Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình Ngữ văn 11 Bài giảng Ngữ văn 11 Tự tình Dàn ý Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình 1 Mở bài Giới thiệu tác phẩm “Tự tình II” và bốn câu thơ đầu trong bài thơ Ví dụ B[.]
Trang 1Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình - Ngữ văn 11
Bài giảng Ngữ văn 11 Tự tình Dàn ý Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình
1 Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm “Tự tình II” và bốn câu thơ đầu trong bài thơ:
Ví dụ: Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện
rõ tiếng nói, cá tính độc đáo của tác giả Hồ Xuân Hương Bốn câu thơ đầu trong bài thơ
đã làm nổi bật hoàn cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ
2 Thân bài
– Hai câu thơ đầu mở ra cảm thức về thời gian và tâm trạng của nữ sĩ
+ Cảm thức về thời gian: Thời gian: đêm khuya Âm hưởng của tiếng trống canh được đặt trong sự dồn dập, gấp gáp “trống canh dồn” cho thấy nữ sĩ cảm nhận sâu sắc bước
đi không ngừng và vội vã của thời gian
+ Cảm thức về tâm trạng: cảm nhận rõ ràng sự bẽ bàng của phận mình Tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, từ “trơ” được đưa lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh “trơ”
có nghĩa là tủi hổ, là bẽ bàng, cho thấy “bà Chúa thơ Nôm” đã ý thức sâu sắc bi kịch tình duyên của bản thân Hai chữ “hồng nhan” được đặt cạnh danh từ chỉ đơn vị “cái” gợi lên sự bạc bẽo, bất hạnh của kiếp phụ nữ
– Bức tranh tâm trạng đã được phóng chiếu rõ ràng hơn thông qua hai câu thơ tiếp theo
+ Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự tuần hoàn, luẩn quẩn, bế tắc đầy éo le của kiếp người đầy chua chát
+ Hình tượng “vầng trăng” xuất hiện chính là ý niệm ẩn dụ cho cuộc đời của nữ sĩ: trạng thái “bóng xế”, sắp tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh bi kịch của cảm thức
về thân phận: tuổi xuân đã trôi qua nhưng nhân duyên mãi mãi là sự dang dở, lỡ dở không trọn vẹn
→ Bức tranh ngoại cảnh đồng nhất với bức tranh tâm trạng
3 Kết bài
Trang 2- Khái quát lại nội dung ý nghĩa của bốn câu thơ: thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ “Tự tình II” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình (Mẫu 1)
Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ luôn là tấm gương oan khổ của những éo le, bất công Sống trong xã hội với quan điểm “trọng nam khinh nữ”, có những người trầm lặng cam chịu, nhưng cũng có những người ý thức sâu sắc được bi kịch bản thân, cất lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một trong những người phụ nữ làm được điều đó Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện rõ điều này Bốn câu thơ đầu trong bài thơ đã làm nổi bật hoàn cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Tâm trạng của tác giả đã được gợi lên trong đêm khuya, và cảm thức về thời gian đã được tô đậm, nhấn mạnh để làm nền cho cảm thức tâm trạng:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,Trơ cái hồng nhan với nước non
Thời gian lúc nửa đêm nên không gian thật vắng lặng, tịch mịch, chỉ nghe tiếng trống cầm canh từ xa vẳng lại, vạn vật đã chìm sâu trong giấc ngủ, chỉ có nhà thơ còn trăn trở thao thức với tâm sự riêng tây
