Trong buổi làm việc này thanh tra Sở VHTT&DL kết luận bà Tuyết không bổ sung được các giấy tờ cần thiết để chứng minh mình không vi phạm, đồng thời Bà Tuyết cũng đã thừa nhận hành vi vi
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Mã số hồ sơ: 12 Diễn lần: 02 Ngày diễn: 14/09/2022 Giáo viên hướng dẫn: Chu Kim Long
Họ và tên: Nguyễn Phương Quỳnh Sinh ngày 18 tháng 02 năm 1999 SBD 829 Lớp 24.1K
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 09 năm 2022
Trang 2I TÓM TẮT VỤ ÁN
1 Nội dung vụ án
- Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh Hoàng Lan của bà Nguyễn Thị Tuyết (1982), kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan tại số 241 đường Lê Lai, thành phố P tỉnh G.L Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục) Phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không
có giấy đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi Vào thời điểm kiểm tra tại phòng
số 11 chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với lý do bà Tuyết chủ
cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm, đoàn
kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013
- Ngày 29/12/2013, bà Tuyết có bản tường trình gửi Sở VHTT&DL trình bày rằng
do vừa mới kinh doanh nên có các sai sót như trong đợt kiểm tra ngày 23/12/2014, vì vậy mong Thanh tra sở bỏ qua và cam kết không tái phạm
- Ngày 16/01/2014, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L gửi Giám
đốc Sở tờ trình số 02/TT-TTr về việc gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đến hết ngày 11/3/2014 với lý do trường hợp vi phạm này phức tạp cần có thêm thời gian để xác minh
- Ngày 12/02/2014 và ngày 09/03/2014, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch có buổi làm việc với bà Nguyễn Thị Tuyết Trong buổi làm việc này thanh tra Sở VHTT&DL kết luận bà Tuyết không bổ sung được các giấy tờ cần thiết để chứng minh mình không vi phạm, đồng thời Bà Tuyết cũng đã thừa nhận hành vi vi phạm của cơ sở nên bà xin nộp phạt với khung thấp nhất
- Ngày 10/03/2014 Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ra
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC xử phạt bà Nguyễn Thị Tuyết theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ với mức phạt tiền là 15.000.000 đồng
- Ngày 10/03/2014, sau khi phát hiện quyết định số 23/QĐ-XPHC có một số sai
sót Thanh tra sở đã có Công văn số 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014 đính chính lại Quyết định số 23/QĐ-XPHC
Trang 3- Ngày 24/03/2014 bà Nguyễn Thị Tuyết gửi Đơn khiếu nại đến Chánh thanh tra
sở, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ công an tỉnh G.L theo đó không đồng ý với mức phạt trong quyết định
- Ngày 07/4/2014, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Công văn số
167/CV-VHTDL trả lời đơn khiếu nại ngày 24/3/2014 của bà Nguyễn Thị Tuyết
- Ngày 11/4/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết tiếp tục có Đơn khiếu nại của gửi Chủ
tịch tỉnh G.L, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L, Giám đốc công an tỉnh G.L
- Ngày 20/4/2014, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số
01/QĐ-TTr về việc giải quyết khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính của bà Tuyết ngày 24/3/2014, theo đó giữ nguyên quyết định số 23/QĐ-XPHC
- Ngày 02/5/2014, bà Tuyết có Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC
- Ngày 13/5/2014, Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án
hành chính sơ thẩm số 01/2014/TL-HCST
- Ngày 05/9/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết có Đơn kiến nghị gửi Chánh thanh tra sở
đề nghị thay đổi một phần Quyết định số 23/QĐ-XPHC
- Ngày 10/9/2014, Tòa án Nhân dân tỉnh G.L ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
04/2014/QĐST-XX
2 Các vấn đề tố tụng
- Làm sáng tỏ các sự việc tại Hồ sơ vụ án
- Chứng minh quyết định xử phạt bà Tuyết số 23/QĐ-XPHC là không có căn
cứ và trái quy định pháp luật:
➢ Chứng minh thẩm quyền ban hành, trình tự thủ tục, hình thức và nội dung của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC là trái pháp luật
