LUẬN VĂN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU TRẦN THỊ THU TRANG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU LUẬN VĂN T[.]
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã bắt đầu và thể hiện rõ sự bùng nổ của công nghệ số, kinh tế số, công nghệ thông tin và Internet, sự tích hợp của nhiều công nghệ hiện đại vào các lĩnh vực vật lý, hóa học và sinh học đang giữ vai trò chi phối và là trung tâm kết nối toàn cầu Hóa đơn điện tử (HĐĐT) ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, thay thế dần hóa đơn giấy truyền thống và góp phần hiện đại hóa quy trình thanh toán, quản lý và tối ưu hóa chi phí cho doanh nghiệp.
Theo Koch (2019), thị trường hóa đơn điện tử toàn cầu được dự báo sẽ đạt khoảng 550 tỷ hóa đơn mỗi năm và được kỳ vọng tăng gấp 4 lần vào năm 2035 Năm 2019, chỉ có khoảng 55 tỷ hóa đơn được trao đổi trên cơ sở không giấy tờ; ước tính quy mô thị trường hóa đơn và hỗ trợ hóa đơn điện tử toàn cầu năm 2019 lên tới khoảng 4,3 tỷ EUR và sẽ đạt khoảng 18 tỷ EUR vào năm 2025 Ban đầu, khu vực tư nhân là động lực chính cho sự phát triển thị trường, tuy nhiên ngày càng được thúc đẩy bởi các chính phủ Mục tiêu thu hẹp đáng kể khoảng cách địa lý có thể đạt được nhờ các mô hình tham gia tự nguyện kèm các ưu đãi Do đó, người nộp thuế ngày càng được yêu cầu sử dụng các mô hình giải phóng mặt bằng thời gian thực Trong trường hợp này, các tổ chức phải trao đổi hóa đơn thông qua cơ quan thuế hoặc gửi ít nhất dữ liệu hóa đơn ở định dạng điện tử Mô hình này dự kiến sẽ dần được chấp nhận trên toàn cầu và trở thành phương thức phổ biến nhất trên thế giới vào năm 2025.
Hóa đơn điện tử (HĐĐT) là sản phẩm của công nghệ thông tin mang lại nhiều lợi ích cho cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp, và việc áp dụng HĐĐT phù hợp với thông lệ quốc tế giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và hội nhập thuận lợi; HĐĐT cho phép doanh nghiệp chuyển dữ liệu điện tử tới cơ quan thuế một cách thuận tiện, tăng tính công khai minh bạch của dữ liệu khai thuế và tạo nền tảng tin cậy cho quản lý thuế; việc sử dụng HĐĐT thúc đẩy các đơn vị cung cấp dịch vụ HĐĐT phát triển, nâng cao chất lượng hỗ trợ về pháp luật, kế toán và kê khai thuế cho doanh nghiệp, nhờ đó các đơn vị này có thể đồng hành tích cực với cơ quan thuế trong việc hướng dẫn, hỗ trợ chính sách thuế và tuyên truyền về HĐĐT; đồng thời cơ quan thuế không chỉ cần có các giải pháp tác động đến doanh nghiệp mà còn cần có biện pháp tác động đến các tổ chức cung cấp dịch vụ HĐĐT để nhanh chóng triển khai rộng rãi HĐĐT theo quy định của Luật quản lý thuế của Nhà nước.
Tính cấp thiết của đề tài
Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, HĐĐT đã trở nên khá phổ biến trong khoảng
Trong 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã ban hành cơ sở pháp lý cho hóa đơn điện tử (HĐĐT) với Thông tư 32/2011/TT-BTC, mở đường cho việc triển khai từ năm 2011 Theo Nghị định 119/2018/NĐ-CP và tầm nhìn của Chính phủ đến năm 2020, dự kiến có tới 90% doanh nghiệp Việt Nam sẽ sử dụng hóa đơn điện tử thay thế cho hóa đơn giấy Lợi ích của hóa đơn điện tử rất rõ ràng: tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp; giảm thiểu giả mạo hóa đơn; thuận lợi cho công tác quản lý; gia tăng lợi ích với khách hàng và giao dịch thanh toán điện tử, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, rào cản lớn nhất vẫn là tư duy cũ và tâm lý ngại đổi mới từ phía doanh nghiệp; nếu muốn tồn tại, doanh nghiệp không thể giữ cách thức cũ, bởi việc thay thế hoàn toàn hóa đơn giấy chỉ còn là vấn đề thời gian.
Việc sử dụng HĐĐT (hóa đơn điện tử) tại nước ta đã tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng trưởng còn khiêm tốn Tính đến hết tháng 6/2020, cả nước chỉ có khoảng 33,4% doanh nghiệp, tổ chức áp dụng hình thức hóa đơn điện tử Nhận thức về việc triển khai HĐĐT của doanh nghiệp và xã hội nói chung vẫn lan tỏa chậm Vì vậy, ngành thuế cần gấp rút đẩy mạnh tuyên truyền và triển khai HĐĐT đồng thời nghiên cứu các yếu tố tác động để đưa ra các giải pháp cụ thể mang lại hiệu quả cao hơn.
Thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang trên đà phát triển với trên 16.000 doanh nghiệp và số doanh nghiệp thành lập mới không ngừng tăng, cho thấy sức hấp dẫn của thị trường và môi trường kinh doanh nơi đây Dịch Covid-19 đã khiến nhiều nhà đầu tư e ngại và thận trọng bỏ vốn, nên hoạt động đăng ký doanh nghiệp tại Bà Rịa – Vũng Tàu chịu ảnh hưởng Tuy nhiên, khi dịch bệnh được kiểm soát, tình hình đã có sự cải thiện với những dấu hiệu phục hồi tích cực của hoạt động thành lập doanh nghiệp và tăng trưởng số lượng doanh nghiệp mới Dữ liệu gần đây cho thấy môi trường đầu tư tại Vũng Tàu đang dần ổn định và thuận lợi hơn đối với doanh nghiệp trong nước và quốc tế.
Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong 9 tháng đầu năm 2020, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận 1.436 doanh nghiệp thành lập mới, chiếm khoảng 3,5% tổng số doanh nghiệp thành lập mới của khu vực Đông Nam Bộ.
Toàn tỉnh có 1,5% tổng số doanh nghiệp cả nước, với vốn đăng ký 22.378 tỷ đồng (chiếm 2,8% khu vực Đông Nam Bộ, 1,6% cả nước), tăng 13,61% về số doanh nghiệp và 33,3% về vốn so với cùng kỳ năm ngoái Riêng thành phố Vũng Tàu chiếm trên 66% số doanh nghiệp thành lập mới, tương đương 2/3 toàn tỉnh Tính đến tháng 10/2021, số doanh nghiệp tại địa bàn thành phố đã chuyển sang sử dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) là 3.353 doanh nghiệp, chiếm 75,76% số doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn toàn thành phố; con số này cho thấy thành phố vẫn chưa đạt mục tiêu 80% đến tháng 6/2021 Từ ngày 12/7/2021, Cục Thuế Tỉnh đã triển khai họp giao ban trực tuyến giữa lãnh đạo cục và lãnh đạo các phòng, chi cục thuế định kỳ hàng tuần và đột xuất để bảo đảm triển khai chỉ đạo, báo cáo tiến độ thực hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Hiện nay, hầu hết các Nghị định Chính phủ và Thông tư của Bộ Tài chính mới chỉ dừng lại ở việc quy định việc sử dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) mà chưa có nghiên cứu nào phân tích xu hướng hay các yếu tố tác động đến việc sử dụng HĐĐT của các doanh nghiệp Vì vậy, đề tài 'Các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu' được thực hiện nhằm tìm hiểu xu hướng sử dụng HĐĐT và xây dựng các giải pháp phù hợp để giúp doanh nghiệp chuyển đổi từ hóa đơn truyền thống sang HĐĐT, đồng thời phù hợp với xu hướng thương mại điện tử và mang lại nhiều lợi ích cho công tác quản lý tài chính hiện tại và tương lai, nhất là đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu.
