Trên cơ sở đánh giá thích nghi đất đai và mức độ tác động của yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường, các mô hình sử dụng đất theo hướng bền vững được đề xuất... Nhưng những năm gần đâ
Trang 1QUỐC GIA TÀ ĐÙNG
Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Mã ngành: 8.85.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Đại Gái
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại
học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 13 tháng 08 năm 2022
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Hội đồng
2 PGS.TS Đào Nguyên Khôi - Phản biện 1
3 TS Lê Hồng Thía - Phản biện 2
4 TS Đinh Thanh Sang - Ủy viên
5 TS Nguyễn Thị Lan Bình - Thư ký
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
KHCN&QLM
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Công Cẩn MSHV: 20001261
Ngày, tháng, năm sinh: 03/09/1997 Nơi sinh: Đồng Tháp
Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã số: 60.85.01.01
I TÊN ĐỀ TÀI: Đánh giá thích nghi đất đai và đề xuất mô hình canh tác nông nghiệp
bền vững cho khu vực đệm, tại vườn quốc gia Tà Đùng
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Đánh giá thích nghi đất đai, phân chia các vùng sản xuất nông nghiệp dựa vào các điều kiện sinh thái đất - nước - khí hậu và hiện trạng canh tác
- Đề xuất các biện pháp, mô hình canh tác nhằm phát huy đầy đủ tiềm năng vùng sinh thái để lựa chọn cây trồng phù hợp tại VQG Tà Đùng
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 102/QĐ-ĐHCN, ngày 19 tháng
01 năm 2022 của Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp, TP HCM
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: ngày 13 tháng 08 năm 2022
V NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS Đinh Đại Gái
Tp HCM, ngày 19 tháng 08 năm 2022
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
PGS.TS Đinh Đại Gái
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Học viên xin trân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GVHD: PGS.TS Đinh Đại Gái
về sự chỉ dẫn tận tình, hướng dẫn tận tâm để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy tại Trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh và các anh chị Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tận tình hỗ trợ tài liệu, đóng góp ý kiến cũng như động viên tôi rất nhiều và nhiệt tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn đến gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để yên tâm học tập, hoàn thành nhiệm vụ và các bạn học viên đã chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ hết mình trong quá trình cá nhân tôi thực hiện luận văn
Trang 5TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng cơ sở khoa học về tài nguyên đất đai giúp các nhà quản lý định hướng sử dụng đất nông nghiệp, phân chia các vùng canh tác, dựa vào các điều kiện sinh thái đất - nước - khí hậu và hiện trạng canh tác Nhằm đưa ra các mô hình canh tác phát huy đầy đủ tiềm năng sinh thái để lựa chọn cây trồng phù hợp tại VQG Tà Đùng
Nghiên cứu đã thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, môi trường bằng cách khảo sát nông hộ, tổng hợp tài liệu, biên tập bản đồ Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai theo FAO (1976 và 2007) được sử dụng để đánh giá sự phù hợp đất đai theo hướng bền vững Kết quả cho thấy, 06 đặc tính đất đai của vùng đệm đã thành lập nên 28 đơn vị đất đai chuyên biệt và đã phân lập được các vùng thích nghi đất đai về điều kiện tự nhiên cho 3 kiểu sử dụng đất triển vọng của vùng đệm VQG Tà Đùng (Cây
cà Phê, cây Mác ca, cây Sầu riêng)
Mô hình Cà phê không có vùng thích nghi S1, còn vùng thích nghi trung bình S2 có diện tích là 8,087.48 ha Kế đến là vùng kém thích nghi S3 có diện tích cao nhất là 16,201.31
ha, và vùng không thích nghi N có diện tích 2,134.03 Tương tự, cây Macca có S1 là 6,564.58 ha, S2 là 18,782.14 và S3 786.07 Cây Sầu riêng có S1 6,564.58 ha, S2 là 17,724.21 ha, S3 là 1,347.96 và không thích nghi N là 786.069 ha Trên cơ sở đánh giá thích nghi đất đai và mức độ tác động của yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường, các mô hình sử dụng đất theo hướng bền vững được đề xuất
Trang 6of the region buffer Ta Dung National Park (Coffee tree, Macadamia tree, Durian tree) The Coffee model does not have an adaptation zone, the average adaptive zone (S2) has
an area of 8,087.48 ha The least adapted area S3 has the highest area of 16,201.31 ha and the unsuitable area (N) has an area of 2,134.03 Similarly, macadamia trees have S1
of 6,564.58 ha, S2 of 18,782.14 and S3 of 786.07 Durian tree has S1 6,564.58 ha, S2 is 17,724.21 ha, S3 is 1,347.96 and non-adapted N is 786,069 ha Based on the assessment
of land adaptation and the level of impact of economic, social and environmental factors, sustainable land use models are proposed
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đề tài luận văn là sản phẩm nghiên cứu, tìm hiểu của riêng cá
nhân học viên Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bày là của
cá nhân học viên và được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, có nguồn gốc rõ ràng và theo
đúng quy định Các tài liệu, số liệu được trích dẫn được chú thích rõ ràng, đáng tin cậy,
các tài liệu tham khảo được trích dẫn theo đúng quy định của mẫu từ Viện Đào tạo Quốc
tế và Sau đại học Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM
Học viên cam đoan không đạo văn dưới bất kỳ hình thức nào, kết quả trình bày trong
luận văn là trung thực và học viên hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung nghiên
cứu
Học viên
Nguyễn Công Cẩn
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 4
Trang 91.1 Khung khái niệm 4
1.1.1Tổng quan về vùng đệm 4
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản trong đánh giá thích nghi đất đai 6
1.1.3 Nông nghiệp bền vững 9
1.2 Kinh nghiệm đánh giá thích nghi đất đai và một số mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trong và ngoài nước 10