➢ Chứng minh bà Tuyết không có hành vi vi phạm ghi nhận tại Biên bản xử lý vi phạm số 11/BB-VPHC, cụ thể: tạo điều kiện mua bán mại dâm tại cở sở kinh doanh nhà nghỉ Hoàng Lan
3 Tư cách đương sự
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết (1982)
Trang 4(Theo Khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015)
- Địa chỉ: 241 Lê Lai, tổ 9 phường Đông Lân, TP P, tỉnh GL
- Người đại diện là Ông Mai Anh Tuấn theo Giấy ủy quyền ngày 19/5/2014 được công chứng tại Phòng công chứng số 1 tỉnh G.L
- Người bị kiện: Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
(Theo Khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015)
- Người đại diện là Ông Dương Văn Thành - Phó Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L theo Giấy ủy quyền ngày 17/6/2014
- Người làm chứng: ông Nguyễn Văn Thường, bà Nguyễn Thị Lành; ông Phan
Văn và bà Nguyễn Thị Thùy
4 Điều kiện khởi kiện
Hủy bỏ toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Theo điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015)
5 Thời hiệu khởi kiện
- Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật TTHC thời hiệu xử lý vi phạm
hành chính này là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại
- Căn cứ hồ sơ vụ án, Bà Tuyết đã khiếu nại vào ngày 24/03/2014, ngày 20/04/2014, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã ra quyết định giải quyết khiếu nại Ngày 02/05/2014, Bà Tuyết làm đơn khởi kiện Quyết định
xử phạt hành chính này Do đó, việc Bà Tuyết nộp đơn còn trong thời hiệu khởi kiện
6 Thẩm quyền
- Thẩm quyền theo vụ việc: Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Theo Khoản 1 Điều 30 Luật TTHC 2015)
- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Do đối tượng khởi kiện là Quyết định hành chính của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L nên thẩm quyền xét xử sơ
Trang 5thẩm trong vụ án này thuộc Tòa hành chính - TAND tỉnh G.L (Theo Khoản 3 Điều 32 Luật TTHC 2015)
II VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
- Luật Tố tụng hành chính 2015;
- Luật Khiếu nại 2011;
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;
- Luật đất đai 2013;
- Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức
và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính
- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại
- Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 07 năm 2013 quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính
- Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2020 thay thế nghị định
102/2014/NĐ-CP của chính phủ
- Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17/3/2003
- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng
và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
- Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm
- Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội
- Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 quy định điều kiện về an ninh, trật
tự đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện do Bộ Công an ban hành
III CÁC CHỨNG CỨ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
1 Đơn khởi kiện ngày 02 tháng 05 năm 2014 của bà Nguyễn Thị Tuyết;
2 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Thanh tra sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L;
3 Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013;
Trang 64 Công văn số 02/2014/CV – TTr ngày 18 tháng 03 năm 2014 của Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L đính chính lại hình thức quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch số 23/QĐ – XP ngày 10 tháng 03 năm 2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L;
5 Đơn khiếu nại về việc xử phạt hành chính ngày 24 tháng 03 năm 2014 của bà Nguyễn Thị Tuyết gửi đến Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L;
6 Thông báo về việc thụ lý giải quyết khiếu nại số 01/TB – TTr của Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L ngày 27 tháng 03 năm 2014;
7 Biên bản về việc gặp gỡ đối thoại số 01/B – TTr ngày 27 tháng 03 năm 2014 giữa Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L và bà Nguyễn Thị Tuyết;