Mục tiêu đề tài
1.3.1 Mục tiêu tổng quát Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
1 - Xác định các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu
2 - Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu
3 - Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao quyết định sử dụng HĐĐT của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu
Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
1 - Các yếu tố nào tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu?
2 - Mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu như thế nào?
3 - Hàm ý quản trị nào nhằm nâng cao quyết định sử dụng HĐĐT của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT và bản thân quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp
Đối tượng khảo sát là đại diện của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, bao gồm lãnh đạo và các cán bộ kế toán như trưởng phòng kế toán, phó trưởng phòng kế toán, kế toán viên, thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo.
Về không gian nghiên cứu, phạm vi được giới hạn ở các doanh nghiệp tại thành phố Vũng Tàu, thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo.
Về thời gian, dữ liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm
2018 đến năm 2020, dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát vào khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 02/2022
1.6 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm với sự tham gia của các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong quản lý thuế và đại diện doanh nghiệp nhằm điều chỉnh các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu và để xây dựng thang đo nghiên cứu Cuộc thảo luận nhóm do tác giả chủ trì theo kịch bản nội dung được chuẩn bị trước, đảm bảo tính hệ thống và tập trung vào các yếu tố then chốt Dựa trên kết quả từ thảo luận nhóm, mô hình nghiên cứu được điều chỉnh và tham khảo ý kiến chuyên gia để hoàn thiện thang đo và xây dựng bảng khảo sát Đồng thời, lý thuyết và thực hành phương pháp nghiên cứu khoa học được tham khảo từ một số tài liệu học thuật và các nhà khoa học nhằm tăng tính tin cậy và tính khả thi của nghiên cứu.
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Khảo sát trực tuyến được tiến hành bằng công cụ Google Forms để thu thập dữ liệu, sau đó dữ liệu thu được được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 với các phương pháp phân tích gồm thống kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá nhằm tối ưu cấu trúc dữ liệu, phân tích tương quan để xác định mức độ liên hệ giữa các biến, và phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm tra ảnh hưởng giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.
Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu này được thể hiện qua việc kiểm định thang đo các khái niệm nghiên cứu và chuyển đổi chúng thành một tập hợp các biến quan sát để xác định các yếu tố tác động đến quyết định doanh nghiệp sử dụng HĐĐT Quá trình này làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố và cung cấp dữ liệu thực nghiệm có giá trị cho các nghiên cứu khoa học về sau liên quan đến HĐĐT Kết quả còn đóng góp dữ liệu nền tảng cho các nghiên cứu tương lai, hỗ trợ định hướng lý thuyết và thực tiễn triển khai HĐĐT trong doanh nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn của kết quả nghiên cứu mang lại lợi ích cho các đối tượng liên quan gồm doanh nghiệp, tổ chức tư vấn dịch vụ HĐĐT và cơ quan thuế địa phương, đặc biệt tại thành phố Vũng Tàu và vùng lân cận Vũng Tàu – Côn Đảo Đối với doanh nghiệp, kết quả giúp nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng Hóa đơn điện tử và nhận diện các rào cản tác động đến quyết định triển khai HĐĐT, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động Đối với các tổ chức tư vấn, kết quả làm rõ vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm khi cung cấp dịch vụ HĐĐT, đồng thời nhấn mạnh cần chú trọng đào tạo, hướng dẫn sử dụng cho doanh nghiệp, lưu trữ, truyền dẫn và bảo mật thông tin, cùng hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cho doanh nghiệp Đối với cơ quan thuế địa phương, nghiên cứu xây dựng các hàm ý quản trị có thể tác động tích cực đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn, tiêu biểu là Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo.
Luận văn có kết cấu 5 chương, gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Đáp ứng xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hóa đơn điện tử (HĐĐT) ra đời và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, Việt Nam đã tiếp nhận và dần thay thế hóa đơn giấy nhờ những lợi ích vượt trội như tối ưu quy trình, giảm chi phí và tăng tính minh bạch Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu đề tài Nội dung Chương 2 sẽ đề cập đến cơ sở lý luận liên quan làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết tương ứng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT và bản thân quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp
Đối tượng khảo sát là đại diện của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo, bao gồm lãnh đạo doanh nghiệp, trưởng hoặc phó trưởng phòng kế toán và kế toán viên.
Về không gian nghiên cứu, phạm vi được giới hạn ở các doanh nghiệp hoạt động tại thành phố Vũng Tàu và thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo.
Về thời gian, dữ liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm
2018 đến năm 2020, dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát vào khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 02/2022.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng phương pháp thảo luận nhóm với các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý thuế và đại diện các doanh nghiệp nhằm điều chỉnh các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng Hóa đơn điện tử (HĐĐT) của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu và xác lập thang đo nghiên cứu Việc thảo luận nhóm do tác giả chủ trì theo kịch bản nội dung đã được chuẩn bị trước Dựa trên kết quả thảo luận nhóm, mô hình nghiên cứu được điều chỉnh và thang đo được hoàn thiện sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia, đồng thời bảng khảo sát được xây dựng dựa trên các điều chỉnh này Bên cạnh đó, lý thuyết và thực hành phương pháp nghiên cứu khoa học cũng được tham khảo từ một số tài liệu học thuật và các nhà khoa học.
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Khảo sát trực tuyến được tiến hành bằng công cụ Google Forms để thu thập dữ liệu, sau đó dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 với các phương pháp phân tích chính gồm thống kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá nhằm xác định cấu trúc biến, phân tích tương quan để đánh giá mối quan hệ giữa các biến và phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm tra ảnh hưởng của các yếu tố lên biến phụ thuộc.
Ý nghĩa của nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu là kiểm định thang đo các khái niệm nghiên cứu và phát triển chúng thành một tập hợp các biến quan sát phản ánh các yếu tố tác động đến quyết định doanh nghiệp sử dụng HĐĐT, từ đó bổ sung dữ liệu cho các nghiên cứu khoa học sau này liên quan đến HĐĐT.
Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu là đem lại lợi ích cho các đối tượng liên quan, gồm doanh nghiệp, các tổ chức tư vấn dịch vụ hợp đồng điện tử (HĐĐT) và cơ quan thuế địa phương tại thành phố Vũng Tàu Đối với doanh nghiệp, kết quả cho thấy sự quan trọng của việc sử dụng HĐĐT, nhận diện rào cản tác động đến quyết định áp dụng HĐĐT và từ đó khắc phục để nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hoạt động Đối với các tổ chức tư vấn, nghiên cứu giúp làm rõ vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm trong cung cấp dịch vụ HĐĐT, chú trọng đào tạo và hướng dẫn sử dụng cho doanh nghiệp, đồng thời lưu trữ, truyền dẫn và bảo mật thông tin, cùng với hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cho doanh nghiệp Đối với cơ quan thuế địa phương, kết quả đề xuất các hàm ý quản trị nhằm tác động tích cực đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn, đặc biệt là Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo.
Kết cấu đề tài
Luận văn có kết cấu 5 chương, gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Nhờ bắt nhịp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hóa đơn điện tử (HĐĐT) đã hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam, thay thế hóa đơn giấy nhờ những lợi ích vượt trội về hiệu suất, an toàn và tiết kiệm chi phí Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, trình bày các phần như đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu đề tài Nội dung Chương 2 sẽ đề cập đến cơ sở lý luận liên quan nhằm làm nền tảng cho đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết tương ứng.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Các lý thuyết liên quan
2.2 Các lý thuyết liên quan
2.2.1 Thuyết Hành động hợp lý TRA
Thuyết Hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) do Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian; mô hình TRA, được thiết lập đến năm 1975, cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố góp phần vào dự đoán hành vi tiêu dùng một cách tốt hơn Để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua, ta xem xét hai yếu tố chủ chốt là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng TRA là một mô hình dự báo ý định hành vi, trong đó ý định được coi là phần nối giữa thái độ và hành vi Ý định của cá nhân để thực hiện hành vi bị tác động bởi hai yếu tố chính là thái độ và chuẩn chủ quan Thái độ đối với một hành động là cảm xúc hoặc đánh giá của chúng ta khi làm một việc gì đó, còn chuẩn chủ quan được xem như những ảnh hưởng của môi trường xã hội lên hành vi của cá nhân Ý định là chỉ số thể hiện sự sẵn sàng của một người để thực hiện những hành vi nhất định.