1.2.1 Kinh nghiệm trên Thế Giới 10
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước 14
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 18
1.3.1 Giới thiệu chung 18
1.3.2 Điều kiện tự nhiên 19
1.3.3 Về khí hậu thời tiết 24
1.3.4 Hiện trạng, hiệu quả canh tác nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 28
2.1 Nội dung nghiên cứu 28
2.2 Phương pháp thực hiện 37
CHƯƠNG 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 43
3.1.1 Xác định các tiêu chí phân cấp bản đồ đơn vị đất đai 43
3.1.2 Xây dựng các bản đồ đơn tính 44
3.2 Xây dựng các yêu cầu sử dụng đất và phân cấp đối với các LUT hiện tại và triển vọng 56
3.2.1 Mô tả LUT hiện tại và đánh giá LUT hiện tại của các LMU đánh giá 56
Trang 103.2.2 Đề xuất 1 kiểu/loại hình sử dụng sử dụng đất triển vọng (LUT) 59
3.2.3 Xây dựng các yêu cầu sử dụng đất và phân cấp đối với các LUT hiện tại và LUT triển vọng 64
3.2.4 Xác định phương pháp và đánh giá thích nghi đất đai 65
3.3 Đề xuất mô hình canh tác bền vững cho khu vực đệm, tại vườn quốc gia Tà Đùng
71
3.3.1 Đánh giá các tiêu chí bền vững của các mô hình canh tác đề xuất 71
3.3.2 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật, hộ trợ canh tác 75
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 86
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 109
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Đánh giá đất đai theo FAO [5] 6
Hình 1.2 Địa bàn nghiên cứu 20
Hình 1.3 Địa hình vùng nghiên cứu 21
Hình 1.4 Bản đồ thủy văn 23
Hình 1.5 Bản đồ hiện trạng cây trồng vùng nghiên cứu 26
Hình 1.6 Sơ đồ diện tích, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chính 26
Hình 2.1 Bản đồ vị trí mẫu 30
Hình 2.2 Tọa độ vị trí khảo sát của đề tài 35
Hình 2.3 Sơ đồ thành lập bản đồ thích nghi đất đai 36
Hình 2.4 Quy trình nghiên cứu 38
Hình 3.1 Bản đồ thổ nhưỡng vùng đệm VQG Tà Đùng 45
Hình 3.2 Bản đồ thành phần cơ giới 46
Hình 3.3 Bản đồ đá lộ đầu 47
Hình 3.4 Bản đồ độ dốc 48
Hình 3.5 Bản đồ điều kiện tưới 49
Hình 3.6 Bản đồ đơn vị đất đai (LMU) 51
Hình 3.7 Diện tích canh tác cà phê 57
Hình 3.8 Phân tích diện tích canh tác 58
Hình 3.9 Bản đồ thích nghi cây Cà phê 67
Hình 3.10 Bản đồ thích nghi cây Macca 68
Hình 3.11 Bản đồ thích nghi cây Sầu riêng 68
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Danh sách các 3 xã vùng đệm nghiên cứu 19
Bảng 1.2 Diện tích một số loại hình canh tác nông nghiệp chính tại 3 xã vùng đệm 25
Bảng 2.1 Phương pháp và các chỉ tiêu phân tích đất 32
Bảng 2.2 Phiếu điều tra 34
Bảng 2.3 phân cấp các yêu cầu sử dụng đất cho từng LUT 41
Bảng 2.4 Phân hạng khả năng thích nghi [7] 42
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng đệm VQG Tà Đùng 43
Bảng 3.2 Thổ nhưỡng 44
Bảng 3.3 Thành phần cơ giới 46
Bảng 3.4 Đá lộ đầu 47
Bảng 3.5 Độ dốc 48
Bảng 3.6 Điều kiện tưới 49
Bảng 3.7 Mô tả 28 đơn vị đất đai 50
Bảng 3.8 Mô tả các đơn vị đất đai 54
Bảng 3.9 Thống kê diện tích các khoanh đất 56
Bảng 3.10 Phân tích hiệu quả kinh tế bình quân 1 ha/năm của cây cà phê Vối 59
Bảng 3.11 Đề xuất LUT triển vọng 60
Bảng 3.12 Rút rọn LUT triển vọng 61
Bảng 3.13 Lợi nhuận các LUT triển vọng đề xuất [27], [28] 64
Bảng 3.14 Yêu cầu sử dụng đất của các LUTs [29] 65
Bảng 3.15 Diện tích thích nghi tính theo mô hình 69
Bảng 3.16 Đánh giá các yếu tố hạn chế theo mã ĐVĐĐ và phân cấp 69
Bảng 3.17 Các tiêu chuẩn chủ yếu để đề xuất mô hình canh tác bền vững 71
Bảng 3.18 Giá trị các tiêu chuẩn phân cấp thích nghi kinh tế - xã hội và môi trường 72
Bảng 3.19 Đánh giá các tiêu chí 73
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
GIS Phương pháp Hệ thống thông tin địa lý
Đơn vị đất đai
LQ (Land Quality) Chất lượng đất đai
LUR (Land Use
requirement)
Yêu cầu về sử dụng đất
LUS (Land Use
System)
Hệ thống sử dụng đất
LUT (Land Utilization
type or land use type)
Loại hình sử dụng đất
NN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Vườn quốc gia Tà Đùng nằm trên địa giới hành chính xã Đăk Som – huyện Đăk G’long – tỉnh Đăk Nông cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa 50 km về phía Đông Bắc Tổng diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia Tà Đùng có diện tích khoảng 21.307,73 ha Vùng đệm của Vườn quốc gia Tà Đùng nằm trên địa bàn 7 xã giáp ranh với vườn quốc gia, thuộc hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng Là khu rừng gồm nhiều dãy núi có độ cao trung bình
từ 1.200 - 1.500m, đỉnh Tà Đùng cao 1.982m, độ cao thấp nhất là vùng đất phía Nam của Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) với độ cao 600m [1] Đây là điểm giao thoa về địa
lý và sinh học giữa khu vực Nam Tây Nguyên và khu vực Miền Đông Nam Bộ
Hiện nay, vườn quốc gia Tà Đùng là nơi bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, là vườn quốc gia mẫu chuẩn cho kiểu rừng kín mưa ẩm lá rộng thường xanh, rừng cận nhiệt đới núi thấp và hệ sinh thái rừng kín thường xanh lá rộng VQG cung cấp các giá trị dịch vụ môi trường rừng để đảm bảo an toàn môi trường Bảo tồn lưu vực sông Đồng Nai, Krông Nô, Sêrêpôk và các lưu vực sông suối nhỏ khác [2]
Vườn quốc gia Tà Đùng đã và đang có vai trò và vị trí lớn trong nền kinh tế - xã hội của khu vực Tây Nguyên Nhưng những năm gần đây, vườn quốc gia Tà Đùng chịu nhiều
áp lực lớn từ cộng đồng dân cư vùng đệm thông qua các hoạt động xâm canh, xâm cư, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ, săn bắn động vật hoang dã trái phép Tình hình sử dụng đất đai tại khu BTTN Tà Đùng đang diễn ra phức tạp, nhất là sản xuất nông nghiệp theo hướng tự phát, không bền vững, sự chuyển đổi mô hình canh tác chủ yếu chạy theo lợi nhuận tức thời nên chưa mang lại hiệu quả cao và bền vững Nhiều mô hình có tiềm năng và thích nghi với điều kiện tự nhiên đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế nhưng chưa được phát huy tiềm năng và cũng như chưa được hỗ trợ về mặt chính sách và khoa học
kỹ thuật để tăng hiệu quả hơn
Trang 15Với các lý do trên, nghiên cứu : “Đánh giá thích nghi đất đai và đề xuất mô hình canh
