Soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận (tiếp theo) Ngữ văn 12 A Soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận (tiếp theo) ngắn gọn III Xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận Trả lời Câu 1 (trang 155 S[.]
Trang 1Soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận (tiếp theo) - Ngữ văn 12
A Soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận (tiếp theo) ngắn gọn:
III Xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận
Trả lời:
Câu 1 (trang 155 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
a So sánh giọng điệu trong hai đoạn trích:
- Điểm tương đồng: giọng điệu khẳng định, nghiêm túc, dứt khoát
- Điểm khác biệt: đoạn 1 có giọng điệu đanh thép, sôi sục căm hờn; đoạn 2 có giọng điệu trân trọng, thiết tha, trìu mến
b Cơ sở chủ yếu tạo nên sự khác biệt trong giọng điệu của lời văn trong những
đoạn trích trên là đối tượng, nội dung và mục đích nghị luận
- Đoạn trích 1: tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta
- Đoạn trích 2: lý giải và khẳng định giá trị đẹp đẽ bên trong diện mạo thơ phức tạp của Hàn Mặc Tử
c Để biểu hiện giọng điệu:
- Đoạn 1: sử dụng lớp từ ngữ chính trị, xã hội với tần số cao; sử dụng phép liệt kê, phép điệp và kiểu câu trần thuật
- Đoạn 2: sử dụng lớp từ ngữ mang màu sắc văn chương; kết hợp câu cảm thán, câu trần thuật; sử dụng phép điệp cấu trúc cú pháp ("Những bài thơ…thực ra
không…, thể hiện một…thể hiện một…thể hiện một…")
Câu 2 (trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
a Giọng điệu và các phương tiện biểu hiện giọng điệu trong các ví dụ:
Trang 2- Đoạn 1: Để biểu hiện giọng điệu đanh thép, hùng hồn, thúc giục, tác giả sử dụng các từ ngữ mang tính chính trị, kết hợp các kiểu câu như câu cảm thán, câu hô gọi, câu trần thuật, câu cầu khiến và phép điệp
- Đoạn 2: Để biểu hiện giọng điệu ngợi ca, yêu mến, xúc động, tác giả sử dụng từ ngữ giàu gợi cảm (dùng nhiều từ láy, nhiều tính từ), phép điệp, phép liệt kê, các câu ngắn dài đan xen
b Cơ sở tạo nên sự khác biệt:
- Đoạn 1 hướng đến đối tượng là đồng bào cả nước với mục đích khích lệ, kêu gọi toàn dân đứng lên chống thực dân Pháp
- Đoạn 2 hướng đến đối tượng là thơ Xuân Diệu với mục đích ca ngợi cái tôi yêu đời, say mê cuộc sống của Xuân Diệu
Câu 3 (trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
Đặc điểm quan trọng nhất của giọng điệu trong văn nghị luận: là giọng trang trọng,
nghiêm túc nhưng ở mỗi phần trong bài văn có thể thay đổi sao cho phù hợp với nội dung cụ thể
+ Sử dụng phép điệp cú pháp, kiểu câu trần thuật, bên cạnh đó có kiểu câu song hành Hầu hết các câu đều ngắn gọn nhằm diễn tả những ý rõ ràng, mạch lạc
+ Giọng điệu được biểu hiện: rõ ràng, dứt khoát, cương quyết
- Đoạn 2:
Trang 3+ Cách sử dụng từ ngữ: trau chuốt, bóng bẩy, lãng tử, ấn tượng, tài hoa ("lưu đãng hão huyền", "con nhà nho khái", "tâm hồn thèm chan hòa", "lần hồi đắp đổi", "nổi tiếng tài hoa", "phong nguyệt tình hoài",…)
+ Sử dụng phép điệp cú pháp, kiểu câu song hành, kiểu câu diễn giải
+ Giọng điệu được biểu hiện: vừa yêu mến, cảm thông vừa ca ngợi, thích thú
- Đoạn 3:
+ Cách sử dụng từ ngữ: nhiều cặp tính từ đối lập, các vế câu tương phản
+ Đoạn văn triển khai theo lối so sánh tính cách và cuộc đời giữa Thúy Kiều với
Từ Hải và sử dụng câu ghép điều kiện “Nếu… thì” để làm nổi bật sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhân vật Biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong đoạn văn là phép điệp cấu trúc cú pháp
+ Giọng điệu được biểu hiện: nhịp nhàng, cân đối
Câu 2 (trang 158 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
* Phân tích, chứng minh, bình luận:
- Dựa trên cơ sở về năng lực, sở thích của mỗi người để lựa chọn
Trang 4+ Chọn đúng nghề sẽ mang lại niềm say mê, hứng thú với công việc, có cơ hội phát huy năng lực
+ Lựa chọn sai nghề mất cơ hội, công việc trở thành nỗi ám ảnh, gánh nặng
- Thuận lợi: xã hội phát triển, đa dạng nghề nghiệp, mở ra cho người lao động nhiều cơ hội nghề nghiệp
- Khó khăn: nhu cầu xã hội ngày càng cao đòi hỏi chất lượng tay nghề của người lao động phải cao,
+ Một số ngành nghề được mang lại nguồn thu nhập tốt thì một số ngành nghề lại mang lại nguồn thu nhập thấp
+ Nhiều ngành nghề xảy ra tình trạng thừa nhân lực, nhiều ngành nghề thiếu nhân lực
- Quan điểm chọn nghề:
+ Phù hợp với điều kiện bản thân, sức khỏe, tài chính, lý lịch…
+ Phải phản ánh năng lực, say mê, sở thích cá nhân
+ Không nên chạy theo những công việc được coi là thời thượng, vì nhu cầu xã hội luôn thay đổi
+ Khi chọn được nghề phải nuôi dưỡng, có ý thức nâng cao tay nghề
- Khi giỏi nghề, và sống với nghề bằng đam mê thì sẽ có cuộc sống sung túc, như mong muốn
- Bài học về nhận thức, hành động
+ Mỗi người nên nhận thức được khả năng thật sự của bản thân lựa chọn nghề
+ Lựa chọn nghề nghiệp cần có sự kết hợp hài hòa năng lực, sở thích, trong đó năng lực quyết định
Kết bài:
- Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo con đường mưu sinh mà còn hạnh phúc khiến con người sống ý nghĩa hơn
Trang 5B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận:
Khi viết bài văn nghị luận, cần chú ý
- Cách lựa chọn từ ngữ:
+ Lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận: tránh dùng các từ lạc phong cách hoặc từ ngữ sáo rỗng, cầu kì
+ Kết hợp sử dụng các phép tu từ từ vựng và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng để bộc lộ cảm xúc phù hợp
Trang 6Soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận - Ngữ văn 12
A Soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận ngắn gọn:
I Cách sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận
Câu 1 (trang 136 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
a Nhận xét về cách dùng từ ngữ:
Ưu điểm Cách dung từ ngắn gọn, giản dị, đi