Thuyết Hành động hợp lý giúp xác định các nhân tố tác động đến việc thực hiện một hành vi cụ thể và định hình cách thức nghiên cứu hành vi Hiểu rõ các yếu tố này cho phép phát triển các biện pháp và chiến lược nhằm thay đổi niềm tin và hành vi, từ đó dẫn tới sự thay đổi hành vi một cách có chủ đích.
Hình 2.2 - Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA
(Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975) 2.2.2 Thuyết Hành vi dự định TPB
Thuyết Hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behaviour) được Ajzen (1991) xây dựng bằng cách bổ sung thêm nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi (PBC -
Perceived Behavioral Control (khả năng kiểm soát hành vi) được đưa vào mô hình TRA như một thành phần nhận thức về khả năng thực hiện hành vi Thành phần này phản ánh mức độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và phụ thuộc vào sự sẵn có của nguồn lực cũng như các cơ hội để thực hiện hành vi Chính vì vậy, mức độ kiểm soát hành vi nhận thức sẽ ảnh hưởng đến quyết định hành động: khi có nguồn lực và cơ hội đầy đủ, PBC được đánh giá cao và tăng khả năng thực hiện hành vi; ngược lại, thiếu nguồn lực hoặc hạn chế cơ hội sẽ làm giảm động lực và khả năng thực hiện hành vi.
Hình 2.3 - Mô hình thuyết hành vị dự định TPB
2.2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM
Davis (1989) đề xuất Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model) nhằm mục tiêu cung cấp giải thích cho các yếu tố có khả năng giải thích hành vi chấp nhận công nghệ của người dùng trên nhiều loại công nghệ khác nhau, từ máy tính cá nhân đến các hệ thống CNTT trong cộng đồng Dựa trên thuyết TRA, mô hình TAM khảo sát mối quan hệ và tác động của các yếu tố liên quan như tin tưởng, thái độ, ý định và hành vi đối với việc chấp nhận CNTT bởi người dùng TAM nhận diện các biến liên quan đến yếu tố cảm xúc, sự ưa thích và nhận thức trong quá trình chấp nhận sử dụng máy tính.
Hình 2.4 - Mô hình chấp nhận công nghệ TAM
(Nguồn: Davis, 1989) 2.2.4 Mô hình kết hợp TAM và TPB
Mô hình TAM quan tâm đến tác động của nhận thức đến việc chấp nhận công nghệ, trong khi các biến về thái độ trong TPB giải thích tầm quan trọng của nhận thức của người dùng Việc kết hợp hai mô hình TAM và TPB trong cùng một lĩnh vực sẽ tạo ra sức mạnh dự đoán tốt hơn so với việc sử dụng riêng lẻ TAM hoặc TPB Taylor và Todd (1995) đã bổ sung vào mô hình TAM hai yếu tố chính là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi để cung cấp sự kiểm định đầy đủ về các yếu tố quan trọng trong việc sử dụng công nghệ thông tin, được gọi là “Mô hình TAM được gia tăng” hoặc mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB) Bên cạnh đó, việc tăng thêm các yếu tố cho TAM (kết hợp thuyết hành vi dự định TPB) cung cấp một khuôn khổ phù hợp cho việc sử dụng sản phẩm công nghệ thông tin, bao gồm cả đối tượng đã có và chưa có kinh nghiệm sử dụng.
Mô hình C-TAM-TPB được dùng để dự đoán xu hướng sử dụng công nghệ của các đối tượng chưa từng tiếp xúc với công nghệ trước đây, đồng thời nó cũng dự báo thói quen sử dụng của những người đã có kinh nghiệm hoặc quen thuộc với công nghệ Việc áp dụng C-TAM-TPB cho cả hai nhóm đối tượng giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi công nghệ, từ đó hỗ trợ xây dựng chiến lược tiếp thị, thiết kế sản phẩm và chương trình đào tạo người dùng mới một cách hiệu quả.
Hình 2.5 - Mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB)
(Nguồn: Taylor và Todd, 1995) 2.2.5 Thuyết Thống nhất và chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT
Thuyết Thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT (Unified Theory of
Acceptance and Use of Technology) được xây dựng bởi Venkatesh và cộng sự
Được giới thiệu vào năm 2003 để giải thích ý định và hành vi sử dụng công nghệ thông tin của người dùng, mô hình UTAUT (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) được phát triển dựa trên các mô hình lý thuyết nền tảng như TRA, TPB và TAM Mô hình này xác định bốn yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến ý định và hành vi sử dụng công nghệ thông tin: kỳ vọng hiệu năng, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và điều kiện vật chất Các yếu tố này phối hợp với nhau để dự báo mức độ chấp nhận và mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong các bối cảnh tổ chức và cá nhân, từ đó hỗ trợ tối ưu hóa chiến lược triển khai công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng.
Mô hình Thống nhất và chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003) được xem là công cụ hữu ích giúp giải thích sự chấp nhận công nghệ trong tổ chức Mô hình này cung cấp khung phân tích dễ hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận công nghệ ở cấp độ tổ chức và hỗ trợ quá trình đánh giá, triển khai cũng như tối ưu hóa các giải pháp công nghệ Nhờ tổng hợp các yếu tố như mong đợi hiệu quả, sự ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi, UTAUT trở thành một khung lý thuyết đáng tin cậy cho nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn về chấp nhận công nghệ trong doanh nghiệp.
Hình 2.6 - Mô hình thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT
(Nguồn: Venkatesh và cộng sự, 2003)
Lược khảo các nghiên cứu liên quan
Trong nghiên cứu của Hernandez-Ortega (2012) về các yếu tố tác động đến sự áp dụng HĐĐT, dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn và khảo sát bằng máy tính và thiết bị di động với các đại diện chịu trách nhiệm về HĐĐT tại công ty Ở các công ty nhỏ, người đại diện là giám đốc, còn ở công ty lớn là giám đốc công nghệ thông tin Tổng cộng có 1.443 cuộc gọi điện thoại được thực hiện và 1.193 cuộc khảo sát được tiến hành Các yếu tố tác động được xác định gồm nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức tính hữu ích, nhận thức tính tương thích và nhận thức tính an ninh từ dữ liệu chuyển đổi điện tử Tác giả chia mẫu nghiên cứu thành hai nhóm: chưa áp dụng HĐĐT và vừa mới áp dụng Kết quả cho thấy sự tác động của các yếu tố này có sự khác biệt giữa hai nhóm, do đó cần chú ý đến các yếu tố này để cải thiện tình hình áp dụng HĐĐT trong tương lai.
Hình 2.7 - Mô hình nghiên cứu của Hernandez-Ortega (2012)
Yusup (2015) phân tích các nhân tố tác động đến xu hướng sử dụng HĐĐT ở Indonesia thông qua phân tích SEM dựa trên mô hình cấu trúc tuyến tính Đối tượng nghiên cứu là nhân viên của 17 công ty ngành sợi và dệt may tại Bandung, West Java, với mẫu 269 đáp viên được chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện Kết quả cho thấy nhận thức về tính dễ sử dụng, chuẩn chủ quan, nhận thức về hữu ích và điều kiện thuận lợi tác động đến thái độ và ý định sử dụng HĐĐT Do đó, HĐĐT được xem là một cách để cải thiện dịch vụ của các cơ quan chính phủ và tạo điều kiện cho việc nộp thuế.