Đã nghe văng vẳng thì không thể có tiếng trống thúc dồn dập được Âm thanh tiếng trống trở thành âm vang của cõi lòng nôn nao, bồn chồn (Mỏ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om) Bao sức sống dồn nén trong chữ dồn ấy như chực trào ra
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Trang 3Vầng trăng bóng xê khuyết chưa tròn
Hai câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ Hương rượu như hương tình, lúc lên men dậy sóng nhưng cũng chóng nhạt phai nên cuộc đời chao đảo, ngả nghiêng Thật là trớ trêu cho con tạo Cái ngọt ngào nồng nàn chỉ thoảng qua còn lại là dư vị chua chát, đắng cay Say rồi lại tỉnh gợi cái vòng luẩn quẩn, dở dang Còn vầng trăng khuya càng thêm chơ
vơ, lạnh lẽo Trăng đã xế như tuổi đã luống mà chưa bao giờ có được hạnh phúc trọn vẹn Hai hình ảnh gợi hai lần đau xót Vầng trăng của Thuý Kiều (Truyện Kiều - Nguyễn Du) là vầng trăng vỡ, còn của Xuân Hương mãi mãi là vầng trăng khuyết
Như vậy, thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ “Tự tình II” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của
nữ sĩ Hồ Xuân Hương.Chính những yếu tố trên đã giúp bà trở thành “Bà Chúa thơ Nôm”, đồng thời cũng là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với tiếng nói cảm thương và tiếng nói tự ý thức đầy bản lĩnh
Lẻ loi trước thời gian đêm khuya và bẽ bàng trước không gian non nước nên cái hồng nhan trơ ra Cách dùng từ sáng tạo và đầy bất ngờ: hồng nhan là một vẻ đẹp thanh quý
mà dùng từ cái tầm thường để gọi thì thật là rẻ rúng, đầy mỉa mai chua xót Trơ là một nội động từ chỉ trạng thái bất động, hàm nghĩa đơn độc, chai sạn trước nắng gió cuộc đời Biện pháp đảo ngữ trơ cái hồng nhan đã nhấn mạnh nỗi đơn độc, trơ trọi, bẽ bàng của thân phận Câu thơ chứa đựng nỗi dau của kiếp hồng nhan Đặt cái hồng nhan trong mối tương quan với nước non quả là táo bạo, thách thức, cho thấy tính cách mạnh mẽ của nữ thi sĩ, khao khát bứt phá khỏi cái lồng chật hẹp của cuộc đời người phụ nữ phong kiến
Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình (Mẫu 2)
“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
(Ca dao)
Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ luôn là tấm gương oan khổ của những éo le, bất công Sống trong xã hội với quan điểm “trọng nam khinh nữ”, có những người trầm lặng cam chịu, nhưng cũng có những người ý thức sâu sắc được bi kịch bản thân, cất lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một trong những người phụ nữ làm được điều đó Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm thơ bao gồm ba bài là tác phẩm thể hiện rõ điều này Bốn câu thơ đầu trong bài thơ đã làm nổi bật hoàn
Trang 4cảnh cũng như tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất muốn vượt lên trên số phận của nữ sĩ:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước nonChén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Tâm trạng của tác giả đã được gợi lên trong đêm khuya, và cảm thức về thời gian đã được tô đậm, nhấn mạnh để làm nền cho cảm thức tâm trạng:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non”