nhanh vào vấn đề cần nghị luận
Cách diễn đạt uyển chuyển, linh hoạt, chặt chẽ, giàu hình tượng
Nhược điểm Thiếu hấp dẫn, nhiều từ dung chưa
+ “vẻ đẹp lung linh” → vẻ đẹp cao quý
- Ngữ liệu (2): “tinh thần Người vẫn vượt thoát… nhà tù” → tinh thần Người vẫn tự do tự tại, vượt lên trên sự giam hãm của nhà tù
c Viết đoạn văn:
Nhật kí trong tù là viên ngọc vô giá Hồ Chí Minh “vô tình” đem đến cho kho tàng thơ ca
dân tộc Nói “vô tình” bởi tập thơ được sáng tác trong những ngày tháng thư nhàn bất đắc dĩ trong nhà tù tàn bạo của bọn Tưởng Giới Thạch Dù viết văn làm thơ không phải mục đích lớn nhất và dù Người vẫn nói “Ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng khi điều kiện, tâm hồn nhạy cảm
và đẹp đẽ của Hồ Chí Minh lại tìm đến thơ như một lẽ tự nhiên vô cùng Chúng ta có thể dễ dàng
nhận ra vẻ đẹp lấp lánh của tâm hồn ấy qua từng thi phẩm trong tập Nhật kí trong tù, tiêu biểu như những bài thơ Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi
Câu 2 (trang 137 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trang 7a Những từ ngữ in đậm bày tỏ tình cảm trìu mến và sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc của Xuân
Diệu đối với hồn thơ Huy Cận Những từ ngữ ấy cũng gợi lên ấn tượng sâu đậm về đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận, đó là hồn thơ của nỗi buồn vũ trụ, nỗi sầu nhân thế
b Các từ ngữ in đậm có sắc thái biểu cảm phù hợp với đối tượng nghị luận bởi:
+ Từ “chàng” phù hợp với độ tuổi trẻ trung của Huy Cận khi sáng tác Lửa thiêng
+ Các từ ngữ còn lại phù hợp với tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn và phong cách nghệ thuật mang
cả hứng không gian với nỗi sầu vũ trụ của Huy Cận
Câu 3 (trang 138 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
- Từ ngữ không phù hợp và cách khắc phục:
+ “kịch tác gia” → kịch gia
+ “vĩ đại” → xuất sắc/ưu tú
+ “Sự tranh chấp… trong quá trình con người sống” → sự hài hòa, thống nhất…
Lưu Quang Vũ là một kịch gia ưu tú Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt xứng đáng là một
kiệt tác trong kho tàng văn học nước nhà Nhà văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: sự hài hòa, thống nhất giữa linh hồn và thể xác trong mỗi con người và hướng tới sự hoàn thiện
Thực ra, chúng ta ai cũng cần sống bằng cả linh hồn và thể xác Linh hồn có cao khiết, đẹp đẽ thế nào cũng không có ý nghĩa gì khi không có thể xác Linh hồn Trương Ba trong trong vở kịch cũng vậy Trương Ba không thể sống chỉ bằng phần hồn Nhưng phần hồn ấy, vì những trớ trêu, éo le của số phận, lại bị nhập vào xác của anh hàng thịt Chẳng qua đó chỉ là một cái xác
“âm u đui mù” nếu không có linh hồn của Trương Ba Nhưng nó cũng chẳng để cho hồn Trương
Ba được yên mà lại còn làm nhân vật đau khổ, dằn vặt vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt
của nó
Trang 8Câu 4 (trang 138 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
* Khi sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận cần chú ý những yêu cầu sau:
- Lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề nghị luận; tránh dùng từ lạc phong cách hoặc từ
ngữ sáo rỗng, cầu kì
- Kết hợp sử dụng các phép tu từ từ vựng và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng
để bộc lộ cảm xúc phù hợp
II Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận
Câu 1 (trang 138 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
a Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu và hiệu quả diễn dạt:
- Ngữ liệu (1): gồm 7 câu đều sử dụng kiểu câu trần thuật, có sự đan xen giữa câu dài và câu ngắn khác nhau
=> Tạo nên giọng điệu đều đều, ít điểm nhấn
- Ngữ liệu (2): gồm 11 câu với sự kết hợp của nhiều kiểu câu như câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu đơn, câu ghép
=> Giọng điệu linh hoạt, biểu hiện phong phú cảm xúc của người viết và diễn tả ấn tượng nội dung nghị luận
b Trong đoạn văn nghị luận nên sử dụng kết hợp nhiều kiểu câu nhằm đem lại hiệu quả diễn đạt,
một mặt tạo nên giọng điệu linh hoạt, uyển chuyển cho đoạn văn mặt khác gây ấn tượng với người đọc với những điểm nhấn nội dung và cảm xúc của người viết
c Đoạn ngữ liệu (2) sử dụng biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ (nhấn mạnh nỗi đau đớn của Trọng
Thủy về cái chết của Mị Châu) và phép điệp
=> Tác dụng: Diễn tả nỗi ân hận, day dứt, mặc cảm tội lỗi như xoáy sâu vào lòng nhân vật Trọng Thủy Thể hiện thành công đề tài của bài văn, cảm xúc của người viết
d Bài văn nghị luận nên sử dụng một số phép tu từ cú pháp nhằm tạo nhịp điệu, nhận mạnh thái
độ và cảm xúc của người viết Các phép tư từ cú pháp thường được sử dụng trong văn nghị luận như phép điệp, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, liệt kê…
Ví dụ: Phép lặp cú pháp
- “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”
Trang 9“Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”
Câu 2 (trang 139 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
a Đoạn trích chủ yếu sử dụng kiểu câu trần thuật Kiểu câu này giúp thông báo thông tin một
cách nhẹ nhàng, giản dị với cách thức tự sự
b Câu văn “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng” là kiểu câu đặc biệt, khác với các câu văn còn lại Hiệu
quả của câu đặc biệt này là nhấn mạnh cảm xúc xót xa, thương cảm của người viết về đối tượng nghị luận
Câu 3 (trang 140 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
- Ngữ liệu (1): kết hợp nhiều câu có cùng một kiểu kết cấu [Trạng ngữ, Chủ ngữ + Vị ngữ] khiến đoạn văn trở nên khô cứng, lặp lại một cách nhàm chán
Cách khắc phục:
Qua việc xây dựng tình huống độc đáo, cách khắc họa nhân vật ấn tượng và việc thể hiện tâm trạng, sử dụng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, gợi liên tưởng sâu sắc, Nguyễn Minh Châu