Hình 2.8 - Mô hình nghiên cứu của Yusup (2015)
Nhận thức tính tương thích
Nhận thức tính hữu ích Hành vi sử dụng HĐĐT Nhận thức tính dễ sử dụng
Nhận thức tính an toàn
Theo Lian (2015) tại Đài Loan, kỳ vọng về hiệu suất (performance expectancy) và nỗ lực kỳ vọng (effort expectancy) tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ HĐĐT; ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi cũng tăng cường ý định này Niềm tin vào chính phủ điện tử có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ HĐĐT và đồng thời làm giảm nhận thức rủi ro liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ HĐĐT; tuy vậy, những lo ngại về an ninh liên quan đến chính phủ điện tử làm giảm niềm tin vào chính phủ điện tử và từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến ý định sử dụng HĐĐT Rủi ro cảm nhận có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định sử dụng dịch vụ HĐĐT.
Hình 2.9 - Mô hình nghiên cứu của Lian (2015)
Nugroho và cộng sự (2018) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận hệ thống HĐĐT tại Surakarta bằng cách áp dụng Thuyết UTAUT Mô hình cấu trúc tuyến tính – bình phương nhỏ nhất riêng phần (PLS-SEM) được áp dụng để phân tích ý định của người dùng về việc áp dụng hệ thống HĐĐT.
Nghiên cứu này theo dõi 40 người dựa trên ba đặc điểm nhân khẩu học gồm giới tính, trình độ học vấn và kinh nghiệm sử dụng hóa đơn điện tử Kết quả cho thấy trong mẫu có 45% ở độ tuổi trẻ, 58% có trình độ phổ thông và 65% biết cách sử dụng hóa đơn điện tử Các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng hóa đơn điện tử được xác định gồm điều kiện thuận lợi, ảnh hưởng xã hội/chuẩn chủ quan và hành vi sử dụng HĐĐT.
Nỗ lực mong đợi/Nhận thức tính dễ sử dụng
Hiệu quả mong đợi/Nhận thức tính hữu ích
Niềm tin vào chính phủ điện tử
Mối lo ngại về tính an toàn động liên quan đến hiệu quả mong đợi, nỗ lực mong đợi, điều kiện thuận lợi và ảnh hưởng xã hội tác động đến hành vi sử dụng hệ thống HĐĐT Do đó, cần tăng quy mô mẫu trong các nghiên cứu tương lai và áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để đảm bảo tính đại diện và tăng độ tin cậy của kết quả.
Hình 2.10 - Mô hình nghiên cứu của Nugroho và cộng sự (2018)
(Nguồn: Nugroho và cộng sự, 2018) 2.3.2 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016) xác định các yếu tố tác động đến xu hướng chọn hình thức HĐĐT và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, đồng thời đề xuất kiến nghị cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thúc đẩy HĐĐT trở thành hình thức chủ đạo trong tương lai Phương pháp nghiên cứu gồm một giai đoạn định tính sơ bộ bằng phỏng vấn sâu để điều chỉnh thang đo phù hợp với đối tượng nghiên cứu và một giai đoạn định lượng chính thức với kích thước mẫu là 243, dữ liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS Kết quả cho thấy có 6 yếu tố tác động đến xu hướng chọn HĐĐT được sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp là: nhận thức kiểm soát hành vi, nhận thức tính hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng, niềm tin, chuẩn chủ quan và nhận thức chi phí chuyển đổi, bên cạnh sự ảnh hưởng của yếu tố xã hội.
Nỗ lực mong đợi/Nhận thức tính dễ sử dụng Hành vi sử dụng HĐĐT Hiệu quả mong đợi/Nhận thức tính hữu ích Điều kiện thuận lợi
Hình 2.11 - Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016)
(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Liêm, 2016)
Nguyen và cộng sự (2020) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc áp dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) tại Việt Nam qua khảo sát 318 người là lãnh đạo, kế toán trưởng và kế toán viên từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2019 Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định các giả thuyết về hành vi áp dụng HĐĐT, kết quả cho thấy 5 trong 7 yếu tố có tác động đáng kể đến hành vi áp dụng ở Việt Nam, bao gồm: 1) thái độ, 2) nhận thức kiểm soát hành vi, 3) nhận thức tính hữu ích, 4) nhận thức tính dễ sử dụng, và 5) nhận thức tính tương thích Cảm nhận tính an toàn và ảnh hưởng xã hội không có tác động đáng kể.
Hình 2.12 - Mô hình nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2020)
(Nguồn: Nguyen và cộng sự, 2020)
Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu (2021) đã tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu và xác định các yếu tố chính tác động đến ý định sử dụng Hóa đơn điện tử (HĐĐT) của các doanh nghiệp tại Chi Cục Thuế quận Bài viết nhấn mạnh các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định triển khai HĐĐT và cung cấp cái nhìn tổng thể về động lực chuyển đổi số trong quản lý hóa đơn tại địa phương.
Nhận thức tính hữu ích Hành vi sử dụng HĐĐT
Nhận thức tính dễ sử dụng
Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức tính tương thích
Nhận thức kiểm soát hành vi Hành vi sử dụng HĐĐT
Nhận thức tính dễ sử dụng
Nhận thức tính hữu ích
Nhận thức chi phí chuyển đổi
Tân Phú TP Hồ Chí Minh với mô hình nghiên cứu gồm 6 yếu tố là 1) Tính hữu ích,
2) Tính dễ sử dụng, 3) Tính tương hỗ, 4) Chi phí, 5) Sự tin tưởng, và 6) Chuẩn chủ quan Hai tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp định tính và định lượng với việc phỏng vấn sâu 4 chuyên gia và thảo luận với 6 thành viên để xác định mô hình nghiên cứu và thang đo, kết hợp với việc phân tích dữ liệu từ 250 phiếu khảo sát trực tiếp cho các doanh nghiệp khi lên Chi Cục Thuế Tân Phú làm thủ tục quyết toán thuế Kết quả nghiên cứu có 6 yếu tố tác động đến ý định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp tại Chi Cục thuế quận Tân Phú theo mức độ tác động từ cao đến thấp là tính hữu ích, dễ sử dụng, chuẩn chủ quan, sự tin tưởng, và tính tương hỗ
Hình 2.13 - Mô hình nghiên cứu Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu (2021)
(Nguồn: Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu, 2021)
Tính tương hỗ Hành vi sử dụng HĐĐT
Bảng 2.1 - Tổng hợp nghiên cứu tiêu biểu cùng các yếu tố tác động
Stt Tác giả Năm Quốc gia Các yếu tố tác động
Nhận thức tính dễ sử dụng Nhận thức tính hữu ích Nhận thức tính tương thích Nhận thức tính an toàn
2 Yusup 2015 Indonesia Nhận thức tính dễ sử dụng
Nhận thức tính hữu ích Chuẩn chủ quan Điều kiện thuận lợi
3 Lian 2015 Đài Loan Nhận thức tính hữu ích
Nhận thức tính dễ sử dụng của các dịch vụ công trực tuyến là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định tham gia của người dân Ảnh hưởng xã hội từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp có thể thúc đẩy hoặc cản trở việc tiếp cận và sử dụng chính phủ điện tử Điều kiện thuận lợi như hạ tầng công nghệ, hỗ trợ người dùng và chiến lược giáo dục người dân đóng vai trò thiết yếu để nâng cao sự chấp nhận Tuy nhiên, nhận thức rủi ro và mối lo ngại về tính an toàn vẫn có thể làm giảm sự tin tưởng và khiến nhiều người ngại giao dịch trực tuyến Niềm tin vào chính phủ điện tử và các biện pháp bảo mật được thiết kế hiệu quả sẽ tăng cường sự tin cậy, từ đó nâng cao mức độ sử dụng và hài lòng của người dùng.