Âm hưởng của tiếng trống canh được đặt trong sự dồn dập, gấp gáp “trống canh dồn” cho thấy nữ sĩ cảm nhận sâu sắc bước đi không ngừng và vội vã của thời gian Ở bài thơ “Tự tình I”, chúng ta cũng đã bắt gặp cảm thức về thời gian: “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” Từ “văng vẳng” được sử dụng để diễn tả rõ sự não nề, lo lắng trong tâm trạng Đối với Hồ Xuân Hương, cảm nhận về bước đi của thời gian chính là sự rối bời trong tâm trạng
Trong thời gian nghệ thuật đó, nữ sĩ cảm nhận rõ ràng sự bẽ bàng của phận mình:
“Trơ cái hồng nhan với nước non” Trong câu thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, từ “trơ” được đưa lên đầu câu có tác dụng nhấn mạnh Xét về sắc thái ngữ nghĩa,
“trơ” có nghĩa là tủi hổ, là bẽ bàng, cho thấy “bà Chúa thơ Nôm” đã ý thức sâu sắc bi kịch tình duyên của bản thân Chúng ta cũng đã từng bắt gặp từ “trơ” với sắc thái tương
tự khi Nguyễn Du viết về nàng Kiều: “Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ” (“Truyện Kiều” - Nguyễn Du) Nhưng với Hồ Xuân Hương, bà không chỉ ý thức về duyên phận
mà còn trực diện mỉa mai một cách thâm thúy và cay đắng Hai chữ “hồng nhan” được đặt cạnh danh từ chỉ đơn vị “cái” gợi lên sự bạc bẽo, bất hạnh của kiếp phụ nữ Bức tranh tâm trạng đã được phóng chiếu rõ ràng hơn thông qua hai câu thơ tiếp theo:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên sự tuần hoàn, luẩn quẩn, bế tắc đầy éo le của kiếp người đầy chua chát: càng cuốn mình trong men say càng tỉnh táo nhận ra bi kịch của bản
Trang 5thân Hình tượng “vầng trăng” xuất hiện chính là ý niệm ẩn dụ cho cuộc đời của nữ sĩ Người xưa từng nói về mối quan hệ biện chứng giữa bức tranh ngoại cảnh và bức tranh tâm trạng: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Còn với nữ sĩ, lúc này đây, ngoại cảnh và tâm cảnh đã hòa làm một Hình ảnh “vầng trăng” ở trạng thái “bóng xế”, sắp tàn nhưng vẫn “khuyết chưa tròn” nhấn mạnh bi kịch của cảm thức về thân phận: tuổi xuân đã trôi qua nhưng nhân duyên mãi mãi là sự dang dở, lỡ dở không trọn vẹn Điều này xuất phát từ bi kịch tình duyên của nữ sĩ: tình yêu tuổi thanh xuân không có kết quả, phải chấp nhận hai lần làm lẽ và cả hai lần đều góa bụa
Như vậy, thông qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu giá trị biểu đạt kết hợp với những biện pháp tu từ như đảo ngữ, cùng những sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng, bốn câu thơ đầu của bài thơ “Tự tình II” đã làm nổi bật cảm thức về thời gian, cho thấy tâm trạng buồn tủi cũng như ý thức sâu sắc về bi kịch duyên phận đầy éo le, ngang trái của
nữ sĩ Hồ Xuân Hương.Chính những yếu tố trên đã giúp bà trở thành “Bà Chúa thơ Nôm”, đồng thời cũng là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ với tiếng nói cảm thương và tiếng nói tự ý thức đầy bản lĩnh
Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình (Mẫu 3)
Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài ba ở nước ta vào cuối thế kỉ XVIII — đầu thế kỉ XIX Ngoài tập "Lưu Hương kí" bà còn để lại khoảng 50 bài thơ Nôm, phần lớn là thơ đa nghĩa, vừa
có nghĩa thanh vừa có nghĩa tục Một số bài thơ trữ tình đằm thắm, thiết tha, buồn tủi thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, với bao khao khát sống và
Chùm thơ "Tự tình" phản ánh tâm tư tình cảm của Hồ Xuân Hương, của một người phụ
