1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT Tiểu luận môn Pháp luật thuế Đề tài Từ phân tích thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nh.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Tiểu luận môn: Pháp luật thuế
Đề tài: Từ phân tích thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy
định về thuế giá trị gia tăng hiện nay
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hồ Chí Minh, năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG1
1 Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1
2 Pháp luật thuế giá trị gia tăng2
2.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng 2
2.2 Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng 4
2.3 Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng 4
2.4 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng 6
2.5 Khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và hóa đơn, chứng từ 8
3 Thực tiễn việc thực hiện các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng 8
4 Đánh giá các quy định về thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam 9
4.1 Ưu điểm 9
4.2 Hạn chế10
5 Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU.
Thuế là nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước, cạnh tranh với nước ngoài Trong xu thế hội nhập kinh tế, yêu cầu thu hút đầu tư, yêu cầu về cải cách hệ thống thuế thì Việt Nam cũng đang theo xu hướng giảm bớt gánh nặng cho thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, mà tăng nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước cho các loại thuế gián thu, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng Thực tế, thuế giá trị gia tăng đóng một vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Thực hiện thuế giá trị gia tăng có thể ảnh hưởng tới mức độ tiêu dùng và lạm phát Hiện nay, Nhà nước ta đã đặt ra cũng như từng bước hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc và tạo điều kiện để công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đạt hiệu quả hơn Để tìm
hiểu sâu hơn vấn đề này, em xin được chọn đề tài tiểu luận: “Từ phân tích thực trạng pháp
luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, cho biết các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thuế giá trị gia tăng hiện nay.”
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.
Khái niệm thuế giá trị gia tăng được quy định tại Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi,
bổ sung năm 2016 Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng1
Dựa trên quy định về khái niệm, có thể thấy những đặc điểm sau của thuế giá trị gia tăng: Thứ nhất, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng rất rộng Mọi chủ thể trong xã hội đều là chủ thể chịu thuế giá trị gia tăng, tức là đều phải chi trả thu nhập của mình để hưởng thu kết quả sản xuất, kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội Việc đánh thuế với mọi đối tượng trên phạm vi lãnh thổ thể hiện rõ sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội2
Thứ hai, thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Thay vì đánh thuế lên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ thì Nhà nước chỉ đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, điều này làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng Việc này đòi hỏi pháp luật điều chỉnh phải xác định chính xác phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế
Thứ ba, số thuế giá trị gia tăng phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các gia đoạn lưu thông khác nhau nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa, dịch vụ
2 Pháp luật thuế giá trị gia tăng.
2.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng.
Tham gia vào quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng bao gồm hai nhóm chủ thể, đó là: Chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng và Cơ quan quản lý thu thuế giá trị gia tăng
a) Chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng.
Được quy định tại Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016, chủ thể nộp thuế bao gồm: tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (người nhập khẩu)3 Quy định này đặt ra nhu cầu cần thiết phải xác định các điều kiện cần và đủ cho một chủ thể nằm trong diện nộp thuế giá trị gia tăng, song song với đó là loại trừ nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng của những đối tượng không có đầy đủ các điều kiện đã xác định
Các điều kiện được xác định cụ thể là: Có hoạt động kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thông thường (có đăng kí kinh doanh và đăng kí nộp thuế giá trị gia tăng) hoặc có hành vi nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng; và có phần giá trị tăng thêm trên lãnh thổ Việt Nam Việc xác định các điều kiện cần và đủ cho đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng giúp cho cơ quan quản lý, thu thuế và chủ thể sản xuất, kinh doanh hiểu rõ và phân biệt được hai trường hợp sau đây với nhau, đó là trường hợp đăng ký, kê khai thuế
1 Đọc thêm Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016
2 Trường đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.161 3
Đọc thêm Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016
Trang 5giá trị gia tăng và trường hợp phải nộp thực tế một số tiền thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước
Bên cạnh chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng, thì cũng có những chủ thể dù có hoạt động kinh doanh, có phần giá trị tăng thêm trên lãnh thổ quốc gia nhưng lại không phải nộp thuế Đó