8 Công văn số 167/CV – VHTTDL ngày 07 tháng 04 năm 2014 của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L về việc trả lời khiếu nại của bà Nguyễn Thị Tuyết;
9 Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014;
10 Bản cam kết các quy định, điều kiện về an ninh, trật tự để là ngành nghề kinh doanh có điều kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết chủ cơ sở nhà trọ bình dân Hoàng Lan ngày 13 tháng 11 năm 2012;
11 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể số 39A8005684, đăng
ký lần đầu ngày 19 tháng 11 năm 2012 cấp cho đại diện hộ kinh doanh bà Nguyễn Thị Tuyết của Phòng Tài chính – Kế hoạch, Ủy ban nhân dân Thành phố P, tỉnh G.L;
12 Biên bản làm việc với đương sự vi phạm hành chính số 11/BB-LV ngày 09/3/2014;
13 Công văn số 166/PA25 ngày 20 tháng 04 năm 2014 của Công an tỉnh G.L về việc trả lời đơn thư khiếu nại của bà Nguyễn Thị Tuyết;
14 Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm số 03/2014/TB – TƯAP ngày 08 tháng 05 năm 2014 của Tòa án nhân dân tỉnh G.L;
15 Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ngày 11 tháng 05 năm 2014;
16 Giấy ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết ủy quyền cho ông Mai Anh Tuấn đại diện bà Tuyết tham gia tố tụng ngày 19 tháng 05 năm 2014 có xác nhận của Công chứng viên;
17 Giấy ủy quyền của Phó Giám đốc kiêm Chánh Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L ủy quyền cho ông Dương Văn Thành, chức vụ Phó Chánh Thanh tra
Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L ngày 17 tháng 06 năm 2014;
Trang 718 Bản tường trình của bà Nguyễn Thị Tuyết ngày 29/12/2013;
19 Bản tường trình của bà Nguyễn Thị Tuyết ngày 12/02/2014;
20 Bản tường trình của ông Nguyễn Văn Thường ngày 23/12/2013;
21 Bản tường trình của ông Phan Văn;
22 Bản tường trình của bà Nguyễn Thị Thùy;
23 Biên bản lấy lời khai ông Dương Văn Thành ngày 18 tháng 06 năm 2014;
24 Biên tự khai của bà Nguyễn Thị Tuyết ngày 23 tháng 06 năm 2014;
25 Biên bản lấy lời khai ông Mai Anh Tuấn ngày 10 tháng 07 năm 2014;
26 Biên bản lấy lời khai ông Dương Văn Thành, ông Mai Anh Tuấn ngày 17 tháng
08 năm 2014;
27 Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Tuyết gửi Chánh Thanh tra Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh G.L ngày 05 tháng 09 năm 2014
IV KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA:
Mục đích: Với mục đích làm sáng tỏ các tình tiết trong vụ án, đồng thời chứng
minh tính hợp pháp của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
*Hỏi người khởi kiện bà Nguyễn Thị Tuyết:
1 Cơ sở kinh doanh Hoàng Lan của bà có đăng ký kinh doanh hay không? Đăng ký ngành nghề kinh doanh gì ?
2 Hiện nay, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cơ sở kinh doanh Hoàng Lan
6 Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ghi nhận ngày 11/5/2014 tức là ngày chủ nhật Vậy Bà nộp tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm tại cơ quan nào ?
Trang 87 Khi tiến hành kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, có người chứng kiến vụ việc xảy ra hay không ?
8 Đoàn thanh tra có nêu rõ hành vi vi phạm của bà đã vi phạm cụ thể tại quy định nào của pháp luật hay không ?
9 Khi những người đến thuê phòng trọ bà có phương án nào để phòng chống họ lợi dụng cơ sở hoạt động những việc trái QĐPL hay không ?
10 Bà Tuyết cho biết khi muốn thuê phòng trọ thì những người thuê phải làm các thủ tục gì? Xuất trình loại giấy tờ nào ?
*Hỏi người bị kiện (đại diện theo ủy quyền ông Dương Văn Thành)
1 Xin Ông cho biết nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch được xử phạt trong lĩnh vực nào ?
2 Hành vi ghi nhận tại Biên bản của Bà Tuyết có thuộc thẩm quyền xử lý của ông hay không ?
3 Căn cứ vào đâu để đoàn kiểm tra kết luận những người trong nhà trọ đang mua bán dâm ?
4 Căn cứ vào đâu Ông cho rằng việc Bà Tuyết không cung cấp được các tài liệu chứng minh thì có hành vi vi phạm như tại Biên bản ?
5 Tại sao trong biên bản lại không ghi rõ điều khoản xử phạt cụ thể ?
6 Ông Thành hãy cho biết những căn cứ để xử phạt hành chinh theo quy định pháp luật đối với bà Tuyết ? Đoàn kiểm tra đã áp dụng những văn bản nào ?
