THỨ TỰ TRONG LUẬN VĂN 3 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH VIỆN KINH TẾ BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN “Quản lý, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế xã hội ở Việt.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN KINH TẾ
BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
“Quản lý, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế
xã hội ở Việt Nam hiện nay”
Học viên: PHẠM MINH TUẤN
Mã số học viên: FF171027
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT, K68-C07(2017-2018)
Trang 2HÀ NỘI – 2018
MỤC LỤC
I NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 3
1.3 Vai trò của nguồn lực đối với phát triển kinh tế 4
II QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC VỀ TÀI
NGUYÊN THIÊN NHIÊN ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA
4
2.1 Đặc điểm của nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên
ở Việt Nam hiên nay
4
2.2 Quản lý, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên
đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
5
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam có diện tích tự nhiên khoảng 331.698km2, bờ biển dài hơn 3.260km, được xếp ở quy mô trung bình, đứng thứ 59 trong tổng số 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên, do dân số đông (hơn 90 triệu người, xếp thứ 13 trên thế giới) nên bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người rất thấp (khoảng 0,38 ha), chỉ bằng 1/5 mức bình quân của thế giới (1,96 ha) Việt Nam có sự đa dạng về địa chất, địa hình, tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú về chủng loại, một số loại có trữ lượng, tiềm năng tài nguyên lớn có thể phát triển thành các ngành công nghiệp, như dầu khí, bô-xít, ti-tan, than, đất hiếm ; tiềm năng năng lượng tái tạo lớn, đặc biệt năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối Mặc dù tổng lượng nước mặt (khoảng 830 tỷ m3/năm), nước dưới đất (khoảng 63 tỷ m3/năm) khá lớn, nhưng do địa hình hẹp, nhiều vùng dốc ra biển, hơn 60% lượng nước mặt có nguồn gốc từ nước ngoài, nên tình trạng thiếu nước cục bộ theo vùng và theo mùa vẫn xảy ra, có lúc, có nơi gay gắt Trải dài trên nhiều vĩ tuyến, từ nhiệt đới ẩm đến á nhiệt đới, với nhiều vùng núi cao, Việt Nam có nhiều hệ sinh thái rừng với sự đa dạng và phong phú về các loài động vật, thực vật Với diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên
1 triệu km2, Việt Nam thực sự là một quốc gia biển với nhiều loại hình tài nguyên đa dạng và phong phú, nhất là nguồn lợi thủy sản, tiềm năng vị thế phát triển giao thông, cảng biển, du lịch
Ý thức được tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên đối với sự phát triển và sự thịnh vượng của đất nước, từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã quan tâm đến công tác quản lý tài nguyên Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều
đã đề cập đến vấn đề quản lý tài nguyên, nhất là đất đai, khoáng sản Trung ương cũng đã ban hành một số nghị quyết chuyên về các nhóm tài nguyên, trong đó Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã định hướng toàn diện công tác quản lý tài nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Hệ thống tổ
Trang 4chức bộ máy nhà nước về quản lý tài nguyên được hình thành đồng bộ từ Trung ương đến địa phương Nhà nước cũng đã bố trí vốn từ ngân sách, ban hành nhiều cơ chế huy động nguồn vốn trong xã hội đầu tư cho công tác quản
lý tài nguyên, nhất là công tác điều tra cơ bản, kiểm kê, thống kê, đánh giá các nguồn tài nguyên Chủ trương, chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên liên tục được đổi mới, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Cơ chế, công cụ, biện pháp quản lý tài nguyên cũng có những bước chuyển đổi tích cực, nhất là
cơ chế tiếp cận các nguồn tài nguyên Các quan hệ cung cầu, cơ chế định giá, đấu giá, đấu thầu bước đầu đã hình thành, tạo bước chuyển biến trong công tác quản lý tài nguyên phù hợp hơn với thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Qua học tập và nghiên cứu học phần Kinh tế phát triển Em lựa chọn
nội dung “Quản lý, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên để phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch cho môn học.