là những chủ thể kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng, được quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 20163 Cần phân biệt chủ thể không nộp thuế giá trị gia tăng với các trường hợp miễn thuế giá trị gia tăng, nộp thuế giá trị gia tăng với thuế suất 0% Đây là các chủ thể khác nhau, sự khác nhau ấy được thể hiện thông qua trách nhiệm đăng ký, kê khai thuế giá trị gia tăng, quyền
và lợi ích phát dinh trong quá trình kinh doanh
b) Cơ quan quản lý thuế giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng phát sinh từ việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nên cơ quan quản lý thuế giá trị gia tăng cũng liên quan tới hai lĩnh vực chủ yếu: hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và hoạt động nhập khẩu hàng hóa
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước, pháp luật quy định hệ thống cơ quan thuế địa phương tổ chức quản lý, thu thuế giá trị gia tăng đối với các cơ sở kinh doanh thuộc diện nộp thuế giá trị gia tăng thường xuyên
Đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào thị trường Việt Nam, thì tương tự như hệ thống
cơ quan thuế, hải quan địa phương thực hiện hoạt động giám sát hoạt động chuyển dịch hàng hóa qua biên giới, xác nhận các khoản thu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, trong đó
có thuế giá trị gia tăng
Có thể thấy rõ, việc giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng trong hoạt động quản lý, thu thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế và cơ quan hải quan không những đảm bảo tính thống nhất mà còn bao quát được hết các nguồn thu
2.2 Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.
Điều 3 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 đã quy định các hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng4 Theo đó, tất cả hàng hóa, dịch vụ nằm ngoài diện đặc biệt khuyến khích tiêu dùng thì đều nằm trong diện chịu thuế Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm: Hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, tiêu dùng trong nước, không phân biệt hình thức tiêu dùng; và Hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu để tiêu dùng trong nước Đánh thuế giá trị gia tăng với cả hai loại hàng hóa này đã thể hiện sự bình đẳng giữa hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu
2.3 Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng
a) Giá tính thuế giá trị gia tăng.
Điều 6 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 quy định căn cứ tính thuế bao gồm giá tính thuế và thuế suất6
Giá tính thuế giá trị gia tăng được quy định chi tiết tại Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa
3 Đọc thêm Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016
4 Đọc thêm Điều 3 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 6 Đọc
thêm Điều 6 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016
Trang 6đổi, bổ sung năm 2016 Quy định này nêu rõ giá tính thuế đối với các hoạt động kinh doanh phổ biến và một số hoạt động kinh doanh đặc thù
Giá tính thuế đối với hoạt động kinh doanh phổ biến là giá chưa có thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa dịch vụ đó Đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ đặc biệt là giá đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưua có thuế giá trị gia tăng Trường hợp hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường thì giá tính thuế là giá đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng
Đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, giá tính thuế là giá nhập khẩu và các loại thuế áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ đó nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng
Với hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ dưới dạng đặc thù như cho thuê tài sản, gia công hàng hóa, xây dựng với mỗi trường hợp sẽ được quy định chi tiết giá tính thuế giá trị gia tăng5
b) Thuế suất
Thuế suất có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý thuế Thuế suất được quy định tại Điều
8 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 và Nghị định 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 01 năm 2022 quy định về chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội Tính tới hiện tại có 4 mức thuế suất, bao gồm: 0%, 5%, 8% và 10% áp dụng cho các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu theo thông lệ quốc tế, cụ thể tại Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 Mức thuế suất 5% được áp dụng với hàng hóa, dịch vụ ưu đãi, khuyến khích phát triển, đầu tư6 Các hàng hóa, dịch vụ được liệt
kê trong Nghị định 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ áp dụng mức thuế 10%, các hàng hóa, dịch vụ thông thường còn lại áp dụng mức thuế 8%7
Việc áp dụng thuế suất khác nhau đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, trong chừng mực nhất định, không đảm bảo tính công bằng, trong nhiều trường hợp còn khó khăn khi áp dụng Vì vậy, xu hướng chuyển dần từ cơ chế nhiều thuế suất sang cơ chế một thuế suất là phù hợp và cần thiết8
2.4 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 quy định hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng đó là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm
a) Phương pháp khấu trừ thuế
Phương pháp khấu trừ thuế được quy định cụ thể tại Điều 10 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 Bản chất của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ đi số thuế giá trị gia tăng đầu vào được
5 Đọc thêm Khoản 1 Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016.