đã sáng tạo nên một truyện ngắn đặc sắc Nhân vật Nhĩ trong Bến quê đã bày tỏ những trăn trở,
suy tư của con người trong thời khắc mong manh giữa sự sống và cái chết Dường như, Nhĩ đã gửi tới người đọc lời nhắn nhủ của tác giả Nguyễn Minh Châu: hãy biết trân trọng những giá trị, những điều bình dị và gần gũi nhất trong cuộc đời
- Ngữ liệu (2): kết hợp nhiều câu có cùng một chủ ngữ “văn học dân gian” gây ra sự trùng lặp, đơn điệu, khô cứng
Cách khắc phục:
+ Câu 1: giữ nguyên
+ Câu 2: thay chủ ngữ “Kho tàng văn học dân gian Việt Nam” bằng cụm từ “Đó là”
+ Câu 3: Thay thế “Văn học dân gian góp phần” bằng cụm từ “Cuốn bách khoa thư” này có vai trò”
+ Câu 4: giữ nguyên
Câu 4 (trang 141 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
- Kết hợp một số kiểu câu trong đoạn, trong bài để tạo nên giọng điệu linh hoạt, biểu hiện cảm xúc
- Sử dụng các phép tu từ cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ, cảm xúc
Trang 10B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Diễn đạt trong văn nghị luận:
Khi viết bài văn nghị luận, cần chú ý
Trang 11Soạn bài Giá trị văn học và tiếp nhận văn học - Ngữ văn 12
A Soạn bài Giá trị văn học và tiếp nhận văn học ngắn gọn:
Câu 1 (trang 191 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
vỡ giới hạn thời gian và
không gian sống thực tế của
cá nhân, giúp họ có khả
năng sống nhiều cuộc đời, ở
nhiều thời, nhiều nơi
+ GTNT là khả năng đáp ứng yêu cầu hiểu biết rõ và sâu hơn cuộc sống xung quanh và chính mình,
từ đó tác động vào cuộc sống hiệu quả hơn
+ GTNT gồm quá trình nhận thức (hiểu biết về mọi mặt đời sống trong những khoảng không-thời gian khác nhau) và tự nhận thức (hiểu bản chất con người và hiểu chính mình)
Giá trị
giáo dục
(GTGD)
+ Con người có nhu cầu
hướng thiện, khao khát cuộc
sống tốt lành, yêu thương
+ Dù trực tiếp hay gián tiếp,
nhà văn luôn bộc lộ thái độ,
tư tưởng, tình cảm, nhận
xét, đánh giá và tác động tới
người đọc
+ GTGD là khả năng thay đổi/nâng cao tư tưởng, tình cảm theo chiều hướng tiến bộ, tốt đẹp, giúp con người ngày càng hoàn thiện
+ Biểu hiện: giáo dục lý tưởng và giáo dục đạo đức
+ Văn học mang tới vẻ đẹp muôn hình muôn vẻ của thiên nhiên, của cảnh đời, của tâm hồn con người
Trang 12+ Văn học phát hiện vẻ đẹp từ những điều bé nhỏ, bình thường đến những điều lớn lao, cao cả
Câu 2 (trang 191 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Câu 3 (trang 191 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
* Tiếp nhận văn học: Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc chuyển hóa văn
bản ngôn từ nghệ thuật thành tác phẩm văn học thông qua các giai đoạn như đọc văn bản (tri giác ngôn từ, tái tạo hình ảnh…), phát hiện, kiến tạo ý nghĩa của tác phẩm, thưởng thức các giá trị tư tưởng, nghệ thuật, ghi nhớ những điều hay, tâm đắc…
- Tiếp nhận văn học thực chất là quá trình giao tiếp Quá trình này có các tính chất như sau:
+ Tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận: những yếu tố như năng lực, thị hiếu, sở thích, tuổi tác, tư tưởng, tình cảm, nghề nghiệp, khả năng tri giác, quan sát và mức độ tích cực của người tiếp nhận có vai trò quan trọng trong việc “giao tiếp” với tác phẩm
+Tính đa dạng, không thống nhất: cùng một tác phẩm nhưng cảm thụ và đánh giá của công chúng có thể rất khác nhau
Câu 4 (trang 191 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trang 13Trả lời:
* Có ba cấp độ trong tiếp nhận văn học:
+ Thứ nhất: cảm thụ chỉ tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp của tác phẩm
+ Thứ hai: cảm thụ qua nội dung trực tiếp để thấy nội dung tư tưởng của tác phẩm
+ Thứ ba: Cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức của tác phẩm, thấy giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của nó, qua đó thấy được ý nghĩa xã hội của tác phẩm Xem việc đọc tác phẩm là cách để cảm, để nghĩ, tự đối thoại với mình và với tác giả, từ đó chuyển hóa thành hành động tác động tích cực vào đời sống
* Giải pháp để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự:
+ Người đọc nâng cao trình độ hiểu biết của mình, tích lũy kinh nghiệm tiếp nhận, trân trọng sản phẩm sáng tạo, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan, toàn vẹn để làm phong phú vốn cảm thụ của mình
+ Tiếp nhận một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cái đúng
+ Không suy diễn tùy tiện
Trang 14Câu 2 (trang 191 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời
Ví dụ: Các giá trị của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
- Giá trị nhận thức: giúp người đọc hiểu biết về số phận của người lao động miền núi thời kỳ trước cách mạng; hiểu biết về cuộc sống và phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Mèo ở Tây Bắc
- Giá trị giáo dục: trên cơ sở ngợi ca sức sống tiềm tàng và phản ánh hành trình gian khổ của đồng bào miền núi, tác phẩm bồi đắp cho người đọc thái độ trân trọng hòa bình, dạy chúng ta về nghị lực sống và khơi dậy tấm lòng biết cảm thông, biết yêu thương, biết vượt lên số phận
- Giá trị thẩm mỹ: cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng nhân vật với sức sống tiềm tàng, của phong tục ngày xuân ngày Tết ở miền núi, vẻ đẹp của ngôn ngữ giản
dị gợi cảm, vẻ đẹp của nghệ thuật trần thuật, sức hấp dẫn của các chi tiết nghệ thuật đặc sắc…
Câu 3 (trang 191 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
- “Cảm”: tiếp nhận cảm tính, chủ quan, chưa có sự tham gia của tư duy phân tích,
sự cắt nghĩa lý giải sâu xa hay sự chuyển hóa thành hành động
- “Hiểu”: thông hiểu tác phẩm về cả nội dung và nghệ thuật, có sự tham gia của tư duy phân tích, lý giải trước những vấn đề và giá trị phản ánh trong tác phẩm
B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Giá trị văn học và tiếp nhận văn học:
1 Giá trị văn học
* Giá trị văn học là gì?
