1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG

14 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Lý Luận Của Việc Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Tồn Và Phát Huy Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Mường
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa và Lịch sử Văn hóa
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1 1 Các khái niệm cơ bản của khoá luận 1 1 1 Khái niệm.

Trang 1

NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1 Các khái niệm cơ bản của khoá luận

1.1.1 Khái niệm về bản sắc văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc Mường

Văn hoá là một khái niệm đa nghĩa, cho nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về văn hoá Trong lịch sử hình thành và phát triển văn hóa của nhân loại cho đến nay có hàng trăm cách quan niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa

Song về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì Theo sự thống kê của Tổ

chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) thì trên

thế giới hiện nay có tới hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa Ở Việt Nam, văn hóa cũng là một lĩnh vực thu hút được sự quan tâm, chú ý nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học Trong quá trình nghiên cứu về văn hóa các nhà khoa học này đã đưa ra những định nghĩa về văn hóa khác nhau dựa trên góc độ nghiên cứu của mình:

Theo Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân trong Từ điển từ và ngữ

Việt Nam thì: “Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt được trong từng giai đoạn về các mặt học vấn, khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức, sản xuất…” 1

Còn theo Phan Ngọc (tác giả của cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam) thì:

“Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá thể hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này

Trang 2

mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người này khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác” 2

Trong khi đó theo GS Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển tiếng Việt thì:

“Văn hóa là

Tuy nhiên hiểu một cách đầy đủ nhất thì “Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộng đồng tiếp nhận, vận hành trong đời sống xã hội, được xã hội giữ gìn, trao chuyển cho thế hệ sau Văn hoá thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc” 3

Khái niệm bản sắc văn hóa

Để hiểu được khái niệm bản sắc văn hóa, trước hết chúng ta cần phải làm

rõ thế nào là “bản sắc” Theo Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân thì: “Bản sắc là tính chất đặc biệt vốn có tạo thành phẩm cách riêng” 4 Hoặc cũng có thể

hiểu: “Bản sắc là sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng khác” 5

Từ đó có thể hiểu bản sắc văn hóa là những giá trị sáng tạo, quan điểm thẩm mỹ riêng của mỗi dân tộc; các chuẩn mực về tư tưởng đạo đức, giao tiếp, ứng xử, phong tục, tập quán, nghi lễ… khác nhau được thể hiện thông qua đời sống vật chất và tinh thần của mỗi tộc người Vì vậy mới có sự khác nhau về

cách nhìn nhận, cách đánh giá và quan điểm thẩm mỹ giữa các dân tộc Chẳng hạn như bộ trang phục, đồ dung sinh hoạt; cách cư xử, lối sống, nếp tư duy mà dân tộc này cho là đẹp, là đúng mực thì ở dân tộc kia chưa hản đã được chấp nhận Chính sự khác nhau đó tạo nên tính độc đáo của văn hóa dân tộc, là sắc

2 Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004, tr 14.

3 Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam, tr 5.

4 GS Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr 83.

5 Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, tr 93.

Trang 3

thái riêng của mỗi dân tộc.

Trong các tài liệu, sách, báo và tạp chí hiện nay thường dung cả các khái niệm như: di sản văn hóa dân tộc, di sản văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa truyền thống… Những cách gọi này có cùng ý nghĩa chung là bản sắc văn hóa

Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam Xét về bản chất, lịch sử dân tộc ta ngay từ thời dựng nước là lịch sử không ngừng đấu tranh chống ngoại xâm để dành và giữ nền độc lập, tạo nên phẩm chất cao cả và thiêng liêng nhất của bản sắc văn hoá dân tộc, đó là tinh thần yêu nước thương nòi Chủ nghĩa yêu nước của văn hoá dân tộc ta không chỉ biểu lộ ở lòng dũng cảm, đức hy sinh mà còn ở tinh thần đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người, ý thức bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đạo lý

Bản sắc văn hoá dân tộc không phải là cái ngưng đọng, bất biến mà luôn phát triển một cách biện chứng theo xu hướng tích lũ, thu nạp những điều tốt đẹp, tiến bộ, sa thải cái xấu, cái lạc hậu không phù hợp với thời đại Trải qua hàng ngàn năm lịch sử văn hoá Việt Nam đã vượt qua thế bị động để tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình

Bản sắc văn hóa dân tộc Mường là những nét đặc sắc trong hệ thống các giá trị sáng tạo, quan điểm thẩm mỹ của dân tộc Mường; những tính chất riêng biệt trong các chuẩn mực về tư tưởng đạo đức, giao tiếp, ứng xử, phong tục, tập quán, nghi lễ… được thể hiện thông qua đời sống vật chất và tinh thần của người Mường so với các nền văn hóa tộc người khác

1.1.2 Khái niệm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mường

Để làm rõ được khái niệm này, trước hết chúng ta cần phải làm

Trang 4

sang tỏ thế nào là bảo tồn và thế nào là phát huy

Theo Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân thì: “Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi” 6 Ngoài ra ta cũng có thể hiểu rằng: “Bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi” 7

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Phát huy là làm cho tác dụng lan rộng ra hoặc phát triển lên” 8 Đồng thời cũng có thể hiểu: “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn” 9

