Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu – Ngữ văn 11 Dàn ý Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu I Mở bài Vài nét về Nguyễn Đình Chiểu một t[.]
Trang 1Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu –
Ngữ văn 11 Dàn ý Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình
Chiểu
I Mở bài
- Vài nét về Nguyễn Đình Chiểu: một tác giả mù nhưng nhân cách vô cùng cao đẹp, là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học dân tộc và “càng nhìn càng thấy sáng” (Phạm Văn Đồng)
- Đôi nét về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc
II Thân bài
1 Phần lung khởi: khái quát bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ
+ “Hỡi ôi!”: Câu cảm thán thể hiện niềm tiếc thương chân thành, thiết tha, thương tiếc
+ “Súng giặc đất rền”: sự tàn phá nặng nề, giặc xâm lược bằng vũ khí tối tân
+ “Lòng dân trời tỏ”: đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đất nước ➨ Trời chứng giám
Nghệ thuật đối lập nhằm thể hiện khung cảnh bão táp của thời đại, những biến cố chính trị lớn lao
➨ Lời khẳng định tuy thất bại, những người nghĩa sĩ hi sinh nhưng tiếng thơm còn lưu truyền mãi
2 Phần thích thực: Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc
a Nguồn gốc xuất thân
- Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân (những người bỏ quê đến khai khẩn đất mới để kiếm sống)
+ “cui cút làm ăn”: hoàn cảnh sống cô đơn, thiếu người nương tựa
- Nghệ thuật tương phản “chưa quen - chỉ biết, vốn quen - chưa biết
➨ Tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng
b Lòng yêu nước nồng nàn
Khi thực dân Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy: Ban đầu lo sợ ➨ trông chờ tin quan ➨ ghét ➨ căm thù ➨ đứng lên chống lại
➨ Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ
- Thái độ đối với giặc: căm ghét, căm thù đến tột độ
- Nhận thức về tổ quốc: Họ không dung tha những kẻ thù lừa dối, bịp bợm ➨ họ chiến đấu một cách tự nguyện: “nào đợi đòi ai bắt…”
Trang 2c Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân
- Tinh thần chiến đấu tuyệt vời: Vốn không phải lính diễn binh, chỉ là dân ấp dân lân mà “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”
- Quân trang rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi đã đi vào lịch sử
- Lập được những chiến công đáng tự hào: “đốt xong nhà dạy đạo”, “chém rớt đầu quan hai nọ”
- “đạp rào”, “xô cửa”, “liều mình”, “đâm ngang”, “chém ngược”…: động từ mạnh chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi
➨ Tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước
3 Phần Ai vãn: Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ
- Sự hi sinh của những người nông dân được nói đến một cách hình ảnh với niềm tiếc thương chân thành
- Hình ảnh gia đình: tang tóc, cô đơn, chia lìa, gợi không khí đau thương, buồn bã sau cuộc chiến
- Sự hi sinh của những người nông dân nghĩa sĩ để lại xót thương đau đớn cho tác giả, gia đình thân quyến, nhân dân Nam Bộ, nhân dân cả nước
➨ Tiếng khóc lớn, tiếng khóc mang tầm vóc lịch sử
➨ Bút pháp trữ tình, nhịp câu trầm lắng, gợi không khí lạnh lẽo, hiu hắt sau cái chết của nghĩa quân
4 Phần kết: ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ
- Tác giả khẳng định: “Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ: Danh tiếng nghìn năm còn lưu mãi
- Ông cũng nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân
- Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế
➨ Khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ
III Kết bài
- Khái quát những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công về nội dung của tác phẩm
- Trình bày suy nghĩ bản thân
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 1)
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc như một "bức tượng đài nghệ thuật sừng sững hiên ngang" mà lạ thay gót thời gian không hề tàn phá nổi Nguyễn Đình Chiểu - con
Trang 3người ấy đã đi xa chúng ta từ lâu lắm rồi nhưng những áng văn thơ của người còn trẻ mãi, đỏ mãi