tác nông nghiệp bền vững cho khu vực đệm, tại vườn quốc gia Tà Đùng,” được thực
hiện nhằm mục tiêu đánh giá đất đai xem xét đến các vấn đề kinh tế tự nhiên, xã hội, và môi trường nhằm quản lý sử dụng đất đai một cách bền vững
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng cơ sở khoa học về tài nguyên đất đai tại vùng đệm VQG Tà Đùng, giúp các nhà quản lý định hướng sử dụng đất nông nghiệp, phân chia các vùng canh tác Nhằm đưa ra các mô hình canh tác phát huy đầy đủ tiềm năng vùng sinh thái để lựa chọn cây trồng phù hợp tại VQG Tà Đùng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (LMU) và xác định tính chất của các đơn vị bản đồ đất đai (LMU)
- Xác định các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất cơ bản
- Xác định mức độ thích nghi đất đai
- Đề xuất các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững tại VQG Tà Đùng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: tài nguyên đất đai và các mô hình canh tác nông nghiệp của thuộc vùng đệm tại vùng đệm VQG Tà Đùng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại 3 xã Phi Liêng, Đa K’Nang, Đắk Som thuộc Vùng đệm VQG Tà Đùng
Trang 164 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có đưa ra phương pháp luận và phương pháp đánh giá các chỉ tiêu đất, mô hình canh tác nông nghiệp và điều kiện kinh tế-xã hội
Luận văn tạo cơ sở khoa học đánh giá thích nghi đất đai tại địa bàn nghiên cứu để có thể
áp dụng cho các mô hình kinh tế và quản lý tại các khu bảo tồn khác dựa vào cộng đồng địa phương
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đề tài đã thiết lập được cơ sở dữ liệu về bản đồ thích nghi đất đai, dựa trên hệ thống thông tin địa lý (GIS); qua đó, giúp cho việc quản lý và cập nhật thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng và đặc biệt có ý nghĩa trong công tác quy hoạch tổng thể
Trên cơ sở kết hợp kết quả đánh giá thích nghi tự nhiên và kinh tế tiến hành đề xuất các
mô hình canh tác nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Khung khái niệm
1.1.1 Tổng quan về vùng đệm
- Khái niệm vùng đệm: Theo Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên Nhiên (IUCN) (1999) “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng,
có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBTTN và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBTTN và chính vùng đệm, đông thời mang lại lợi ích cho nhân dân
sống quanh KBTTN” [3]
Theo công văn số 1568/LN-KL của Bộ lâm nghiệp (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn - NN&PTNT) ngày 13 tháng 9 năm 1993, vùng đệm là một vùng nằm ở rìa khu bảo tồn, bao quanh toàn bộ các phần của khu bảo tồn Vùng đệm không thuộc khu bảo tồn và không chịu sự quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn [3]
Tại Điều 8 - Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng
tự nhiên quy định ghi rõ: "Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và KBTTN; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng [4] Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang
dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng [3]
Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài VQG, những lâm trường quốc doanh tiếp giáp với VQG nên đưa vào trong
Trang 18vùng đệm vì những hoạt động của các lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và VQG
- Đặc điểm vùng đệm: Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho
công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là
đối tượng bảo vệ [3]
Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; Dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng
Các doanh nghiệp đầu tư dự án vùng đệm phải có trách nhiệm kết hợp với các cơ sở ban ngành các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn vùng đệm, đặc biệt với Ban Quản lý khu rừng Đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, định canh, định cư, trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, kết hợp với các phương pháp mới nhằm để ổn định và nâng cao đời sống của người dân
- Chức năng vùng đệm: Tại Hội thảo tháng 3/1999 tại Hà Nội đã khái quát chức năng
vùng đệm thực hiện các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm Vùng đệm chịu sự quản lý
của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm [4]
Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm và tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích KT - XH từ vùng đệm và từ VQG Từ đó giúp việc quản lý VQG trở nên
dễ dàng hơn
Vai trò vùng đệm: Trong phạm vi đề tài, học viên nghiên cứu về vai trò sinh kế của vùng đệm đối với người dân của khu vực VQG Tà Đùng:
Trang 19Sinh kế: là một khái niệm bao gồm các hoạt động của con người, về tự nhiên, kinh tế -
xã hội có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể sử dụng nhằm đáp ứng được nhu cầu cần thiết của họ Nhờ có các chiến lược sinh kế mà đảm bảo tốt chất lượng cuộc sống và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) một cách bền vững hơn [4]
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản trong đánh giá thích nghi đất đai
Theo FAO (1976): Đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu những tính chất vốn
có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải
có
Hình 1.1 Đánh giá đất đai theo FAO [5]
Có hai loại thích nghi trong hệ thống đánh giá đất đai của FAO: Thích nghi tự nhiên và thích nghi kinh tế [5]:
- Đánh giá thích nghi tự nhiên: chỉ ra mức độ thích hợp của loại hình sử dụng đất với
điều kiện tự nhiên không tính đến các điều kiện kinh tế Nếu không thích nghi về mặt tự nhiên thì không một phân tích kinh tế nào có thể biện chứng để đề xuất tiếp tục sử dụng
- Đánh giá thích nghi kinh tế: Các quyết định sử dụng đất đai thường cân nhắc về mặt
kinh tế và dùng để so sánh các loại hình sử dụng đất có cùng mức độ thích hợp hoặc hiệu quả của hai loại hình sử dụng đất Tính thích nghi về mặt kinh tế có thể đánh giá bởi các yếu tố: Tổng giá trị sản xuất, lãi thuần, chi phí, …