nữ lỡ thì quá lứa, duyên phận hẩm hiu Bài thơ này là bài thứ hai trong chùm thơ Tự tình" ba bài Trong đó hai câu thơ đầu là nổi bật cho tâm trạng nữ sĩ Thi sĩ Xuân Diệu trong bài "Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm" đã viết: "Bộ ba bài thơ trữ tình này cùng với bài "Khóc vua Quang Trung" của công chúa Ngọc Hân làm một khóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình cảm bản thân
Ông lại nhận xét thêm về điệu thơ, giọng thơ: "trong bộ ba bài thơ tâm tình này, bên cạnh bài thơ vần "ênh hẻ nênh và bài thơ vần "om" oán hận, thì bài thơ vần "on" này mong đợi, chon von"
Trang 6Mảnh tình san sẻ tí con con!" Hai trong ba bài thơ, nữ sĩ đều nói về đêm khuya, canh khuya "Tự tình" bà vi "Tiếng
gà văng vẳng gáy trên bom - Oán hận trông ra khắp mọi chòm" Ở bài thơ này cũng vậy, bà tỉnh dậy lúc canh khuya, hay thao thức suốt đêm khuya, tâm trạng ngổn ngang phiền muộn Âm thanh "văng vẳng" của tiếng trống từ một chòi canh xa đưa lại như thúc giục thời gian trôi nhanh, tuổi đời người đàn bà trôi nhanh: "Canh khuya văng vẳng
"Hồng nhan" là sắc mặt hồng, chỉ người phụ nữ "Trơ" nghĩa là lì ra, trơ ra, chai đi, mất hết cảm giác "Nước non": chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội Câu thơ: "Trơ cái hồng nhan với nước non" nói lên một tâm trạng: con người đau buồn nhiều nỗi, nay nét mặt thành ra trơ đi trước cảnh vật, trước cuộc đời, tựa như gỗ đá, mất hết cảm giác Nỗi đau buồn đã đến cực độ Từ "cái" gắn liền với chữ "hồng nhan" làm cho giọng thơ trĩu xuống, làm nổi bật cái thân phận, cái duyên phận, cái duyên số đã quá hẩm hiu rồi
Ta có cảm giác tiếng trống dồn canh khuya, thời gian như cơn gió lướt qua cuộc đời, lướt qua số phận và thân xác nhà thơ Con người đang than thân trách phận ấy đã có một thời son trẻ tự hào: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn", có phẩm hạnh một "tấm lòng son" trọn vẹn, lại tài năng, thế mà nay đang trải qua những đêm dài cay đắng Qua đó,
ta thấy cái xã hội phong kiến buổi ấy chính là tác nhân đã làm xơ xác, khô héo phận
Đằng sau hai câu đề là những tiếng thở dài ngao ngán Cố vẫy vùng để thoát ra, bươn
ra khỏi cái nghịch cảnh nhưng đâu dễ! Tiếp theo là hai câu thực:"Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn".Nghệ thuật đối rất thần tình: "Chén rượu" với "vầng trăng", trên thì "hương đưa", dưới lại có "bóng xế", đặc biệt ba chữ
"say lại tỉnh" vời "khuyết chưa tròn" đăng đối, hô ứng nhau làm nổi bật bi kịch về thân
Muốn mượn chén rượu để khuây khoả lòng mình, nhưng vừa nâng chén rượu lên môi mùi hương phả vào mặt, đưa vào mũi Tưởng uống rượu cho say để quên đi bao nỗi buồn, nhưng càng uống càng tỉnh "Say lại tỉnh" để rồi tỉnh lại say, cái vòng luẩn quẩn
ấy về duyên phận của nhiều phụ nữ đương thời, trong đó có Hồ Xuân Hương như một
Buồn tủi cho thân phận, bao đêm dài thao thức đợi chờ, nhưng tuổi đời ngày một "bóng xế" Bao hi vọng đợi chờ Đến bao giờ vầng trăng mới "tròn"? Đến bao giờ hạnh phúc đến trong tầm tay, được trọn vẹn, đầy đủ? Sự chờ mong gắn liền với nỗi niềm khao khát Càng cô đơn càng chờ mong, càng chờ mong càng đau buồn, đó là bi kịch của những người đàn bà quá lứa lỡ thì, tình duyên ngang trái, trong đó có Hồ Xuân Hương Hai câu đầu của "Tự tình" là lời tự than, tự thương xót, buồn tủi cho duyên số, duyên phận hẩm hiu của mình Càng thao thức cô đơn, càng buồn tủi Càng buồn tủi, càng khao khát được sống trong hạnh phúc trọn vẹn, đầy đủ Thực tại nặng nề, cay đắng bủa vây, khiến cái hồng nhan phơi ra, "trơ" ra với nước non, với cuộc đời Người đọc vô cùng cảm thông với nỗi lòng khao khát sống, khao khát hạnh phúc của nữ sĩ và người phụ nữ trong xã hội cũ