7 Các văn bản áp dụng đó còn hiệu lực không ? Áp dụng cho đối tượng nào ?
8 Ngày 23/12/2013 Thanh tra SVHTT&DL lập biên bản về vi phạm của bà Tuyết đúng không ?
9 Ngày 10/03/2014 chánh thanh tra mới ra QĐ số 23 xử phạt bà Tuyết đúng không
? Quyết định số 23/QĐ-XPHC đã kéo dài 77 ngày đúng không ?
10 Ông có văn bản gia hạn thời hạn ra quyết định không ?
11 Ông hiểu như thế nào là tổ chức hoạt động mại dâm theo PL về phòng chống mại dâm 2003 ?
12 Nếu chỉ có quan hệ tình dục giữa nam và nữa mà không trao đổi với nhau bằng tiền hoặc lợi ích vật chất thì có là hành vi mua bán dâm không ?
13 Lúc kiểm tra cũng như đến bây giờ Thanh tra sở đã xác minh được có hành vi mua bán dâm xảy ra ngày 23/12/2013 tại Nhà trọ Hoàng Lan của bà Tuyết không?
Trang 914 Căn cứ vào đâu ông cho rằng bà Tuyết thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ?
15 Theo ông, Chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà trọ có cần phải yêu cầu khách cung cấp giấy đăng ký kết hôn khi đến thuê hay không ?
16 Theo ông Giấy đăng ký kết hôn có phải là một trong những giấy tờ tùy thân mà công dân Việt Nam phải mang theo bên người hay không ?
*Hỏi người làm chứng:
1 Bà Nguyễn Thị Lành cho biết, bà có thường xuyên thuê phòng ở nhà trọ của bà Tuyết không ?
2 Ông Thường cho biết, mối quan hệ của ông với bà Lành là gì ?
3 Ông Thường cho biết, mối quan hệ của ông và bà Lành có ai biết không ?
4 Ông Thường có thường xuyên thuê phòng ở nhà trọ của bà Tuyết không ? Khi thuê phòng ông có xuất trình giấy từ gì để bà Tuyết vào sổ theo dõi không ?
5 Ông Phan Văn cho biết, khi đoàn kiểm tra đến thì ông đang ở phòng số mấy ? Lúc đó ông đang làm gì ?
6 Ông Phan Văn cho biết mối quan hệ giữa ông và bà Nguyễn Thị Thùy ?
V LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI BỊ KIỆN
ĐOÀN LUẬT SƯ TP HỒ CHÍ MINH
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ 24.1K
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Hội đồng xét xử
Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát!
Thưa quý luật sư đồng nghiệp!
Tôi là luật sư Nguyễn Phương Quỳnh thuộc Văn phòng luật sư 24.1K, thuộc đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm ngày hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện Bà Nguyễn
Trang 10Thị Tuyết
Qua phần trình bày của phía người khởi kiện, người bị kiện và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án ngày hôm nay Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung trong vụ án này
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của tôi Bà Nguyễn Thị Tuyết
Cụ thể, yêu cầu khởi kiện của thân chủ tôi như sau: Hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Tôi cho rằng, yêu cầu trên là có căn cứ, bởi lẽ, quyết định hành chính số XPHC ban hành áp dụng cho thân chủ tôi là trái pháp luật Tôi xin phân tích, làm rõ và chứng minh điều này thông qua hai luận điểm chính:
23/QĐ-Thứ nhất, về tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện
Theo hồ sơ vụ án, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (sau đây xin gọi là Thanh tra sở) đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 về việc xử lý vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị Tuyết Quyết định hành chính này có tính chất cá biệt và áp dụng đối với khách hàng của tôi Bà Nguyễn Thị Tuyết Tại Khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành
vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó” Do đó, thân chủ tôi có quyền khiếu kiện quyết định hành chính nêu trên
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015, đối với “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó” Tại hồ sơ vụ án, Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC là quyết định hành chính do Chánh Thanh tra Sở ban hành Do đó Tòa án nhân dân có
Trang 11thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này là Tòa án nhân dân tỉnh G.L
Theo khoản 2 Điều 116 Luật TTHC quy định thời hiệu xử lý vi phạm hành chính
này là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại Tại hồ sơ vụ án, ngày 24/03/2014 bà Tuyết đã khiếu kiện và ngày 20/04/2014, Chánh Thanh tra Sở đã ra quyết định giải quyết khiếu nại Ngày 02/05/2014, Bà Tuyết làm đơn khởi kiện Quyết định xử phạt hành chính này Có thể thấy, việc nộp đơn khởi kiện lên tòa án vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện và vụ việc không thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện, các thủ tục tố tụng và những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ, hợp pháp Do đó việc Tòa án nhân dân tỉnh G.L thụ lý vụ án hành chính trên là phù hợp với quy định pháp luật