Trang 20Một số khái niệm khác liên quan đến đánh giá đất đai theo FAO (1976,1993b):
- Đất đai: Là diện tích bề mặt của Trái Đất, các đặc tính của nó bao gồm các thuộc tính tương đối ổn định, hoặc có thể dự báo theo chu kì của sinh quyển của bên trên và bên dưới nó như: Không khí, thổ nhưỡng, địa chất, thủy văn, quần thể động thực vật Theo FAO: Đất đai được sử dụng theo nhiều dạng khác nhau:
- Trực tiếp sản xuất: các loại cây trồng, đồng cỏ, rừng
- Gián tiếp sản xuất: chăn nuôi, các sản phẩm của chăn nuôi: thịt, sữa…
- Mục đích bảo vệ: chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm…
- Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt: khu dân cư, phát triển đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, giao thông, thuỷ lợi …
Đánh giá đất quan tâm đến mối quan hệ của các LMU với từng loại hình sử dụng đất thích hợp trong vùng
LUTs hiện tại là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vạt/khoanh đất với những phương thức quản lý, sản xuất trong điều kiện KT-XH và kỹ thuật được xác định Những loại hình sử dụng đất có thể hiểu nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính (Major type of land use) hoặc có thể mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (Land use type)
- Đơn vị đất đai hay còn gọi là bản đồ đơn vị đất đai (Land Map Unit – LMU): Là những vùng đất ứng với một tập hợp nhiều yếu tố tự nhiên tương đối đồng nhất và có ảnh hưởng trực tiếp khả năng sử dụng đất đai Các yếu tố môi trường tự nhiên: bao gồm vị trí địa lý; địa chất, địa hình, dáng đất, địa mạo; khí hậu; thuỷ văn; sinh vật tự nhiên; thổ nhưỡng; tài nguyên nước; tài nguyên rừng; tài nguyên khoáng sản [6]
Trang 21Môi trường kinh tế - xã hội bao gồm: dân số, lao động và mức sống; dân tộc, tôn giáo; sản phẩm nông nghiệp và khả năng tiêu thụ; các dịch vụ có liên quan đến sử dụng đất; hiện trạng kinh tế và cơ sở hạ tầng; tài nguyên nhân văn
- Đặc tính đất đai (Land Characteristic – LC): Theo FAO là những đặc tính của đất đai
có thể đo đạc hoặc ước lượng được, thường được sử dụng làm phương tiện để mô tả các chất lượng đất đai hoặc để phân biệt giữa đơn vị đất đai có khả năng thích hợp cho sử dụng khác nhau [7]
Đặc tính đất đai thể hiện rõ các điều kiện đất cho các loại hình sử dụng đất, như: chế độ cung cấp dinh dưỡng của đất, khả năng thoát nước của đất, mức độ sâu của lớp đất, địa hình ảnh hưởng đến xói mòn đất hoặc cơ giới hóa, khả năng canh tác,… Các đặc tính đất đai là yếu tố định tính, là câu trả lời trực tiếp cho các yêu cầu sử dụng đất của các LUT [6]
- Chất lượng đất đai (Land Quality – LQ): Là những thuộc tính phức tạp phản ánh mối quan hệ và tương tác của nhiều đặc tính đất đai Chất lượng đất đai thường được phân thành ba nhóm: Nhóm theo yêu cầu sinh thái cây trồng, nhóm theo yêu cầu quản trị và nhóm theo yêu cầu bảo tồn [5]
- Loại hình sử dụng đất (Land Utilization type or land use type – LUT): Một loại hình
sử dụng đất được mô tả chi tiết hơn loại hình sử dụng đất chính Một loại hình sử dụng đất có thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trong một số điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất bao gồm các thông tin về sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu tư, lao động, biện pháp kĩ thuật, yêu cầu về cơ sở
hạ tầng, mức thu nhập…
- Yêu cầu về sử dụng đất (Land Use requirement – LUR): Là một tập hợp chất lượng đất dùng để xác định điều kiện sản xuất và quản trị đất của các loại hình sử dụng đất [5] Theo Nguyễn Khang và Đào Châu Thu thì LUR là những điều kiện tự nhiên có ảnh
Trang 22hưởng đến năng suất và sự ổn định của loại sử dụng đất đai hay đến tình trạng quản lý
và thực hiện loại sử dụng đất đai đó Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu
Hay yêu cầu sử dụng đất đai được định nghĩa như là những điều kiện tự nhiên cần thiết
để thực hiện thành công và bền vững một loại sử dụng đất
- Hạng đất: Là những khoảnh đất có cùng giá trị, khả năng sinh lợi và khả năng sản xuất, cùng sản xuất một lượng sản phẩm, trong điều kiện và trình độ tương tự Trên cơ sở đồng nhất, đặc trưng về chất lượng; các thửa đất, khoảnh đất được chia thành hạng [6]
- Yếu tố hạn chế (Limitation factor ): Là chất lượng hoặc đặc tính đất đai có ảnh hưởng bất lợi đến loại hình sử dụng đất nhất định Chúng thường làm tiêu chuẩn để phân cấp các mức thích nghi
- Hệ thống sử dụng đất (Land Use System - LUS): LUS được xác định bởi sự kết hợp của đơn vị bản đồ đất đai và các loại hình sử dụng đất ở hiện tại và tương lai Mỗi hệ thống sử dụng đất có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai
1.1.3 Nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững: là phương thức canh tác nông nghiệp theo cách bền vững, có
nghĩa là đáp ứng nhu cầu thực phẩm và dệt may hiện tại của xã hội, mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại hoặc tương lai Nông nghiệp này
có thể dựa trên sự hiểu biết về các dịch vụ hệ sinh thái Có nhiều phương pháp để tăng tính bền vững của nông nghiệp Khi phát triển nông nghiệp trong các hệ thống thực phẩm bền vững, điều quan trọng là phát triển quy trình kinh doanh linh hoạt và thực hành canh tác [8]
Mô hình canh tác nông nghiệp: hay còn gọi là hệ thống canh tác (Farming system) là
một phần của hệ thống nông nghiệp; bao gồm sự sắp xếp phối hợp rất năng động các
Trang 23hoạt động của nông hộ mà trong đó việc tận dụng các nguồn tài nguyên, yếu tố kinh tế -
xã hội và tự nhiên phù hợp với mục tiêu, lợi nhuận và sở thích của nông hộ [9]
1.2 Kinh nghiệm đánh giá thích nghi đất đai và một số mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trong và ngoài nước
Một trong những cơ sở để lập phương án đánh giá thích nghi đất đai, đặc biệt là đánh giá thích nghi đất nông nghiệp Kết quả đánh giá mức độ phù hợp đất đai, sản phẩm là bản