Hỡi ơi Súng giặc đến rền Lòng dân trời tỏ
Câu thơ tứ tự mở đầu tách đôi ra làm hai vế gãy gọn nhưng sức khái quát của nó thật lớn Chỉ ngần ấy câu chữ đã vẽ lên một cách, toàn diện về những điều mà người viết muôn gửi gắm: tội ác và nghĩa cả, cái đau thương tang tóc và cái cao lớn đẹp đẽ, một bên là súng giặc mâu thuẫn với lòng dân
Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn mà danh nổi tợ pha
Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất mà tiếng vang như mỏ
Đã rõ hơn rồi, tác giả muốn nói điều gì Câu thơ phản ánh sự tương phản, giữa
"mười năm công vỡ ruộng" và "một trận nghĩa đánh Tây" - sức vùng lên mạnh mẽ, quyết liệt, mau lẹ của những người nông dân Mười năm vỡ ruộng ít ai biết đến, thế
mà một trận nghĩa đánh Tây, những con người nghĩa sĩ đã gây được "tiếng vang như mỏ" Tứ thơ như báo trước cái anh hùng của họ, sức mạnh của họ và cả cái bi thương tất yếu nữa
Nhớ linh xưa Cui cút làm ăn Riêng lo nghèo khó
Hình ảnh những con người bình thường hiện lên, những con người sẽ làm nên lịch
sử ấy, họ chẳng phải là ai cả, chỉ là những con người sống sau lũy tre làng, sau rặng dừa, bụi chuối vì nghĩa lớn mà hi sinh Họ hi sinh khi "Tổ quốc cần" Và hình ảnh của họ trở nên cao đẹp từ đó Họ chỉ là những người quen lấm láp với công việc cấy cày
Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhưng, chỉ biết:
Ruộng trâu ở trong làng bộ
Việc cuốc việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó
Cuộc sống của họ lặng thầm, ngày ngày chỉ biết lăn lộn cùng miếng cơm manh áo nhưng cuộc sống nghèo đói vẫn ghì sát đất Họ chưa bao giờ hình dung nổi việc binh đao Lần đầu nghe tin giặc Pháp giày xéo họ cũng có tâm lí chung của những người "dân đen" "con đỏ", lo sợ, trông đợi rồi thất vọng
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng Trông tin quan như trời hạn trông mưa Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ Chờ mong "tin nhạn" nhưng rồi nhạn vắng bóng Họ đi từ thắc thỏm hi vọng đến vô vọng, từ lo sợ, hoảng loạn đến căm ghét - cái căm ghét trong mơ hồ
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ
Cho dù sự căm ghét chỉ được phôi thai qua ý niệm mơ hồ nhưng sự phẫn nộ đã dâng lên ngùn ngụt Họ muốn lao ra bằng tay không để "ăn tươi nuốt sống kẻ đã gây bao tội ác" Đọc tới đây, ta chợt nhớ lại lời hịch sang sảng, vang vọng một thời
Trang 4của Trần Quốc Tuấn "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa" (Hịch tướng sĩ) Sự day dứt, đau đớn vò xé tâm can thôi thúc con người hành động, thôi thúc con người muốn "nuốt gan uống máu quân thù" cho hả dạ ở Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc cũng vậy Họ bắt đầu nghĩ tới non sông đất nước và cảm thấy nhục nhã nếu như cứ để cho lũ "chó má" ấy giày xéo lên những giá trị tinh thần của dân tộc ngàn thu văn hiến
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó
Ý thức được như thế, họ đã đi đến quyết tâm làm một cuộc nổi dậy Họ vùng lên tinh thần sẵn sàng tự nguyện
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ
Họ đã hình dung ra một cuộc chiến tranh chính nghĩa Họ chẳng cần phải trốn tránh khi tiếng gọi của quê hương tha thiết đến thế Họ biết phải chiến đấu, xả thân
để giữ lấy bờ ao bụi chuối, giữ lấy mảnh đất biết mấy thân yêu gắn bó, giữ lấy những điều thiêng liêng mà họ cho là không liên quan gì đến "cha ông nó" cả Hình ảnh của họ thật đẹp, những tấm lòng của họ thật cao cả Hình ảnh ấy thật khác xa với người lính trước kia khi phải đối mặt với tiếng trống giục quân bắt bớ "bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa"
Người nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu bước vào cuộc chiến đấu vẫn mang một màu bình dị sáng trong Họ là những người "dân ấp dân lân" với những vũ khí thô
sơ, chỉ là một ngọn tầm vông, một nùi rơm, con cúi, thế nhưng họ đã dệt nên những trang sử hào hùng, vẻ vang Họ thật cao đẹp, thật anh hùng và tràn đầy dũng khí Bên trong "manh áo chật" đáng thương, nhỏ bé lại chứa đựng bao điều lớn lao, cao cả