Thứ hai, về tính bất hợp pháp của đối tượng khởi kiện
Về nội dung tình tiết khách quan của vụ án Việc ban hành Quyết định xử lý vi
phạm căn cứ vào hành vi vi phạm ghi nhận tại Biên bản số 11 Vì vậy, cần xác định vào ngày lập Biên bản, tại nhà nghỉ Hoàng Lan do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ, có hay
không việc xảy ra hoạt động mại dâm
Tại Điều 3 Pháp lệnh 10/2003/PL-UBTTVQH11 về phòng chống mại dâm quy định:
“1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác
2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu
3 Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.”
Việc mua, bán dâm là dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi, thực hiện hành vi quan hệ (giao cấu) Tuy nhiên, Biên bản số 11 không ghi nhận có hành vi mua bán dâm giữa các khách thuê phòng là ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành ở phòng số 11, ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy ở phòng số 9 Cụ thể ông Thường và bà Lành là vợ chồng, bà Lành làm việc tại thị trấn Đ.C xuống thăm chồng
và ông Văn và bà Thùy là có đám hỏi rồi nhưng do ông ngoại mất nên đình lại và bà Thùy đang có thai (căn cứ theo Bút lục 28, 31,32,33) Tại thời điểm lập Biên bản, ông
Trang 12Thường và bà Lành có quan hệ tình dục nhưng hoàn toàn không phải là quan hệ mại dâm bởi không có căn cứ nào thể hiện việc ông bà dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác
để trao đổi, thực hiện hành vi giao cấu theo quy định của Pháp lệnh Còn ông Văn và
bà Thùy đang xem ti vi, không có dấu hiệu của hành vi quan hệ tình dục Và bà Tuyết không hề được nhận bất kỳ lợi ích nào ngoài tiền cho thuê phòng, như vậy rõ ràng tại thời điểm này, cơ sơ Hoàng Lan không có hành vi mại dâm, nên việc lập biên bản và
xử phạt bà Tuyết là hoàn toàn không đúng quy định pháp luật
Chánh thanh tra Sở cũng đã xin gia hạn thời hạn để xác minh, thu thập chứng cứ nhưng vẫn không có chứng cứ nào chứng minh có hành vi vi phạm nói trên Cho đến tại phiên tòa ngày hôm nay, phía người bị kiện không cung cấp thêm bất kỳ chứng cứ nào khác
Do đó, thân chủ tôi không có hành vi vi phạm như được ghi nhận tại Biên bản số 11/BB-VPHC Do đó, việc ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC của Chánh thanh tra
Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch căn cứ theo Biên bản này là không hợp pháp
Về trình tự thủ tục ban hành Quyết định số 23 Theo Công văn số VHTTDL và Công văn 04/2014/CV-TTr, tại Bút lục 12, 19 ghi nhận Thanh tra Sở yêu cầu thân bà Tuyết bổ sung các giấy tờ, tài liệu nhằm chứng minh hành vi không vi phạm quy định pháp luật Sau đó, Thanh tra Sở dựa vào việc thân chủ tôi không cung cấp được các tài liệu yêu cầu và để đảm bảo đúng thời hạn ra quyết định xử phạt, nên đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC
167/CV-Căn cứ Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ban hành ngày 20/06/2012 có hiệu lực ngày 01/07/ 2013 (sau đây gọi là Luật XLVPHC) quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm: Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh
vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua
người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính Có thể thấy,
việc chứng minh hành vi vi phạm là trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt Nếu không chứng minh được thì không có căn cứ để ban hành Quyết định xử phạt Đối với
cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền chứng minh mình không vi phạm Pháp luật quy định rõ, đây là quyền, không phải nghĩa vụ Nên việc thân chủ tôi không cung cấp được các tài liệu ttheo yêu cầu không thể kết luận rằng có hành vi vi phạm trên thực tế Nên
Trang 13Chánh Thanh tra Sở dựa vào việc này mà ra Quyết định số 23/QĐ-XPHC để xử phạt thân chủ tôi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục theo quy định pháp luật
Tại điểm e, Điều 6, khoản 2, Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện:
"Người đến lưu trú có trách nhiệm xuất trình một trong các loại giấy tờ sau: Chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; các loại giấy tờ có dán ảnh do các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam cấp; giấy xác nhận cử đi công tác của cơ quan, tổ chức; xác nhận của cơ quan đến liên hệ công tác; xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú Trường hợp khách đến lưu trú không có các loại giấy tờ trên thì khi cho khách vào lưu trú, chủ cơ sở phải thông báo ngay cho cơ quan Công an phường, xã, thị trấn."
