Điều 1 của Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế nhữngđộng sản hữu hình quy định răng HĐMBNT là tất cả các hợp đồng mua bántrong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước k
Trang 1Chương IKhái quát chung về hợp đồng mua bán ngoại thương - rủi ro và tranh chấp trong việc
thực hiện hợp đồng.
I Hợp đồng mua bán ngoại thương.
1 Khái niệm và đặc điểm:
Giống như các hợp đồng mua bán khác, hợp đồng mua bán ngoạithương cũng là sự thoả thuận giữa Ýt nhất hai bên về việc chuyển giao quyền
sở hữu về hàng hoá từ người bán sang người mua và việc thanh toán tiền hàng
từ người mua sang người bán
Nhưng HĐMBNT có đặc điểm khác với hợp đồng mua bán thôngthường, khác ở chỗ nó mang tính chất quốc tế hay còn gọi là yếu tố nướcngoài Tuy vật, pháp luật các nước có quan điểm không giống nhau về nộidung của tính chất quốc tế này
Điều 1 của Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế nhữngđộng sản hữu hình quy định răng HĐMBNT là tất cả các hợp đồng mua bántrong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hànghoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc là việc ký kết hợp đồng
Trang 2giữa các bên được thực hiện ở những nước khác nhau Như vậy, theo quyđịnh của Công ước này thì tính chất quốc tế của HĐMBNT bao gồm:
- Chủ thể ký kết là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau
- Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng được di chuyển từ nước này sangnước khác;
- Chào hàng và chấp nhận chào hàng được lập ở các nước khác nhau.Trường hợp chủ thể ký kết là các cá nhân, không có trụ sở thương mạithì sẽ căn cứ vào nơi cư trú của họ Vấn đề quốc tịch của các bên ký kếtkhông có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của HĐMBNT
Công ước Viên năm 1980 của Liên hiệp quốc về HĐMBNT (Unitednation Convention on international sales of goods, Vienna 1980) chỉ đưa ratiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế của HĐMBNT, đó là các bên kýkết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau Tại khoản 3Điều 1 của Công ước nêu rõ "quy định của các bên, quy chế dân sự hoặcthương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng khôngđược xét tới khi xác định phạm vi áp dụng Công ước naỳ" Như vậy, cũnggiống như Công ước Lahaye 1964, Công ước Viên 1980 cũng không quantâm tới vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định yếu tố nước ngoài củaHĐMBNT
Theo Luật Thương mại của Pháp khi xác định tính chất quốc tế củaHĐMBNT phải căn cứ vào các tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý Theo tiêu chuẩnkinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo ra sù di chuyển qua lại biêngiới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước Theo tiêu chuẩn pháp lý,một hợp đồng được coi là có tính quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêuchuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch của các bên, nơi cơ trú củacác bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán v.v
Ở Việt Nam trước khi có Luật Thương mại (1997) khái niệmHĐMBNT (HĐMBQT) được thể hiện trong quy chế tạm thời số 4794/TN-
Trang 3XNK, ngày 31-7-1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Thương mại), theo
đó tích chất quốc tế của hợp đồng này gồm 3 tiêu chuẩn:
- Chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác nhau;
- Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thông thường được di chuyển từnước này sang nước khác;
- Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một trong haibên ký kết;
Luật Thương mại Việt Nam ban hành tháng 5/1997 không đưa ra cáctiêu chuẩn cụ thể về HĐMBNT mà chỉ đưa ra khái niệm về HĐMBNT vớithương nhân nước ngoài "HĐMBNT với thương nhân nước ngoài làHĐMBHH được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên
là thương nhân nước ngoài
Như vậy, cho đến nay luật pháp các nước cũng như các điều ước quốc
tế chưa có quan niệm thống nhất về hợp đồng này Tuy nhiên, từ các kháiniệm về HĐMBNT nói trên có thể rót ra các đặc điểm của loại hợp đồng nàynhư sau:
1.2 Đặc điểm.
- Chủ thể của HĐMBNT có thể là tự nhiên nhân (cá nhân) Nationalpesson hoặc pháp nhân (legal pesson) Muốn tham gia ký kết HĐMBNT tựnhiên nhân và pháp nhân phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi Vềnguyên tắc, năng lực hành vi của cá nhân do luật của nước mà họ mang quốctịch quy định Ví dụ, Điều 488 Bộ luật dân sự Pháp và Luật ngày 5/7/1974quy định: "Tất cả mọi người trên 18 tuổi vẫn được coi là có năng lực hành vi
và đều có thể trở thành thương nhân Tuy nhiên, những người đã đủ 18 tuổitrở lên nhưng đang bị kết án, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bịmất trí thì vẫn không được coi là có năng lực hành vi"
Năng lực hành vi của pháp nhân cũng được xác định theo luật của nước
mà pháp nhân đó mang quốc tịch Vì vậy, để xác định năng lực hành vi của
Trang 4một pháp nhân trước tiên cần xác định pháp nhân mang quốc tịch nước nào,sau đó căn cứ và pháp luật nước đó để xác định năng lực hành vi cụ thể củapháp nhân đó.