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia Gươm đeo dùng hằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai họ
Họ là những con người bình dị nhưng anh hùng Khi cầm cuốc làm ruộng họ là những con người hiền như đất, như khoai song khi đối mặt với kẻ thù, họ không kém phần dữ tợn Họ hòa hợp bằng tinh thần đoàn kết của người dân áo vải đất Việt Cái tinh thần đoàn kết mà trước đây Nguyễn Trãi từng ngợi ca trong Cáo bình Ngô
Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ lên hình ảnh của họ - của những con người cụ thể trong công cuộc đánh Tây bằng một tâm trạng nô nức, phấn chấn
Chi nhọc quan quản gióng, trống kỳ, trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng như
không Nào đợi thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có
Kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh
Bọn hè trước lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ
Trang 5Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu sung sướng vung lên như một thanh gươm trên chiến trường trước sức mạnh ồ ạt, tấn công dồn dập như vũ bão của những người nghĩa sĩ Cách ngắt nhịp ngắn gọn đã tạo nên một khí thế xông trận bừng bừng, mang hơi thở gấp gáp của cuộc hỗn chiến Trong khung cảnh ấy, tung hoành giữa chiến địa chỉ còn có người nông dân mộ nghĩa anh dũng, oai phong lẫm liệt Giọng thơ có khác nào hồn cáo của Nguyễn Trãi mấy trăm năm về trước
Ngày mười tám trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế Ngày hai mươi trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn Nguyễn Đình Chiểu có lẽ cũng muốn lắm, để viết được những sự thất bại chồng chất của kẻ thù Nhưng ở đây ta thấy trận đánh dù có rầm rộ đến đâu đi nữa nó cũng mang tính chất của người dân cầm cuốc, cầm cày đã quen Họ thất bại là phải, bởi lẽ:
Mười ban võnghệ nào đợi tập rèn Chín chục trận binh thư không chờ bày bố
Đấy là những cơn người anh hùng nhưng rất đáng thương Nhìn hoàn cảnh đánh giặc của họ, ai mà không xót xa cho những con người cụ thể và xót xa cho cả toàn đất nước Bởi thế âm điệu thơ như mặt hồ đang nổi sóng bỗng dưng lắng xuống, đang hừng hực lửa chiến trận bỗng chốc trở nên hoang vắng lạnh lùng, mang màu sắc bi thương não nuột
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ
Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng
Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ
Những câu thơ như câm lặng trôi trong niềm kí ức của tác giả Nhà thơ gửi một nỗi tiếc thương vô hạn cho những người đã khuất Cái chết của họ làm cho cả trời đất, cây cỏ tang thương, nhỏ lệ, cái chết nhuốm màu sầu ải lên vạn vật Cả một bầu trời
âm u, tối tăm trước sự hi sinh mất mát của những người nghĩa sĩ
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm Đồng lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều
Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ
Những hình ảnh thương tâm ấy gặm nhấm tâm can ta, linh hồn ta đau nhức Nguyễn Đình Chiểu đã nhân danh lịch sử mà cất tiếng khóc cho những người anh hùng hi sinh vì Tổ quốc Từ những âm thanh sầu thảm vang vọng lên qua đoạn văn, chúng ta không phân biệt được đâu là tiếng khóc của tác giả, của nhân dân, gia đình mà như nghe thấy một tiếng khóc chung của đất nước Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu đã hội tụ lại mọi nỗi đau để cất lên tiếng khóc cao cả
Trang 6Sau phút giây đau thương, nức nở, lời ván đang đắm chìm trong thảm đạm bỗng tỉnh táo hẳn lên, nêu bật một quan niệm tuyệt vời về nhân sinh, về lẽ sống và cái chết
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ củng vinh
Hơn còn mà chịu chữ đầu tây, ở với man di rất khổ
Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ra một quan điểm mang tính nhân văn sâu sắc: Thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ, làm những điều nhơ bẩn, ô danh Câu thơ