6 Đọc thêm Khoản 1 và Khoản 2 Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016.
7 Đọc thêm Điều 1 Nghị định 15/2022/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 28 tháng 01 năm 2022.
8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020 ), Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.186
Trang 7khấu trừ Số thuế được xác định một cách trực tiếp, là hiệu số của các khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông chứ không phải là phần giá trị gia tăng được xác định trực tiếp qua các khâu Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch
vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng ủa hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn bằng giá tính thuế của hàng hóa đó nhân với thuế suất Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu và đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm
2016
Phương pháp này áp dụng cho cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ bao gồm: Chủ thể kinh doanh có doanh thu hàng năm từ một tỷ đồng trở lên từ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trừ
hộ, cá nhân kinh doanh; và Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp này, trừ hộ, cá nhân kinh doanh9
Dù có những điều kiện áp dụng nhất định nhưng phương pháp này cũng có không ít ưu điểm, đó là xác định đúng số thuế phải nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế, chống thất thu thuế Đảm bảo thu đủ số thuế cần thiết điều tiết thu nhập của người tiêu dùng Đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế Đồng thời cũng thúc đẩy các tổ chức kinh tế tiến hành hạch toán theo chuẩn mực pháp luật
b) Phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm
Phương pháp này được quy định cụ thể tại Điều 11 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 Theo đó, phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm xác định theo hiệu số kết quả kinh doanh của chủ thể kinh doanh vàng bạc, đá quý Thuế suất thuế giá trị gia tăng được áp dụng phù hợp với hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý Ngoài chủ thể kinh doanh vàng bạc, đá quý, phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm cũng áp dụng đối với các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh; doanh nghiệp; hợp tác xã có mức doanh thu dưới một tỷ đồng; cá nhân, tổ chức nước ngoài kinh doanh nhưng không có cơ sở thường trú tại Việt Nam Số thuế giá trị gia tằn phải nộp cho đối tượng này được xác định bằng tỉ lệ phần trăm với doanh thu Các tỉ lệ 1%, 5%, 3%, 2% được áp dụng với từng hoạt động khác nhau10 Dù chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm chiếm tỉ lệ cao hơn nhưng tổng thu thuế giá trị gia tăng của các chủ thể này lại không cao, chi phí quản lý thuế lớn hơn so với các chủ thể nộp theo phương pháp khấu trừ
2.5 Khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và hóa đơn, chứng từ.
Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định tại Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 Theo đó, pháp luật quy định rõ cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ sẽ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như thế nào, cũng như các điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
9 Đọc thêm Khoản 2 Điều 10 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016
10 Đọc thêm Điểm b Khoản 2 Điều 11 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016
Trang 8Hoàn thuế giá trị gia tăng là việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại số tiền thuế giá trị gia tăng đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế Các trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng được nêu rõ tại Điều 13 Luật này Việc quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng nhằm hỗ trợ Nhà nước giải quyết các mục đích khác nhau trong từng gia đoạn
Hóa đơn chứng từ cũng được pháp luật quy định cụ thể Việc đặt ra các quy định cụ thể góp phần làm cho công tác quản lý và thu thuế giá trị gia tăng trở nên nhan chóng và hiệu quả hơn
3 Thực tiễn việc thực hiện các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Kết quả việc thực hiện các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng được thể hiện rõ qua những thành tựu đạt được cũng như những vướng mắc trong thời gian qua Đáng nói là trong năm 2021, một số sắc thuế chính đều đạt và vượt tiến độ thu so với dự toán, tăng mạnh so với cùng kỳ, trong đó thuế giá trị gia tăng ước đạt 121.910 tỷ đồng, bằng 51,4%
dự toán, bằng 119,5% so với cùng kỳ1112 Ngoài ra, trong 5 tháng đầu năm 2022, thực hiện tốt quản lý và thu thuế giá trị gia tăng cũng đã giúp cho thu ngân sách nhà nước có những thành tích nổi bật, cụ thể: tổng thu ngân sách nhà nước tháng 5/2022 do cơ quan Thuế quản
lý ước đạt 99.100 tỷ đồng đạt 8,4% so với dự toán pháp lệnh, bằng 112,5% so với cùng kỳ năm 2021 Lũy kế 5 tháng năm 2022, tổng thu NSNN do cơ quan Thuế quản lý ước đạt 672.878 tỷ đồng, bằng 57,3% so với dự toán pháp lệnh, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm
202113
Ngoài những thành tích đáng ghi nhận, thực tế vẫn còn một số vướng mắc như gian lận thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp vẫn còn tiếp diễn, hành vi gian lần này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, gây khó khăn cho các cán bộ và cơ quan thuế trong việc quản lý cũng như thu thuế giá trị gia tăng
4 Đánh giá các quy định về thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
4.1 Ưu điểm.