Trang 7Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình (Mẫu 4)
Xã hội phong kiến xưa luôn tôn thờ chế độ “Trọng nam, khinh nữ” khiến cho cuộc đời
và số phận của những người phụ nữ vô cùng bấp bênh, đau khổ Họ không có quyền lựa chọn hạnh phúc cho bản thân, luôn phải sống dưới cái bóng quá lớn của khuôn khổ
“Tam tòng, tứ đức” Tuy nhiên, trước số phận nghiệt ngã ấy, có những người chọn cách
im lặng, cam chịu, nhưng cũng có những người dám đứng lên để đấu tranh cho khát khao hạnh phúc của bản thân Hồ Xuân Hương là một người như vậy Bà là một trong
số rất ít nhưng nhà văn nữ ở thời đại này nhưng ở Hồ Xuân Hương lại nổi bật một cá tính riêng không trộn lẫn Là một “nhà văn phụ nữ viết về phụ nữ”, Hồ Xuân Hương đã dám cất lên tiếng nói để bộc lộ tâm sự, suy tư thầm kín Có lẽ cũng bởi cuộc đời long đong lận đận của mình mà các sáng tác của Hồ Xuân Hương chủ yếu nói về người phụ
nữ, nhất là những người mang thân phận làm lẽ Bài thơ “Tự tình II” như nói lên tất cả Không chỉ sáng tác thơ chữ Hán, mà các sáng tác thơ Nôm của bà cũng vô cùng phong phú Chính vì vậy, “ông hoàng thơ tình Xuân Diệu” đã ưu ái gọi bà là “bà chúa thơ Nôm” Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm ba bài “ Tự tình”, thể hiện rõ tài năng cũng như phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương Đó là sự hòa quyện giữa một chất thơ trữ tình cùng sự táo bạo, dí dỏm Bài thơ “Tự tình II” chan chứa nỗi đau thầm kín, bộc
lộ cảnh ngộ, thân phận và nhân cách, bản lĩnh của Hồ Xuân Hương
Tâm trạng của Hồ Xuân Hương bắt đầu trong một không gian vô cùng đặc biệt:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”
“Đêm khuya” là khoảng thời gian mà vạn vật đã chìm vào giấc ngủ Đó cũng là khoảng thời gian con người gạt bỏ hết những trăn trở, âu lo để trở về với hạnh phúc gia đình, hạnh phúc lứa đôi Nhưng với những người phụ nữ cô đơn, thì “đêm khuya” chính là lúc con người ta chất chứa nhiều tâm sự, là khoảng thời gian tâm tư sâu lắng nhất, thấm thía nhất nỗi bất hạnh, cô đơn đến tột cùng Hồ Xuân Hương cũng vậy, khi màn đêm bao trùm lấy cảnh vật, cũng là lúc bản thân phải tự đối diện với lòng mình Trong cái không gian tĩnh mịch ấy, bỗng “văng vẳng” tiếng “trống canh” “Trống canh” là báo hiệu của thời gian, nay kết hợp với từ láy tượng thanh “văng vẳng” khiến âm thanh như
từ xa vọng về, đầy ma mị, rối bời Từ “dồn” như muốn nói lên sự dồn đuổi của thời gian lên cảnh vật, như thúc giục mọi người Tuy nhiên, cấu trúc đảo ngữ đã khẳng định đây không chỉ là sự dồn đuổi của thời gian lên cảnh vật mà còn là sự dồn đuổi của tuổi trẻ giữa cái vòng tuần hoàn ngày-đêm của tạo hóa Nếu như thời gian của cuộc đời là
Trang 8vô thủy, vô chung thì thời gian của đời người là hữu hạn Giữa không gian yên ắng ấy
là hình ảnh người phụ nữ lọt thỏm giữa bốn bề vắng lặng:
“Trơ cái hồng nhan với nước non”
“Trơ” có nghĩa là trơ trọi, được đặt ở đầu câu gây ấn tượng mạnh Người phụ nữ trơ trọi giữa không gian lạnh lẽo, yên ắng Từ “trơ” cũng có nghĩa là tủi hổ, bẽ bàng trước số phận lẻ loi, tình duyên không trọn Từ xưa đến nay, người ta dùng từ “hồng nhan” để chỉ người con gái đẹp với hàm ý nâng niu, trân trọng Nhưng Xuân Hương lại nói “cái hồng nhan” thì nghe thật rẻ rúng, mỉa mai “Cái hồng nhan” “trơ” với nước non không chỉ là dầu dãi mà còn là cay đắng, gợi nên sự bạc phận, xót xa Tuy nhiên, “cái hồng nhan” khi đặt trong thế đối sánh với “nước non” như một thoáng kiên cường, mạnh mẽ, như một sự thách thức, kiêu hãnh của một tâm hồn đầy cá tính Biện pháp đảo ngữ cho thấy bên cạnh nỗi đau Xuân Hương còn là một bản lĩnh Xuân Hương
Sau những giây phút cô đơn, lạc lõng là những bế tắc, tuyệt vọng:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Trong sự cô đơn, người phụ nữ ấy tìm đến rượu để quên đi nỗi đau nhưng càng uống thì lại càng như nuốt tủi, nuốt hận vào lòng Cụm từ “say lại tỉnh” như vẽ ra một cái vòng luẩn quẩn, bế tắc, không có lối thoát Bà tìm đến vầng trăng-người bạn tri kỷ muôn đời của những tâm hồn cô đơn với khao khát trăng sẽ chia sẻ nỗi niềm cô đơn, buồn tủi
ấy Nhưng vầng trăng cũng “khuyết chưa tròn” Bằng việc sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, nhà thơ đã tạo nên sự đồng điệu giữa ngoại cảnh và tâm cảnh Vầng trăng đã
ở phía bên kia bầu trời mà vẫn khuyết cũng như tuổi xuân của con người đã trôi qua mà tình duyên chưa trọn vẹn Tất cả những cố gắng thoát ra khỏi nỗi đau đều không thành, cuối cùng lại càng bế tắc khôn nguôi
Sự bế tắc ấy đã khiến nhân vật trữ tình trào dâng nỗi niềm phẫn uất sự phẫn uất ấy cuộn chảy mạnh mẽ, thấm cả vào cảnh vật:
“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”
“Rêu”, “đá” là những sự vật nhỏ bé, vô tri, không được coi trọng Nữ sĩ sử dụng hình ảnh của những sự vật bé nhỏ, hèn mọn, kết hợp với các động từ mạnh “xiên’, “đâm” để
Trang 9nói lên sức mạnh phản kháng trào dâng Biện pháp liệt kê một lần nữa xuất hiện như muốn khẳng định thêm nỗi lòng phẫn uất của nhà thơ “Rêu xiên ngang mặt đất”, “đá đâm toạc chân mây” như vách đất mà hờn, vạch trời mà oán Ẩn sau những hình ảnh bình dị, giản đơn ấy, có lẽ chúng ta lại thấy bóng dáng của những người phụ nữ Xã hội phong kiến quá bất công, khiến những người phụ nữ bé nhỏ phải oằn mình lên để chống
đỡ Qua cách miêu tả đầy tinh tế, cảnh vật hình như đang cựa quậy, căng đầy sức sống ngay cả trong bế tắc Biện pháp tả cảnh ngụ tình đã thể hiện rõ bản lĩnh, cá tính và khát vọng mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương Đó là khát khao hạnh phúc, khát khao được yêu thương trọn vẹn
Hồ Xuân Hương có thể nói là một người phụ nữ cá tính, mạnh mẽ Trước những sóng gió cuộc đời, bà vẫn luôn tự tin, kiêu hãnh Tuy nhiên, dù tự tin, kiêu hãnh là thế, nhưng cuối cùng, bà vẫn không thể vượt qua thân phận mình trong vòng vây của xã hội phong kiến Sau tất cả sự cô đơn, tuyệt vọng, phẫn uất, đọng lại là tâm trạng ngán ngẩm, chán chường:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con”
Từ “xuân” trong thơ Hồ Xuân Hương thật đa nghĩa “Xuân” là mùa xuân của đất trời,