đồ thích nghi đất đai, sẽ cung cấp thông tin cho người ra quyết định trong việc lựa chọn các phương án bố trí sử dụng đất Trong nội dung này, tôi trình bày những kết quả nghiên cứu về đánh giá sự phù hợp của đất đai trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm trên Thế Giới
a) Đánh giá thích nghi đất đai
Tiếp theo các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học đất, công tác đánh giá đất hiện nay được nhiều nước trên thế giới quan tâm Phương pháp đánh giá đất từng bước phát triển thành một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành có hệ thống (tự nhiên - kinh tế - xã hội) kết hợp kiến thức khoa học về tài nguyên đất và sử dụng đất Có thể giới thiệu sơ lược
về 03 phương pháp đánh giá đất chính [7]:
- Đánh giá đất theo định tính, chủ yếu dựa vào mô tả và xét đoán;
- Đánh giá đất theo phương pháp thông số;
- Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình, mô phỏng định hướng
Quan điểm và nội dung nghiên cứu đánh giá đất của một số nước trên thế giới cụ
thể như sau :
- Ở Liên Xô cũ, có hai hướng: đánh giá đất chung và đánh giá đất cụ thể (dựa trên năng suất cây trồng là ngũ cốc và cây họ đậu) Đơn vị đánh giá đất là các chủng đất được sử
Trang 24dụng để chuẩn hóa đánh giá đất cho cây trồng được tưới, đất tiêu úng, cây lâu năm, cỏ xén và đồng cỏ chăn thả Các tiêu chí đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm (quy tắc / ha), tỷ suất lợi nhuận trên vốn, tiền thuê mặt bằng phân bổ sai (lợi nhuận ròng)
- Ở Hoa Kỳ - hai phương pháp ứng dụng rộng rãi là:
- Phương pháp nhân tố: Sử dụng số liệu thống kê các yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế
để so sánh, so sánh với các vùng đất khác có lợi nhuận cao nhất 100 điểm làm chuẩn
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng theo năm làm tiêu chí, lưu ý phân loại đất cho từng loại cây trồng chính (lúa mì)
- Ở nhiều nước châu Âu:
Có hai cách phân loại đất đã được thực hiện ở nhiều nước Châu Âu Đầu tiên là xác định tiềm năng sản xuất của đất dựa trên các yếu tố tự nhiên (phân loại định tính) Thứ hai là xác định sức sản xuất thực tế của đất dựa trên các yếu tố kinh tế - xã hội (phân loại định lượng) Thông thường, một phép so sánh được thực hiện bằng cách sử dụng tỷ lệ phần trăm hoặc điểm
Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO đã tập hợp các nhà khoa học
về đất giỏi nhất trong nông nghiệp để xem xét các phương pháp đánh giá đất của các quốc gia khác, và xây dựng một tài liệu gọi là “Đề cương đánh giá đất đai” [10] Tài liệu này đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong việc đánh giá đất đai của họ, và được coi là cách tốt nhất để đánh giá đất nông nghiệp Theo tài liệu này vào năm 1983, và tiếp tục nhiều năm sau đó, đã được sửa đổi và bổ sung với các sổ tay hướng dẫn đánh giá đất chi tiết hơn cho các khu vực sản xuất khác nhau:
- Đánh giá đất cho vùng đất rừng (Land evaluation for forestry, 1984)
- Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới (Land evaluation for irrigated 12
agriculture, 1985)
Trang 25- Đánh giá đất đồng cỏ chăn thả - (Land evaluation for extensive gazing, 1989)
- Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất – (Land
evaluation and farming system Analysis for land-use planning, 1992)
- Hướng dẫn đánh giá đất đai phục vụ cho quản lý bền vững (An international Framework for land evaluating sustainable management,1993)
Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc có hướng dẫn và tài liệu đánh giá đất Các hướng dẫn cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về quy trình, đồng thời chứa các gợi ý và ví dụ có thể được sử dụng bởi các nhà khoa học đất ở các quốc gia khác nhau Các hướng dẫn này nhằm giúp xác định những tài liệu nào trong loạt tài liệu của FAO có thể được áp dụng, tùy thuộc vào điều kiện sản xuất, đất đai và sinh thái của quốc gia
b) Mô hình canh tác nông nghiệp
Lundgren BO, Raintree, JB 1982, nông lâm kết hợp bền vững, nghiên cứu nông nghiệp
để phát triển: Tiềm năng và thách thức ở Châu Á Nghiên cứu này xem xét mức độ nông lâm kết hợp có thể là một lựa chọn sử dụng đất bền vững và do đó giúp giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và thu nhập mục tiêu thế hệ Tổng số 100 lô nông lâm kết hợp tại các tỉnh phía Nam Leyte và Misamis Oriental được phân tích và phân tầng theo cây trồng chính của chúng; và kết hợp dữ liệu sơ cấp từ các cuộc phỏng vấn với 107 nông dân, theo ý kiến chuyên gia, và các nguồn tài liệu thứ cấp được sử dụng để đánh giá tính bền vững của sáu loại hệ thống nông lâm kết hợp khác nhau Nghiên cứu cho thấy rằng các
hệ thống nông lâm kết hợp dựa trên cây gỗ là hầu hết bền vững, tiếp theo là các hệ thống dựa trên cao su và cà phê Tuy nhiên, gỗ nông lâm kết hợp dựa vào cây ở vùng cao Philippines có những hạn chế; nông dân thường đấu tranh để có được giấy phép hợp pháp cần thiết để thu hoạch cây [11]
Trang 26Nair, P.K.R (1993) An Introduction to Agroforestry Kluwer Academic Publishers,
Dordrecht, The Netherlands Mục tiêu là xác định sự đa dạng trong sử dụng đất sau khi
phát nương làm rẫy ban đầu của nông dân di cư Nghiên cứu này nhằm mục đích ghi lại trình tự cây trồng điển hình, thành phần loài thực vật và độ dài cụ thể của các giai đoạn
cụ thể của chu kỳ canh tác nương rẫy trên cơ sở người nông dân đã thống kê lại lịch sử đồng ruộng Việc sử dụng đất đã được kiểm tra tại hai khu định cư: Antonio Raimondi
và Pimen-tal ở vùng Ucayali, Peru Các bản đánh giá sâu hơn về sự xuất hiện của cây trồng, thời gian cắt và độ dài của các chu kỳ cao độ dịch chuyển khác nhau đã được tiến hành trên 114 cánh đồng ở Pimental và 44 cánh đồng ở Antonio Raimondi Phân tích tổng thể cho thấy ở cả hai thôn, độ che phủ rừng đã giảm đáng kể trong 10 năm qua Kết quả cũng chỉ ra sự thay đổi đáng kể trong các hệ thống du canh, du cư Trong khi những người định cư ở Antonio Raimondi trồng cây hàng năm sau khi chặt phá và đốt rừng, những người định cư ở Pimental lại quan tâm nhiều hơn đến cây lâu năm [12]