Thuế giá trị gia tăng đóng một vai trò rất lớn trong sự phát triển của nền kinh tế nước ta, là nguồn thu của ngân sách nhà nước Chính vì vậy, việc đặt ra các quy định về thuế giá trị gia tăng cũng vô cùng cần thiết
Các quy định về thuế giá trị gia tăng trong những năm gần đây đang có sự đổi mới để phù hợp hơn với thực tiễn nền kinh tế trong nước cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Dù vậy những quy định về loại thuế này vẫn đảm bảo được tính thống nhất, ổn định và khả thi, phù hợp với đời sống kinh tế
Pháp luật thuế giá trị gia tăng được đặt ra đã giải quyết tình trạng đánh chồng thuế qua các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa Áp dụng các quy định về thuế suất đơn giản đảm bảo ở mức tương đối tính đơn giản và trung lập của thuế Bên cạnh đó, pháp luật về thuế giá trị gia tăng với những điều kiện và phương pháp tính thuế không chỉ tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách, bảo đảm sự bình đẳng về nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế mà còn là biện
11 Sông Trà, Bám sát tiến độ thực hiện dự toán thu ngân sách, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, ngày
12 /7/2021 https://mof.gov.vn/webcenter/portal/btcvn/pages_r/l/tin-bo-tai-chinh?dDocName=MOFUCM204723
13 Lan Trung, 5 tháng đầu năm, thu ngân sách đạt 57,3% dự toán, Tổng cục thuế Việt Nam, ngày 27/5/2022
Trang 9pháp chống gian lận, trốn lậu thuế ở các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa Việc đặt ra quy định về thuế giá trị gia tăng bảo đảm sự công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nước Đối với cơ quan thuế, pháp luật thuế giá trị gia tăng
hỗ trợ công tác quản lý, thu thuế giá trị gia tăng đạt hiệu quả cao hơn, chống thất thu thuế Đặc biệt quy định về việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu đầu còn có chức năng tạo nên sự khích lệ cho việc chuyên môn hoá, hiện đại hoá sản xuất, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư công cụ sản xuất mới để đưa vào sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