Nói chung, dù là pháp nhân hay tự nhiên nhân thì chủ thể của cácHĐMBNT cũng thường là các bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khácnhau (trừ doanh nghiệp chế xuất)
- Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng có thể chuyển qua biên giới quốcgia, tức là có thể được chuyển từ nước này sang nước khác
- Đồng tiền tính giá và đồng tiền thanh toán giữa các bên mua bánthường là ngoại tệ đối với Ýt nhất một trong các bên ký kết
Luật điều chỉnh HĐMBNT cũng phức tạp hơn các loại hợp đồng muabán trong nước Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan ngoài việc quy địnhtrong hợp đồng còn có thể được điều chỉnh bởi các Điều ước quốc tế vềthương mại, tập quán thương mại quốc tế hoặc Luật Thương mại các quốcgia
Chính những đặc điểm này đã nói nên tính chất quốc tế của HĐMBNT
và đó cũng là tiêu chí để phân biệt loại hợp đồng này với các loại hợp đồngmua bán trong nước và các loại hợp đồng khác
1.3 Các nguồn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán ngoại thương.
Hợp đồng mua bán ngoại thương dù được ký kết dưới bất kỳ hình thứcnào, chi tiết đến đâu cũng không thể dự kiến được những vấn đề, những tìnhhuống phát sinh trong thực tế Nếu như hợp đồng mua bán trong nước thường
do luật trong nước điều chỉnh, thì luật điều chỉnh HĐMBNT hết sức đa dạng
và phức tạp: Điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán thương mại, thậm chí
có thể là án lệ Luật điều chỉnh HĐMBNT bắt buộc các bên phải thực hiệnnghĩa vụ của mình và đó cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh
* Điều ước quốc tế: Điều ước quốc tế về ngoại thương là nguồn luậtđiều chỉnh hợp đồng mua bán ngoại thương Một khi tranh chấp xảy ra (phát
Trang 5sinh) ở hợp đồng liên quan đến vấn đề không được quy định, hoặc quy địnhkhông đầy đủ trong hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng có thể dùa vào cácĐiều ước quốc tế về ngoại thương Do đó, Điều ước quốc tế về ngoại ngoạithương là nguồn luật đầu tiên của HĐMBNT.
Công ước Viên 1980, nó đóng một vai trò quan trọng và được áp dụngmột cách rộng rãi trong thương mại quốc tế Là nguồn luật điều chỉnh các mốiquan hệ phát sinh từ các hợp đồng mua bán ngoại thương, nếu nó được cácbên dẫn chiếu tới trong hợp đồng Việt Nam chưa gia nhập Công ước Viên
1980, nhưng khi ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu chúng ta có thể quy định
áp dụng Công ước Ở Việt Nam các điều ước quốc tế về ngoại thương màchúng ta tham gia ký kết công nhận hoặc do các bên dẫn chiếu tới có nhữngquy định trái với luật của Việt Nam thì theo Điều 11 khoản 6 Pháp lệnh về kýkết và thực hiện điều ước quốc tế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa công nghiệpngày 17/10/1989, Điều 827 khoản 2 Bộ Luật Dân sự Việt Nam, Điều 4 LuậtThương mại Việt Nam có thể giải quyết theo hai cách:
Một là, đối với các điều ước quốc tế về ngoại thương mà Nhà nước đãtham gia ký kết và phê chuẩn, chúng ta sẽ áp dụng những quy định trong điềuước quốc tế
Hai là, đối với những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta chưa tham gia
và chưa công nhận, chúng ta có quyền bảo lưu, không áp dụng những quyđịnh trái với luật của Việt Nam
* Luật quốc gia: Khi các bên chủ thể của một hợp đồng thoả thuậnchọn luật của một nước nào đó thì luật quốc gia đó trở thành nguồn luật điềuchỉnh hợp đồng đó Luật quốc gia có thể là nước người bán, người mua hoặc
là một nước thứ 3 do các bên tham gia hợp đồng thoả thuận Ở Việt Nam luật
áp dụng trong HĐMBNT có Luật Thương mại được Quốc hội khoá IX thôngqua và có hiệu lực từ ngày 31/7/1998 và có các văn bản dưới luật như Nghịđịnh số 57/1998/NĐCP của Chính phủ ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi
Trang 6hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lýmua bán hàng hoá cho người nước ngoài.
* Tập quá thương mại quốc tế: Cũng là nguồn luật áp dụng đối vớiHĐMBNT Đó là những thãi quen được sử dụng một cách thường xuyêntrong thương mại quốc tế, có nội dung rõ ràng, cụ thể, được nhiều nước côngnhận và áp dụng thống nhất Nó điều chỉnh một hợp đồng khi có quy định sẽ
áp dụng tập quán quốc tế
Ngày nay trong số các quán thương mại quốc tế có vai trò quan trọngcủa Incoterm (Incoterm 2000) Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam biênsoạn và ban hành
Khi áp dụng Incoterm 2000 cần nắm vững 4 nguyên tắc:
1- Incoterm sẽ có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể của hợp đồng.2- Phải ghi rõ trong hợp đồng là luôn theo Incoterm nào
3- Incoterm không giải quyết tất cả các vấn đề cho giải quyết 4 vấn đề:Chuyển rủi ro vào thời điểm nào, ai là người chịu trách nhiệm thôngquan hàng hoá, ai phải trả chi phí bảo hiểm, chi phí vận tải
4- Incoterm không giải quyết tất cả các mối quan hệ
Ngoài ra, một số nước phương Tây còn đề cao vai trò của các án lệ, đốivới các HĐMBNT ở các nước này thực tiễn nền tư pháp có vị trí quan trọng
vì khi xảy ra tranh chấp, các bên thường viện dẫn các bản án trước đây, coinhư mẫu mực đối với các tranh chấp Cơ quan xét xử tham khảo các phánquyết cũ vì họ căn cứ vào đó để xét xử vụ tranh chấp mới
2 Phương thức soạn thảo một hợp đồng mua bán ngoại thương.
Việc soạn thảo một hợp đồng xuất nhập khẩu chặt chẽ là rất cần thiết.Căn cứ vào hợp đồng mà phân định trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên, cácbên lấy đó làm cơ sở để thực hiện hợp đồng Việc ký kết hợp đồng không chặtchẽ là những nguyên nhân tạo ra các kẽ hở cho phía đối tác lợi dụng gây khókhăn
Trang 7Nội dung của bản HĐMBNT:
- Tên hợp đồng, số hiệu hợp đồng
- Các bên ký kết: phải kiểm tra tư các của người tham gia ký kết hợpđồng
* Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng:
- Các điều khoản chủ yếu liên quan đến đối tượng của hợp đồng
+ Tên hàng: là điều kiện quan trọng của thư chào hàng, thư đổi hàng vàhợp đồng Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán, trao đổi Tên hàng phảidiễn tả chính xác để các bên có sự hiểu thống nhất, ngoài tên hàng chung cầnphải ngắn với tên thương mại, tên khách hàng, tên hãng, tên địa danh
+ Phẩm chất: là tổng hợp các chỉ tiêu về tính năng, công suất, hiệu suất,thẩm mỹ để phân biệt giữa hàng hoá này với hàng hoá khác Có rất nhiềucách xác định phẩm chất hàng hoá (sự miêu tả, mẫu hàng, nhãn hiệu ) vàmỗi cách xác định đó, nếu không tuân thủ có thể phải gánh chịu những hậuquả pháp lý khác nhau
+ Sè lượng: điều khoản này xác định rõ đối tượng mua bán và liên quanđến trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên Việc lùa chọn đơn vị đo lường cầnphải căn cứ vào tính chất hàng hoá và tập quán thương mại về đo lường mặthàng đó Có hai cách xác đinh số lượng hàng hoá: Xác định số lượng chínhxác và xác định số lượng dung sai Việc xác định số lượng này sẽ làm chongười bán phải gánh chịu những hậu quả khác nhau nếu vi phạm
- Điều khoản về giá cả và phương thức thanh toán:
+ Luật pháp của đa số các nước quy định rằng, về nguyên tắc giá hàngphải được quy định cụ thể trong hợp đồng Song thực tế, nếu hợp đồng khôngquy định giá cụ thể thì phải quy định cách xác định giá, cách tính giá
Về phương thức thanh toán, các bên cần quy định trong hợp đồng cácphương thức thanh toán bằng tiền mặt, D/A, D/T T/T L/C theo thoả thuậncủa các bên
Trang 8+ Khi qu định điều khoản về giá cả, các bên nên quy định đồng tiềntính giá, điều kiện thanh toán và cách tính, thời điểm tính tỷ giá giữa hai đồngtiền.
- Điều khoản về thời hạn và điều kiện giao hàng
+ Thời hạn giao hàng: Thời hạn này có thể quy định người bán phảigiao hàng vào một ngày cụ thể hoặc phải giao hàng trong một khoảng thờihạn nhất định tuỳ theo sự thoả thuận trong hợp đồng hoặc phụ thuộc và điềukiện giao hàng Mỗi cách quy định về thời gian giao hàng đều đưa ra nhữnghậu quả pháp lý khác nhau
+ Điều kiện giao hàng: Nó phản ánh mối quan hệ giữa hàng hoá vớiđiều kiện giao hàng Điều kiện giao hàng có thể được các bên quy định rõràng trong hopự đồng hoặc các bên dẫn chiếu đến các điều kiện thương mạiquốc tế Do vậy cần phải nắm vững các điều kiện, và những khía cạnh pháp lý
có trong tập quán thương mại quốc tế như Incoterm 2000
+ Ngoài những điều khoản chủ yếu thì các điều khoản khác như: điềukhoản bảo hành bảo trì, điều khoản về bất khả kháng, điều khoản về trọng tài,luật áp dụng cho hợp đồng nhưng phải tuân thủ những điều kiện để hợpđồng ngoại thương có hiệu lực pháp lý
ChuÈn
bÞ hµng ho¸
Thuª tµu hoÆc l u
c íc
KiÓm nghiÖm vµ kiÓm dÞch hµng ho¸
Lµm thñ tôc h¶i quan
Giao hµng lªn tµu
Mua b¶o hiÓm
Lµm thñ tôc thanh to¸n
Gi¶i quyÕt
khiÕu n¹i nÕu
cã
Trang 9- Trỡnh tự thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Kiểm tra L/C: Sau khi ký hợp đồng bờn nhập khẩu sẽ mở L/C (nếuthanh toỏn bằng L/C) và chuyển đến bờn xuất khẩu: bờn nhập khẩu phải kiểmtra kỹ nội dung của L/C cú khớp với hợp đồng đó ký khụng, rồi tiến hành giaohàng
Xin giấy phộp xuất nhập khẩu: Nếu hàng thuộc danh mục cỏcmặt hàng phải xin cấp giấy phộp xuất nhập khẩu Cụng ty đều đến phũng cấpgiấy phộp của Bộ thương mại mếu là hàng mậu dịch, đến Tổng cục Hải quannếu là hàng phi mậu dịch
Mở L/C: Nếu thanh toỏn bằng L/C thỡ bờn nhập khẩu căn cứ vàohợp đồng đó kỹ kết để mở L/C sẽ được chuyển đến Ngõn hàng ngoại thương
II Rủi ro trong thực hiện hợp đồng mua bỏn ngoại thương.