2018 Indonesia Nhận thức tính hữu ích
Nhận thức tính dễ sử dụng Ảnh hưởng xã hội Điều kiện thuận lợi
2016 Việt Nam Nhận thức tính hữu ích
Nhận thức tính dễ sử dụng Nhận thức kiểm soát hành vi Chuẩn chủ quan
Niềm tin Nhận thức chi phí chuyển đổi
2020 Việt Nam Nhận thức tính dễ sử dụng
Nhận thức tính hữu ích Thái độ
Nhận thức kiểm soát hành vi Nhận thức tính tương thích
2021 Việt Nam Tính hữu ích
Tính dễ sử dụng Tính tương hỗ Chi phí
Sự tin tưởng Chuẩn chủ quan
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên nền tảng lý thuyết về sử dụng HĐĐT và mô hình UTAUT (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) của Venkatesh và cộng sự (2003), nghiên cứu tổng hợp các bằng chứng từ các nghiên cứu điển hình về HĐĐT và các yếu tố điển hình được lặp lại nhiều lần, phù hợp với điều kiện tại Việt Nam Từ đó, nghiên cứu đề xuất 05 yếu tố có ảnh hưởng tới quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, gồm: (1) Nhận thức tính hữu ích, (2) Nhận thức tính dễ sử dụng, (3) Ảnh hưởng xã hội, (4) Nhận thức chi phí chuyển đổi, và (5) Nhận thức tính an toàn.
Mô hình nghiên cứu của đề tài được đề xuất như sau:
Hình 2.14 - Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Đề xuất của tác giả) 2.4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Nhận thức tính hữu ích
Trong mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), nhận thức tính hữu ích là mức độ tin tưởng của người dùng rằng việc sử dụng một hệ thống công nghệ thông tin cụ thể sẽ nâng cao kết quả và hiệu suất công việc (Davis, 1989) Các nghiên cứu sau này của các tác giả trong nước và nước ngoài cho thấy nhận thức tính hữu ích có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng Yếu tố này được xem là một yếu tố cốt lõi trong quá trình chấp nhận công nghệ và quyết định mức độ tiếp nhận sản phẩm công nghệ thông tin.
Nhận thức chi phí chuyển đổi Ảnh hưởng xã hội
Quyết định sử dụng HĐĐT Nhận thức tính dễ sử dụng
Nhận thức tính hữu ích
Nhận thức tính an toàn khi sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp là cảm nhận về những lợi ích sẵn có mà HĐĐT mang lại trong quá trình sử dụng, từ đó tác động đến quyết định sử dụng HĐĐT (Lian, 2015) Các nghiên cứu của Hernandez-Ortega (2012) và Yusup cho thấy mối quan hệ giữa nhận thức an toàn và hành vi chấp nhận công nghệ, xác nhận vai trò của yếu tố an toàn trong quyết định triển khai và duy trì HĐĐT trong doanh nghiệp.
Các nghiên cứu từ năm 2015 đến 2021, gồm Lian (2015), Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016), Nugroho và cộng sự (2018), Nguyen và cộng sự (2020), Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu (2021), đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhận thức tính hữu ích và hành vi sử dụng HĐĐT Kết quả này nhấn mạnh rằng khi người dùng nhận thức được ích lợi của HĐĐT, họ có xu hướng tăng cường hành vi sử dụng HĐĐT.
Kể từ năm 2020 đến nay, Cục Thuế Bà Rịa - Vũng Tàu đã tổ chức các lớp tập huấn về hóa đơn điện tử (HĐĐT) cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hoàn thuế điện tử Những buổi tập huấn này mang lại kiến thức thiết thực và hữu ích, giúp doanh nghiệp nắm vững quy định pháp luật và triển khai HĐĐT đúng chuẩn Ngoài ra, chương trình còn mang lại nhiều lợi ích thực tế như giảm thời gian và chi phí, đồng thời cho phép doanh nghiệp chủ động kiểm soát hồ sơ đề nghị hoàn thuế, từ việc theo dõi quá trình xử lý của cơ quan thuế cho đến việc nhận diện các tài liệu cần bổ sung hoặc cấp độ giải quyết đang diễn ra.
Giả thuyết H1 được đặt ra như sau:
H 1 : Nhận thức tính hữu ích có tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp
Nhận thức tính dễ sử dụng
Trong mô hình TAM, tính dễ sử dụng là yếu tố quan trọng, được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không đòi hỏi nhiều nỗ lực (Davis, 1989) Tính dễ sử dụng được nghiên cứu và chứng minh có tác động đến nhiều hệ thống công nghệ khác nhau trong các ngành dịch vụ Đối với các dịch vụ có áp dụng công nghệ như HĐĐT, hoạt động chủ yếu là người tiêu dùng không trực tiếp tương tác với nhà cung cấp dịch vụ; nhưng khách hàng đôi khi gặp khó khăn khi tương tác với hệ thống nộp thuế điện tử, vì vậy việc dễ học và dễ sử dụng là yếu tố quan trọng đối với dịch vụ HĐĐT bất kể người tiêu dùng có thành thạo công nghệ hay không (Dai và Palvi, 2009) Yếu tố này đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có tác động đến hành vi sử dụng HĐĐT, bao gồm Hernandez-Ortega (2012), Yusup (2015), Lian (2015), Nguyễn Thị …
Các nghiên cứu Hồng Liêm (2016), Nugroho và cộng sự (2018), Nguyen và cộng sự (2020), Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu (2021) đã làm nền tảng cho nhận thức về hóa đơn điện tử (HĐĐT) Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các chi cục thuế trực thuộc, trong đó có Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo, đã công bố đường dây nóng tiếp nhận và hỗ trợ người nộp thuế vướng mắc về HĐĐT; gửi email thông báo triển khai và hướng dẫn đến người nộp thuế; thành lập chuyên mục riêng về HĐĐT trên website của cục thuế để đăng tải các văn bản, tài liệu hướng dẫn đăng ký sử dụng HĐĐT và các lợi ích của HĐĐT Nhờ các kênh thông tin này, người nộp thuế có thể dễ dàng tra cứu, theo dõi các nội dung chính sách, thông báo của cơ quan thuế và cập nhật tài liệu hướng dẫn liên quan đến HĐĐT.
Giả thuyết H2 được đặt ra như sau:
H 2 : Nhận thức tính dễ sử dụng có tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng
HĐĐT của doanh nghiệp Ảnh hưởng xã hội
Chuẩn chủ quan hay ảnh hưởng từ xã hội là nhận thức của con người về áp lực xã hội để thể hiện hay không thể hiện hành vi (Ajzen và Fishbein, 1975); những áp lực này xuất phát từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, phương tiện truyền thông và các cá nhân có ảnh hưởng, đóng vai trò quan trọng giúp người dùng cảm thấy hóa đơn điện tử (HĐĐT) mang lại lợi ích và từ đó thúc đẩy ý định sử dụng HĐĐT Lian (2015) và Nugroho cùng cộng sự (2018) dùng thuật ngữ “ảnh hưởng xã hội” thay cho “chuẩn chủ quan” để dễ tiếp cận hơn, và yếu tố này có thể được đo lường thông qua những người có liên quan như lãnh đạo công ty, người trực tiếp làm công việc liên quan đến hóa đơn, cơ quan thuế quản lý trực tiếp, v.v.; mức độ sử dụng HĐĐT của công ty sẽ tăng lên nếu có một đối tượng có tác động lớn đến công ty ủng hộ việc sử dụng Các nghiên cứu của Yusup (2015), Lian (2015), Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016), Nugroho và cộng sự (2018), Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu (2021) đều cho thấy ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực đến hành vi sử dụng HĐĐT của công ty ở các mức độ khác nhau, do đó yếu tố chuẩn chủ quan cần được xem xét khi nghiên cứu ý định sử dụng HĐĐT Ví dụ, Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không chỉ tổ chức các lớp tập huấn mời đại diện doanh nghiệp mà còn phối hợp với các cơ quan truyền thông của tỉnh đăng tải các clip và sản phẩm tuyên truyền đến toàn dân trên địa bàn nhằm chung tay với các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quy định mới về HĐĐT.