là mùa của vạn vật sinh sôi, đâm chồi nảy lộc Nhưng “xuân” cũng là tuổi xuân của con người Mùa xuân qua đi rồi mùa xuân lại đi tới, tạo hóa vẫn tuần hoàn với muôn ngàn hoa lá, cỏ cây Chỉ có tuổi xuân của đời người qua đi mà vĩnh viễn biến mất Xuân đi rồi xuân lại, hai từ “lại” xếp cạnh nhau nhưng mang hai ý nghĩa Từ “lạị” thứ nhất có nghĩa là thêm một lần nữa, còn từ “lại” tiếp theo mang ý nghĩa là sự tuần hoàn, quay trở lại Thời gian của cuộc đời cứ thế vô tình trôi qua, cứ mỗi mùa xuân trở lại là ngày xanh của tuổi trẻ lại lần lượt ra đi Tuổi trẻ thì cứ lặng lẽ kết thúc, trong khi tình duyên vẫn mãi chẳng vẹn đầy:
“Mảnh tình san sẻ tí con con”
Nhịp thơ 2/2/1/2 và nghệ thuật giảm dần làm cho nghịch cảnh trở nên éo le Mọi người thường hay nói “mối tình”, “cuộc tình”, chưa “mảnh tình” thì nghe thật mâu thuẫn Cụm
từ “mảnh tình” khiến người đọc liên tưởng đến điều gì đó nhỏ nhoi, ít ỏi Đau đớn hơn,
“mảnh tình” đã bé, đã ít lại còn phải đem ra san sẻ, cuối cùng chỉ còn lại “tí con con”
Trang 10xót xa, tội nghiệp Lời thơ quả thực cất lên từ sâu thẳm trong trái tim người đàn bà lẽ mọn với nước mắt đắng cay và tận cùng đau khổ
“Tự tình II” thể hiện đặc sắc tài năng nghệ thuật của Hồ Xuân Hương Tâm trạng nhân vật được khắc họa thành công qua việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật, ngôn từ tinh
tế nhưng vẫn rất tự nhiên Bài thơ là những lời bộc bạch vừa buồn tủi, vừa thách thức duyên phận, gắng gượng vươn lên những vẫn rơi vào bi kịch Thế nhưng đó không chỉ
là nỗi đau của riêng bà Xuân Hương ôm trong mình nỗi đau của cả một thời đại Nhà thơ cất lên tiếng nói nhân văn cho số phận, khát khao của những người phụ nữ trong xã hội xưa khi mà với họ, hạnh phúc là một chiếc chăn qua hẹp Qua đó, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của tác phẩm Có thể nói, đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương Đó là sự thống nhất giữa một trái tim yếu mềm, đa cảm, nhiều yêu thương và một bộ óc mẫn tiệp, thông tuệ Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, ta thấy Xuân Hương nổi bật lên giữa tất cả các khuôn mẫu thông thường Dù chỉ là một người phụ nữ nhỏ bé nhưng dám cất lên tiếng nói đòi quyền hạnh phúc, dám nói lên khát khao được yêu thương
Qua bài thơ “Tự tình II”, ta thấy được tài năng cũng như trái tim nhân hậu của Xuân Hương Dù cho có đau khổ, bế tắc thì vẫn luôn kiên cường, mạnh mẽ Hình ảnh của Xuân Hương như một tấm gương sáng ngời về một người phụ nữ mạnh mẽ, thông minh, tài năng, nhân hậu mà những người phụ nữ ở thời đại trước hay thời đại ngày nay đều nên học tập Không chỉ “ Tự tình II” mà tất cả những sáng tác của bà đều sẽ mãi in dấu trong lòng người đọc qua nhiều thế hệ Bởi ở bà, ta thấy được một con người mang đầy tinh thần nhân đạo, là một Xuân Hương “kì nữ, kì tài”
Phân tích 4 câu đầu bài thơ Tự Tình (Mẫu 5)
Hồ Xuân Hương một nữ sĩ đại tài của văn học Việt Nam, bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm Các vần thơ của bà tập trung nói về người phụ nữ với sự ý thức cao độ
về vẻ đẹp hình thức và nhân cách Nhưng đằng sau những vần thơ ấy còn là nỗi đau thân phận bị rẻ rúng Nỗi niềm đó được thể hiện trong bài thơ Tự tình II, và điều này được thể hiện rất rõ qua hai câu đề và 2 câu thực của bài thơ
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non