Do còn có những hạn chế về nhận thức cũng như nguồn tài liệu và thời gian thực hiện bài thu hoạch, vì thế chất lượng bài thu hoạch có thể không cao
em kính mong các thầy cô giáo lượng thứ
PHẦN NỘI DUNG
I NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1 Khái niệm
Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên hệ thống tài sản quốc gia nguồn nhân lực đường lối chính sách vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định Nguồn lực không phải
là bất biến Nó thay đổi theo không gian và thời gian Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi cho mình
1.2 Phân loại nguồn lực
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có thể phân chia nguồn lực thành hai loại:
- Nguồn lực trong nước: Nguồn lực trong nước (còn gọi là nội lực) bao gồm các nguồn lực tự nhiên nhân văn hệ thống tài sản quốc gia đường lối
Trang 5chính sách đang được khai thác Nguồn lực trong nước đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
- Nguồn lực nước ngoài: Nguồn lực nước ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa học - kỹ thuật và công nghệ nguồn vốn kinh nghiệm về tổ chức
và quản lý sản xuất và kinh doanh từ nước ngoài Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng thậm chí đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể
1.3 Vai trò của nguồn lực đối với phát triển kinh tế
Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia
- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước giữa các quốc gia với nhau Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới vị trí địa lí là một nguồn lực góp phần định hướng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế
- Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất Đó là những nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống vừa phục vụ cho phát triển kinh tế Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho sự phát triển
- Nguồn lực kinh tế - xã hội nhất là dân cư và nguồn lao động nguồn vốn khoa học - kỹ thuật và công nghệ chính sách toàn cầu hoá khu vực hoá và hợp tác có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn
II QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC VỀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA
2.1 Đặc điểm của nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiên nay.
- Việt nam có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên Ở trình độ phát triển kinh tế như hiện nay tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng Việt Nam có khoảng 8 0 triệu ha đất nông nghiệp bao gồm đất ở đồng bằng ở các bồn địa giữa núi ở đồi núi thấp và các cao nguyên Nguồn nhiệt ẩm lớn tiềm năng nước dồi dào số lượng các giống loài động thực vật biển và trên cạn khá phong phú nguồn khoáng sản đa dạng v.v là những thuận lợi mà thiên nhiên
đã dành cho chúng ta
Trang 6- Khoáng sản là một loại tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế - xã hội nhìn chung ở nước ta nhiều loại khoáng sản phân tán theo không gian và phân bố không đều về trữ lượng Một số khoáng sản với trữ lượng đáng kể như: boxit vật liệu xây dựng dầu khí sắt v.v tuy mới được khai thác bước đầu nhưng đã tỏ ra có hiệu quả Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên có quan hệ mật thiết với trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật và công nghệ cũng như phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư Trên một đơn vị diện tích số lượng tài nguyên nhiều trữ lượng nhỏ lại phân tán như trong điều kiện hiện nay có thể là một khó khăn Song nếu áp dụng công nghệ khai thác tài nguyên tiên tiến trên quan điểm kinh tế tổng hợp thì mức độ tập trung tài nguyên như đã nêu ở trên lại có thể coi là một thế mạnh
- Thực trạng khai thác tài nguyên ở Việt Nam rất khác nhau Trong khi tài nguyên biển chưa sử dụng được bao nhiêu thì nhiều loại tài nguyên khác lại bị khai thác quá mức Tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng nhất Hiện nay độ che phủ của rừng đang ở mức báo động Đất đai nhiều vùng bị sói mòn diện tích đất trồng đồi trọc tăng lên đáng kể Nhiều hệ sinh thái rừng nhất là ở khu vực ven biển đầu nguồn và cửa sông bị phá hoại nặng nề Nguồn gen động vật thực vật bị giảm sút mạnh Sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên trước hết là hậu quả trực tiếp của việc khai thác bừa bãi không theo một chiến lược nhất định Sau nữa là trình độ công nghệ khai thác của nước ta còn lạc hậu Vì thế tài nguyên bị lãng phí mà chi phí khai thác lại cao
- Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Do đó vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việc bảo về và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại và trong tương lai
2.2 Quản lý, sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Tình hình chung