GTVH là sản phẩm kết tinh từ quá trình sáng tạo văn học của nhà văn, đáp ứng nhu cầu khác nhau của đời sống con người, tác động sâu sắc đến cuộc sống và con người
Giá trị nhận thức:
Trang 15- Hiểu được cuộc sống hiện thực phong phú
- Hiểu đc bản chất của con người
- Hiểu bản thân mình hơn
Giá trị thẩm mỹ:
* Cơ sở:
- Con người luôn có nhu cầu cảm thụ và thưởng thức cái đẹp
- Nhà văn bằng tài năng đã thể hiện cái đẹp của cuộc sống, của con người vào trong tác phẩm của mình giúp người đọc cảm nhận, rung động
Trang 162.1 Tiếp nhận trong đời sống văn học:
a Vai trò của tiếp nhận trong đời sống văn học: Mối quan hệ qua lại: Sáng tạo – Truyền bá – Tiếp nhận
=> TNVH là một khâu quan trọng quyết định giá trị và sự tồn tại của TNVH
a Tính chất cá thể hóa, tính chủ động tcực của người tiếp nhận
b Tính đa dạng không thống nhất trong tiếp nhận văn học
* Lưu ý: Dù có cách hiểu khác nhau nhưng cần đạt đến cách hiểu đúng với tác phẩm để trở về đúng với giá trị đích thực của nó
2.3 Các cấp độ tiếp nhận văn học
a Có 3 cấp độ TNVH:
Trang 17Cấp độ thứ nhất: Tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp của tác phẩm -> Cách tiếp nhận văn học đơn giản nhất nhưng phổ biến
Cấp độ thứ hai: Qua nội dung tác phẩm để thấy được nội dung tư tưởng của tác phẩm
Cấp độ thứ ba: Cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức để thấy được giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm
b Để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự, người tiếp nhận cần:
- Nâng cao trình độ
- Tích lũy kinh nghiệm
- Trân trọng tác phẩm, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan, toàn vẹn
- Tiếp nhận một cách chủ động tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cái đúng
- Không nên suy diễn tùy tiện
Trang 18Soạn bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Ngữ văn 12
A Soạn bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt ngắn gọn:
Phần đọc - hiểu văn bản
Câu 1 (trang 153 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời
* Hàm ý của tác giả qua đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt:
- Bi kịch bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo (linh hồn thanh cao của Trương
Ba chán ghét, đau khổ bên trong thân xác phàm tục của anh hàng thịt): "tôi đã chán cái chỗ ở không phải của tôi… ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát"
- Không chỉ linh hồn mới có tiếng nói và sức mạnh, thể xác cũng có sức mạnh bản năng ghê gớm của nó: bất chấp thái độ phủ nhận yếu ớt của Trương Ba, xác hàng thịt đưa ra nhiều minh chứng cho thấy hồn Trương Ba cũng tha hóa theo nhu cầu của hắn
- Sự thật là nhiều người chỉ vun vén cho phần hồn mà bỏ bê, coi thường phần xác
- Cuộc đấu tranh giữa cái thanh cao và cái tầm thường (hồn Trương Ba cố gắng giữ quan điểm của mình trước những lý lẽ ti tiện của xác hàng thịt nhưng vì vẫn phải chung đụng, sống nhờ vào xác hàng thịt nên không thoát khỏi tuyệt vọng
Câu 2 (trang 153 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời
* Nguyên nhân:
- Nguyên nhân khiến người thân của Trương Ba và chính Trương Ba rơi vào bất
ổn, đau khổ là việc bên trong một đằng bên ngoài một nẻo gây ra nhiều phiền toái, rắc rối Đau xót hơn là Trương Ba không còn là chính mình, ông bị tha hóa dưới sức ảnh hưởng ghê gớm của xác hàng thịt
=> Hậu quả là vợ ông đòi bỏ đi, cái Gái không nhận ông, con trai không nghe lời ông, con dâu cũng nhận ra sự đổi khác ở ông
* Thái độ:
Trang 19- Đau đớn, nhẫn nhục, bất lực
- Thừa nhận sự thắng thế của xác hàng thịt nhưng không khuất phục mà quyêt định không cần đến xác hàng thịt nữa
=> Thắp hương gọi Đế Thích để giải quyết bi kịch
Câu 3 (trang 154 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời
* Sự khác nhau của Trương Ba và Đế Thích về ý nghĩa sự sống:
- Với Đế Thích: sống là được tồn tại dù đôi khi người ta không được là mình toàn vẹn (Ngọc Hoàng và thần tiên cũng vậy) và có thể sống bằng mọi giá (Đế Thích
nói với Trương Ba: "Ông phải sống, dù với bất cứ giá nào")
- Với Trương Ba: sự sống phải có ý nghĩa, có niềm vui và phải sống đúng là mình ("tôi muốn được là tôi toàn vẹn", "không thể sống với bất cứ giá nào được") Sống không là mình toàn vẹn "còn khổ hơn là cái chết"
* Lời trách của Trương Ba với Đế Thích “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!” rất đúng đắn vì sự sống chỉ có ý nghĩa khi con người được sống là chính mình một cách toàn vẹn Việc Trương Ba sống dựa vào xác hàng thịt đã khiến hồn ông trở thành nô lệ cho thân xác và không được sống thật với con người mình
* Ý nghĩa của màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích:
- Sự sống đáng quý nhưng không thể sống bằng bất cứ giá nào
- Sự sống chỉ có ý nghĩa và con người chỉ thấy thanh thản khi sống là chính mình, hài hòa giữa bên ngoài và bên trong
- Mọi sự chắp vá, gượng ép chỉ đem đến lại vật quái gở mang tên “hồn Trương Ba
da hàng thịt”, đem lại đau khổ cho bản thân và người xung quanh
Câu 4 (trang 154 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời
* Trương Ba từ chối nhập vào xác cu Tị vì:
Trang 20- Việc này sẽ dẫn đến hàng loạt những phiền phức, rắc rối như việc Trương Ba đã
nhập vào xác hàng thịt (phải giải thích cho chị Lụa và gia đình, có khi phải sang nhà chị Lụa ở, lại tạo cơ hội cho bọn lý trưởng, trương tuần thu lợi…)
- Tuy có cả cuộc đời trước mắt nhưng khi những người đồng trang lứa nằm xuống, Trương Ba sẽ trở nên lạc lõng, thảm hại
- Dù nhập vào xác cu Tị hay xác ai thì Trương Ba cũng không được là mình toàn vẹn và tiếp tục rơi vào bi kịch bên trong một đằng bên ngoài một nẻo
Câu 5 (trang 154 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời
* Ý nghĩa của đoạn kết:
- Quyết định đúng đắn của Trương Ba đem lại sự thanh thản, yên bình, hạnh phúc
cho chính linh hồn ông và những người thân xung quanh
- Sự sống đáng quý nhưng sống là chính mình, sống hạnh phúc còn có ý nghĩa quan trọng hơn
Phần Luyện tập
Câu hỏi (trang 154 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Nếu Trương Ba đồng ý sống trong xác hàng thịt hoặc nhập vào cu Tị, cuộc sống của Trương Ba sẽ lại rơi vào bi kịch với hàng loạt những rắc rối, phiền toái của việc bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo Những phiền toái ấy có thể khác nhau khi sống trong những cái xác khác nhau nhưng đều là sự chắp vá lố bịch, sự tham lam tai hại Quan trọng nhất, dù sống trong xác ai không phải xác mình thì hồn Trương Ba cũng đều không thể có được sự thanh thản, hạnh phúc vì sống không là chính mình Điều đó sẽ tiếp tục làm tổn thương những người thân yêu của ông và gây ra những điều vô lý ở đời
B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt:
I Tác giả
1 Tiểu sử
Trang 21- Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), ông sinh ra ở Phú Thọ, là con trai của nhà viết kịch Lưu Quang Thuận
- Là một con người tài năng đa dạng nhưng gặp nhiều bất hạnh
- Ông đã mất trong một vụ tai nạn giao thông khi sự nghiệp đang nở rộ
2 Sự nghiệp văn học
a Tác phẩm chính
Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Hương cây, Tôi và chúng ta, Sống mãi tuổi 17,
Nàng Sita, Ngọc Hân công chúa,
b Phong cách nghệ thuật
Kịch của Lưu Quang Vũ mang nhiều cách tân độc đáo; quan tâm thể hiện xung đột trong cách sống và quan niệm sống, bày tỏ khát vọng hoàn thiện nhân cách con người
II Tác phẩm
Trang 221 Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ:
- Vận dụng sáng tạo tích truyện dân gian để xây dựng tình huống kịch độc đáo và gửi gắm vấn đề nhức nhối của cuộc sống hiện đại
- Viết năm 1981, công diễn lần đầu năm 1984 và gặt hái được thành công lớn
- Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch
2 Thể loại: Kịch
3 Bố cục:
- Phần 1 (từ đầu đến "Cái hồn vía ương bướng của tôi ơi, hãy về với tôi này!"):
Cuộc đối thoại giữa hồn và xác
- Phần 2 (tiếp theo đến "Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không
cần"): Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và mọi người trong gia đình
- Phần 3 (còn lại): Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích; quyết định
cuối cùng của Trương Ba
4 Tóm tắt
Trương Ba - người làm vườn chất phác, hiền lành, rất mực yêu quý vợ con và cháu gái Ông nổi tiếng là người chơi cờ giỏi và có lối sống thanh cao Vì sự tắc trách của Nam Tào, Trương Ba đang khỏe mạnh bỗng chết một cách đột ngột Tiên
Đế Thích vì muốn có người đánh cờ với mình và muốn sửa sai cho Nam Tào nên hóa phép cho hồn Trương Ba nhập vào xác một anh hàng thịt mới chết Hồn
Trương Ba đau khổ đấu tranh với những ham muốn bản năng của thân xác hàng thịt Sau một thời gian, chính hồn Trương Ba cũng phần nào bị tha hóa, gia đình Trương Ba trở nên ly tán, đau buồn Trương Ba quyết định thắp nhang gọi Đế Thích lên để quyết định rời khỏi thân xác anh hàng thịt Đế Thích tìm mọi cách khuyên ngăn và đưa ra giải pháp khác hấp dẫn hơn như cho Trương Ba nhập vào xác cu Tị đang hấp hối Trương Ba xin cho cu Tị được sống và kiên quyết chọn cái chết và không nhập vào xác ai nữa bởi ông không muốn “bên trong một đằng bên ngoài một nẻo”
Trang 235 Giá trị nội dung:
Qua đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ muốn gửi tới
người đọc thông điệp: Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống
tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh của chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý
6 Giá trị nghệ thuật:
- Xây dựng tình huống, xung đột kịch độc đáo, hấp dẫn
- Đối thoại kịch đậm chất triết lý, giàu kịch tính, tạo nên chiều sâu ý nghĩa cho vở kịch
- Hành động kịch của nhân vật phù hợp với tính cách, hoàn cảnh, góp phần thúc đẩy tình huống, xung đột kịch phát triển
- Nghệ thuật độc thoại nội tâm giúp nhân vật bộc lộ tính cách và quan niệm về lẽ sống đúng đắn
Trang 25Soạn bài Kiểm tra tổng hợp cuối năm Lớp 12 - Ngữ văn 12
- Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại
- Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta
Trang 26- Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc
* Giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ
nhặt của Kim Lân:
- Tình huống truyện: Nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã tràn ngập đến xóm ngụ cư như một cơn lũ, người chết như ngả rạ, người sống đi lại dật dờ như những bóng
ma Thế mà Tràng, một thanh niên nghèo, xấu xí, thô kệch, ngộc nghệch lại là dân ngụ cư bị người ta khinh rẻ bỗng dưng nhặt được vợ như nhặt cái rơm, cái rác bên đường
=> Đây là tình huống éo le, bi hài: Tràng lấy được vợ lúc này là việc đáng mừng hay đáng lo nên cười hay nên khóc
- Qua tình huống truyện, Kim lân đã làm nổi bật tâm lý, số phận những người nông dân nghèo trong nạn đói Đằng sau đó là ý đồ nghệ thuật của nhà văn:
+ Làm nổi bật tâm lý nhân vật
+ Làm nổi bật số phận bi thảm của người nông dân nghèo trong nạn đói năm 1945 (số phận Tràng, số phận thị, số phận bà cụ Tứ)
+ Thông qua tình huống truyện, tác giả còn mở ra một dự cảm tốt lành về sự thay đổi số phận của những con người khốn khổ ấy
+ Thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đạo của nhà văn Kim Lân
Đề 2 (trang 203 SGK Ngữ văn 12 tập 1)
Câu 1:
a Tác giả:
Trang 27- Ơ Hê-minh-uê là nhà văn Mỹ đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung
- Tác phẩm chính: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện
hồn ai (1940), Trong thời đại chúng ta (1925),
b Tác phẩm:
- Ông già và biển cả (1952) ra mắt bạn đọc trước khi Hê-minh-uê được tặng giải
thưởng Nô–ben về văn học năm 1954, là một kết tinh trong lối kể chuyện của Minh-Uê
Hê Tác phẩm thể hiện niềm tin bất diệt và ý chí nghị lực của con người, “Con người
có thể bị đánh bại chứ không bị hủy diệt”
- Ông già và biển cả tiêu biểu cho lối viết theo nguyên lý “tảng băng trôi” của Hê–
+ Cơ hội là điều hiếm hoi trong cuộc sống, để có được cơ hội phải hội tụ nhiều yếu
tố Cơ hội đã trôi qua thì khó lặp lại lần tiếp theo
- Bài học rút ra:
+ Phải biết quý trọng, không nên lãng phí thời gian, phải biết tận dụng thời gian để làm những việc có ích
+ Cần cẩn trọng, suy nghĩ chín chắn trước câu nói
+ Khi thời cơ đến, phải biết nắm lấy, không nên bỏ lỡ
Trang 29Soạn bài Một người Hà Nội - Ngữ văn 12
A Soạn bài Một người Hà Nội ngắn gọn:
Câu 1 (trang 98 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
- Thời trẻ: xinh đẹp, thông minh, sinh ra trong gia đình giàu có
- Suy nghĩ, hành động của cô Hiền trong từng thời đoạn của đất nước:
+ Thời chống Pháp: vẫn sống ở Hà Nội, không dính líu gì đến “chính phủ”, vẫn sống một cuộc sống đường hoàng, sung túc, vẫn giữ nền nếp sinh hoạt và lễ nghi tốt đẹp của người Hà Nội + Thời kỳ Hà Nội giải phóng: vẫn giữ gìn cách sống và nếp cũ của người Hà Nội, luôn là nội tướng trong gia đình (quyết chuyện sinh con, làm ăn…)
+ Thời chống Mỹ: không khuyến khích cũng không ngăn cản con cái tòng quân
+ Sau 1975: giữ nếp sống thanh lịch của người Hà Nội, vẫn tổ chức bữa cơm bạn bè mỗi tháng một lần giữa những cựu công dân của Hà Nội
- Nếp nghĩ:
+ Nước nhà sau độc lập: “Vui hơi nhiều… đến làm ăn chứ?”
+ “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ”
+ “Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao”
+ “Chúng mày là người Hà Nội… buông tuồng”
+ “Tao không ngăn cản cũng không… giết chết nó”
+ “Xã hội nào cũng phải có… cho mọi giá trị”
à Tính cách cô Hiền: khôn ngoan, sắc sảo, thực tế, thức thời; có bản lĩnh, giàu lòng tự trọng; có ý thức sâu sắc về giữ gìn nền nếp và giá trị văn hóa tốt đẹp của Hà Nội
à Nói đến hạt bụi, người la nghĩ đến vật nhỏ bé, tầm thường Có điều là hạt bụi vàng thì dù nhỏ
bé nhưng có giá trị quý báu Tác giả gọi cô Hiền là “một hạt bụi vàng”’ của Hà Nội vì cô đại diện cho cốt cách, bản lĩnh và vẻ đẹp văn hóa vững bền của Hà Nội
Câu 2 (trang 98 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trang 30Trả lời:
- Nhân vật “tôi”:
+ Giỏi quan sát, từng trải qua nhiều biến động của thời cuộc, biết trân trọng giá trị văn hóa và biết quý trọng những con người có bản lĩnh văn hóa như cô Hiền
+ Một người lính, một người bình thường trong cuộc đời
+ Thể hiện một tình yêu sâu nặng, cách nhìn nhận về Hà Nội: đa chiều, lịch lãm
- Người mẹ của Tuất:
+ Yêu thương con hết mực
+ Nén đau thương, nén nỗi đau mất con để tiếp tục cuộc sống
- Những thanh niên Hà Nội và những người tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của nhân vật “tôi”: hời hợt, thô lỗ, ích kỷ, làm xấu đi diện mạo và văn hóa của Hà Nội
Câu 3 (trang 98 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh gợi lên nhiều suy ngẫm:
- Cây si biểu tượng cho giá trị và văn hóa ngàn năm của Hà Nội Cây si ấy có thể bị bật rễ trước thiên nhiên khắc nghiệt cũng như nhiều giá trị của Hà Nội có thể chao đảo trước biến động của thời cuộc nhưng những giá trị tốt đẹp nhất, tinh túy nhất, vững bền nhất của Hà Nội sẽ không mất đi như cây si có thể hồi sinh sau trận bão
Câu 4 (trang 98 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
- Giọng điệu trần thuật: vừa tự nhiên, dân dã, hài hước vừa chiêm nghiệm, suy tư, triết lý
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: khắc họa nhân vật thông qua suy nghĩ, lời nói, hành động Nhân vật được cá thể hóa cao độ với lứa tuổi, giai tầng, tính cách, cuộc đời riêng
B Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Một người Hà Nội:
Trang 31I Tác giả
1 Tiểu sử
- Nguyễn Khải (1930 – 2008), tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, ông sinh ra tại Hà Nội
- Nhà văn được rèn luyện và trưởng thành trong quân ngũ
- Một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8
1 Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ:
- Xuất xứ: Tác phẩm in trong tập truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Khải
- Hoàn cảnh ra đời: Tác phẩm ra đời khi đất nước có nhiều thăng trầm, biến động, những giá trị truyền thống cũng dần phai mờ, đặc biệt là những giá trị của người Hà Nội
2 Thể loại: Truyện ngắn
3 Bố cục:
Phần 1 Từ đầu đến “dính líu nhiều có ngày lại rắc rối”: Giới thiệu về cô Hiền
Phần 2 Tiếp theo đến “rút lui ngay”: Cô Hiền trong thời kì hòa bình lặp lại
Trang 32Phần 3 Tiếp theo đến “đại khái là như thế”: Cô Hiền trong thời kì chiến tranh chống Mỹ
Phần 4 Tiếp theo đến “từ mấy tháng nay rồi”: Cô Hiền sau chiến thắng mùa xuân 1975
Phần 5 Còn lại: Cô hiền trong những năm thời kỳ đổi mới
4 Tóm tắt
Truyện xoay quanh nhân vật cô Hiền, một “hạt bụi vàng” của thủ đô nghìn năm văn hiến Cô xinh đẹp, thông minh, lại sinh ra trong một gia đình giàu có lương thiện khiến nhân vật “tôi” phải trân trọng, ngưỡng mộ Thời trẻ, cô mở một xa-lông văn học, giao lưu với khách văn chương trí thức Đến tuổi lập gia đình, cô chọn một ông giáo Tiểu học trong sự ngỡ ngàng của biết bao người Suốt thời kháng chiến chống Pháp, vợ chồng cô vẫn sống ở Hà Nội một cách đường hoàng, sung túc, sinh hoạt nền nếp, lễ nghi bất chấp xung quanh đói khổ, buông tuồng Cô Hiền làm nghề hoa giấy và có cái mặt tư sản nhưng không bị cải tạo vì cô chẳng bóc lột ai Khi người con cả xin vào chiến trường, cô không ngăn cản Cậu thứ hai thi được điểm cao nên trường giữ lại Năm 1975, con cả của cô trở về và đã là thượng úy Cô Hiền tổ chức bữa ăn bạn bè như mấy chục năm nay cô vẫn làm mỗi tháng Nhân vật “tôi” chuyển vào Sài Gòn sinh sống nhưng cứ ra
Hà Nội lại ghé vào thăm cô Hiền “Tôi” tỏ ý buồn phiền về lối ứng xử xuống cấp của người Hà Nội thời nay Cô Hiền kể cho anh nghe chuyện cây si bật gốc vì bão ở đền Ngọc Sơn
5 Giá trị nội dung:
- Khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội
- Gửi gắm niềm thiết tha gìn giữ các giá trị ấy cho hôm nay và cho cả mai sau
Trang 33- Nhân vật cô Hiền là “Một người Hà Nội” mãi mãi là hạt bụi vàng trong bể vàng trầm tích của văn hóa xứ sở
6 Giá trị nghệ thuật:
- Giọng điệu trần thuật: vừa tự nhiên, dân dã, hài hước vừa chiêm nghiệm, suy tư, triết lý
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: khắc họa nhân vật thông qua suy nghĩ, lời nói, hành động Nhân vật được cá thể hóa cao độ với lứa tuổi, giai tầng, tính cách, cuộc đời riêng
Trang 34Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc - Ngữ văn 12
A Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc ngắn gọn:
Phần Đọc – hiểu văn bản
Câu 1 (162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
* Tác giả đã phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc trên cơ sở những phương
diện cụ thể của đời sống vật chất và tinh thần bao gồm:
- Các khía cạnh của đời sống vật chất:
+ Sinh hoạt (ăn, ở, mặc)
- Các khía cạnh của đời sống tinh thần:
+ Tôn giáo
+ Ứng xử
+ Nghệ thuật (văn hóa, hội họa, văn học)
Câu 2 (trang 162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
- Đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam là hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, nhân bản, có quy mô vừa phải Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa, bình ổn
- Thế mạnh của nền văn hóa dân tộc: tạo ra cuộc sống thiết thực, bình ổn, lành mạnh, nhân bản; hướng con người đến lối sống hiền lành, tình nghĩa, chuộng hòa bình
- Ví dụ cụ thể:
+ Về tôn giáo: linh hoạt dung hòa nhiều tôn giáo tín ngưỡng trong cuộc sống (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, các tín ngưỡng dân gian cùng song song tồn tại)