"sống đánh giặc thác cũng đánh giặc" dược nêu cao như một chân lí sống rực rỡ, chói ngời Chân lí ấy đã xua tan bao cảm giác bi thương, mất mát của người nghĩa
sĩ đã dâng trọn tấm thân mình cho đất nước, quê hương
Thác mà trả nước non rồi nợ, sánh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ
Họ là những tấm gương sáng cho muôn đời con cháu mai sau Linh hồn người nghĩa sĩ trong tưởng niệm thành kính của tác giả vẫn níu lấy cuộc sống để theo đuổi đến cùng sự nghiệp giết giặc cứu nước, Với Nguyễn Đình Chiểu, họ vẫn sống
và được ngưỡng mộ
Ôi chết thế không thể nào chết được Không thể chết những người dân yêu nước Những con người không chịu ô danh
(Tố Hữu)
Họ đã vui vẻ hoàn thành nghĩa cả cao đẹp như một người nông dân "cày xong thửa ruộng" Cái chết của họ như một giấc ngủ trưa yên lành, bình thản Nhưng cái yên lành, bình thản ấy lại gợi nỗi đau nhức nhối trong tâm tưởng của bao kiếp người Với lối văn bình dân, giản dị, dùng nhiều thành ngữ, lời ăn tiếng nói đời thường, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng lên hình tượng người nghĩa sĩ vừa bi thương vừa hùng tráng Qua "Bức tượng đài nghệ thuật" ấy tác giả gửi gắm một quan niệm sống tốt đẹp Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc cao cả của một tấm lòng giàu tình dân, nghĩa nước
Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đã khép lại nhưng lịch sử dân tộc vẫn được mở ra Và chúng ta - những người con của đất nước phải nhớ giữ lấy giá trị ngàn đời mà bao thế hệ, bao lớp người từng xây dựng nên giang sơn, gấm vóc của ngày hôm nay Điều mà Nguyễn Khoa Điềm đã xúc động viết lên những lời thơ xiết bao ân nghĩa
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Nhưng họ đã làm nên Đất Nước
(Đất Nước)
Trang 7Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
Hỡi ôi!
Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ
Khi Tổ quốc lâm nguy, khắp đất nước đều rền vang tiếng súng Chính từ sự gian nguy, đau thương đó, tình yêu đất nước của những người nông dân bình thường mới được thể hiện, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn trong họ mới được bày tỏ cùng trời đất
Tấm lòng, tình yêu giang sơn, tổ quốc của những người nông dân bình dị càng được thể hiện một cách rõ rệt và sâu sắc hơn khi tác giả đã liên tục dùng biện pháp
so sánh đối lập trong các câu văn tiếp sau
Nhớ lính xưa:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó, Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó
Trước đây họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ là “cui cút làm ăn” Họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ trong thầm lặng Trong cuộc sống, họ có nỗi lo toan “miếng cơm manh áo” giản dị đời thường; họ chỉ quen làm lụng việc nhà nông: cày, bừa, cấy, hái, làm bạn với con trâu, với ruộng đồng Họ chưa biết đến “cung ngựa”,
“trường nhung”, chưa quen với “tập mác, tập cờ” Những người nghĩa sĩ ở đây chỉ
Trang 8là những nông dân áo vải, chưa quen chiến trận, chưa được luyện rèn, chỉ vì lòng yêu chính ghét tà mà đứng lên đánh giặc
Khi mà “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng”, họ ngóng trông mệnh lệnh của triều đình: "trông tin quan như trời hạn trông mưa”
Thì ra cái bi kịch xót xa là ở chỗ này: triều đình nhu nhược, không hiểu được lòng dân yêu nước Lòng căm thù giặc của những người nông dân thì không thể kiềm chế:
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ
Hình tượng người nông dân, những người nghĩa sĩ yêu nước hiện lên thật quả cảm hào hùng Lòng yêu đất nước tha thiết xuất phát từ chính trái tim của họ đã khiến cho họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh Vẻ đẹp của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước được toát ra chính từ lòng căm thù giặc sục sôi Chính lòng căm thù giặc đã biến thành hành động vùng lên quật khởi rất hào hùng
Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình:
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ
