1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng

253 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng(Luận án tiến sĩ) Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận

án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận án

Võ Đình Hợp

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC trong thời kỳ đổi mới 9

1.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC 91.2.2 Sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục thể chất và thể thao

1.3 Đặc điểm của giáo dục thể chất và thể thao trường học 13

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học 18

1.5 Vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thể chất ở trường đại học 27

1.5.2 Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trường đại học 281.5.3 Nội dung chương trình giáo dục thể chất trường đại học 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 40

Trang 5

2.2 Phương pháp nghiên cứu 41

3.1 Nghiên cứu thực trạng chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường

3.1.1 Xác định tiêu chí đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục thể chất và

3.1.2 Đánh giá thực trạng chất lượng công tác giáo dục thể chất và thể thao

3.1.3 Bàn luận về thực trạng chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường

3.2 Lựa chọn một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể

3.2.2 Kiểm định phân tích SWOT qua ý kiến chuyên gia 85

3.2.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất của

3.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng một số giải pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học tại Đại học Đà Nẵng 104

3.3.1 Xây dựng chương trình, kế hoạch thực nghiệm 104

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Bảng

3.1 Kết quả xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng công tác

GDTC và TTTNT ở ĐHĐN

Sau trang

51 3.2 Kết quả xác định độ tin cậy tiêu chí đánh giá thực trạng GDTC

và TTTNT ở ĐHĐN

3.3 Thực trạng Chương trình GDTC cơ bản của ĐHĐN Sau trang

57 3.4 Thực trạng Chương trình GDTC nâng cao của ĐHĐN Sau trang

58 3.5 Thực trạng Chương trình GDTC cho sinh viên có sức khỏe yếu

của ĐHĐN

59

3.6 Thống kê cơ cấu giảng viên tại Khoa GDTC - ĐHĐN Sau trang

59 3.7 Thực trạng trình độ chuyên môn về TDTT của giảng viên

Khoa GDTC - ĐHĐN

Sau trang

60 3.8 Thực trạng CSVC, sân bãi, trang thiết bị dụng cụ TDTT của

ĐHĐN

Sau trang

61 3.9 Kết quả khảo sát thực trạng kết quả học tập môn học GDTC

của sinh viên ĐHĐN

Sau trang

63 3.10 Đánh giá thực trạng thể lực sinh viên năm thứ nhất (18 tuổi)

ĐHĐN theo Chuẩn thể lực QĐ 53/2008/BGDĐT

Sau trang

64 3.11 Đánh giá thực trạng thể lực sinh viên năm thứ hai (19 tuổi)

ĐHĐN theo Chuẩn thể lực QĐ 53/2008/BGDĐT

Sau trang

65 3.12 Thống kê nhân khẩu học TDTT sinh viên ĐHĐN tham gia

khảo sát về hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa

Sau trang

68 3.13 Kết quả khảo sát nhân khẩu học TDTT tham gia hoạt động

ngoại khóa thể thao của sinh viên ĐHĐN

3.14 Mục đích tham gia hoạt động ngoại khóa thể thao của sinh

Trang 8

viên ĐHĐN

3.15 Kết quả thực trạng tiêu dung TDTT của sinh viên ĐHĐN Sau trang

70 3.16 Thực trạng tham gia tập luyện ngoại khóa các môn thể thao

của sinh viên ĐHĐN

Sau trang

71 3.17 Mức độ và hình thức quan tâm theo dõi hoạt động TDTT của

GDTC và TTTNT của ĐHĐN (Điểm yếu)

3.22 Kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về thực trạng

GDTC và TTTNT của ĐHĐN (Cơ hội)

3.23 Kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về thực trạng

GDTC và TTTNT ĐHĐN

Sau trang

92 3.26 Kết qủa kiểm định mức độ quan trọng của các giải pháp nâng

cao chất lượng GDTC và thể thao trường học ĐHĐN

3.27 Kết quả khảo sát cấu trúc nội tại giải pháp nâng cao chất lượng

GDTC và TTTNT tại ĐHĐN

3.28 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả thực nghiệm nhóm giải pháp sư

phạm thông qua trưng cầu ý kiến chuyên gia

Sau trang

105 3.29 Kết quả đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng

dạy môn học GDTC tại ĐHĐN

Sau trang

107 3.30 So sánh kết quả học tập môn học Giáo dục thể chất giữa nhóm Sau trang

Trang 9

thực nghiệm và nhóm đối chứng của 3 trường thành viên Đại

học Đà Nẵng Học phần 1 - năm học 2018-2019

109 3.31 So sánh kết quả học tập môn học Giáo dục thể chất giữa nhóm

thực nghiệm và nhóm đối chứng của 3 trường thành viên Đại

học Đà Nẵng Học phần 2 - năm học 2018-2019

3.32 Tự đánh giá của sinh viên về năng lực tự học sau thực nghiệm Sau trang

111 3.33 Nhận xét của sinh viên về phương pháp giảng dạy của giảng

viên – sau thực nghiệm

3.34 Tổng hợp ý kiến đánh giá của giảng viên Khoa GDTC về năng

lực tự học của sinh viên – sau thực nghiệm

Sau trang

112 3.35 Đánh giá kết quả đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy

của giảng viên – sau thực nghiệm

3.36 Tổng hợp ý kiến của chuyên gia đối với Quy chế tổ chức hoạt

động CLB TDTT Đại học Đà Nẵng

Sau trang

116 3.37 Kết quả hoạt động ngoại khóa thể thao sau thực nghiệm Nhóm

giải pháp sư phạm tại ĐHĐN

Sau trang

117 3.38 So sánh các chỉ số đánh giá thể lực của nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng trước thực nghiệm – ĐH Bách Khoa

Sau trang

118 3.39 So sánh các chỉ số đánh giá thể lực của nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng trước thực nghiệm – ĐH Kinh Tế

3.40 So sánh các chỉ số đánh giá thể lực của nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng trước thực nghiệm – ĐH Sư Phạm

3.41 So sánh các chỉ số đánh giá thể lực của nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng trước thực nghiệm – ĐHĐN

3.42 So sánh sự phát triển thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm

đối chứng sau thực nghiệm – ĐH Bách Khoa

Sau trang

119 3.43 So sánh sự phát triển thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm

đối chứng sau thực nghiệm – ĐH Kinh Tế

3.44 So sánh sự phát triển thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm

đối chứng sau thực nghiệm – ĐH Sư Phạm

3.45 So sánh sự phát triển thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm

đối chứng sau thực nghiệm – ĐHĐN

Trang 10

3.46 Nhịp độ phát triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng sau thực nghiệm – ĐH Bách khoa

Sau trang

120 3.47 Nhịp độ phát triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng sau thực nghiệm – ĐH Kinh Tế

Sau trang

121 3.48 Nhịp độ phát triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng sau thực nghiệm – ĐH Sư Phạm

Sau trang

122 3.49 Nhịp độ phát triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng sau thực nghiệm – ĐHĐN

Sau trang

123 3.50 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá phát

triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng –sau thực nghiệm- ĐH Bách Khoa

Sau trang

124

3.51 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá phát

triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng –sau thực nghiệm- ĐH Kinh Tế

3.52 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá phát

triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng –sau thực nghiệm- ĐH Sư Phạm

3.53 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá phát

triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng –sau thực nghiệm- ĐHĐN

3.54 Kết quả phát triển thể lực của sinh viên ĐHĐN theo Chuẩn thể

lực của Bộ GD&ĐT –Nhóm thực nghiệm

3.55 Đánh giá của sinh viên về đổi mới nội dung và hình thức tổ

chức hoạt động thể thao ngoại khóa của ĐHĐN

trước yêu cầu của thực tiễn công tác GDTC và TTTNT ĐHĐN

Sau trang

126 3.58 Những tác động tích cực đối với hoạt động của Khoa GDTC

ĐHĐN thông qua thực nghiệm Nhóm giải pháp sư phạm

Biểu đồ

3.1 Tỷ lệ % xếp loại thể lực của sinh viên năm thứ nhất (18tuổi) Sau trang

Trang 11

ĐHĐN theo Chuẩn thể lực HSSV của Bộ GDĐT 64 3.2 Tỷ lệ % xếp loại thể lực của sinh viên năm thứ nhất (19tuổi)

ĐHĐN theo Chuẩn thể lực HSSV của Bộ GDĐT

Sau trang

65 3.3 Tỷ lệ % số lượng cơ cấu sinh viên ĐHĐN tham gia khảo sát về

hoạt động ngoại khóa thể thao

Sau trang

68 3.4 Kết quả khảo sát mức độ quan tâm theo dõi các hoạt động

TDTT của sinh viên

Sau trang

71 3.5 Kết quả khảo sát hình thức quan tâm theo dõi các hoạt động

TDTT của sinh viên

3.6 Diễn biến kết quả học tập học phần 01 sau thực nghiệm, tổng

hợp 3 trường: ĐHBK, ĐHKT, ĐHSP

Sau trang

109 3.7 Diễn biến kết quả học tập học phần 02 sau thực nghiệm, tổng

hợp 3 trường: ĐHBK, ĐHKT, ĐHSP

3.8 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá thể lực

của NTN và NĐC sau thực nghiệm ĐH Bách Khoa

Sau trang

124 3.9 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá thể lực

của NTN và NĐC sau thực nghiệm ĐH Kinh Tế

3.10 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá thể lực

của NTN và NĐC sau thực nghiệm ĐH Sư Phạm

3.11 So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các chỉ số đánh giá thể lực

của NTN và NĐC sau thực nghiệm ĐH Đà Nẵng

3.12 Đánh giá của sinh viên về đổi mới nội dung tổ chức hoạt động

thể thao ngoại khóa của ĐHĐN

Sau trang

125 3.13 Đánh giá của sinh viên về đổi mới hình thức tổ chức hoạt động

thể thao ngoại khóa của ĐHĐN

Trang 12

1

PHẦN MỞ ĐẦU

Giáo dục thể chất và Thể thao trường học là bộ phận cơ bản của giáo dục trong nhà trường, bao gồm các giờ học TDTT bắt buộc và những hoạt động TDTT ngoài giờ học của học sinh, sinh viên Phát triển TDTT trường học có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ về sức khoẻ thể chất và các phẩm chất đạo đức, tâm lý để họ có cuộc sống hạnh phúc và đáp ứng được các yêu cầu về nguồn nhân lực trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Chính phủ và chính quyền các địa phương, sự cố gắng chung của các ngành GD&ĐT và ngành TDTT, công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đã có bước phát triển đáng khích lệ, góp phần tích cực vào thành tích chung trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao thể trạng, tầm vóc của người Việt Nam [15]

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được thì nhìn chung, công tác GDTC còn nhiều hạn chế và yếu kém: chất lượng thấp, hiệu quả giáo dục chưa cao, chưa đáp ứng với yêu cầu hiện tại Đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu về chuyên môn, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chương trình, giáo trình phương pháp giảng dạy, công tác quản lý chậm đổi mới, thành tích của nhiều môn thể thao quá thấp so với khu vực và trên thế giới, chất lượng công tác GDTC trường học còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới[15]

Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020, khẳng định: phát triển TDTT

là một yêu cầu khách quan của xã hội, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế Nghị quyết này cho thấy quan điểm của Ðảng ta luôn xác định việc đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước [17] Những quan điểm chỉ đạo phát triển TDTT nêu trên đã được thể hiện qua các chủ trương, chính sách và sự đầu tư mạnh mẽ Nhờ đó, sự nghiệp TDTT nước ta đã có những bước phát triển mới Phong trào TDTT quần chúng ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức đa

Trang 13

Theo đó, Đại học Đà Nẵng ra đời theo nghị định 32/CP ngày 4/4/1994 của Chính phủ Hòa chung vào truyền thống hơn 40 năm đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường và đơn vị thành viên gồm: trường Đại học Bách khoa, trường Đại học Kinh tế, trường Đại học Sư phạm, trường Đại học Ngoại ngữ, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật, trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin, phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt – Anh, Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Đào tạo quốc tế, Khoa Giáo dục thể chất và 35 trung tâm nghiên cứu Với mục tiêu xây dựng nhà trường trở thành Đại học nghiên cứu vào năm 2025, nơi đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao, trung tâm nghiên cứu khoa học, giao lưu quốc tế lớn của khu vực miền trung và Tây nguyên thì chất lượng sinh viên luôn là mối quan tâm hàng đầu của ĐHĐN Bên cạnh năng lực sử dụng tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức, lãnh đạo, nhà trường luôn quan tâm đúng mực đến vấn đề sức khỏe thể chất của sinh viên

Trải qua 25 năm xây dựng và phát triển, hiện nay tại ĐHĐN có trên 60.000 sinh viên (chính quy và không chính quy, đại học và sau đại học), 2300 cán bộ giảng dạy và phục vụ giảng dạy, thực hiện đào tạo 12 chuyên ngành tiến

sỹ, 20 ngành thạc sỹ, 70 ngành đại học và 20 chuyên ngành cao đẳng và trung

Trang 14

Trung Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong Đại học Đà Nẵng”

Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn và ứng dụng một số giải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất của Đại học Đà Nẵng, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển một cách toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng chất lượng giáo dục thể chất và thể

thao trường học của Đại học Đà Nẵng

Mục tiêu 2: Lựa chọn một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể

chất và thể thao trường học của Đại học Đà Nẵng

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng một số giải pháp nhằm nâng cao

chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học tại Đại học Đà Nẵng

Giả thuyết khoa học

Công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó các yếu tố về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa, quản lý đào tạo, đội ngũ giảng viên, cộng tác viên, cơ

sở vật chất có tác động rất lớn đến chất lượng GDTC Vì vậy, các giải pháp giải quyết các yếu tố này, nhất là nhóm giải pháp sư phạm sẽ đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện thể chất của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học của Đại học Đà Nẵng; mặt khác, nó sẽ là cơ sở khoa học để bổ sung cho các nghiên cứu tiếp theo về giáo dục thể chất trường học

Trang 15

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệmcó liên quan

Chất lượng: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chất lượng

được hiểu là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [89] Theo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001, chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có những khả năng thỏa mãn

những nhu cầu đã được công bố và tiềm ẩn Còn trong quy định tiêu chuẩn đánh giá

chất lượng giáo dục trường đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát

triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước [6]

Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng Sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn Yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ thường là: tốt, đẹp, bền, sử dụng lâu dài, thuận lợi, giá cả phù hợp.Chất lượng là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với các chuẩn mực và tiêu chí đã được xác định.Theo tiêu chuẩn Pháp NFX 50-109: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” [37]

Chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết

quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài [34] Chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Các phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển [29] Nó không phải là chất lượng sản

phẩm hay kiểu dáng công nghiệp

Trang 16

5

Chất lượng giáo dục đại học được xem là sự đáp ứng mục tiêu do nhà nước

đề ra và đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục theo đúng Luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước

Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT vào ngày 1/11/2007 được Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ký ban hành để có thể đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo[6]

Bộ tiêu chuẩn năm 2007 đã được đổi mới so với Bộ tiêu chuẩn cũ năm

2004 Với Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học mới, Bộ đã không đặt ra những mục tiêu hay đặt mức như Bộ tiêu chuẩn cũ mà để các trường tự đánh giá về kết quả học tập, tỷ lệ đầu ra nhằm hạn chế tình trạng một số trường làm việc chống đối, chạy theo thành tích đầu ra Bên cạnh đó, bộ tiêu chuẩn mới đánh giá về chất lượng giáo dục Đại học cũng đưa ra những tiêu chí rõ ràng, cụ thể hơn và luôn

có sự liên kết với điều lệ của mỗi trường Đại học [6]

Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học gồm 10 tiêu chuẩn - 61 tiêu chí thay cho bộ tiêu chuẩn cũ với 10 tiêu chuẩn - 53 tiêu chí; bao gồm:

Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường Đại học

Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý

Tiêu chuẩn 3: Chương trình đào tạo

Tiêu chuẩn 4: Hoạt động đào tạo

Tiêu chuẩn 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên

Tiêu chuẩn 6: Người học

Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ

Tiêu chuẩn 8: Hoạt động hợp tác quốc tế

Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác

Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính

Với 10 tiêu chuẩn trên về đánh giá chất lượng giáo dục Đại học, câu hỏi đặt

ra ở đây là làm sao để nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng đào tạo?

Chất lượng giáo dục thể chất: Chất lượng GDTC là kết quả tổng hợp của

quá trình GDTC, phản ánh trong các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là các năng

Trang 17

6

lực thể chất của người học, phù hợp với mục tiêu GDTC cho từng cấp học, bậc học

và ngành nghề đào tạo

Chất lượng GDTC cũng được hiểu là chất lượng con người được đào tạo ra

từ các hoạt động GDTC, ở đây được hiểu là chất lượng cả mặt GDTC và giáo dưỡng thể chất

Quan điểm xây dựng và phát triển GDTC ở nước ta hiện nay là: Lấy việc nâng cao sức khoẻ, thể lực học sinh, sinh viên là mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt quá trình học tập; Đảm bảo tính khoa học, sư phạm, kết hợp truyền thống văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học GDTC hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới; Đảm bảo tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi

và giới tính, với sức khoẻ và thể lực học sinh, sinh viên Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập trong công tác GDTC ở các cấp bậc học, là chưa có tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC Vì vậy Tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC và thể thao trường học, thuộc nội hàm Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học

Đánh giá chất lượng GDTC: Đánh giá chất lượng GDTC cho sinh viên về cơ

bản là quá trình xác định thực hiện các mục tiêu trên thực tế của việc dạy học môn GDTC trong nhà trường; là quá trình dựa vào mục tiêu để đánh giá sự phát triển, sự tiến bộ của SV, thành quả và giá trị của việc thực hiện kế hoạch giáo dục Theo tác giả Vũ Đức Văn: Mục tiêu cuối cùng đánh giá chất lượng GDTC phải trả lời các câu hỏi chất lượng dạy học "tăng lên", "đứng yên" hay "tụt xuống, "phù hợp" hay

"chưa phù hợp", nguyên nhân và mức độ của chúng [87]

Trong thực tiễn, người ta có thể đánh giá chất lượng GDTC một cách trực tiếp thông qua chất lượng sản phẩm giáo dục (người học) hoặc đánh giá gián tiếp thông qua việc đánh giá chất lượng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và

có thể kết hợp cả hai cách đánh giá nêu trên

Giải pháp: Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giải pháp” được hiểu là

phương pháp giải quyết một vấn đề [89] Ở đây giải pháp được hiểu là cách thức, là một công cụ người ta dùng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn Trong cách hiểu này đôi khi người ta cũng dùng thuật ngữ “biện pháp” để thay thế Theo

từ điển Tiếng Việt “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [89]

Trang 18

7

Tuy nhiên hai khái niệm này có thể dùng thay thế cho nhau trong thực tiễn, nhưng

về bản chất, khái niệm “giải pháp” có nghĩa là nội dung rộng lớn hơn, có tính chất

vĩ mô hơn so với “ biện pháp” thường để chỉ cách thức giải quyết một công việc cụ thể nào đó Theo nghĩa này, người ta còn xem biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp để thực hiện giải pháp đó Trong đề tài luận án sử dụng khái niệm giải pháp với ý nghĩa là cách thức để nâng cao chất lượng GDTC và TTTNT cho

SV ĐHĐN Như vậy khái niệm giải pháp mà luận án sử dụng còn là một phương thức tổ chức thực hiện gồm có mục đích, nội dung, đơn vị phối hợp, biện pháp tổ

chức thực hiện

Phương pháp dạy học: Là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo

viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt được mục đích

dạy học Phương pháp dạy học là khái niệm hẹp hơn, đưa ra các mô hình hoạt động Chuẩn kiến thức: Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu)

cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực đó Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoạt động, công việc, sản phẩm đó

Học lực: Đó là sức học vào loại: giỏi, khá, trung bình, yếu kém Học lực trong

GDTC đó là sức học về thể dục, là mức độ tiếp thu về kiến thức, kỹ năng vận động theo mục tiêu, yêu cầu của chương trình môn học Cũng như các môn học khác, học lực thể dục được đánh giá theo mức độ: Giỏi, khá trung bình, kém

Thể chất: Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, thể chất chỉ chất lượng thân

thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất và năng lực thích ứng” [83] Thể hình liên quan đến hình thái, cấu trúc của thân thể, bao gồm trình độ phát triển của cơ thể, những chỉ số tuyệt đối và tương đối của toàn thân hoặc từng bộ phận và tư thế thân thể Năng lực thể chất thể hiện khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể qua hoạt động cơ bắp là chính Nó bao gồm các tố chất vận động (Sức nhanh, sức mạnh, độ dẻo và khả năng phối hợp vận

Trang 19

8

động ).Năng lực thích ứng thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể với hoàn cảnh bên

ngoài, không chỉ là sự thích ứng đơn giản mà còn là đề kháng với bệnh tật

Phát triển thể chất: Theo Nôvicôv A.D và Matvêev L.P “Phát triển thể

chất của con người là quá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [60].Sự phát triển thể chất biểu hiện như sự thay đổi về chiều cao, cân nặng thay đổi về hình thái kích thước cơ thể, thay đổi năng lực hoạt động các hệ cơ quan trong cơ thể (của hệ

hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí…) và được biểu hiện phát triển các các tố chất thể lực của con người bao gồm sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẽo và khả năng phối hợp động tác (khéo léo).Tuy vậy sự phát triển thể chất của con người còn chịu sự chi phối của môi trường xã hội như: điều kiện sống vật chất, điều kiện vệ sinh, điều kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi.Phát triển thể chất

là một quá trình hình thành và thay đổi hình thái và chức năng sinh vật học cơ thể con người; quá trình đó xảy ra dưới sự ảnh hưởng của điều kiện sống, mà đặc biệt là giáo dục Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào những quy luật khách quan của tự nhiên: quy luật thống nhất giữa cơ thể và môi trường sống, quy luật tác dụng qua lại giữa sự thay đổi chức năng và cấu trúc của cơ thể, quy luật thay đổi dần dần về số

lượng và chất lượng trong cơ thể [83]

Giáo dục thể chất: Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, GDTC là một quá

trình sư phạm hướng vào việc hoàn thiện cơ thể con người về mặt hình thái và về mặt chức năng, hình thành các kỹ năng và kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong đời sống, cùng với những hiểu biết liên quan đến các kỹ năng, kỹ xảo đó, phát triển các phẩm chất và các khả năng về thể lực của con người, hình thành lối sống lành mạnh, mở rộng giới hạn của những năm tháng hoạt động sáng tạo của con người, chuẩn bị cho con người thực hiện tốt nghĩa vụ lao động và bảo vệ

tổ quốc GDTC là một chức năng vĩnh hằng của xã hội, ngay từ khi mới có xã hội loài người và sẽ tồn tại mãi mãi, với tư cách là một điều kiện tất yếu của sản

xuất xã hội và đời sống con người [59]

Theo Trịnh Trung Hiếu, Giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và

Trang 20

9

cũng cố những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong đời sống, cùng những hiểu biết có liên quan đến kỹ năng, kỹ xảo đó [41] Theo Nô vi cốp A.Đ, Matveép L.P “Giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục-giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm với vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm” [60]

Theo quan điểm của A.M.Macximenko; B.C.Kyznhétxốp vàXôkhôlốp cho rằng: GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học động tác, giáo dục các tố chất thể lực, lĩnh hội các tri thức chuyên môn về TDTT và hình thành nhu cầu tập luyện tự giác ở con người [102] Theo Stephen J.Virgilio (1997) cho rằng, GDTC cũng như các hình thức giáo dục khác, bản chất là một quá trình sư phạm với đầy đủ những đặc trưng cơ bản của nó [100]

Sự khác biệt chủ yếu của GDTC với các hình thức giáo dục khá cở chỗ là quá trình hướng đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực, hoàn thiện về hình thái và chức năng của cơ thể, qua đó trang bị kiến thức và mối quan hệ giữa chúng Như vậy có thể thấy, GDTC như một hình thức độc lập tương đối của quá trình giáo dục toàn diện, có quan hệ khách quan với các hình thức giáo dục khác như: Giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ và lao động…[100]

GDTC được thực hiện chủ yếu bằng phương tiện hoạt động vận động, giáo dục toàn diện và kỷ luật chặt chẽ, nhằm giúp học sinh có được những kiến thức, thái

độ, niềm tin và cách cư xử nhằm đạt được một phong cách sống khỏe mạnh, năng động lâu dài Để đạt được mục tiêu này, cần có sự hợp tác của nhà trường, gia đình

và cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm cải thiện sức khỏe cho học sinh

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC trong thời kỳ đổi mới

1.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đã chỉ rõ

“Quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học” Điều đó đã khẳng định vị trí

và vai trò của GDTC trong đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước – lực lượng lao động mới quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong thế kỷ 21 [63]; Luật giáo dục (2019) [61], Luật thể dục, thể

Trang 21

10

thao (2006) [62], khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển TDTT trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao Tuy nhiên, thông qua đó đã cho thấy GDTC trường học chưa phát triển tương xứng với trọng trách được giao phó, chưa đáp ứng được kỳ vọng của toàn xã hội và của học sinh, sinh viên So với các loại hình TDTT khác, GDTC và thể thao trường học có những ưu thế tuyệt đối Tính đến nay cả nước có khoảng 25 triệu học sinh, sinh viên đang học tập tại các nhà trường từ tiểu học đến đại học Họ là lực lượng thanh thiếu niên đang thực hiện chế độ GDTC bắt buộc của nền giáo dục quốc dân Đó chính là điều kiện cho phép mở rộng, phát huy vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của công tác TDTT nói chung, GDTC trường học nói riêng Với gần 30.000 trường phổ thông các cấp được phân bố tới từng xã, phường trên lãnh thổ đất nước đã cho thấy sức lan tỏa và sự ảnh hưởng của GDTC trường học trong cộng đồng dân cư và trong mỗi gia đình Đó chính là điều kiện để GDTC trường học đón nhận sự quan tâm và tạo điều kiện của nhà nước và toàn xã hội [12]

GDTC là môn học bắt buộc duy nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiến hành đào tạo từ nhà trường mẫu giáo đến đại học, điều đó không chỉ khẳng định

vị thế của môn học trong công tác giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ, mà còn là điều kiện để GDTC trường học tác động có chủ đích, có kế hoạch và khoa học đến từng giai đoạn phát triển của nhi đồng và thanh thiếu niên Việt Nam

Đối với học sinh, sinh viên, GDTC không chỉ là môn học, mà còn là nội dung, hình thức và phương tiện hoạt động trong quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường; là nội dung và phương thức để nhà trường các cấp triển khai các hoạt động giáo dục học sinh GDTC trường học thực hiện chức năng giao tiếp và liên kết trong giáo dục học sinh, sinh viên, tạo ra bầu không khí thân thiết và hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh, giữa các nhà trường; truyền tải những giá trị chân chính của TDTT đến từng học sinh, sinh viên, thông qua đó giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm và nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa; góp phần giáo dục và phát triển thị hiếu, thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên

Trong tiến trình thực hiện chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và nhà nước, những lợi thế nêu trên của GDTC trường học đã khẳng định trường học là địa

Trang 22

11

bàn chiến lược và học sinh, sinh viên là lực lượng quyết định sự thành công của sự nghiệp xã hội hóa TDTT trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên, GDTC trường học còn bộc lộ một số tồn tại cơ bản, hạn chế tính hiệu quả trong quá trình giáo dục học sinh, sinh viên nói chung và trong GDTC nói riêng [11]:

Đối với các trường đại học và cao đẳng, GDTC chưa thực sự gắn liền với nhu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên, nội dung chương trình và hình thức tổ chức đào tạo chưa lôi cuốn và phát huy được tính tích cực, tự giác của

họ trong quá trình học tập và rèn luyện Về cơ bản, nội dung môn học GDTC trong trường học được thiết kế và xây dựng chưa xuất phát từ điều kiện sức khỏe, giới tính, năng lực sở trường và trình độ thể lực của học sinh, sinh viên; người học không có nhiều lựa chọn đối với môn thể thao và hình thức tập luyện phù hợp với nhu cầu và điều kiện của bản thân; tiêu chí kiểm tra đánh giá được xác định mang tính đồng loạt (ngoài nhóm sức khỏe yếu), vì vậy đối với không ít học sinh, sinh viên, môn học GDTC trở thành “gánh nặng” trong quá trình học tập

Đảng, Nhà nước, luôn coi phát triển sự nghiệp TDTT là một bộ phận quan trọng thuộc chính sách xã hội Do đó, công tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ của nhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội Các quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện qua các văn kiện Nghị quyết đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển TDTTnhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đặc biệt

là thế hệ trẻ Việt Nam; góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước [12]

Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định hướng cơ bản

để xác định vị trí và mối quan hệ của toàn bộ sự nghiệp thể dục, thể thao đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội các mối quan hệ nội tại của TDTT Vì vậy, đó chính là các cơ sở để lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một thời

kỳ tương đối dài

Trang 23

kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý giáo dục [8]

Nhằm mục đích đánh giá kết quả rèn luyện thể lực toàn diện của người học trong nhà trường; điều chỉnh nội dung, phương pháp GDTC phù hợp với các trường

ở các cấp học và trình độ đào tạo; đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho HSSV trong quá trình hội nhập quốc tế Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV [9]

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT về việc tổ chức hoạt động TTNK cho HSSV với mục đích, yêu cầu, nguyên tắc tổ chức các hoạt động TTNK sau: Tổ chức các hoạt động TTNK trong nhà trường nhằm động viên, khuyến khích HSSV tự giác tham gia tập luyện thể thao; hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên cho HSSV Hoạt động TTNK phải được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, xây dựng

kế hoạch phù hợp và đảm bảo về tài chính, CSVC, sân bãi, dụng cụ, đáp ứng nhu cầu của HSSV Việc tổ chức hoạt động TTNK cho HSSV trong nhà trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau: Phù hợp với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ sở giáo dục, tránh lãng phí, hình

Trang 24

13

thức Nguời tham gia phải tự nguyện, tự giác, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ Có chương trình, kế hoạch và có thể được lồng ghép với các hoạt động có ý nghĩa giáo dục của nhà trường Xã hội hóa đối với các hoạt động TTNK của HSSV [7] Sự ra đời của quy định này đã đánh dấu sự quan tâm lớn hơn nữa của Bộ GD&ĐT đối với công tác GDTC và thể thao trường học tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các trường CĐ, ĐH tổ chức hoạt động TTNK cho SV một cách nghiêm túc

Ngày 14 tháng 10 năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 25/2015/BGD&ĐT về việc quy định về chương trình môn học Giáo dục thể chất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học [13]

Theo thông tư 25 thì ”Khối lượng kiến thức của chương trình môn học Giáo dục thể chất mà người học cần tích lũy tối thiểu là 3 (ba) tín chỉ, cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo” Thông tư trên cũng đã giao cho Hiệu trưởng các trường

tự biên soạn và tổ chức thẩm định chương trình giáo dục thể chất để áp dụng cho sinh viên của mình

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định 32/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2003 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường lớp năng khiếu TDTT trong giáo dục phổ thông [20] Quyết định này quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Ban giám hiệu các trường cần phải: “Sử dụng có hiệu quả kinh phí, tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị; phát huy tốt năng lực và trí tuệ của giáo viên, học sinh trong giảng dạy, học tập và các hoạt động, đặc biệt đối với việc tập luyện, phát triển tài năng thể dục thể thao của học sinh” và chỉ đạo các sở giáo dục và đào tạo báo cáo và trình UBND các tỉnh thành phố thành lập trường phổ thông năng khiếu TDTT Tính đến nay, có được 50% số tỉnh có trường phổ thông năng khiếu TDTT và 100% các tỉnh thành trong nước đều

có các trường năng khiếu thể thao

1.3 Đặc điểm của giáo dục thể chất và thể thao trường học

GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ GDTC là một

Trang 25

14

loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người [83]

Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn

kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động.Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động Thông qua GDTC, hình thái và chức năng các

hệ cơ quan trong cơ thể được tác động, thay đổi và từng bước hoàn thiện, các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động được hình thành, năng lực vận động được đảm bảo GDTC trường học bao gồm GDTC nội khóa và hoạt động thể thao ngoại khóa [52]

1.3.1 Giáo dục thể chất nội khóa

Giờ học TDTT trong các trường học các cấp hoặc các buổi huấn luyện thể thao trong các trường năng khiếu thể thao chính là hiện thân của giờ học GDTC nội khóa (hay còn gọi là GDTC chính khóa) Đây là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành theo kế hoạch trong nhà trường các cấp Bản thân giờ học GDTC nội khóa có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Thông qua việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để phát triển cơ thể một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức khỏe, hình thành năng lực chuyên môn Nhiệm vụ trọng tâm của giờ học GDTC nội khóa là trang bị tri thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và cho thể thao Trong các trường học, giờ học thể chất nội khóa có

ưu điểm là được tổ chức chặt chẽ theo thời khóa biểu trên sân tập hoặc trong nhà tập, ở bể bơi… dưới sự điều khiển của giảng viên hoặc huấn luyện viên theo một kế hoạch giảng dạy chung, thống nhất và có tính đến là HSSV cùng lứa tuổi và trình độ học vấn với số lượng ổn định Các hoạt động vận động với nội dung chủ yếu là gồm các bài tập được quy định trong chương trình

Giờ học GDTC nội khóa có thể được chia thành ba phần: chuẩn bị, cơ bản và kết thúc Bản chất của việc xây dựng cấu trúc giờ học hợp lý là xác định trật tự giải quyết nhiệm vụ sư phạm phù hợp với các trạng thái khả năng hoạt động thể lực của người học và từng bước phát triển lên mức cao hơn, nhằm mục đích tổ chức giao

Trang 26

15

lưu trong các cộng đồng dân cư, giữa các trường chủ yếu ở các môn điền kinh, thể dục và các môn bóng [10]

1.3.2 Hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa

TDTT ngoại khóa hay còn gọi là Thể thao trong nhà trường (TTTNT) là hoạt động TDTT tự nguyện có tổ chức được tiến hành ngoài giờ chính khóa, phù hợp với

sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của học sinh, sinh viên Hoạt động TDTT ngoại khóa rất đa dạng bao gồm hoạt động TDTT được quy định trong giờ giải lao, huấn luyện đội tuyển của trường, tập luyện trong các CLB TDTT, các hoạt động thi đấu thể thao Hoạt động TDTT ngoại khóa có thể thỏa mãn nhu cầu tham gia hoạt động TDTT của sinh viên, thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao, thúc đẩy cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hình thành chế độ lao động

- nghỉ ngơi khoa học, phát triển toàn diện đức, trí, thể, mĩ dục, làm phong phú sinh hoạt nghiệp vụ của sinh viên [7]

Giờ học ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học nội khóa, được tiến hành vào giờ tự học của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên hoặc tự tập luyện tự do Ngoài ra, các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học còn có: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội đại biểu từng môn thể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, thể dục thể thao buổi sáng, giờ tự tập luyện của học sinh, sinh viên, phong trào tự rèn luyện thân thể

Do nội dung buổi tập ngoại khóa có sự khác biệt, nên cách tổ chức tập luyện có đặc trưng riêng Hoạt động ngoại khóa với chức năng động viên hấp dẫn nhiều người hơn tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thân thể tham gia cổ

vũ phong trào rèn luyện thân thể

Những buổi tập ngoại khóa giúp cho học sinh, sinh viên nắm được nội dung trong chương trình học tập về TDTT, chuẩn bị cho họ thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, ngoài ra giúp hoàn thiện các nội dung thể thao vận động tự chọn.Tập luyện TDTT ngoại khóa là hình thức tập luyện tự nguyện, nhằm tăng cường vận động để củng cố sức khỏe, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể

và chữa bệnh, đồng thời giáo dục các tố chất vận động và ý chí, tiếp thu các kỹ năng

kỹ xảo vận động [54]

Trang 27

16

Hoạt động TDTT ngoại khóa góp phần tạo nếp sống vận động và rèn luyện thân thể, lành mạnh, sôi nổi, phong phú vui tươi, lạc quan, loại bỏ được cuộc sống trống rỗng vô vị, chơi bời lêu lổng của một số học sinh, sinh viên trong thời gian nhàn rỗi, nhất là học sinh, sinh viên thành thị Việc kết hợp tốt giữa tập luyện thể dục thể thao nội khóa với ngoại khóa, giúp cho con người vận động có sức khỏe phát triển, có thân hình đẹp và tạo điều kiện nâng cao thành tích học tập của học sinh, sinh viên [54]

Hoạt động TDTT ngoại khoá có vị trí quan trọng trong giáo dục và TDTT trường học Các hoạt động ngoại khoá kết hợp cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục TDTT ngoại khoá cùng với GDTC nội khóa là một thể thống nhất của TDTT trường học và song song tồn tại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau không thể thiếu mặt nào Trong quá trình tổ chức tập luyện thể thao còn có thể giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ: tăng cường sức khỏe, phát triển toàn diện và hài hòa; giáo dục tố chất thể lực và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết trong sinh hoạt và lao động; trang bị những tri thức cần thiết để thực hành TDTT trong lao động và đời sống hàng ngày; hình thành thế giới quan duy vật, sự giác ngộ về chính trị, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, ý thức tập thể…, đào tạo lực lượng hậu bị cho đội tuyển Như vậy có thể đúc kết lại, trong khâu tổ chức, hướng dẫn TDTT ngoại khoá cần nắm rõ đặc điểm phát triển tâm sinh lý đối tượng sinh viên (lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, chuyên ngành, nhu cầu, sở thích thể thao…), các điều kiện cần và đủ để thực hiện công tác này

Vận động là nhu cầu cơ bản nhất của HSSV vì thế, phải có đủ sân bãi, phòng tập TDTT là điều kiện không thể thiếu để thành lập một trường học đủ chuẩn Thỏa mãn nhu cầu vận động cũng là tiêu chí tiên quyết khi phụ huynh lựa chọn trường học cho con em họ Thực tế cho thấy, việc học GDTC nội khóa mỗi tuần chỉ một buổi (2 - 3 tiết) và thực hiện nhanh chóng trong 2 - 3 học kỳ là chưa đáp ứng nhu cầu vận động, rèn luyện thể chất của HSSV Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cảnh báo: Giảm hoạt động thể chất trong trường học là một xu hướng đáng báo động trên toàn thế giới

Trang 28

17

Các điều kiện đảm bảo cho phát triển thể thao trường học rất cần sự ủng hộ của Ban lãnh đạo và các bộ phận chức năng các trường đại học qua việc đầu tư kinh phí cho hoạt động TDTT ngoại khoá; Các điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi, phòng tập, trang thiết bị phục vụ TDTT ngoại khoá; Đội ngũ cán bộ, giảng viên TDTT đủ,

có năng lực chuyên môn tốt và có tâm huyết với phong trào; Sinh viên có nhận thức đúng đắn và có nhu cầu lớn về TDTT ngoại khoá và sự hỗ trợ, phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức xã hội, các hiệp hội, liên đoàn thể thao

Ngoài các điều kiện trên, để TDTT ngoại khoá phát triển thuận lợi không thể không kể đến vai trò của Đoàn Thanh niên, Phòng công tác chính trị học sinh, sinh viên, Hội thể thao trường, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp khu vực, Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam, Hội Sinh viên, các Liên đoàn thể thao và một số doanh nghiệp, các mạnh thường quân, nhà tài trợ….Chính các tổ chức này

đã đứng ra hoạch định, huy động kinh phí, tổ chức các giải đấu cấp khu vực và quốc gia hàng năm cho HSSV

1.3.3 Mối quan hệ giữa GDTC và TTTNT

Giữa giờ học nội khóa (GDTC) và hoạt động thể thao ngoại khóa (TTTNT)

có mối liên hệ mật thiết với nhau, là một thể thống nhất của TDTT trường học, song song tồn tại và hỗ trợ bổ sung cho nhau Tập luyện ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài tập nội khóa, tăng cường vận động, nâng cao khả năng hoạt động thể lực và nhanh chóng hình thành kỹ năng vận động cho học sinh, sinh viên, giữ vai trò bổ sung và thúc đẩy hoạt động TDTT trong nhà trường

Một số điểm giống nhau:

GDTC và TTTNT có cùng mục tiêu là hình thành kỹ năng vận động, phát triển thể chất cho học sinh, sinh viên góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện

GDTC và TTTNT có cùng vị trí, là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên [17]

GDTC và TTTNT đều là bộ phận cấu thành cấu trúc giáo dục trong trường học

Trang 29

Hình thức: GDTC có giờ học bắt buộc, giờ học GDTC có tổ chức chặt chẽ theo thời khóa biểu và kế hoạch học tập, cấu trúc giờ học rõ ràng; TTTNT được tổ chức vào giờ rảnh rỗi của học sinh, sinh viên, là hoạt động tự nguyện; cấu trúc buổi tập đơn giản, hình thức phong phú đa dạng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học

Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo hãy bắt đầu bằng những giải pháp cụ thể nhất, thiết thực nhất trước hết là đầu tư vào các yếu tố như: con người,

cơ sở vật chất, chế độ chính sách, nội dung chương trình trong đó yếu tố con người vẫn là quyết định Đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi nhất cho một quốc gia và đầu

tư cho con người chính là đầu tư cho giáo dục [111]

1.4.1 Yếu tố con người

Nhà quản lý: Theo Lê Minh Tiến: “ để mang lại hiệu quả trong giáo dục và

đào tạo, nhà quản lý giáo dục phải có khả năng định hướng, đưa ra được những quyết sách hợp lý để định hướng đi cho nền giáo dục, giám sát, đôn đốc, thúc đẩy mọi thành phần tham gia vào công việc giáo dục” [111] Theo Lê Đức Luận: “Yếu

tố con người luôn là yếu tố quyết định hàng đầu, chi phối trực tiếp vào quá trình đào tạo trong trường đại học Yếu tố con người không chỉ nói đến đội ngũ thầy cô giáo

mà bao gồm cả đội ngũ cán bộ quản lý Khi đã có thầy giỏi, giáo trình, phương tiện học tập đầy đủ, trò ham học là những điều kiện tốt để đảm bảo chất lượng, thì vai trò của người quản lý sẽ là yếu tố quyết định thành công Người quản lý giỏi sẽ giải quyết tốt mối quan hệ sư phạm cần thiết và quan trọng này Do vậy, bài toán chất lượng rất cần người quản lý có đủ trình độ, năng lực để thể hiện trách nhiệm quản lý

trong giai đoạn hiện nay” [108]

Trang 30

19

Người thầy:Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh” [Hồ Chí Minh toàn tập (1996), NXB Chính trị Quốc gia,

tập 12]

Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là người thầy Dân gian nói “Không thầy đố mày làm nên” vẫn nguyên giá trị Chất lượng người thầy quyết định chất lượng giáo dục [106]

Theo Ngô Thị Thanh Quý, để có được chất lượng và sự đổi mới trong mỗi giờ lên lớp, đòi hỏi ý thức trách nhiệm, lòng nhiệt tình và sự say mê tâm huyết của mỗi giáo viên Nhân tố người thầy là yếu tố hàng đầu để nâng cao chất lượng giáo dục trong thực tế hiện nay Người giáo viên giỏi không phải là người truyền thụ cho học sinh tất cả những gì mình biết Không ai có thể dạy cho các em được hết các kiến thức trong cuộc đời này mà cái chính là biết khơi dậy trong các em tình yêu đối với bộ môn, khơi dậy ngọn lửa của lòng đam mê đọc sách, khao khát tìm hiểu, để từ đó các em có thể tự tìm đọc và tự học [110]

Trước đây, khi khoa học chưa phát triển, lượng và kênh thông tin khoa học hạn chế thì thế hệ trước truyền thụ tri thức, kinh nghiệm cho thế hệ sau chủ yếu bằng truyền khẩu hay thuyết trình, độc thoại Hoạt động dạy chủ yếu là cung cấp thông tin, được học sinh đáp lại bằng ghi nhớ Giáo viên trở thành người cung cấp tri thức chủ yếu nên người học phụ thuộc chủ yếu vào người dạy

Ngày nay, hình thành ở học sinh năng lực tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Nếu như trước đây nội dung hướng vào cung cấp một khối lượng kiến thức nhất định thì ngày nay hướng vào dạy cách học, phương pháp tư duy

Dạy học hiện đại là dạy công cụ tìm kiếm kiến thức được hiểu theo nghĩa đó Dạy cách học là hình thành kỹ năng thu thập, xử lý thông tin để phát hiện, giải quyết vấn đề Công việc đó không ai khác ngoài giáo viên và chỉ có giáo viên mới đảm nhận được Cho dù ngày nay lượng thông tin khoa học bùng nổ, cùng với

nó là sự bùng nổ công nghệ máy tính, truyền thông học sinh có thể thu nhận kiến thức từ nhiều kênh, nhiều nguồn, mọi nơi, mọi lúc thì giáo viên vẫn có vai trò quyết

Trang 31

20

định Cung cấp thông tin không còn là chức năng chính của hoạt động dạy, thay vào

đó là tạo lập tình huống, nhiệm vụ, bài toán nhận thức được giáo viên gia công sư phạm một cách công phu Gia công sư phạm là một quá trình tuân thủ các quy luật tâm lý Cho nên không công cụ nào làm thay giáo viên được [104]

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định:Cán bộ có vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, quyết định đến sự thành bại của cách mạng “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.Để TDTT làm tròn vai trò và nhiệm vụ của mình là phục vụ sức khỏe nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ thể dục thể thao

Người cho rằng, để có phong trào thể dục thể thao cần phải có đội ngũ cán bộ TDTT, đội ngũ này phải có trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có năng lực công tác tốt Muốn vậy, cần phải đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, bởi Người cho rằng, phẩm chất và năng lực của người cán bộ không thể bỗng dưng mà có, mà phải qua huấn luyện, rèn luyện mà nên “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” Thông qua đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng sẽ giúp cho người cán bộ TDTT nâng cao được trình độ chính trị, chuyên môn và năng lực công tác

Nhu cầu hoạt động thực tiễn TDTT nước ta hiện nay đòi hỏi phải đạt được hiệu quả tích cực, hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra Muốn vậy, phải có nguồn nhân lực chuyên ngành chủ yếu, đó là nguồn lực cán bộ TDTT đảm bảo chất lượng

Người học: Hiện nay, các trường Đại học và Cao đẳng đều có xu hướng phát

triển về quy mô và đa dạng hóa loại hình đào tạo Sự phát triển mạnh mẽ về số lượng sinh viên đã đặt chất lượng giáo dục, trong đó có giáo dục thể chất trước một thử thách to lớn.Tại các trường cao đẳng, đại học, công tác giáo dục thể chất có thể nói được các cấp lãnh đạo khá quan tâm, nhưng thực tế công tác giáo dục thể chất

và thể thao học đường ở nhiều trường Đại học và Cao đẳng còn bộc lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu giáo dục đào tạo đã đề ra Chất lượng học tập nói chung và kết quả học tập môn học giáo dục thể chất nói riêng phụ thuộc đáng kể vào thái độ của học sinh, sinh viên với môn học, mà biểu hiện ra bên ngoài

bằng sự hứng thú say mê của người học đối với môn học giáo dục thể chất

Trang 32

21

Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao sinh viên trong quá trình học tập phần lớn chỉ tập trung vào các môn học có liên quan trực tiếp đến những môn họ sẽ ra công tác sau này mà thờ ơ, coi nhẹ việc học môn giáo dục thể chất Điều gì chi phối thái độ của các em đối với môn học giáo dục thể chất và làm thế nào để nâng cao hứng thú, tích cực của sinh viên trong giờ học giáo dục thể chất Chính là trong suy nghĩ của các em chỉ coi môn học giáo dục thể chất là môn phụ Hầu hết sinh viên tập trung cho việc học chuyên ngành là chính Khi môn chuyên ngành được tập trung một cách tối đa như vậy thì đồng nghĩa với việc những môn học phụ bị xem nhẹ Tố chất thể lực yếu, ra tập sợ người khác chê cười, luyện tập vất vả, chưa ý thức được tác dụng của môn học, điều kiện thời tiết xấu, ý thức rèn luyện thể dục thể thao chưa cao, điều kiện cơ sở vật chất để tổ chức tập luyện còn thiếu thốn, hay nội dung môn học còn nghèo nàn là những nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hứng thú của sinh viên đối với giờ học giáo dục thể chất Vì vậy, việc nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú trong giờ học giáo dục thể chất chính khóa của sinh viên sẽ là cơ

sở khách quan cho việc tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục thể chất, góp phần đào tạo nhân cách phát triển toàn diện con người [106]

1.4.2 Chương trình môn học

Theo Điều 8 của Luật Giáo dục năm 2019 như sau: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo” Điều 39, mục tiêu giáo dục đại học:

“Đào tạo người học phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có tri thức, kỹ năng trách nhiệm nghề nghiệp, có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình dộ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc, có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ nhân dân”[61]

Chương trình môn học Giáo dục thể chất dùng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng thể hiện mục tiêu chương trình, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi của người học; nội dung chương trình, cách thức đánh giá kết quả học

Trang 33

22

tập.Mục tiêu của chương trình giáo dục thể chất nhằm trang bị cho sinh viên nhận thức về quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về thể dục thể thao trong trường học; vị trí, vai trò của thể dục thể thao đối với con người và xã hội; củng cố

và hoàn thiện kiến thức cơ bản, kỹ năng thực hành một số môn thể dục thể thao nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe, nâng cao thể chất, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho sinh viên Nội dung chương trình môn học Giáo dục thể chất bao gồm: Phần lý thuyết chung; phần thực hành và phần các môn tự chọn

Biên soạn và tổ chức thực hiện chương trình theo các nội dung sau:

Nội dung chương trình môn học Giáo dục thể chất được xây dựng căn cứ vào đặc điểm, tính chất của các ngành nghề đào tạo, điều kiện thực tiễn về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên; việc xây dựng chương trình môn học phải đảm bảo tính kế thừa, logich và khoa học; các quy định về số lượng học phần, tín chỉ của chương trình

Chương trình môn học Giáo dục thể chất được thực hiện từ năm học đầu tiên, khi sinh viên mới nhập học; các trường bố trí dạy đối với sinh viên trình độ đại học, học trong 3-4 kỳ học, sinh viên trình độ cao đẳng, học trong 2-3 kỳ học Việc

tổ chức dạy, học theo kế hoạch đào tạo của các trường, đảm bảo sinh viên hoàn thành chương trình môn học Giáo dục thể chất trước khi tốt nghiệp; kết hợp giữa học nội khóa với rèn luyện ngoại khóa Lớp học lý thuyết nếu bố trí lớp ghép phải phù hợp với phương pháp dạy, học và phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của từng trường; lớp học thực hành không quá 40 SV/GV Giờ học thực hành kỹ thuật được quy định trong chương trình, phải có giảng viên hướng dẫn; các trường không sử dụng giờ học này để sinh viên tự học Căn cứ vào chương trình môn học Giáo dục thể chất đã được phê duyệt, các trường nghiên cứu và biên soạn giáo trình, tài liệu môn học để phục vụ cho việc dạy, học môn học Giáo dục thể chất của trường Đối với đào tạo liên thông chính quy, thời lượng chương trình môn học GDTC của các cấp liên thông được xác định trên nguyên tắc bù trừ kiến thức còn thiếu ở các trình độ đào tạo trước đó

Trang 34

23

Đối với những sinh viên bị khuyết tật, dị tật bẩm sinh, bị các bệnh tim mạch, không có khả năng vận động với khối lượng và cường độ vận động lớn, các trường cần biên soạn các bài tập đơn giản phù hợp với sức khoẻ và thể chất của sinh viên

Chính vì những yếu tố tác động trên nên việc phát triển GDTC và hoạt động thể thao trường học cần có chiến lược và các giải pháp cụ thể:

Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khóa;

Cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng kết hợp với thể dục, thể thao với hoạt động giải trí, chú trọng nhu cầu tự chọn của học sinh Xây dựng chương trình giáo dục thể chất kết hợp với giáo dục quốc phòng; kết hợp đồng bộ y

tế học đường với dinh dưỡng học đường;

Xây dựng hệ thống các trường, lớp năng khiếu thể thao, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài thể thao cho quốc gia;

Phát triển hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa;

Xây dựng các loại hình câu lạc bộ thể dục, thể thao trường học; khuyến khích học sinh dành thời gian từ 2 – 3 giờ/tuần để tham gia hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ, các lớp năng khiếu thể thao Củng cố và phát triển hệ thống thi đấu thể dục, thể thao giải trí thích hợp với từng cấp học, từng vùng, địa phương;

Tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo có cơ

sở vật chất đáp ứng hoạt động thể dục, thể thao trường học theo quy chuẩn quốc gia;

Ban hành Nghị định về phát triển giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học;

Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách, đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục, thể thao; đẩy mạnh huy động các nguồn xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trong các cơ sở giáo dục, đào tạo Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện thể dục, thể thao, hướng dẫn viên thể dục, thể thao cho các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của Nhà nước;

Trang 35

24

Tiến hành điều tra khảo sát thực trạng thể dục, thể thao trường học, thể chất

và sức khỏe của học sinh theo định kỳ 5 – 10 năm/lần; ban hành chế độ kiểm tra, đánh giá định kỳ thể chất và sức khỏe học sinh;

Tăng cường công tác đào tạo giáo viên thể dục, thể thao, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa cho hướng dẫn viên thể dục, thể thao Ban hành quy chế hỗ trợ đối với các cán bộ, chuyên gia về thể dục, thể thao, trực tiếp tham gia hướng dẫn hoạt động ngoại khóa hoặc hỗ trợ giảng dạy chính khóa… tại các trường thuộc hệ thống giáo dục phổ thông và mẫu giáo;

Ban hành các chính sách huy động, khuyến khích các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp tham gia tài trợ hoạt động thi đấu thể dục, thể thao trong trường học;

Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học; phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong chỉ đạo, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao trường học [3]

1.4.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị

Theo Vũ Trọng Rỹ: “Cơ sở vật chất, trang thiết bị là phương tiện lao động

sư phạm của nhà giáo dục và học sinh Đây là một hệ thống bao gồm trường, cơ

sở, thiết bị chung, thiết bị dạy học theo các môn học và các thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục khác như giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất v.v ” Theo tác giả Ge Hua, Trường Đại học Shenyang, Trung Quốc, đã khẳng định tài sản cố định là nền tảng cho các trường đại học cải tiến chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học Theo Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền, cơ sở vật chất, trang thiết bị là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục Cơ sở vật chất, trang thiết bị đóng vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học xem người học là trung tâm của quá trình nhận thức Theo hướng đổi mới tích cực này, phương pháp dạy học thể hiện qua một số thay đổi cơ bản sau: Người học chủ động tham gia tích cực vào quá trình học tập; Người học trực tiếp tham gia vào khâu tổ chức học tập, được thực hành và làm việc nhiều

hơn trong quá trình học tập

Trang 36

25

Muốn thỏa mãn các thay đổi trên bắt buộc phải có sự tham gia của cơ sở vật chất, trang thiết bị với việc trang bị đầy đủ và đa dạng các loại phương tiện dạy học, các phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, thư viện, sách nghiên cứu, các đồ dùng dạy học và các phương tiện hỗ trợ khác Cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng đóng góp thiết thực vào việc đa dạng hóa các hình thức dạy học;cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, giúp cho người học hiểu sâu hơn, rõ hơn nội dung dạy học Với hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị đầy đủ, người học còn được rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, từ đó hiểu sâu hơn các vấn đề cần học, cần nghiên cứu tạo điều kiện thực tế cho những sáng kiến mới

Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại góp phần rất nhiều vào việc nâng cao khả năng sư phạm Hiện nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, ngành Công nghệ thông tin đã đóng góp rất nhiều các phương tiện kỹ thuật hiện đại trực tiếp hỗ trợ cho các nhà quản lý giáo dục, thầy giáo và người học về lượng thông tin, cách thức sắp xếp trình bày kiến thức khoa học rõ ràng, chính xác Việc

sử dụng công nghệ thông tin trong nhà trường hiện nay đã tạo điều kiện cho thầy và trò có được một mối liên hệ gắn bó, người học thật sự hứng thú tham gia vào giờ học, rèn luyện khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức [48]

Theo Lê Đức Luận, chương trình đào tạo tốt phải có cơ sở vật chất đi kèm, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở, giảng đường Các điều kiện phục vụ cho lên lớp hoàn thiện là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Từ năm 1995, Nhà nước ta cũng đã có sự quan tâm, sâu sát đến điều kiện cơ

sở vật chất phục vụ cho các hoạt động TDTT (thể dục thể thao) trên toàn quốc Qua

đó, ta thấy các đơn vị cần tiến hành tu sửa nâng cấp, xây dựng thêm sân bãi, đảm bảo tương đối đầy đủ về dụng cụ và trang thiết bị tập luyện nhằm đa dạng hóa nội

dung môn học, đáp ứng nhu cầu học tập và rèn luyện cho sinh viên [39]

Cũng theo Lê Đức Luận, xu thế của giáo dục thế kỷ 21: Đối với các nước phát triển là xuất khẩu giáo dục, đối với các nước chậm phát triển sẽ phải nhập khẩu giáo dục Theo tôi thiển nghĩ, chúng ta nên có chính sách cụ thể khuyến khích các trường đại học tăng cường hợp tác quốc tế Coi đó như một tiêu chí, thước đo về chất lượng, thương hiệu của trường đại học Việc đánh giá dựa vào: 1) Số lượng

Trang 37

26

chương trình hợp tác, liên kết đào tạo có hiệu quả với các trường đối tác nước ngoài, 2) Số lượng sinh viên nước ngoài đang theo học ở tại trường” [108] Theo Phạm Thanh Cẩm, thể chất là nền tảng của sức khỏe và trí tuệ con người Vì vậy, phát triển TDTT trường học nhằm nâng cao sức khỏe thể chất của trẻ em được coi

là một trong những hướng ưu tiên của công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và trong chiến lược phát triển TDTT nước ta Trong tình hình hiện nay để phát triển TDTT trường học nhà nước cần có chính sách cụ thể và tăng cường ngân sách để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, hướng dẫn viên TDTT; đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi

và dụng cụ tập luyện cho hoạt động giáo dục thể chất trong các trường học từ cấp

học mầm non trở lên

Thực hiện mỗi trường đều có giáo viên TDTT và có sân bãi, dụng cụ tập luyện Nhà nước cần xây dựng và thực hiện các chế độ, chính sách khuyến khích về giáo dục thể chất đối với trường học, cũng như đối với giáo viên, học sinh Có thể coi đây là khâu đột phá để phát triển thể thao trường học

Trước hết cần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ thể chất cho trẻ em, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

tổ quốc Chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ em phải được toàn xã hội quan tâm và tham gia một cách tự giác, tích cực Cần có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội trong thực hiện chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em [105]

Theo Lê Quý Phượng, trong mối quan hệ với đời sống kinh tế - xã hội, phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính sách

xã hội nhằm chăm lo cho con người, phục vụ đắc lực cho những nhiệm vụ phát triển đất nước về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng TDTT là phương tiện có hiệu quả và có khả năng thực thi để ngăn chặn tình trạng sa sút

về sức khoẻ của nhân dân, đặc biệt là của thế hệ trẻ, từng bước nâng cao thể lực của con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu lao động trong những điều kiện mới

và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc

Trang 38

27

Với ý nghĩa đó, phát triển TDTT được coi là nội dung quan trọng của chính sách xã hội Cương lĩnh của Đảng đã khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”, đồng thời nêu rõ một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội là “bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất” [109]

Thể dục thể thao trường học là bộ phận cơ bản của nền TDTT nước ta Quan tâm lãnh đạo công tác TDTT trường học có ý nghĩa chiến lược to lớn, một mặt nhằm thúc đẩy giáo dục thể chất, nâng cao sức khỏe, thể lực, đời sống văn hóa tinh thần của học sinh để chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực, mặt khác nhằm góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, phát triển tài năng thể thao cho đất nước

Một trong những biện pháp để TDTT trường học có thể vượt qua những khó khăn, thách thức là: Nhà nước cần có chính sách phát triển TDTT trường học Sức khỏe thể chất là cơ sở quan trọng của sức khỏe tâm thần và trí tuệ con người Vì vậy phát triển TDTT trường học để nâng cao sức khỏe thể chất của trẻ

em là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của công tác chăm sóc và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm phát triển bền vững đất nước và bảo vệ tổ quốc

Trong tình hình hiện nay, để giải quyết những khó khăn yếu kém kéo dài của TDTT trường học, Nhà nước cần có một chương trình quốc gia về phát triển TDTT trường học với những mục tiêu cụ thể và thiết thực nhằm tạo ra khâu đột phá để phát triển TDTT trường học trong tương lai [81]

1.5 Vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thể chất ở trường đại học

1.5.1 Vị trí của giáo dục thể chất trường đại học

Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện

Trang 39

28

Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao [72]

Chương trình môn học Giáo dục thể chất nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập,

kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [13]

Giáo dục thể chất trong các trường đại họcđã góp phần tích cực của mình vào thắng lợi chung của sự nghiệp giáo dục, đã góp phần cũng cố, nâng cao sức khỏe và xây dựng nếp sống mới của sinh viên trong nhà trường, đồng thời giúp sinh viên hiểu biết phương pháp khoa học để tiếp tục rèn luyện thân thể, xây dựng phong trào thể dục thể thao cơ sở.Hiện nay, công tác GDTC trong các trường đại họccòn gặp nhiều khó khăn Hầu hết các trường đã thực hiện đúng theo chương trình của Bộ quy định Tuy nhiên chất lượng giảng dạy còn thấp, phương pháp và hình thức giảng dạy còn nghèo nàn, chưa lôi cuốn được sinh viên ham thích và tự giác tập luyện Đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ GDTC trong các trường, việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên chưa được quan tâm đúng mức Cơ sở vật chất và phong trào TDTT còn thiếu thốn, chỉ tập trung ở một số trường lớn

1.5.2 Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trường đại học

Giáo dục thể chất trong các trường đại học là một bộ phận quan trọng trong

sự nghiệp thể dục thể thao và sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nó được tiến hành phù hợp về đặc điểm giải phẫu, tâm-sinh lý, giới tính và lứa tuổi sinh viên cùng với một

số yêu cầu khác Căn cứ vào nhiệm vụ chung của hệ thống giáo dục thể chất, nhiệm

vụ giáo dục thể chất ở các trường đại học được cụ thể hóa như sau:

Trang 40

29

Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe: Thúc đẩy sự phát triển hài hòa của

cơ thể, giữ gìn và hình thành thân thể cân đối; nâng cao các khả năng chức phận của

cơ thể; tăng cường quá trình trao đổi chất, củng cố và rèn luyện hệ thần kinh vững chắc; Phát triển một cách hợp lý các tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản; Nâng cao khả năng làm việc về trí óc và thể lực.Trên cơ sở phát triển thể chất, tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, nghỉ ngơi tích cực, rèn luyện và nâng cao khả năng chịu đựng và sức đề kháng của cơ thể đối với các ảnh hưởng bất lợi của

môi trường bên ngoài, phòng chống lại bệnh tật

Nhiệm vụ giáo dưỡng:Trang bị cho sinh viên những tri thức về thể dục thể

thao, kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau của cuộc sống; Cung cấp các tri thức và rèn luyện thói quen giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh tập luyện, nếp sống văn minh, lành mạnh; Phát triển hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng, hình thành thói quen tự tập luyện; Trang bị một số tri thức về

mặt tổ chức và phương pháp tiến hành một buổi tập luyện thể dục thể thao

Nhiệm vụ giáo dục:Với tư cách là một mặt của giáo dục toàn diện, giáo dục

thể chất góp phần tích cực vào việc hình thành các thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mỹ, chuẩn bị thể lực cho thanh niên, sinh viên đi vào cuộc sống lao động, sản xuất, công tác Đồng thời phải gắn liền nó với các yêu cầu cụ thể và các hoạt

động chung của nhà trường

Nhiệm vụ tiếp tục phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao:Giáo dục thể

chất có nhiệm vụ phát hiện những tài năng, năng khiếu trong các trường đại học

và trong điều kiện khả năng của mình bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước hoặc thông báo cho các tổ chức, cơ quan có trách nhiệm để kịp thời bồi dưỡng

nhân tài thể thao [12]

1.5.3 Nội dung chương trình giáo dục thể chất trường đại học

Quyết định số 14/2001/QĐ-BGD&ĐT qui định: GDTC trong trường học

là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho HSSV [8] TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động TDTTNK cho người học [86] Chương trình GDTC được thực hiện trong

Ngày đăng: 17/11/2022, 18:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w