Giả thuyết H3 được đặt ra như sau:
H 3 : Ảnh hưởng xã hội có tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp
Nhận thức về chi phí chuyển đổi
Nhận thức về rào cản chuyển đổi phản ánh mức độ chấp nhận của doanh nghiệp đối với chi phí khi chuyển sang hóa đơn điện tử (HĐĐT) Nếu khách hàng cho rằng chi phí chuyển đổi sang HĐĐT là không đáng kể hoặc tương xứng với lợi ích tiện ích nhận được, họ sẽ sẵn sàng chấp nhận chuyển đổi Ngược lại, khi lợi ích từ HĐĐT không bù đắp cho chi phí bỏ ra hoặc chi phí chuyển đổi quá cao, họ sẽ không lựa chọn HĐĐT Đồng thời, nếu hình thức sử dụng hóa đơn giấy vẫn hấp dẫn, khách hàng sẽ không có động lực để bỏ HĐĐT Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016), Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu đã làm rõ những yếu tố này trong bối cảnh doanh nghiệp.
2021 cho thấy khi mức giá và phí hợp lý sẽ tác động tích cực đến hành vi của người tiêu dùng Khi doanh nghiệp càng nhận thức và chấp nhận vượt qua rào cản chi phí chuyển đổi thì càng sớm có quyết định sử dụng Hóa đơn điện tử (HĐĐT) Theo ông Trần Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trước tháng 07/2022 người nộp thuế phải chuẩn bị các điều kiện để chuyển đổi sang HĐĐT, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT để đăng ký sử dụng HĐĐT; lập và chuyển dữ liệu HĐĐT đến cơ quan thuế; gửi HĐĐT cho người mua và các nội dung quản lý, sử dụng HĐĐT Điều này tạo ra một sức ép lớn về chi phí chuyển đổi cho doanh nghiệp.
Vào ngày 28/3/2022, đại diện Cục Thuế tỉnh đã trả lời cụ thể và rõ ràng nhiều câu hỏi của người nộp thuế liên quan đến các thủ tục và quy định khi chuyển sang hóa đơn điện tử (HĐĐT).
Giả thuyết H4 được đặt ra như sau:
H 4 : Nhận thức chi phí chuyển đổi có tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp
Nhận thức tính an toàn
Vai trò của nhận thức về sự an toàn đối với các rủi ro đã được nghiên cứu rộng rãi trong hoạt động kinh doanh nhằm làm rõ ý định của khách hàng khi sử dụng dịch vụ và quyết định chấp nhận sử dụng các dịch vụ điện tử.
Junadi và Fenrianto (2015) cho rằng rủi ro liên quan đến sự bất định của dịch vụ phát sinh từ tính không chắc chắn của quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ, khiến cho việc dự đoán và kiểm soát quá trình này gặp khó khăn Trong bối cảnh quản lý thuế, những rủi ro này có thể ảnh hưởng đến khả năng dự báo và tuân thủ, do đó cần xem xét điều chỉnh các quy định, như Luật quản lý Thuế, để phù hợp với đặc thù của từng loại dịch vụ và tăng cường tính minh bạch cũng như kiểm soát trong quá trình giao dịch.
Vào năm 2019, quy định giao cho cơ quan thuế trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin về hóa đơn điện tử; tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu hóa đơn và bảo đảm duy trì, vận hành, bảo mật, an ninh và an toàn hệ thống thông tin về hóa đơn điện tử; đồng thời xây dựng định dạng chuẩn cho hóa đơn điện tử Những mục tiêu này gắn với đổi mới công nghệ và đáp ứng sự mong đợi của người thụ hưởng dịch vụ HĐĐT Hiện nay, dữ liệu hóa đơn điện tử của người nộp thuế được lưu trữ tập trung trong hệ thống của ngành thuế, do Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo nói riêng và các cơ quan thuế nói chung quản lý, nhằm bảo đảm các quy định về an toàn, bảo mật thông tin theo Luật Quản lý thuế và các quy định liên quan Do đó, nghiên cứu này chọn yếu tố “nhận thức tính an toàn” là hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu của Hernandez-Ortega (2012), Lian (2015) và Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016) Giả thuyết H5 được đặt ra như sau:
H 5 : Nhận thức tính an toàn có tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp
Chương 2 trình bày các khái niệm, các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến HĐĐT và hành vi sử dụng Những lý luận này làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 05 yếu tố bao gồm: (1) Nhận thức tính hữu ích, (2) Nhận thức tính dễ sử dụng, (3) Ảnh hưởng xã hội, (4) Nhận thức chi phí chuyển đổi, và (5) Nhận thức tính an toàn 05 giả thuyết nghiên cứu được phát triển tương ứng kèm theo Việc tìm hiểu những nội dung này sẽ là tiền đề cho việc lý giải các vấn đề được phân tích ở chương tiếp theo.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện như sau:
Hình 3.1 - Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Đề xuất của tác giả)
Quy trình nghiên cứu của đề tài được triển khai qua các bước sau: xác định mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu; sau đó tra cứu và hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về động lực làm việc của nhân viên; dựa trên nền tảng lý thuyết cùng với các mô hình của các nghiên cứu trước và thực trạng tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo, đề xuất mô hình nghiên cứu ban đầu; và cuối cùng tiến hành nghiên cứu định tính bằng cách thảo luận nhóm với các chuyên gia nhằm đánh giá tính khả thi và điều chỉnh mô hình cho phù hợp với thực tiễn.
Phân tích tương quan Kiểm định độ phù hợp mô hình Kiểm định giả định hồi quy Kiểm định giả thuyết nghiên cứu Thảo luận kết quả nghiên cứu
Thảo luận nhóm chuyên gia
Phỏng vấn trực tiếp Đánh giá độ tin cậy thang đo
Phân tích nhân tố khám phá EFA
Phân tích hồi quy tuyến tính
Kết luận, hàm ý quản trị
Mô hình nghiên cứu đề xuất Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm hoàn thiện mô hình nghiên cứu và hiệu chỉnh thang đo của các biến quan sát để trở thành thang đo chính thức, đồng thời hoàn thiện bảng khảo sát chính thức dùng trong nghiên cứu Nghiên cứu định lượng được triển khai thông qua lựa chọn mẫu và khảo sát đại diện của các doanh nghiệp tại thành phố Vũng Tàu có liên quan đến công tác quản lý hóa đơn Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi khảo sát, dữ liệu được xử lý bởi phần mềm SPSS: đánh giá độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến với các kiểm định sự phù hợp của mô hình, các giả thuyết nghiên cứu và kiểm tra các giả định hồi quy Cuối cùng là kết luận và đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm cải thiện công tác quản lý hóa đơn tại các doanh nghiệp được khảo sát.
Nghiên cứu định tính
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được triển khai nhằm đảm bảo rằng mô hình nghiên cứu và các biến quan sát của thang đo phù hợp với đối tượng nghiên cứu và khảo sát Phương pháp thực hiện là thảo luận nhóm với 05 chuyên gia hiện đang làm việc tại Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo và 05 đại diện doanh nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thuế, nhằm thu thập ý kiến đánh giá và điều chỉnh các yếu tố nghiên cứu cho phù hợp với thực tế.
Buổi họp online kéo dài 75 phút được thực hiện trên Google Meet Dàn bài thảo luận và kết quả tổng hợp từ thảo luận nhóm về mô hình và thang đo được trình bày rõ ràng, với các chi tiết liên quan được thể hiện trong Phụ lục 1 và Phụ lục 2.
3.2.2 Nghiên cứu định tính hoàn thiện mô hình
Bảng 3.1 - Kết quả thảo luận các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất
Thành phần Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Tỷ lệ
Nhận thức tính hữu ích 10 0 0 100%
Nhận thức tính dễ sử dụng 10 0 0 100% Ảnh hưởng xã hội 10 0 0 100%
Nhận thức chi phí chuyển đổi 9 0 1 90%
Nhận thức tính an toàn 9 0 1 90%
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính)
Bảng 3.1 cho thấy tất cả thành viên tham gia hiểu rõ nội dung nghiên cứu Gần như tất cả 10 thành viên nhóm thảo luận cho rằng 05 yếu tố được đề xuất là đủ để đánh giá quyết định sử dụng HĐĐT của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu Chỉ có hai người không có ý kiến về yếu tố Nhận thức chi phí chuyển đổi và Nhận thức tính an toàn Tất cả thành viên trong nhóm đều nhất trí giữ nguyên 05 yếu tố được đề xuất trong mô hình, tức không bỏ, bổ sung hay thay đổi bất kỳ yếu tố nào.
3.2.3 Nghiên cứu định tính xây dựng thang đo
Thang đo đề tài kế thừa từ các nghiên cứu của Hernandez-Ortega (2012), Lian
Các nghiên cứu năm 2015 của Yusup, Nguyễn Thị Hồng Liêm (2016) và Nguyễn Minh Tuấn cùng Đỗ Viễn Châu (2021) cũng như kết quả thảo luận nhóm với chuyên gia đều áp dụng Thang đo Likert 5, trong đó mức độ từ 1 đến 5 tương ứng với hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý Việc sử dụng thang đo này giúp thu thập phản hồi có cấu trúc, dễ phân tích và hỗ trợ đánh giá mức độ đồng thuận của người tham gia một cách rõ ràng và có thể so sánh giữa các nhóm nghiên cứu.
Thang đo Nhận thức tính hữu ích (HI) 05 biến quan sát (HI1, HI2, HI3, HI4, HI5)
Bảng 3.2 - Thang đo “Nhận thức tính hữu ích”
Yếu tố Thang đo Mã hóa Nguồn
Nhận thức tính hữu ích
HĐĐT giúp giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng và cơ quan thuế trở nên thuận tiện hơn
Yusup (2015), Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu
Hóa đơn điện tử (HĐĐT) giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí so với hóa đơn truyền thống, giảm thiểu chi phí in ấn, lưu trữ và quản lý chứng từ HĐĐT thực hiện nhanh chóng và dễ dàng hơn so với hóa đơn truyền thống ở từ khâu phát hành, gửi nhận và lưu trữ, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý thanh toán Chuyển đổi sang HĐĐT mang lại lợi ích về tiết kiệm chi phí và hiệu quả vận hành, tăng tính minh bạch và tối ưu hóa quy trình kế toán cho doanh nghiệp.
HĐĐT mang lại nhiều tiện ích cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuế HI4 HĐĐT giúp doanh nghiệp quản lý thông tin tốt hơn HI5
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu trước đây)
Thang đo Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) 04 với biến (SD1, SD2, SD3, SD4)
Bảng 3.3 - Thang đo “Nhận thức tính dễ sử dụng”
Yếu tố Thang đo Mã hóa Nguồn
Nhận thức tính dễ sử dụng
Thao tác thực hiện HĐĐT đơn giản SD1
Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu
Quy trình thực hiện HĐĐT dễ hiểu SD2
Người không chuyên tin học vẫn đủ khả năng tạo, lập HĐĐT SD3
Thông tin trên phần mềm quản lý HĐĐT trực quan SD4
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu trước đây)
Thang đo Ảnh hưởng xã hội (AH) 04 biến quan sát (AH1, AH2, AH3, AH4)
Bảng 3.4 - Thang đo “Ảnh hưởng xã hội”
Yếu tố Thang đo Mã hóa Nguồn Ảnh hưởng xã hội
Lãnh đạo doanh nghiệp ủng hộ chọn
(2016), Nguyễn Minh Tuấn và Đỗ Viễn Châu
Những người trực tiếp làm công việc hóa đơn trong Công ty ủng hộ HĐĐT AH2
Cơ quan thuế khuyến khích thực hiện
Khách hàng của doanh nghiệp khuyển khích thực hiện HĐĐT AH4 Thảo luận nhóm
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu trước đây)
Thang đo Nhận thức chi phí chuyển đổi (CP) với 04 biến (CP1, CP2, CP3, CP4)
Bảng 3.5 - Thang đo “Nhận thức chi phí chuyển đổi”
Yếu tố Thang đo Mã hóa Nguồn
Nhận thức chi phí chuyển đổi
Chi phí đầu tư phần mềm cho việc sử dụng HĐĐT là phù hợp CP1 Nguyễn Thị
Công ty sẵn sàng đầu tư chi phí để thực hiện HĐĐT CP2
Công ty sẵn sàng bỏ thời gian và công sức để nghiên cứu và triển khai Hóa đơn điện tử (HĐĐT), cho thấy quyết tâm chuyển đổi số và tuân thủ các yêu cầu pháp lý Chi phí đào tạo nhân viên cho việc sử dụng HĐĐT được xem là phù hợp, nhằm nâng cao năng lực vận hành hệ thống và đảm bảo quá trình kế toán, thanh toán diễn ra hiệu quả và chính xác.
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu trước đây)
Thang đo Nhận thức tính an toàn (AT) 04 biến quan sát (AT1, AT2, AT3, AT4)
Bảng 3.6 - Thang đo “Nhận thức tính an toàn”
Yếu tố Thang đo Mã hóa Nguồn
Nhận thức tính an toàn
Thông tin về hóa đơn HĐĐT được bảo mật AT1
Dữ liệu HĐĐT được lưu trữ an toàn AT2
Việc truyền nhận dữ liệu HĐĐT giữa người bán, người mua và cơ quan quản lý nhà nước an toàn, bảo mật
Nhà cung cấp phần mềm luôn hỗ trợ doanh nghiệp khi cần giúp đỡ về bảo mật AT4
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu trước đây)
Thang đo Quyết định sử dụng HĐĐT (QD) 04 biến quan sát (QD1, QD2, QD3,
Bảng 3.7 - Thang đo “Quyết định sử dụng HĐĐT”
Yếu tố Thang đo Mã hóa Nguồn
Doanh nghiệp đồng ý sử dụng HĐĐT QD1
Doanh nghiệp sẽ chủ động tìm hiểu thông tin để sử dụng HĐĐT QD2
Doanh nghiệp sẽ sử dụng HĐĐT lâu dài QD3
Doanh nghiệp sẽ giới thiệu doanh nghiệp khác sử dụng HĐĐT trong thời gian tới QD4
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu trước đây)
Nghiên cứu định lượng
3.3.1 Thiết kế bảng khảo sát
Bảng khảo sát được xây dựng dựa trên kết quả thu được sau khi bổ sung và điều chỉnh các thành phần cùng với các biến quan sát trong quá trình nghiên cứu định tính Bảng khảo sát chính thức gồm 25 biến quan sát và được thiết kế theo 3 phần như sau.
Phần mở đầu giới thiệu mục đích nghiên cứu và cam kết bảo mật thông tin của cuộc khảo sát
Phần 1 : Thông tin liên quan gồm các câu hỏi để người được khảo sát cung cấp những thông tin gồm: giới tính, chức vụ trong doanh nghiệp, thời gian công tác tại doanh nghiệp, thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Phần 2 : Thông tin đánh giá của đại diện các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vũng Tàu nằm trong phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 5 mức độ từ “Hoàn toàn không đồng ý” đến “Hoàn toàn đồng ý” để đánh giá các mức độ đồng ý/không đồng ý của đối tượng khảo sát
Nội dung chi tiết của bảng khảo sát được trình bày ở Phụ lục 3
Khái niệm kích thước mẫu được coi là lớn chưa được xác định rõ ràng trong thực tiễn hiện nay Thêm vào đó, yêu cầu về kích thước mẫu phụ thuộc vào phương pháp hồi quy được áp dụng, vì mỗi phương pháp hồi quy (như tuyến tính, logistic hay phi tuyến) đòi hỏi số lượng quan sát khác nhau để đảm bảo độ tin cậy của ước lượng và kết quả kiểm định.