Towards sustainable land-use: A socio-economic and environmental appraisal of agroforestry systems in the Philippine uplands Nghiên cứu cho thấy rằng các hệ thống nông lâm kết hợp dựa trên cây gỗ là bền vững nhất, tiếp theo là các hệ thống dựa trên cao su và cà phê Tuy nhiên, nông lâm kết hợp dựa vào cây lấy gỗ ở vùng cao Philippines
có những hạn chế; nông dân thường phải vật lộn để có được giấy phép hợp pháp cần thiết để thu hoạch cây Ngoài ra, một khi cây được thu hoạch, nông dân thường chọn trồng lại cây hàng năm do giá gỗ thấp Về mặt tạo thu nhập, nông lâm kết hợp dựa vào cao su đạt được kết quả tốt nhất cho đến nay Nhưng không phụ thuộc vào loại hình hệ thống nông lâm kết hợp, kết quả tốt về các chỉ tiêu kinh tế xã hội không chỉ do việc lựa chọn cây trồng Một đóng góp lớn là thực hành quản lý tốt trong giai đoạn chuyển đổi (tức là từ khi trồng đến khi thu hoạch cây lâu năm đầu tiên) Sự sẵn có của các dịch vụ đào tạo và khuyến nông cho giai đoạn chuyển đổi là những yếu tố quyết định góp phần vào thành công này
Trang 27Ngược lại, điểm thấp về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội có thể là do thực hành quản lý trang trại không đầy đủ (ví dụ: bón phân, tỉa cành, tái canh, phòng trừ sâu bệnh), sử dụng cây giống chất lượng thấp và tuổi già của cây lâu năm tương ứng Chỉ với một số trường hợp ngoại lệ, kết quả nghiên cứu khẳng định rằng những người nông dân không có quyền sử dụng đất lâu dài và an toàn có thu nhập thấp hơn Tuy nhiên, giả định rằng có sự đánh đổi giữa lợi ích kinh tế và dịch vụ môi trường không thể được khẳng định Dựa trên những kết quả này, một tập hợp các khuyến nghị được cung cấp [13]
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước
a) Đánh giá thích nghi đất đai
Khái niệm và công việc đánh giá đất đai, phân hạng đất đã có từ lâu ở Việt Nam Trong thời kỳ phong kiến, thực dân, để tiến hành thu thuế đất đai, đã có sự phân chia
Năm 1954, Vụ Quản lý ruộng đất Bắc Bộ cùng với Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, sau đó
là Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tiến hành nghiên cứu và lập quy trình phân loại các hạng đất Mục đích là để tăng sản lượng nông nghiệp, cải thiện quản lý độ phì của đất và cải thiện xếp hạng thuế đối với đất nông nghiệp Đất được phân cấp theo các tiêu chí chính về đặc tính của đất và điều kiện môi trường của khu vực mà nó nằm Đất sau đó được tách thành các cấp 5-7, theo một hệ thống tính điểm cụ thể Nhiều tỉnh
có bản đồ phân loại đất đến cấp xã, giúp ích rất nhiều trong việc lập kế hoạch sản xuất nông nghiệp [14]
Quản lý đất đai là một phần quan trọng của bất kỳ quy hoạch sử dụng đất nào và thông tin về tài nguyên đất là rất quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của các hoạt động nông lâm kết hợp Chính quyền cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp vùng đã và đang thúc đẩy phát triển bền vững để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và yêu cầu ngành quản lý đất đai phải
sử dụng và quản lý đất hợp lý và an toàn Một bước bắt buộc trong quy trình lập kế hoạch
sử dụng đất là đánh giá toàn diện đất đai, với một số kết quả chính:
Trang 28Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn Tỉnh và những người khác) đã nghiên cứu về phân loại đất ở đồng bằng từ đầu những năm 1970 Bùi Quang Toản là một trong những nhà khoa học tham gia phân hạng đất đai cho 23 huyện,
286 HTX và 9 vùng chuyên canh Những kết quả đạt được cho đến nay đang được sử dụng làm nền tảng xây dựng quy trình kỹ thuật phân hạng đất cho các hợp tác xã và các vùng chuyên canh Việc phân hạng và đánh giá đất ở đồng bằng cần tính đến nhiều yếu
tố, bao gồm loại đất, độ dày của đất, độ nén, độ tơi xốp, khô hạn, ngập úng, độ chua mặn, v.v Loại đất cụ thể thuộc vào 4 cấp độ: rất tốt, tốt, trung bình và kém [15]
- Phân loại khả năng thích hợp đất đai (land suitability classification) của FAO đã được
áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” Tuy nhiên, trong nghiên cứu này việc đánh giá chỉ dựa vào các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, điều kiện thuỷ văn, khả năng tưới tiêu và khí hậu nông nghiệp) và việc phân cấp dừng lại ở cấp phân vị lớp thích nghi (Suitable class)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác nhận rằng phương pháp và hướng dẫn đánh giá đất của FAO được xây dựng từ năm 1992 có thể được sử dụng trong cả nước như một tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quy hoạch phát triển ở các tỉnh và huyện Đồng bằng sông Cửu Long [16] Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã sử dụng phương pháp
và hướng dẫn này trong các dự án quy hoạch phát triển của họ kể từ đó
b) Mô hình canh tác nông nghiệp
Viện Nghiên cứu Phát triển Duyên hải (CORIN) đã phối hợp với Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Thủy vào năm 2007 để khởi động một dự án sinh kế trong cộng đồng địa phương Dự án đã thử nghiệm mô hình trồng nấm rơm trên 4 hộ dân ở 3 thôn Giao Thiện, Giao An, Giao Hương (còn gọi là Giao Thủy) Mô hình này không chỉ cho thu nhập cao gấp 3 lần so với trồng lúa mà còn ngăn ngừa ô nhiễm do đốt rơm rạ, giúp sinh kế của người nông dân bền vững Gần 70 hộ gia đình ở các xã lân cận đã thành lập mô hình riêng sau thành công bước đầu Một số mô hình này đã được hỗ trợ xây dựng trại, trồng
Trang 29các loại nấm và địa y khác nhau, và đào tạo kỹ thuật trồng nấm rơm Mỗi thành viên được cung cấp một số tài liệu này [17]
Dự án Nâng cao năng lực phát triển sinh kế cho người dân sống phụ thuộc vào rừng đặc
dụng vùng đệm Vườn Quốc Gia Bạch Mã Có 4 trong số 6 mô hình trồng trọt và chăn
nuôi đã thực hiện tại xã Hương Lộc và xã Thượng Nhật sẽ tiếp tục được nhân rộng trong
thời gian tới
Thông tin từ Ban quản lý dự án cho biết: 4 mô hình được lựa chọn để nhân rộng là mô hình trồng hoa, mô hình trồng mía đường, mô hình chăn nuôi gà có quản lý dịch bệnh
và mô hình nuôi bò bán thâm canh (nhốt chuồng)