Như vậy ta có thể hiểu: “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường là giữ lại, không làm mất đi những nét đặc sắc, những tính chất đặc biệt vốn có của văn hóa dân tộc Mường, đồng thời làm cho những cái hay, cái tốt và những tác dụng của nền văn hóa dân tộc Mường thêm nhân rộng ra, phát triển và tiếp tục nảy nở nhiều hơn”

1.1.3 Khái niệm hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn

hoá dân tộc Mường

Hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường là tương quan giữa kết quả đạt được do tác động của việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường với mục đích của công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Mường được đặt ra và với chi phí để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định

1.1.4 Mối quan hệ giữa bảo tồn với phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

Mường ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số là một vấn đề rất quan trọng trong chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước ta Trong đó công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường là một trong những hoạt

6

GS Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr 96.

7 Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, 1998, tr 110.

8 GS Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006, 1433.

9 Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, 1998, tr 1321.

Trang 5

động cụ thể nhằm thực hiện chính sách đó.

Do đó trong giai đoạn hiện nay việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những công tác quan trọng nhằm giữ gìn sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam Trong quá trình tiến hành công tác này cần phải chú ý xem xét mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các bản sắc văn hóa của dân tộc Mường Bảo tồn là lưu giữ lại, không để mất đi còn phát huy là nhân rộng các giá trị đó lên, làm cho nó tiếp tục nảy nở và phát triển Hai hoạt động này cần được tiến hành đồng thời với nhau, không nên coi trọng mặt này mà xem nhẹ mặt kia Bởi vì có bảo tồn, lưu giữ được các bản sắc văn hóa dân tộc thì mới có điều kiện, phát huy và nhân rộng các giá trị đó, đưa các giá trị đó gắn với các hoạt động khác như du lịch…

Trong quá trình thực hiện công tác này cần phải quan tâm chú ý tiến hành song song cả hai hoạt động bảo tồn và phát huy Không nên coi trọng công tác bảo tồn mà xem nhẹ công tác phát huy Bởi vì bảo tồn là cơ sở để tiến hành phát huy, chỉ có tiến hành bảo tồn tốt các giá trị văn hóa dân tộc Mường thì mới có điều kiện để nhân rộng, phát triển thêm những giá trị đó trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

1.2 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số

Bảo tồn, gìn giữ và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số là một trong những vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm

và coi đó là nội dung quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc Có thể nói rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số đã được đề ra từ rất sớm và thực hiện nhất quán trong chỉ đạo thông qua các nhiệm vụ cụ thể cho phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng nước ta

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta luôn khẳng định:

Trang 6

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” 10 Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Đảng ta cũng đã xác định rõ một trong mười nhiệm vụ cụ thể

để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là: “Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số” 11 Trong Văn kiện Đại

hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta cũng đã chỉ ra rằng: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại” 12 Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta một lần nữa xác định:

“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội” 13

Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng

đã khẳng định: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh than của đồng bào các dân tộc thiểu số” 14 Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đã được Chính phủ và ngành Văn

hóa thể chế hóa, triển khai đưa vào cuộc sống thông qua việc ban hành một số văn bản nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số

10 Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.

11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 65

12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,

200, tr 38.

13 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XNB Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, tr 213.

14

Trang 7

Ngày 03 tháng 12 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra Chỉ thị số

39/1998/CT-TTg về việc đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miển núi,

vùng đồng bào dân tộc thiểu số Trong tám mục tiêu và giải pháp nhằm khai

thác tiềm năng, đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi và

vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Chính phủ đã xác định rõ: “Làm tốt hơn nữa công tác giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Đồng thời với công việc sưu tầm, nghiên cứu, khai thác và giới thiệu, cần có kế hoạch bảo tồn các công trình, địa chỉ văn hóa có giá trị tiêu biểu ở vùng các dân tộc thiểu số (như các chùa, tháp, nhà rông, nhà dài, nhà sàn, các làng, bản

có nghề thủ công truyền thống ) và các di sản văn hóa có giá trị khác” Ngày

17 tháng 6 năm 2003, Chính phủ đã ra Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg phê

duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam Mục

tiêu tổng quát của đề án này là: “Bảo tồn, kế thừa có chọn lọc và phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống, xây dựng và phát triển những giá trị mới

về văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số; phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ những người sáng tác văn học - nghệ thuật là người các dân tộc thiểu số; tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hoá - nghệ thuật; bảo tồn, phát huy các nghề thủ công truyền thống của các dân tộc thiểu số; đẩy mạnh xây dựng và phát huy hiệu quả các thiết chế văn hoá, thông tin; phát triển các hoạt động văn hoá văn nghệ lành mạnh; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá; mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao dân trí, xoá bỏ tập tục lạc hậu, góp phần phát triển du lịch, xoá đói, giảm nghèo”

Thực hiện các Chỉ thị, Quyết định của Chính phủ, Bộ Văn hóa thông tin cũng đã ban hành các văn bản tạo hành lang cho việc thực hiện công tác bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số Ngày 30 tháng 10 năm

1986, Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin đã ban hành Chỉ thị số 270/VH-CT về

Trang 8

đẩy mạnh công tác văn hóa thông tin các dân tộc thiểu số, trong đó nhấn mạnh tới công việc sưu tầm, bảo vệ, khai thác, phát huy di sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số và mục tiêu đạt được là phải khoanh vùng sưu tầm có

sự lien kết giữa Trung ương và địa phương để làm dứt điểm từng vùng, từng dân tộc Đến ngày 03 tháng 02 năm 1999, Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin cũng đã

ra quyết định số 04/1999/QĐ-BVHTT ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị 39/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạng công tác văn hóa thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số, trong đó có nội dung quan trọng là là giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa các dân tộc thiểu số, đồng thời nêu sáu việc

cụ thể mà cần phải làm mà trọng tâm là tiến hành khảo sát, đánh giá về hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy bản sắc và vốn văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên từng địa bàn, từng vùng dân tộc

Bên cạnh những văn bản của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ Văn hóa thông tin thì cấp ủy, ủy ban nhân dân các cấp và các ngành văn hóa thông tin ở các địa phương cũng đã đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo, giám sát tạo điều kiện cho việc tiến hành công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số Đặc biệt là ở những vùng, những địa phương có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú Điều này thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước

ta đối với lĩnh vực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số

1.3 Vị trí, vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc Mường trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh hóa hiện nay

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nó đã được quan tâm từ khi nước ta còn chưa giành được chính

quyền “Đề cương văn hóa Việt Nam” (năm 1943) đã xác định văn hóa là một

trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị và văn hóa Năm 1946, tại Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Văn hóa phải soi đường

Trang 9

cho quốc dân đi”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng văn hóa Người cho rằng văn hóa là sức mạnh về tinh thần cơ bản của mọi dân tộc Dân tộc ta đã từng bị đô hộ hàng ngàn năm nhưng vẫn tồn tại và phát triển, đó là vì chúng ta giữ vững được nền văn hóa ở cơ sở, xóm làng - nền văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc ta Do vậy, dân tộc ta muốn đổi mới phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa

và phát huy những giá trị bản sắc truyền thống của dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại

Từ quan điểm trên, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn

đề cao vai trò của văn hóa Đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Trung ương năm

khóa VIII “về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản

sắc dân tộc” thì công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở lại càng được quan

tâm hơn Trong đó, tiêu biểu là các phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng

đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào xây dựng làng, bản, cơ quan,

trường học có nếp sống văn hóa Các phong trào trên đã được phát động trên phạm vi toàn quốc và đang thu được những kết quả quan trọng tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng của đất nước Xứng đáng với vị trí văn hóa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của

sự phát triển

Thực hiện chủ trương của Đảng, năm 1998 Thạch Thành đã chọn Mường Đòn làm đơn vị điểm để chỉ đạo khai trương xây dựng làng văn hóa Trong quá trình phấn đấu thực hiện theo tiêu chí chung và phát huy các giá trị bản sắc của địa phương, đến nay 4/4 thôn của Mường Đòn đều đạt và giữ vững danh hiệu Làng văn hóa cấp huyện Đồng thời đã và đang tiến hành khai trương xây dựng làng văn hóa cấp tỉnh để nhanh chóng được công nhận đạt danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh trong thời gian tới Thông qua việc tiếp tục duy trì và phát triển các

Trang 10

giá trị truyền thống của văn hóa Mường Đòn, mối liên kết giữa các gia đình, dòng họ, giữa nhân dân trong làng ngày càng được tăng cường, ý thức cộng đồng ngày càng được nâng cao Người dân Mường Đòn luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, hiếu khách, tự hào về truyền thống quê hương, tăng cường giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn và thống nhất cùng nhau thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Các giá trị truyền thống của văn hóa Mường Đòn đã có những đóng góp quan trọng góp phần cùng nhân dân các dân tộc Thạch Thành đạt được những thành tựu quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở tại địa phương Các hoạt động sinh hoạt văn hóa truyền thống, đặc biệt là các loại hình văn hóa dân tộc Mường được khôi phục và phát triển, tạo nên không khí sôi nổi, thể hiện bản sắc rõ nét trong đời sống văn hóa cơ sở

Xuất phát tư những yếu tố đó mà văn hóa truyền thống Mường Đòn có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Thạch Thành Nó là cơ sở để các làng, xã trong huyện noi gương để tiến hành xây dựng làng, bản, xã văn hóa Đặc biệt, văn hóa Mường Đòn chính là yếu tố nền tảng để các cơ quan quản lý văn hóa ở Thạch Thành khôi phục, gìn giữ và phát huy những nét truyền thống của văn hóa Mường trên địa bàn huyện

1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mường ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá hiện nay

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu của sự phát triển, là linh hồn, sức sống của mỗi quốc gia, dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam là một thực thể, đồng thời cũng hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam Nhờ vậy nền văn hoá giàu bản sắc của nước ta đã không bị mai một, đồng hoá Hơn một trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bản sắc văn hoá Việt Nam thật sự là vũ khí

Ngày đăng: 18/11/2022, 09:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w