4.2 Hạn chế.
Ngoài những ưu điểm nói trên, pháp luật thuế giá trị gia tăng vẫn đang tồn tại một số điểm hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp sửa đổi, khắc phục như sau:
Đầu tiên, tại Điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi, bổ sung năm 2016 quy định về chủ thể nộp thuế Theo đó, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và rất nhỏ hoặc hộ gia đình và cá nhân kinh doanh có quy mô nhỏ, doanh số thấp cũng thuộc diện đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên những chủ thể này thường tổ chức bộ máy kế toán chưa đảm bảo, tuân thủ theo Luật Kế toán, không ít doanh nghiệp thiếu ý thức trong việc kê khai nộp thuế Một
số ít doanh ngiệp lại lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp rồi mua bán hóa đơn, thậm chí lập khống hóa đơn cho doanh nghiệp khác để kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào Nhìn nhận từ góc độ này, quy định tại Điều 4 đang gây khó khăn cho cán bộ và cơ quan thuế địa phương dẫn tới công tác thu thuế không thể đạt hiệu quả cao, gây thất thoát ngân sách nhà nước và tác động tiêu cực đến môi trường kinh doanh
Hai là quy định về căn cứ tính thuế giá trị gia tăng Theo Điều 7, giá tính thuế giá trị gia tăng là một căn cứ tính thuế, được xác định là giá bán hàng hóa, dịch vụ chưa có thuế giá trị gia tăng Thực tế việc xác định giá bán hàng hóa, dịch vụ thực và giá bán hàng hóa, dịch
vụ ghi trên hóa đơn đang có sự khác nhau Cụ thể là trường hợp người tiêu dùng khi mua hàng hóa hay sử dụng một dịch vụ nào đó, nếu không yêu cầu xuất hóa đơn giá trị gia tăng thì chỉ nhận được hóa đơn mua hàng mà bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ tự in ( đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng) Điều này dẫn đến một tình trạng đó là chủ thể nộp thuế dễ dàng
ăn chặn thuế giá trị gia tăng bằng việc coi như chưa có giao dịch này Hành vi này dẫn tới
lỗ hổng lớn về thuế và gây thất thoát ngân sách nhà nước
Ba là quy định về phương pháp tính thuế Theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng thì các chủ thể nộp thuế được lựa chọn một trong hai phương pháp là phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng Cũng theo đó, chủ thể nộp thuế được
sử dụng một trong hai hóa đơn bán hàng là hóa đơn giá trị gia tăng và hóa đơn bán hàng thông thường Điều này dẫn đến tình trạng thuế trùng thuế và nguy cơ gian lận thuế Trong trường hợp, doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp khấu trừ có quan hệ kinh tế với doanh nghiẹp thực hiện theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng thì cả hai bên đều thiệt hại Điều này được thể hiện rõ nét qua trường hợp sau: khi doanh nghiệp thực hiện phương pháp khấu trừ mua hàng hóa của doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng thì dù có hóa đơn bán hàng (đã bao gồm thuế giá trị gia
Trang 10tăng) cũng không được khấu trừ Có thể thấy, các doanh nghiệp tuân thủ chế độ kế toán, chứng từ, hóa đơn đầy đủ nhưng trong chi phí hợp lý hình thành giá bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị giá trị gia tăng vẫn còn một phần thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ Do vậy, khi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, doanh nghiệp đó vẫn phải đóng thuế giá trị gia tăng đầu ra trên tổng giá trị hàng hóa Tức là, thuế giá trị gia tăng đầu ra vẫn đánh chồng lên thuế giá trị gia tăng đầu vào, gây thiệt hại cho doanh nghiệp14
5 Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Trước những hạn chế, vướng mắc như trên đòi hỏi cần có những kiến nghị, định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng
Về chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng, cần thu hẹp phạm vi chủ thể nộp thuế nhằm đảm bảo hiệu quả công tác quản lý và thu thuế, tập trung quản lý các doanh nghiệp lớn và vừa Những chủ thể có doanh thu dưới ngưỡng tính thuế thì pháp luật nên có quy định không áp dụng cách tính thuế giá trị gia tăng thông thường mà nộp thuế theo mức ấn định trên doanh thu
Bên cạnh đó, pháp luật cũng nên đặt ra các quy định về việc chứng minh giá ghi trên hóa đơn, chứng từ là không phù hợp với giá thực Từ đó mới xác định được phạm vi mức độ thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể vi phạm
Cũng cần quy định các doanh nghiệp thực hiện phương pháp khấu trừ được sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ thông thường của hàng mua vào làm căn cứ khấu trừ thuế giá trị gia tăng
Để các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng thực sự đi vào đời sống kinh tế thì không chỉ cần tới những quy định cụ thể, hợp lý, khả thi của của Nhà nước mà còn cần tới ý thức trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng
14 TS Nguyễn Minh Hằng - ThS Nguyễn Hải Yến, Một số bất cập trong pháp luật thuế giá trị gia tăng và đề xuất
xử lý, Tạp chí Nghề luật, số 2, 2019, tr.25, ngày 29 tháng 3 năm 2019.