1 Khỏi niệm rủi ro.
Rủi ro là những sự cố xẩy ra trong quỏ trỡnh thực hiện hợp đồng gõytổn thất về hàng hoỏ hoặc tạo cho cỏc bờn khụng thực hiện đỳng hợp đồnggõy thiệt hại cho một bờn hoặc cỏc bờn tham gia ký kết
- Rủi do cú thể xẩy ra trong mọi khõu của quỏ trỡnh thực hiện hợp đồng
Dục mở L/C (nếu HĐ quyết định sử dụng ph ơng thức tín dụng chứng từ)
Thuê tàu hoặc l u c
ớc
Kiểm tra hàng hoá
Làm thủ tục hải quan
Nhận hàng
Mua bảo hiểm
Làm thủ tục thanh toán
Giải quyết khiếu
nại (nếu có) về
hàng hoá bị thiếu
hụt hoặc tổn thất
Trang 10- Rủi ro thường kéo theo một loạt các yếu tố tranh chấp, bồi thường đều
có ảnh hưởng đến các bên tham gia
- Rủi ro có thể do khách quan hoặc chủ quan gây ra
2 Phân loại rủi ro.
- Thiên tai: Là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như: Thời tiếtkhắc nghiệt, sét, biển động, động đất hoặc núi lửa., lốc và những tai nạn tựnhiên khác mà con người không lường trước được
- Tai nạn bất ngờ ngoài biển: Tầu bị cạn, đắm, đâm, va, mất tích, lật đổ,đâm phải đá ngầm bị phá huỷ, cháy nổ
- Tai nạn bất ngờ và các nguyên nhân khách quan bên ngoài như: Hàng
về thiếu hụt, ro cháy, mất trộm, mất cắp
- Rủi ro các hiện tượng xã hội gây ra như chiến tranh, đình công, bạođộng, nổi loạn
* Các rủi ro trên được coi là bất khả kháng
Bất khả kháng là những rủi ro khách quan, xẩy ra mọt cách ngẫu nhiên,bất ngờ ngoài ý muốn của con người, mà các bên tham gia đã cố gắng tìm mọicách khắc phục
- Các rủi ro khách quan thường gây lên tổn thất về hàng hoá hoặc làmtăng chi phí vận chuyển do bá chi phí khắc phục sự cố cứu hàng hoá vàphương tiện vận tải
* Phân định trách nhiệm rủi ro trong trường hợp bất khả kháng
Trang 11Rủi ro xảy ra được luật pháp quốc tế quy định là trường hợp miễntrách Tức là rủi ro xẩy ra các bên tham gia hợp đồng không có quyền khiếunại đòi bồi thường phía bên kia do không thực hiện đúng hợp đồng.
- Trách nhiệm rủi ro vào bên nào bên Êy chịu, tức là hàng hoá trongquy trình vận chuyển thuộc quyền sở hữu của bên nào thì bên Êy phải chịu rủi
ro và chi phí khắc phục Việc phân định quyền sơ hữu hàng hoá tuỳ thuộc vàotừng điều kiện giao hàng trong hợp đồng quy định Theo Incoterms 90 có 13điều kiện giao hàng trong hợp đồng cơ sở nêu rõ trách nhiệm chịu chi phí vàphân định rõ danh giới chuyển giao rủi do (tức chuyển giao quyền sơ hữuhàng hoá)
- Khi rủi ro xẩy ra một bên có trách nhiệm thông báo cho phía đối tácbiết kịp thời và chứng minh được cho phía bên kia đó là rơi vào trường hợpbất khả kháng
* Hạn chế rủi ro:
Các bên tham gia ký kết hợp đồng quốc tế thường có điều khoản bảohiểm đề phòng rủi ro gây ra Tuỳ theo điều kiện giao hàng trong hợp đồngquy định mà bên nhập khẩu hay bên xuất khẩu phải mua bảo hiểm: trị giá bảohiểm hiện nay mà các bên thường mua được tính là:
Giá trị bảo hiểm = (100% + 10%) x CIFPhí bảo hiểm (F) = (CIF + 10%CIF) - RViệc mua bảo hiểm thường đực ký kết bằng hợp đồng bảo hiểm
- Các điều kiện bảo hiểm chính có 3 loại: A, B, C Nếu trong hợp đồngkhông quy định điều kiện nào thì mặc nhiên bên mua bảo hiểm có quyền muabảo hiểm ở điều kiện là điều kiện có chi phí bảo hiểm thấp nhất và phạm vibảo hiểm hẹp nhất Nó chỉ bảo hiểm "sự cố bất ngờ quan trọng" Rủi ro bảohiểm cụ thể là: Hoả hoạn, nổ, tàu hoặc xà lan va vào đá ngầm, chìm hoặc lật,phương tiện vận chuyển trên bộ bị lật hoặc chệch đường ray; dỡ hàng tại cảnhtránh nạn, vứt hàng, hy sinh tổn thất kiểu chung
Trang 12- Khi có bất khả kháng xảy ra bên ký kết hợp đồng bảo hiểm phải cótrách nhiệm báo ngay đến Công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm sẽ cử ngườiđến kiểm tra, giám định mức độ thiệt hại để bồi thường.
2.2 Rủi ro chủ quan.
Là rủi ro trong quy trình thực hiện hợp đồng do lỗi các bên gây ra viphạm đến điều khoản của hợp đồng Nó có thể thuộc về người bán, ngườimua, người vận tải, ngân hàng
- Trong buôn bán quốc tế, các bên có thể tìm mọi lỗi nhỏ của nhau đểbắt bí, Ðp buộc phía bên kia phải giảm giá hàng hoá, gây thiệt hại cho nhàxuất khẩu Thường các nhà xuất khẩu phải chịu rủi ro lớn hơn so với các nhànhập khẩu Căn cứ để bên nhập khẩu thường gây khó khăn cho bên xuất khẩuchỉ có thể thu được các loại chứng từ xuất trình cho nhà nhập khẩu Các căn
cứ để bên nhập khẩu thường gây khó khăn cho bên xuất khẩu là L/C (nếudùng phương thức thanh toán L/C) Nhà xuất khẩu chỉ có thể thu được tiềnnếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của l/C: Sự hợp lệ của các loại chứng từ xuấttrình cho nhà nhập khẩu, không vi phạm các điều khoản của hợp đồng, đây làđiều rất khón khăn với các nhà xuất khẩu
2.2.1 Rủi ro trong xuất khẩu.
Vì đa số các hợp đồng xuất khẩu là hợp đồng CIF và CFR và thườngdùng phương thức thành toán thư tín dụng, do đó khi thực hiện hợp đồng phảiqua nhiều khâu: chuẩn bị hàng, đục và kiểm kiểm tra thư tín dụng, thuê tàu,bảo kiểm nghiệm, khai thác hải quan, phương thức thanh toán những khâunày bên xuất khẩu không thực hiện nghiêm túc, hoặc quy trình thực hiện mặcphải những lỗi nhỏ đều có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng và phải bồi thường
Chuẩn bị hàng hoá: Là một khâu quan trọng của quy trình xuất khẩu.Hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thường là hàng sơ cấp (sơ chế và bánthành phẩm), hàng thủ công mỹ nghệ, hàng nông lâm, thổ, thuỷ sản việc thugom hàng thường mang mún, phần lớn thu gom từ các cơ sở sản xuất nhỏ, từ
Trang 13trong dân, từ các cơ sở thu mua (chân hàng) Cơ sở để thực hiện thu gomhàng xuất khẩu là các hợp đồng kinh tế.
- Hợp đồng mua đoạn bán đứt
- Hợp đồng gia công
- Hợp đồng đổi hàng
- Hợp đồng đại lý thu mua
- Hợp đồng nhạn uỷ thác xuất khẩu
Từ những đặc điểm trên các đơn vị xuất nhập khẩu phải lường trướcđược các rủi ro và có biện pháp đề phòng Sở dĩ vậy, vì nền kinh tế Việt Namvẫn là nền kinh tế nhỏ, các cá thể, các công ty thường nhỏ và do lề thãi làmviệc của con người mà các chủ thể của các hợp đồng trên thường vi phạmnhư: chậm trễ giao hàng, giao hàng không đủ hàng, chất lượng hàng hoá kém
so với hợp đồng Chính vì vậy làm cho hàng hoá xuất khẩu cũng dễ chậm vềthời gian, thiếu hàng, không đúng với chất lượng trong hợp đồng xuất nhậpkhẩu hoặc trong thư tín
Mặt khác các mặt hàng xuất khẩu của ta thường khó bảo quản, dễ bịhao hụt về số lượng và suy giảm về chất lượng trong quá trình lưu kho, vậnchuyển, xếp dỡ Vì thế bao bì đóng gói hết sức cẩn thận, phải chọn bao bì đủcác tiêu chuẩn khi ký hợp đồng để đảm bảo được phẩm chất hàng hoá tránhrủi ro
* Kiểm nghiệm hàng hoá:
Theo quy định của Nhà nước hoặc theo hợp đồng quy đình phải qua cơquan kiểm nghiệm cấp giấy chứng nhận, đây là điều kiện để hải quan cho qua.Việc xem xét giấy chứng nhận kiểm nghiệm là cần thiết để chứng từ hàng hoáchính xác với thư tín dụng Nếu có sai do nội dung của "đơn" viết sai hoặc khiphía nhập khẩu sửa đổi thư tín dụng dẫn tới quy cách hàng hoá có biến đông,cần xin sửa đổi tới cơ quan kiểm nghiệm
* Kiểm tra thư tín dụng:
Trang 14Khi thực hiện hợp đồng thanh toán thư tín dụng, việc nắm chắc quản lý