" Người đến thăm khách lưu trú tại phòng nghỉ phải xuất trình giấy tờ tùy thân tại quầy lễ tân, cơ sở phải có sổ theo dõi và ghi rõ, đầy đủ các thông tin có liên quan." Theo đó, người đến lưu trú phải xuất trình có loại giấy tờ theo quy định và không bao gồm tài liệu chứng minh là vợ chồng hợp pháp Trên thực tế, bà Tuyết không có quyền yêu cầu khách hàng đến lưu trú tại Cơ sở phải cung cấp loại tài liệu này Nên tôi cho rằng, việc yêu cầu cung cấp của Thanh tra Sở là bất khả thi, và không đúng quy định, gây khó khăn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ tôi
Căn cứ Điều 70 Luật XLVPHC quy định: “Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể
từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền
đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt
và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành” Tuy nhiên tại công văn số 02/2014 ngày 18/3/2014 (Bút lục 34) đính chính lại Quyết định số 23, tại Điều 2: “Bà Nguyễn Thị Tuyết phải nghiêm chỉnh chấp hành Quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày được giao quyết định xử phạt là ngày 17/3/2014” Ngày ban hành Quyết định
số 23/QĐ-XPHC là ngày 10/3/2014 nhưng ngày giao quyết định xử phạt là ngày 17/3/2014, tức 10 ngày, điều này là sai phạm theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, theo Khoản 2, Điều 61, Luật XLVPHC quy định: "Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình
Trang 14cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn không quá 05 ngày,
Về việc sai phạm trong việc áp dụng pháp luật Tại Quyết định số 23 áp dụng Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 để xử lý hành vi vi phạm của thân chủ tôi Nhưng hiệu lực thi hành của văn bản này kể từ ngày 28/12/2013 (theo khoản 1 Điều 72) Tại thời điểm xảy ra sự việc, tức ngày lập Biên bản số 11/BB-VPHC
là ngày 23/12/2013 thì Nghị định này chưa có hiệu lực pháp luật
Căn cứ Khoản 1, Điều 73 Nghị định 167/2013/NĐ-CP: “Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm.”
Trong trường hợp này, việc áp dụng các quy định tại Nghị định này rõ ràng không
có lợi hơn cho thân chủ tôi so với việc áp dụng Nghị định 178/2004/NĐ-CP (Nghị định
bị thay thế bởi Nghị định 167/2013/NĐ-CP) Cụ thể, Khoản 2, Điều 20 Nghị định 178/2004/NĐ-CP: "phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để hoạt động mại dâm xảy ra ở cơ sở do mình quản lý mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự" Trong khi việc áp dụng Khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì quy định mức phạt tiền đối với hành vi này từ 15.000.000 đến 20.000.000 đồng
Do đó, việc áp dụng pháp luật tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC là trái với nguyên tắc áp dụng hiệu lực hồi tố nói chung và trái với quy định tại khoản 1 Điều 73 của Nghị