Việc sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) đòi hỏi kích thước mẫu đủ lớn để đảm bảo tính ổn định và đáng tin cậy của kết quả (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Hair và cộng sự (2006) cho rằng để thực hiện EFA, tỷ lệ quan sát tối thiểu so với số lượng biến đo lường là 5:1, tức là cần tối thiểu năm quan sát cho mỗi biến, nhằm đảm bảo khả năng xác định cấu trúc yếu tố một cách chính xác.
Trong nghiên cứu này, mỗi biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát để đảm bảo tính ổn định và độ tin cậy của kết quả Với tổng số 25 biến quan sát—21 biến thuộc yếu tố biến độc lập và 4 biến thuộc yếu tố biến phụ thuộc—kích thước mẫu tối thiểu được xác định bằng công thức n = 5 × 25, tức là cần 125 quan sát cho mẫu nghiên cứu.
Khi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính tác động của nhiều biến độc lập định lượng vào một biến phụ thuộc định lượng, kích thước mẫu là một vấn đề cần quan tâm Theo Tabachnick và Fidell (2007), được Nguyễn Đình Thọ (2011) dẫn lại, công thức kinh nghiệm phổ biến để xác định kích thước mẫu cho hồi quy bội là n > 50 + 8p, trong đó n là kích thước mẫu tối thiểu và p là số biến độc lập trong mô hình Do đó, số mẫu nghiên cứu cần có là n > 50 + 8p; ví dụ với p = 7, ta cần tối thiểu hơn 106 quan sát để đảm bảo ước lượng ổn định và tin cậy.
Như vậy, tổng hợp hai phương pháp xác định cỡ mẫu của Hair và cộng sự
(2006) lẫn Tabachnick và Fidell (2007), cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập để thực hiện nghiên cứu này phải là 125 quan sát
3.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, nhằm tiếp cận nhanh và dễ dàng với các đại diện doanh nghiệp liên quan đến công tác hóa đơn tại thành phố Vũng Tàu, nằm trong phạm vi quản lý của Chi cục Thuế Vũng Tàu – Côn Đảo, vào tháng 02/2022 Các đối tượng tham gia là đại diện doanh nghiệp (lãnh đạo; trưởng/phó phòng kế toán, kế toán viên) có liên quan đến công tác hóa đơn Bảng câu hỏi khảo sát được phát tới các doanh nghiệp dưới dạng trực tuyến bằng công cụ Google Forms; cụ thể, lãnh đạo doanh nghiệp được liên hệ trước để nhận sự đồng ý khảo sát Sau đó tiến hành và kiểm tra bảng khảo sát, chỉ giữ lại những bảng có điền đầy đủ thông tin và mang tính khách quan Ngoài ra, để đảm bảo tính chính xác của bảng khảo sát, những phiếu chỉ trả lời ở một mức độ (ví dụ chỉ chọn mức 1 hoặc 5) sẽ bị loại.
3.3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu
Sau khi thu thập dữ liệu, các bảng phỏng vấn chính thức được tập hợp lại và trải qua bước kiểm tra để loại bỏ các bảng khảo sát không hợp lệ (những bảng có quá nhiều ô trống) Các bảng khảo sát hợp lệ sau đó được dùng để mã hóa, nhập liệu và làm sạch dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, nhằm đảm bảo dữ liệu được chuẩn hóa và sẵn sàng cho phân tích thống kê.
Trình tự phân tích diễn ra như sau:
- Phân tích thống kê mô tả:
Mục tiêu của phân tích là cung cấp thông tin tổng quan về mẫu nghiên cứu bằng cách sử dụng các chỉ số thống kê cơ bản như tần suất, tỉ lệ, trung bình, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất, cùng với các tham số khác để mô tả sự phân bố và đặc trưng của dữ liệu Việc tổng hợp các yếu tố này giúp nhận diện xu hướng, mức độ biến động và khớp với các giả thuyết nghiên cứu, từ đó cung cấp nền tảng cho các kết luận và quyết định dựa trên dữ liệu.
Để đánh giá độ tin cậy của một thang đo bằng Cronbach’s Alpha, tối thiểu 3 biến đo lường mới đủ điều kiện và hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị từ 0 đến 1; theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), giá trị càng cao càng cho thấy thang đo có độ tin cậy lớn Các biến đo lường dùng để đo lường cùng một khái niệm nghiên cứu nên có mối tương quan chặt chẽ với nhau; khi kiểm tra từng biến đo lường ta sử dụng hệ số tương quan biến - tổng, đo lường mức độ tương quan của biến đo lường với các biến còn lại trong thang đo Một biến có hệ số tương quan biến - tổng r ≥ 0,3 được xem là đạt yêu cầu (Nunnally và Bernstein, 1994); tuy nhiên nếu r = 1 thì hai biến đo lường chỉ là một và chỉ cần dùng một trong hai biến. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Trong phân tích Cronbach’s Alpha, hệ số tin cậy phù hợp ở ngưỡng 0,6 ≤ Cronbach’s Alpha ≤ 0,95 và tương quan biến – tổng phải lớn hơn 0,3 Những thang đo có Cronbach’s Alpha nhỏ hơn 0,6 hoặc lớn hơn 0,95, cùng với các biến quan sát có hệ số tương quan biến – tổng hiệu chỉnh nhỏ (< 0,3), sẽ bị loại ra khỏi mô hình để đảm bảo độ tin cậy và tính nhất quán của đo lường.
- Phân tích nhân tố khám phá EFA:
Phân tích nhân tố khám phá là tên chung của một nhóm các thủ tục được dùng để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu, đặc biệt nhằm khám phá các khái niệm ẩn (yếu tố tiềm ẩn) liên kết giữa các biến quan sát Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, EFA giúp cô lập cấu trúc yếu tố và tối ưu hóa sự giải thích bằng cách ước lượng tải trọng yếu tố, đánh giá độ phù hợp của mẫu và xác định số yếu tố tối ưu Quá trình này cho phép chuyển đổi tập biến phức tạp thành một số ít yếu tố đại diện, từ đó cải thiện khả năng diễn giải, tăng độ tin cậy của thang đo và hỗ trợ các bước phân tích sau như xây dựng mô hình hoặc đánh giá chất lượng thang đo Trong thực tiễn, EFA được ứng dụng rộng rãi với dữ liệu thang đo liên tục hoặc bán liên tục và đòi hỏi các giả định về phân phối và tương quan giữa các biến để đạt được kết quả có ý nghĩa.
Phương pháp trích hệ số sử dụng là “Principal components” với phép xoay vuông góc “Varimax” và điểm dừng khi trích các yếu tố “Eigenvalues” có giá trị bằng 1 Bằng phương pháp này cho phép rút gọn nhiều biến số có tương quan lẫn nhau thành một đại lượng được thể hiện dưới dạng mối tương quan theo đường thẳng gọi là nhân tố Phân tích nhân tố khám phá quan tâm đến các tham số sau:
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số đánh giá mức độ phù hợp của phân tích nhân tố; nếu KMO từ 0,5 trở lên và lên tới 1 cho thấy dữ liệu đủ để thực hiện phân tích nhân tố Kiểm định Bartlett kiểm tra giả thuyết về việc các biến quan sát có tương quan trong tổng thể bằng không; nếu kết quả kiểm định có ý nghĩa (Sig < 0,05) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và có thể tiến hành phân tích nhân tố (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).