và sử dụng với thư tín dụng có quan hệ trực tiếp đến an toàn trong khâu thutiền Thư tín dụng được mở theo hợp đồng của bên nhập khẩu, để đảm bảochắc chắn bên nhập khẩu sẽ thanh toán tiền cho bên xuất khẩu khi nhận đượchàng hoá và các chứng từ về hàng hoá Nội dung của thư tín dụng giống cácđiều khoản chính trong hợp đồng đã ký Chính sự chặt chẽ của thư tín dụngquy định về việc trả tiền buộc nhà xuất khẩu phải xem xét cẩn thận trước khigiao hàng bởi vì trong thực tiễn, do nhiều nhân tố sơ xuất trong công tác, lỗitrong chuyển điện, tập quán buôn bán kinh nghiệm, tình hình thị trường thayđổi hoặc hãng nhập khẩu có ý lợi dụng quyền chủ động mở thư để thêm vàocác điều khoản có lợi cho bên mình Thường luôn xuất hiện tình trạng điềukhoản thư tín dụng được mở không phù hợp, thống nhất với quy định của hợpđồng Để đảm bảo thu tiền về an toàn và hợp đồng tiến hành thuận lợi, tránhdẫn tới những tổn thất không đáng có về kinh tế chính trị, nên khi nhận đượcthông báo phía đối tác đưa thư tín dụng, bên nhập khẩu cần tiến hành đốichiểu, kiểm tra dùa vào hợp đồng nếu không đúng yêu cầu bên mở L/C sửalại
* Kiểm tra tài chính của ngân hàng mở thư:
Nhiều trường hợp thực tế xảy ra do khủng hoảng, do lâm vào tình trạngphá sản ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán cho nhàxuất khẩu dẫn đến việc không thu hồi được tiền hàng, vì thế: Nhà xuất khẩuphải kiểm tra tình hình kinh tế của nước sở tại của ngân hàng mở thư, tácphong kinh doanh của ngân hàng nếu xác định được tình hình tài chính củacác ngân hàng này không tốt phải xem xét áp dụng các biện pháp thích hợp
- Thẩm tra tính chất của thư tín dụng và trách nhiệm thanh toán củangân hàng mở thư: Thường do ngân hàng của người xuất khẩu thẩm tra, trongthư tín dụng không được dụng chữ "có thể huỷ bỏ" phải có cam kết của ngânhàng mở thư "ngân hàng mở thư đảm bảo thanh toán"
- Thẩm tra số tiền và loại tiền của thư tín dụng
Trang 15- Thẩm tra các điều khoản chất lượng, quy cách, số lượng, bao bì hànghoá.
- Thẩm tra kỳ hạn bốc xếp, kỳ hạn có hiệu lực và địa điểm đến kỳ quyđịnh của thư tín dụng
- Thẩm tra chứng từ: Nhà xuất khẩu phải phải kiểm tra kỹ các chứng từ
cả về nội dung và hình thức mà thư tín dụng đến yêu câù cung cấp nếu pháthiện thấy có những quy định không bình thường, chẳng hạn yêu cầu hoá đơnthương mại hoặc chứng nhận xuất xứ phải do người thứ ba của phía nướcngoài chứng nhận và phần sau cảng đích ghi trên vận đơn, ghi thêm bến tàuchỉ định nếu cần xử ký thận trọng
Ngoài ra việc sửa đổi có thể khắc phục cùng các ngành hữu quan nhưngân hàng, vận tải, thương kiểm nghiên cứu đưa ra các biện pháp thoả đáng
Thuê tàu lùa cước: Tuỳ từng điều kiện giao hàng cụ thể ghi tronghợp đồng mà quy định bên xuất khẩu hoặc bên nhập khẩu thuê tàu Thôngthường điều kiện giao hàng của hợp đồng xuất khẩu là CIF hoặc CFR (cảngđến) thì bên bán phải có trách nhiệm thuê tàu Đối với các công ty xuất nhậpkhẩu thông tin về thị trường thuê tàu có thể uỷ thác cho các đại lý hoặc cácnhà môi giới tàu biển thì chi phí sẽ rẻ và phù hợp với hàng hoá mình địnhchở
Giao hàng với tàu: Quy trình bốc xếp thường dễ gây hư hại về hànghoá nên nhà xuất khẩu phải giám sát và thận trọng bố trí các phương tiện phùhợp đúng thời gian Sau khi hàng hoá đã được đưa lên tàu chủ hàng lấy biênlai thuyền phó rồi đổi lấy vận đơn đường biển Vận đơn đường biển phải làvận đơn hoàn hảo, tức không có lời phê xấu của chủ tàu về bề ngoài của hànghoá lên vận đơn
Các chứng từ hàng hoá: Sau khi bốc xếp hàng hoá xuất khẩu xong,công ty xuất khẩu cần viết chính xác các loại chứng từ theo quy định của thưtín dụng, chứng từ sẽ được chuyển đến ngân hàng mở L/C của nước nhậpkhẩu, ngân hàng này sẽ căn cứ vào L/C của nhà nhập khẩu đã được mở và các
Trang 16chứng từ chuyển đến nếu hợp lệ, qua kiểm tra không sai sót thì sẽ chuyển tiềnđến ngân hàng của nước xuất khẩu.
* Các chứng từ gồm có:
- Hối phiếu, hoá đơn, vận đơn, đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận xuất xứ,chứng từ chế độ ưu đãi phổ biến, phiếu đóng gói và phiếy trọng lượng, giấychứng nhận kiểm nghiệm
- Việc kiểm tra chứng từ nếu phát hiện những chỗ sai sót do nhân viêncủa các cơ quan thành lập chứng từ gây ra, tạo cơ sở cho nhà nhập khẩu vìnhững lý do khác nhau: biến động thị trường, muốn trả chậm tiền hàng, gâykhó khăn cho nhà xuất khẩu như không chấp nhận thanh toán, bắt sửa nhưtăng chi phí, giảm lợi nhuận