Theo đó, mô hình chăn nuôi heo bán công nghiệp và mô hình trồng gấc sẽ tạm thời không tiếp tục nhân rộng vì giá cả thị trường thời gian gần đây liên tục biến động, bấp bênh Ông Ngô Văn Chung, đánh giá về 04 mô hình được lựa chọn nhân rộng dựa trên các yếu
tố là mô hình có tính phù hợp với điều kiện của địa phương, điều kiện sản xuất của hộ gia đình và hiệu quả kinh tế của mô hình qua gần 1 năm thực hiện
Trong đó, hiệu quả kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định đến lựa chọn mà các chuyên gia tư vấn cho người dân Qua 2 đợt vay, mô hình chăn nuôi gà có 3 hộ tham gia với quy
mô 200 con bán được 28 triệu đồng Mô hình trồng mía 05 sào có 4 hộ tham gia: bán được 35 triệu đồng, mô hình trồng hoa đạt 15 triệu đồng… Mô hình chăn nuôi bò cũng đạt lợi nhuận từ 12 – 15 triệu đồng Lãi thu về từ các mô hình này cao gấp 4 – 5 lần trồng lúa và sắn [18]
Nghiên cứu các mô hình canh tác có hiệu quả cho vùng đệm vườn quốc gia U Minh Hạ,
huyện U Minh, Tỉnh Cà Mau, đã thực hiện nghiên cứu mô hình canh tác trong vùng
nghiên cứu tương đối đa dạng, có 7 mô hı̀nh canh tác chính được khảo sát như sau: lúa
1 vụ, lúa 2 vụ, chuối, lúa – chuối, lúa – chuối – cá, dây thuốc cá và trồng tràm Trong đó trồng tràm là mô hı̀nh bắt buôc để bảo vê ̣ rừng và hê sinh thái đối với vùng đêm hiên
Trang 30nay Theo kết quả đánh giá đề tài lựa chọn được ba mô hình canh tác thích hợp với nhiều điều kiện tự nhiên và có hiệu quả kinh tế cao trong vùng là mô hı̀nh chuối, mô hình lúa
- chuối – cá, mô hı̀nh lúa – chuối
Mô hình rừng + gác kèo ong + cá tự nhiên cũng là môt mô hình triển vọng để tăng thu nhâp cho các hộ dân có thời gian nhàn rỗi và đảm bảo yêu cầu bảo vệ rừng của vùng đệm [19]
Ruộng cà phê thường được trồng xen với tiêu và các loại cây ăn quả Những diện tích hiện đang được sử dụng làm nông nghiệp theo mô hình này có thể được triển khai thành
mô hình nông lâm kết hợp trên đồng ruộng Các mục sau sẽ được bao gồm trong mô hình:
(i) Cây thành tố chính: cây cà phê, là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế chủ yếu trong
mô hình;
(ii) Cây che bóng tầng cao: bao gồm các loài cây đặc sản rừng, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lấy gỗ như bơ, sầu riêng, muồng đen Ngoài mang lại hiệu quả kinh tế, tầng cây che bóng giúp chắn gió, giảm xói mòn, giảm thoát hơi nước, khôi phục và cải thiện độ phì của đất;
(iii) Cây thảm phủ: Bao gồm những cây có tầng tán thấp hoặc dạng cây bụi, có thể trồng xen cây dược liệu để nâng cao hiệu quả kinh tế Đối với mô hình có cây thành tố chính
là cây cà phê, cây thảm phủ có 14 thể bao gồm muồng hoa vàng, lạc dại, gừng, sả, khoai môn, khoai sọ, cây dược liệu, v.v;
(iv) Đai cách ly: là rặng cây trồng ven khu vực sông suối, nguồn nước, đóng vai trò kiểm soát sự phát tán hóa chất từ hoạt động canh tác của hộ gia đình vào nguồn nước Theo quan sát tại địa phương, đai cách ly có thể là chuối, hoặc các rặng tre, cũng góp phần mang lại lợi ích kinh tế;
Trang 31(v) Công trình bảo tồn đất và nước: Ngoài các lớp thảm thực vật, nền đất của vườn hộ gia đình cũng cần được thiết kế để đảm bảo giảm thiểu xói mòn, rửa trôi tầng đất mặt, đồng thời tăng khả năng giữ nước, tiết kiệm nước tưới Đây là hệ thống kết hợp giữa rãnh thoát nước, gờ cản nước với các loài cây thảm phủ ở trên [20]
Mô hình reed+ thành công, Mô hình trình diễn canh tác lâm kết hợp: Trồng cây ăn quả
và thức ăn gia súc trên đất dốc, xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Dự án SNRM đã phát triển các mô hình nông lâm kết hợp trồng cây ăn quả và thức ăn gia súc trên đất dốc ở 9 bản của xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Trồng cây ăn quả và làm thức ăn gia súc không chỉ góp phần đa dạng hóa cây trồng, tăng giá trị sản phẩm trên một diện tích mà còn góp phần giảm rủi ro sản xuất và chống xói mòn đất Đây là một hoạt động quan trọng để giảm phát thải từ nạn phá rừng và suy thoái rừng và góp phần bảo vệ lưu vực lưu vực sông Đà [21]
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Giới thiệu chung
Vùng đệm của Vườn quốc gia Tà Đùng có diện tích khoảng 103,044.24 ha (theo diện tích vùng đệm đã được quy hoạch năm 2020), nằm trên địa bàn 7 xã giáp ranh với vườn quốc gia, thuộc hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng, trong đó:
Phần diện tích vùng đệm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông thuộc địa giới 2 xã là Đắk R’Măng
và Đắk Som, huyên Đắk Glong Phần diện tích vùng đệm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thuộc các thôn Bob La, Bob Le, Liêng Đơn, Păng Sim (xã Phi Liêng), Păng Dung, Păng Pah, Đạ Mur, Đạ Knàng (xã Đạ K’Nàng) huyện Đam Rông; thôn Lâm Bô (xã Phúc Thọ)
và thôn Tân Hợp (xã Tân Thanh) huyện Lâm Hà; các thôn Kinh Dạ, BTê, Con Giòng, Gang Ráy, Bdi Rung (xã Đinh Trang Thượng) huyện Di Linh, xã Đak Som thuộc huyện Đak Glong [22]
Trang 32Phạm vi nghiên cứu của học viên tại VQG Tà Đùng chỉ thuộc 3 xã: Phi, Đạ K’Nàng diện, xã Đắk Som, có diện tích khoảng 26.422 ha, thuộc Vùng đệm VQG Tà Đùng [22]
Bảng 1.1 Danh sách các 3 xã vùng đệm nghiên cứu
Đắc Nông Đắk Glong Xã Đắk Som
Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4, bon B’Sre
A, bon B’Sre B, bon Pang So, bon B’Nor, bon B’Dơng
Lâm Đồng Đam Rông
Xã Phi Liêng Thôn: Bob La, Bob Le, Liêng Đơn, Păng
Sim
Xã Đạ K'nàng Thôn: Đạ Mur, Đạ Sơn, Păng Dung, Đạ Pin, Păng Pah, Đạ Knàng
1.3.2 Điều kiện tự nhiên
a) Về tọa độ địa lý:
❖ Về vị trí địa lý
- Xã Phi Liêng thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, có vị trí địa lý:
• Phía Đông giáp xã Phú Sơn;
• Phía Tây và giáp xã Đắk Plao;
• Phía Nam giáp xã Đạ K’Nàng
• Phía Bắc giáp xã Rô Men và Liêng S’roin
- Xã Đa K’Nàng, huộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, có vị trí địa lý:
• Phía Đông giáp xã Phú Sơn;
• Phía Tây và giáp xã Đắk Plao và xã Phúc Thọ
• Phía Nam giáp xã Phúc Thọ và Đa
• Phía Bắc giáp xã Phi Liêng
- Xã Đắk Som thuộc huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông,
Trang 33• Phía đông và phía nam giáp tỉnh Đắk Plao và tinh Lâm Đồng