Trang 35+ Các công trình kiến trúc nhỏ xinh, duyên dáng, thanh lịch, không có công trình nào đồ sộ, tráng lệ: chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, hoàng thành Thăng Long,… + Nghệ thuật tinh tế, khéo léo: múa rối nước, chèo, quan họ, chầu văn…
Câu 3 (trang 162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
* Hạn chế của vốn văn hóa dân tộc nằm ở các đặc điểm sau:
- An phận thủ thường, không có khát vọng hướng đến những sáng tạo lớn lao
- Tôn giáo, nghệ thuật: Ít quan tâm đến tôn giáo nên tôn giáo không phát triển, không có các công trình kỳ vĩ, tráng lệ Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kỹ
- Quan niệm về lý tưởng: không có khát vọng và sáng tạo lớn trong cuộc sống, chấp nhận cái gì vừa phải, không ca tụng trí tuệ mà đề cao sự khôn khéo
Câu 4 (trang 162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
* Ảnh hưởng của các tôn giáo đến văn hóa Việt Nam:
- Tiếp thu có chọn lọc những yếu tố phù hợp với nền văn hóa bản địa
- Phật giáo: không được tiếp cận ở khía cạnh trí tuệ, cầu giải thoát
- Nho giáo: không được tiếp cận ở khía cạnh lễ nghi khắc nghiệt, tủn mủn
- Tư tưởng Lão – Trang ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp
Ví dụ: Tiếp thu Phật giáo ở khía cạnh đề cao sự từ bi: "Phật từ bi hỉ xả, thánh một
ly một lai cũng chấp" Nhiều người Việt đến chùa không phải để hướng tới sự giải thoát hay cầu trí tuệ học thuyết nhà Phật mà để cầu bình an, sức khỏe và tài lộc, ví như tục đi chùa đầu năm, giải hạn…
Câu 5 (trang 162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
Trang 36Nhận định “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên đặc điểm của văn hóa Việt, đặc điểm này đem lại cả yếu
tố tích cực Đó không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam
Câu 6 (trang 162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
- Về chữ viết: Sáng tạo chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán
- Về văn học: Sáng tạo các thể thơ dân tộc đi đôi với việc vận dụng, Việt hóa các thể thơ Đường luật của Trung Quốc, thể thơ tự do, phóng khoáng của phương Tây
=> Chúng ta tiếp thu nhưng không hề rập khuôn máy móc văn hóa của quốc gia khác
- Bày tỏ quan điểm cá nhân, bàn bạc, đánh giá, mở rộng về vấn đề:
+ Truyền thống “tôn sư trọng đạo” đến nay còn tồn tại không? Truyền thống ấy có vai trò gì trong nhà trường và xã hội hiện nay? Cần nhìn nhận như thế nào về hàng loạt những vụ việc sai phạm và đau lòng trong giáo dục thời gian gần đây?
Trang 37+ Lựa chọn một nét văn hóa anh/chị ấn tượng nhất trong dịp Tết Lý giải vì sao chọn nét văn hóa ấy, so sánh với các nét văn hóa khác hoặc ở các quốc gia khác + Lựa chọn một hủ tục anh/chị cảm thấy nhức nhối nhất trong lễ, Tết nước ta và phân tích các khía cạnh của hủ tục (tác hại, nguyên nhân…)
- Rút ra bài học nhận thức và hành động, đưa ra các giải pháp cho từng vấn đề
Câu 2 (trang 162 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
Trả lời:
Có thể lựa chọn một trong những nét đẹp sau
- Luộc bánh chưng: cả gia đình đoàn tụ quây quần thể hiện tinh thần đoàn kết, hướng về cội nguồn
- Đi chúc tết: thể hiện mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với người thân, bạn
bè
- Đi lễ chùa cầu may đầu năm: cầu mong sức khỏe, thuận lợi, may mắn, hạnh phúc
=> Những nét đẹp văn hóa trên đều là những truyền thống văn hóa cần được bảo tồn và phát huy
Câu 3 (trang 192 SGK Ngữ văn 12 tập 2)
- Trần Đình Hượu(1927 – 1995), quê ở Thanh Chương, Nghệ An
- Năm 1945, ông tham gia thanh niên cứu Quốc và Uỷ ban khởi nghĩa ở quê nhà
Trang 38- Năm 1959 – 1963, ông là nghiên cứu sinh ở Đại học tổng hợp Lô-mô-nô-sôp
- Năm 1963 – 1993, ông là giảng viên môn Ngữ văn tại Đại học tổng hợp Hà Nội
- Năm 1994, ông giảng dạy tại Đại học Prô - văng - xơ thuộc Cộng hòa Pháp
3 Vị trí và tầm ảnh hưởng
Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000
Trang 39II Tác phẩm
1 Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ:
- Xuất xứ: trích từ phần II, bài tiểu luận “Vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc”, in trong cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống
- Nhan đề do người biên soạn đặt
Đoạn trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc trích từ phần II, bài “Về vấn đề tìm
đặc sắc văn hóa dân tộc”, in trong cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống” Từ những hiểu biết sâu sắc về vốn văn hóa dân tộc, tác giả đã phân tích rõ những mặt tích cực
và một số hạn chế của văn hóa truyền thống Trước hết, tác giả nêu ra những hạn chế của văn hóa truyền thống dân tộc Văn học Việt chưa có tầm vóc lớn lao, chưa
có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có khả năng ảnh hưởng đến các nền văn học khác Điều đó được thể hiện qua các phương diện sau: Thần thoại không
phong phú; tôn giáo, triết học, khoa học kĩ thuật, âm nhạc, hội họa, không phát triển; thơ ca thì chưa có tác giả nào có tầm vóc lớn lao Bên cạnh mặt hạn chế, văn hóa Việt Nam cũng có thế mạnh: thiết thực, linh hoạt, dung hòa, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng, thanh lịch; con người hiền lành, tình nghĩa Việt Nam có nhiều tôn giáo nhưng không xảy ra xung đột Người Việt Nam sống tình nghĩa, khôn khéo và hài hòa với thiên nhiên Về nghệ thuật, người Việt sáng tạo tác phẩm tinh tế, không mang vẻ vĩ mô, tráng lệ, phi thường Về quan niệm sống, người Việt luôn mong ước thái bình, sống thanh nhàn, thong thả Văn hóa Việt ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết Phật giáo, Nho giáo và tư tưởng Lão – Trang nhưng cái gốc của văn hóa Việt Nam là tính nhân bản và tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa
Trang 404 Giá trị nội dung:
Bài học cho bản thân: mỗi người cần ý thức được vai trò, trách nhiệm của bản hân trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, cần có những hành động đúng đắn, phù hợp…
5 Giá trị nghệ thuật:
- Văn phong khoa học, chính xác, mạch lạc
- Bố cục rõ ràng, rành mạch
- Lập luận xác đáng, dẫn chứng xác thực, lí lẽ sắc bén