Tài nguyên thiên nhiên có trong các thành phần môi trường, tồn tại dưới dạng tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí của con người Tài nguyên là thành phần không thể thiếu, được khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người Vì vậy, với mỗi quốc gia, dân tộc, tài nguyên
Trang 7là nguồn tài sản, nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước
Đất đai, khoáng sản, nguồn nước, rừng, nguồn lợi thủy sản đã được điều tra, đánh giá, quy hoạch, cân đối phục vụ các mục đích, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo từng kỳ, từng giai đoạn phát triển Nguồn thu từ tài nguyên đóng góp quan trọng cho ngân sách hằng năm của Nhà nước Hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên đã tạo nên việc làm, thu nhập cho số đông người dân trên cả nước Việc khai thác, sử dụng tài nguyên có sự chuyển biến theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững hơn Vấn đề bảo vệ, phục hồi, tái tạo các nguồn tài nguyên được chú ý; đầu tư phát triển các nguồn nguyên, nhiên liệu thay thế đã được quan tâm
2.2.2 Những vấn đề đặt ra
Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng phát triển, nhiều vấn đề thực tiễn đang đặt ra thách thức ngày càng lớn đối với công tác quản lý tài nguyên
Một là, hiểu biết của chúng ta về tiềm năng, trữ lượng, giá trị của các
nguồn tài nguyên của đất nước còn hạn chế; thông tin, dữ liệu về các nguồn tài nguyên không đầy đủ, thiếu toàn diện, không thống nhất và chưa được chuẩn hóa
Tài nguyên đất, nước, khoáng sản, các hệ sinh thái, cảnh quan, tiềm năng vị thế chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện về tiềm năng, trữ lượng, giá trị Địa chất khoáng sản chủ yếu mới được điều tra ở phần bề mặt hoặc đến độ sâu 100m của hơn 60% diện tích; địa chất khoáng sản biển mới được điều tra ở khu vực có độ sâu đến 100m nước Hoạt động điều tra, thăm
dò nguồn nước còn rất hạn chế, nhất là nguồn nước dưới đất; thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước còn rất thiếu Phần lớn các hệ sinh thái tự nhiên chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện, kiểm kê định kỳ Số liệu về rừng còn nhiều bất cập, không thống nhất Thông tin, dữ liệu về nguồn lợi thủy sản chưa đủ độ tin cậy
Việc điều tra, đánh giá, lượng hóa giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên chỉ mới được thử nghiệm ở một số nhóm, loại Định giá tài nguyên chỉ mới thực hiện đối với một số nhóm tài nguyên, còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường Việc thiết lập các tài khoản quốc gia
về các nguồn tài nguyên chưa được nghiên cứu xây dựng Nguồn lực tài nguyên chưa được hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế
Trang 8Thông tin, dữ liệu về các nguồn tài nguyên chưa được chuẩn hóa, độ tin cậy không cao, không được quản lý thống nhất nên gây ra nhiều khó khăn cho việc sử dụng Thông tin, số liệu đầu vào chất lượng thấp dẫn đến việc đánh giá, dự báo thiếu chính xác đang là vấn đề lớn trong hoạch định chính sách quản lý tài nguyên nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung ở nước ta
Hai là, nguồn lực tài nguyên chưa được cân đối, phân bổ hợp lý, sát với
yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; xung đột trong mục tiêu, lợi ích khai thác, sử dụng, mất cân đối cung cầu về các nguồn tài nguyên đang gia tăng
Dân số tăng nhanh, kinh tế phát triển mạnh, năng động, đa dạng, nhu cầu sử dụng không gian, mặt bằng, tài nguyên đất, nước, năng lượng, nguyên nhiên, vật liệu để đô thị hóa, công nghiệp hóa, phát triển hạ tầng kỹ thuật, giao thông, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng lớn trong khi không gian, mặt bằng, nguồn lực tài nguyên có hạn, thậm chí đang giảm dần, đang đặt vấn đề cân đối, phân bổ nguồn lực tài nguyên trước những thách thức rất lớn Thực tế cho thấy, công tác này hiện chưa được thực hiện bài bản, thiếu chuẩn mực, còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa tính hết lợi ích tổng thể, hài hòa trước mắt và lâu dài dẫn đến mâu thuẫn, thậm chí xung đột giữa các ngành, lĩnh vực, nhóm xã hội, giữa hiện tại và tương lai; có lúc, có nơi đang cản trở sự phát triển, gây ra những hệ lụy về sinh thái, môi trường Trong khi
đó, ở nhiều nơi đất đai, nguồn lực tài nguyên không được sử dụng đúng mục đích, thậm chí không được sử dụng gây lãng phí, thất thoát
Ba là, việc khai thác, sử dụng nhiều nhóm tài nguyên chưa hợp lý, kém
hiệu quả và không bền vững dẫn đến lãng phí nguồn lực quốc gia, một số nguồn tài nguyên bị suy thoái, cạn kiệt
Nguồn lực tài nguyên còn bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả, hạn chế khả năng đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội Đất đã được giao, cho thuê chậm được sử dụng; sử dụng đất nông, lâm trường kém hiệu quả; tình trạng thoái hóa đất, đất bị hoang mạc hóa ngày càng gia tăng Khoáng sản còn bị khai thác manh mún, nhỏ lẻ, trái phép; xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô; công nghệ khai thác, chế biến còn lạc hậu, chậm được đổi mới dẫn đến tổn thất, lãng phí nguồn tài nguyên không tái tạo quan trọng này Tài nguyên nước chưa được khai thác tổng hợp, phục vụ đa mục tiêu dẫn đến hiệu quả thấp; tình trạng thiếu nước theo mùa, cục bộ theo vùng còn
Trang 9nghiêm trọng Diện tích che phủ của rừng có tăng nhưng chất lượng rừng giảm, rừng tự nhiên xuống cấp mạnh Nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, năng suất, hiệu quả khai thác thấp Tài nguyên vì thế chưa được phát huy hết tiềm năng, thế mạnh
Bốn là, nguồn thu từ tài nguyên chưa được sử dụng một cách bền vững,
lợi ích từ tài nguyên chưa được phân bổ hợp lý, hài hòa; chưa chú trọng đúng mức đến công tác bảo vệ, tái tạo, phục hồi và phát triển các nguồn tài nguyên tái tạo
Cùng với việc kiểm soát các hoạt động khai thác nhằm bảo đảm các nguồn tài nguyên tái tạo được khai thác trong giới hạn phục hồi, khả năng tái tạo, cần chú ý đến công tác bảo vệ, phục hồi, tái tạo nhằm phát triển nguồn lực tài nguyên của đất nước Tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác này chưa được quan tâm đúng mức, chưa được đầu tư hợp lý nên nhiều nguồn tài nguyên tái tạo của đất nước đang trên đà suy giảm mạnh về số lượng cũng như chất lượng Nguồn nước, tài nguyên rừng, nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, thậm chí với tốc độ nhanh hơn Một số nguồn tài nguyên tái tạo bị suy thoái, cạn kiệt quá mức dẫn đến mất khả năng tái tạo, phục hồi
2.2.3 Giải pháp khắc phục
Để khắc phục tình trạng này, trên cơ sở thể chế hóa đồng bộ và kịp thời các chủ trương, định hướng của Đảng nêu trong các văn kiện qua các kỳ Đại hội, các nghị quyết của Trung ương, nhất là Nghị quyết số 24-NQ/TW về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, cụ thể là:
Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm
quan trọng và yêu cầu khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên
Tài nguyên cần được nhìn nhận, đánh giá đúng vai trò là nguồn vốn, đầu vào của nền kinh tế, là tài sản quốc gia có hạn, phải được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững; coi việc khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên là một trong những thước đo đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế để khắc phục tình trạng chạy theo thành tích tăng trưởng bằng việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên
Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc nâng cao nhận thức về sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên; thiết lập cơ chế thích hợp, tạo điều kiện để nhân dân tham gia hoặc hỗ trợ đắc lực
Trang 10cho việc giám sát, quản lý tài nguyên, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi gây suy thoái tài nguyên
Thứ hai, đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá
trị kinh tế, hạch toán, thiết lập cơ sở dữ liệu, tài khoản các nguồn tài nguyên của đất nước
Quán triệt quan điểm điều tra cơ bản phải đi trước một bước, cần tập trung đẩy mạnh điều tra cơ bản, đánh giá chất lượng, tiềm năng các loại tài nguyên của đất nước; từng bước xác định, đánh giá các giá trị kinh tế đối với các loại tài nguyên; thực hiện việc hạch toán tài nguyên đầu vào cho tăng trưởng kinh tế và từng bước thiết lập tài khoản quốc gia về tài nguyên đất, nước, khoáng sản, rừng, thủy sản
Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh
tế theo hướng tăng trưởng xanh
Thông qua tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế về vị trí địa lý
và tài nguyên tái tạo, phát triển các ngành kinh tế xanh, loại bỏ dần những ngành có công nghệ lạc hậu, thâm dụng tài nguyên; khuyến khích, thúc đẩy đầu tư, đổi mới, áp dụng công nghệ sạch, công nghệ cao, thân thiện môi trường trong các ngành khai thác, chế biến tài nguyên; đẩy mạnh thực hiện các biện pháp giảm chất thải trong sản xuất, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải sau sản xuất và tiêu dùng; thực hiện thống kê, kiểm kê và đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên trong nền kinh tế ít nhất 5 năm một lần nhằm bảo đảm cung cấp thông tin về tình hình và hiệu quả khai thác, sử dụng; thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất và sử dụng năng lượng theo hướng tăng mạnh tỷ trọng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia đầu tư phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, nguyên nhiên vật liệu mới
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên
bảo đảm phân bổ nguồn lực tài nguyên hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội
Tập trung nâng cao chất lượng quy hoạch tài nguyên bảo đảm gắn kết với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; xác định rõ tiềm năng, lợi thế về tài nguyên của đất nước, làm cơ sở, tiền đề cho việc lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và vùng; lồng ghép các tiêu chí sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành và các vùng lãnh thổ giai đoạn 2016 - 2020; thử nghiệm phân vùng