vn/them-lua-chon-quan-trong-ve-von-cho-doanh-nghiep-vua-va-nho-20180504224234043.htm. [Ngày truy cập:07/7/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm lựa chọn quan trọng về vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
[5] ThS. Trần Anh Tú – Nguyễn Văn Giang, Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản, từ < https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/117/194>; [Ngày truy cập: 07/7/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản
[6] Thái Vũ – Cảnh Dinh (2020), Hội thảo Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014, 04/12/2020, từ < https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/hoi-thao-tong-ket-thuc-tien-thi-hanh-luat-pha-san-nam-2014>; [Ngày truy cập: 08/7/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014
Tác giả: Thái Vũ – Cảnh Dinh
Năm: 2020
[7] Bộ Công thương Việt Nam (2021), Thấy gì từ 70.209 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, 05/7/2021, từ < https://moit.gov.vn/tin-tuc/bo-cong-thuong-voi-doanh-nghiep/thay-gi-tu-70.209-doanh-nghiep-rut-lui-khoi-thi-truong.html>;[Ngày truy cập: 10/7/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thấy gì từ 70.209 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường
Tác giả: Bộ Công thương Việt Nam
Nhà XB: Bộ Công thương Việt Nam
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w