2.2.2 Rủi ro trong nhập khẩu.
Thông thường người nhập khẩu Ýt bị rủi ro hơn người xuất khẩu.Nhưng đối với các đơn vị nhập khẩu Việt Nam thường gặp những trường hợprủi ro sau:
Ở Việt Nam các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho sản xuất,một phần nhỏ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước: máy móc, trangthiết bị hiện đại, nguyên liệu cao trong nước chưa sản xuất được, các hàngtiêu dùng chất lượng cao Việc nhập khẩu thường ở dạng hợp đồng uỷ thácnhập cho các đơn vị, công ty, cơ quan trong nước
- Các mặt hàng nhập khẩu thường có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao,trình độ của người ký kết hợp đồng và cơ quan nghiệm thu hàng hoá chưatheo kịp Nên khi hàng hoá nhập khẩu về, hay máy móc đã qua sử dụng chỉkhi kết thúc hợp đồng, hàng hoá đã được bàn giao cho các đơn vị uỷ thác, thìtrong quá trình sử dụng mới phát hiện được máy móc lỗi thời, có nhiều bộphận bị háng hóc Việc thay thế các bộ phận khác thường phải nhập khẩu từchính công ty đã bán với giá đắt Mặt khác hợp đồng đã chấm dứt nên nhữngrủi ro do những người nhập khẩu phải chịu
Trang 17Ví dụ: ở Việt Nam đã có rất nhiều trường hợp xảy ra như trên, đặc biệttrong việc mua bán các dây truyền sản xuất xi măng.
Muốn khắc phục chỉ bằng cách các đơn vị nhập khẩu phải tìm cácchuyên gia giỏi am hiểu sâu sắc về thương phẩm hàng hoá định giao dịch đểtìm đối tác ký kết hợp đồng, phải nắm vững được các thông tin về thị trường,
về đối tác và chuyên môn về nghiệm thu hàng
- Rủi ro do không thực hiện đúng hợp đồng của bên nhập khẩu Vìnhững ký do khác nhau như bất khả kháng, do phương tiện vận tải, do nhàxuất khẩu làm xho hàng hoá bị mất mát, không đúng thời gian quy định, chấtlượng không đúng hợp đồng Mặt khác công ty nhập khẩu lại ký hợp đồng vớicác đơn vị trong nước để bán hàng hoá nhập khẩu của công ty Tức trongnghiệp vụ này có sự bàn giao tay ba về hàng hoá, do sù vi phạm của nhà xuấtkhẩu hoặc phương tiện vận tải dẫn đến việc nhà nhập khẩu vi phạm hợp đồngvới các đơn vị trong nước
- Để giải quyết tranh chấp cũng như những tổn thất về hàng hoá trongtrường hợp này nhà nhập khẩu phải chứng minh cho chủ thể mua hàng củamình biết là nguyên nhân do bên thứ ba vi phạm hợp đồng và chứng minh chobên xuất khẩu biết vì sự vi phạm hợp đồng của họ dẫn đến việc nhà nhập khẩuphải bồi thường cho thoả đáng các bên trên cơ sở này căn cứ là điều khoảnthưởng phạt trong các hợp đồng đã ký
2.3.3 Rủi ro trong phương thức thanh toán.
Trong phần rủi ro trong xuất khẩu đã trình bày về rủi ro trong phươngthức thanh toán thư tín dụng Nhưng đây là vấn đề rất quan trọng vì phươngthức thanh toán sẽ quyết định các bên có cố gắng thực hiện hợp đồng, cũngnhư thắng thua trong tranh chấp khi xảy ra rủi ro Vì người cầm tiền thườngnắm phần thắng trong tay và Ýt bị chịu rủi ro hơn
* Đồng tiền thanh toán
Trang 18Đồng tiền thanh toán phổ biến thường là các tiền tệ mạnh: Franch,Mác Yên Nhật, Bảng Anh nhưng bản thân việc sử dụng các đồng tiền nàyvẫn phải chịu các rủi ro nhất định do giá trị của các đồng tiền thường xuyênthay đổi (do thả nổi tiền tệ của Chính phủ) Mặt khác trong thanh toán quốc
tế, tiền tín dụng được sử dụng rất phổ biến bao gồm: hối phiếu, ký phiếu,ngân phiếu, séc, đó là những giấy chứng nhận xác định nợ, xác định thanhtoán bản thân nó chức một đồng tiền quốc gia nhất định để thanh toán vì vậytiền tín dụng so với các đồng tiền quốc gia được thừa nhận là được phép lưuhành quốc tế thì Ýt có sự bảo đảm hơn cho nên khả năng rủi ro còng cao hơnnhưng do tính thuận tiện và tính dễ vận chuyển mà do đó tiền tín dụng được
sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế Những đấy chỉ là rủi ro do đồngtiền thanh toán mang lại, các bên phải chấp nhận việc hạn chế rủi ro chỉ bằngcách thoả thuận với nhau một đồng tiền mạnh để thanh toán và áp dụng một
số biện pháp bảm đảm, ví dụ như: lấy vàng làm thước đo giá trị để khi thanhtoán quy đoỉo ra tiền Còn tín dụng các bên khithanh toán nên kiểm tra kỹ vềtính pháp lý, tính hợp pháp của các tiền tín dụng, khả năng bảo đảm chắc chắncủa tiền tệ, khả năng thanh toán của các bên
- Các phương thức thanh toán chủ yếu hiện nay trong buôn bán quốc tếtuỳ thuộc vào mối quan hệ của các chủ thể ký kết hợp đồng mà chọn chomình phương thức thanh toán thích hợp
a Gửi tiền:
Gửi tiền bằng M/T, T/T, D/D là bên thanh toán chủ động gửi số tiềncho người nhận thông qua ngân hàng hoặc các con đường khác Trong buônbán quốctế thường áp dụng phương thức này trong các nghiệp vụ như thanhtoán trước tiền hàng, thanh toán cùng đơn đặt hàng, bán chịu Đặc điểm là đềcao thiện chí của các bên với sự tin tưởng cao, thủ tục đơn giản, nhanh gọn,đây là phương thức Ýt chắc chắn nhất Trong trường hợp bên nhận tiền trước,giao hàng sau thì có lợi cho bên bán: vốn không bị ứ đọng Ngược lại, bênmua chịu sự rủi ro rất cao Nếu bên bán cố tình trì hoãn việc giao hàng hoặc
Trang 19có tranh chấp xảy ra bên mua thường bất lợi Tức bên mua không có một sựđảm bảo trong trường hợp này.
Trong trường hợp buôn bán chịu đối với bên bán, tức là giao hàngtrước nhận tiền sau, bên bán không những bị chậm vốn mà còn chịu rủi ro dobên mua không thanh toán Do đó bó bất lợi cho bên bán, có lợi cho bên mua
Phương thức này chỉ áp dụng trong các trường hợp các bên cực kỳ tintưởng nhau như có quan hệ liên doanh Trên thực tế phương thức này Ýt ápdụng
b Uỷ thác nhận tiền (nhờ thu).
Là một phương thức thanh toán trong đó người chủ nợ (người xuấtkhẩu) đưa hối phiếu uỷ thác ngân hàng tính tiến hàng từ phía người nợ (nhậpkhẩu), có hai loại uỷ thác: Nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.Trong phương thức thanh toán này nhà xuất khẩu phải chịu rủi ro nếu hàngnhập khẩu phá sản hoặc mất khả năng thanh toán nợ, người xuất khẩu có thểkhông thu được về hoặc thu về chậm tiền hàng, sau khi người nhập khẩu từchối thanh toán nợ, nếu người nhập khẩu không muốn nhận hàng Khi đóhàng hoá của người xuất khẩu đã đến nơi, nép thuế quan nhập khẩu, kho bãi,bảo hiểm, chuyển bán dẫn tới bán đấu giá với thấp, hoặc bị gửi về trong nước.Trong trường hợp giao hoá đơn chấp nhận, sau khi người nhập khẩu nhậnđược hàng, việc đến kỳ hạn người nhập khẩu không thanh toán, người xuấtkhẩu sẽ bị tổn thất toàn bộ tiền hàng, do đó rủi ro của giao hoá đơn chấp nhậnlớn hơn so với giao hoá đơn thanh toán Ngược lại, trong phương thức nàyngười nhập khẩu thì rất có lợi, anh ta không những được thủ tục xin mở thưtín dụng, không cần đặt tiền thanh toán ngân hàng trước, giảm chi phí mà còn
có lợi cho lưu thông và chu chuyển vốn Chính từ những đặc điểm trênphương thức này rất được nhiều công ty xuất khẩu áp dụng, nó kích thíchđược việc bán hàng tức khuyến khích việc mua hàng của các hãng nhập khẩu.Đây là phương pháp của các hãng xuất khẩu tiêu thụ hàng tồn kho và tăngcường cạnh tranh đối ngoại
Trang 20c Thanh toán thư tín dụng (được trình bày ở phần trên)
III Tranh chấp.
1 Tranh chấp:
Thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là sự mâu thuẫn, bấtđồng về quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa người mua và người bán Nhữngbất đồng đó liên quan đến việc giải thích không giống nhau về nội dung cácquyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, hoặc liên quan đến việc thựchiện các nghĩa vụ của một bên (người bán hoặc người mua)
Nhìn chung các nhà kinh doanh đều coi thị trường và khách hàng là cácyếu tố sống còn đối với hoạt động kinh doanh của mình, vì thế họ luon mongmuốn tạo được và duy trì chữ "tín" với khách hàng Song, các tranh chấp từHĐMBNT trên thực tế là điều khó tránh khỏi do nhiều nguyên nhân khácnhau Trong số các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp có thể chia làm hai nhómchính là nguyên nhân khách quan và các nguyên nhân chủ quan
a Các nguyên nhân khách quan: Đây là các nguyên nhân xảy ra nằm ngoài
ý muốn chủ quan của các bên ký kết Các nguyên nhân đó thường là:
+ Yếu tố văn hoá: Truyền thống văn hóa của mỗi dân téc cũng như đờisống văn hoá hiện tại ảnh hưởng rất lớn đến nhạan thức, hành vi và cách xử
sự của con người Trong kinh doanh quốc tế cũng vậy, các nhà kinh doanhthường ở xa nhau, Ýt có điều kiện gặp gỡ thường xuyên và nếu có dịp gặpnhau thì lại bị những khó khăn về văn hoá ứng xử ngăn trở Kinh nghiệm củanhiều thương gia cho thấy lời hứa trong kinh doanh có mức độ tin cậy khácnhau tuỳ thuộc vào nguồn gốc văn hoá Lời hứa của giới kinh doanh Mỹ đượccoi là lời cam kết thực sự Người Mỹ hứa điều gì thì đều hoàn toàn có thể tintưởng rằng họ sẽ thực hiện bằng mọi cách Điều này xuất phát từ lối sốngthực dụng và tự tin của họ Nhưng đối với các thương gia Pháp và các nướcChâu Âu khác thì lời hứa chỉ mang tính xã giao