• Phía tây giáp các xã Quảng Khê và tỉnh Lâm Đồng
• Phía bắc giáp xã Đắk R'măng
Hình 1.2 Địa bàn nghiên cứu
Trang 34cao nghiêng về sông Đồng Nai; sườn phía Đông Bắc dốc thoải nghiêng về sông Krông
Nô Trong phạm vi lãnh thổ của VQG được chia 03 kiểu địa hình chính sau:
Hình 1.3 Địa hình vùng nghiên cứu
- Kiểu địa hình núi cao (N1), chiếm 0,1% diện tích tự nhiên của VQG Phân bố ở khu vực đỉnh Tà Đùng, có độ cao từ 1.700m - 1.982 m
- Kiểu địa hình núi trung bình (N2), chiếm 98,5% diện tích tự nhiên của VQG Phân bố gần như toàn bộ Khu bảo tồn, có độ cao từ 700m - 1.700 m
- Kiểu địa hình núi thấp (N3), chiếm 1,4% diện tích tự nhiên Phân bố dọc theo các nhánh của suối Đăk P’Lao, có độ cao từ 600m - 700 m
Trang 35c) Địa chất, đất đai
Địa hình vùng núi, chia cắt mạnh, cấu tạo trên nền đá phức tạp qua quá trình phong hóa
đã tạo nên các loại đất khá đa dạng Trong giới hạn của vùng nghiên cứu có ba nhóm đất chính: vàng đỏ trên Macma axit, vàng đỏ trên đá hỗn hợp, và đất trên núi có mùn Đặc điểm của các nhóm đất này có màu vàng đỏ điển hình, tầng đất mỏng (thường dưới 70 cm)
Tuy nhiên, ở những sườn ít dốc được thảm thực vật che phủ tốt có tầng đất dày trên 100
cm, có nhiều sỏi sạn và thạch anh Đất có thành phần cơ giới nhẹ, do vậy đất thoáng khí
có khả năng thấm nước tốt nhưng giữ nước kém hơn với các loại đất khác trong vùng Ngoài ra, còn có nhóm đất có tầng mặt xốp, lượng mùn giàu, phản ứng chua chủ yếu phân bố trên độ cao trên 1200 m [22]
d) Khí hậu
Tà Đùng chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Cao nguyên Một năm có
2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau [22]
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20°C đến 21°C Tháng có nhiệt độ cao nhất 32°C (tháng 3) Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 01, nhiệt độ trung bình là 13,7°C, khu vực đỉnh Tà Đùng có nhiệt độ dưới 15°C
Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình biến động từ 2.000mm - 2.500 mm, lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 75% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 01 hàng năm
Độ ẩm bình quân năm: 80%, độ ẩm cao nhất vào các tháng mùa mưa từ 87%, các tháng mùa khô có độ ẩm tương đối thấp (71%)
Chế độ gió: Hàng năm có 02 hướng gió chính, các tháng mùa khô có hướng gió chính là gió mùa Tây Nam, các tháng mùa mưa hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc
Trang 36Hình 1.4 Bản đồ thủy văn + Lưu vực sông Krông Nô ở phía Đông và Tây Bắc, bao gồm nhiều con suối bắt nguồn
từ sườn phía Đông Bắc của khối núi Tà Đùng, chảy ngược lên phía Bắc sau đó qua Campuchia nhập với nhiều nhánh sông khác chảy vào sông Mê Kông
Trang 37Tài nguyên nước: Trong khu vực có diện tích mặt hồ của công trình thuỷ điện Đồng Nai
3 là 3.631,5 ha
Với tài nguyên nêu trên, VQG Tà Đùng rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như: Cà phê, cao su, chè, tiêu,… và hiện nay VQG đang có xu hướng phát triển về mảng du lịch sinh thái.Đồng thời thích hợp cho trồng cây hàng năm như lúa, ngô và các loại cây lương thực thực phẩm khác
1.3.3 Về khí hậu thời tiết
Tà Đùng chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Cao nguyên Một năm có
02 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20°C đến 21°C Tháng có nhiệt độ cao nhất 32°C (tháng 3) Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 01, nhiệt độ trung bình là 13,7°C, khu vực đỉnh Tà Đùng có nhiệt độ dưới 15°C
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình biến động từ 2.000 mm - 2.500 mm, lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 75% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 01 hàng năm
- Độ ẩm bình quân năm: 80%, độ ẩm cao nhất vào các tháng mùa mưa từ 87%, các tháng mùa khô có độ ẩm tương đối thấp (71%)
1.3.4 Hiện trạng, hiệu quả canh tác nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
1.3.4.1 Quy hoạch kinh tế xã hội của khu vực
Trong bản quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng đến năm 2020, về nhu cầu sử dụng đất dự kiến đưa 344,96 ha vào khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp với trồng bổ sung và trồng rừng tập trung, trồng các loài cây bản địa có nguồn gen quý hiếm 684 ha [23]
Trang 38Trong quy hoạch có đề mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở vùng đệm Khu bảo tồn, nhằm đảm bảo cho người dân sống ở vùng đệm đủ quỹ đất để phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an toàn lương thực cho từng hộ không còn tình trạng các hộ đói nghèo
ở các xã vùng đệm của Khu bảo tồn
Phổ biến những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến về trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản nông lâm sản và những kinh nghiệm điển hình sản xuất giỏi chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho cả 03 nhóm hộ (trung bình, cận nghèo và nghèo)
1.3.4.2 Hiện trạng sử dụng đất canh tác nông nghiệp
Diện tích đất tự nhiên tại 03 xã vùng đệm nghiên cứu là khoảng 26.422 ha, chiếm 25,64% diện tích vùng đệm Canh tác nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo tại các xã vùng đệm Khu BTTN Tà Đùng [24], [25]
Bảng 1.2 Diện tích một số loại hình canh tác nông nghiệp chính tại 3 xã vùng đệm
STT Cây trồng ĐVT Xã Đắk
Som
Xã Phi Liêng
Xã Đạ K’nàng
Tổng diện tích (Ha)
Cơ cấu (%)
3.7%7.4%4.6%0.6%84.4%
Trang 39Hình 1.5 Bản đồ hiện trạng cây trồng vùng nghiên cứu
0102030405060708090100
lai
Đậu đỗ
Càphê
Diện tích, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chính
Diện tích sản xuất nông nghiệp (ha)
Trang 40Theo hình 1.5 và hình 1.6, nhìn chung sản xuất cây công nghiệp đang được coi là một giải pháp xoá đói giảm nghèo của nhân dân trong vùng đệm KBT, nguồn thu từ nông nghiệp (chủ yếu là từ thu hoạch cà phê, mì cao sản, bắp lai, đậu) chiếm tỷ lệ khá lớn, ước tính trên 70% tổng thu nhập [26] Trong đó, cây trồng chủ đạo tại 3 xã Phi Liêng;
Đạ K’Nàng và Đak Som là Cà phê diện tích canh tác 6.449 ha, chiếm 84.4% cơ cấu canh tác nông nghiệp tại 3 xã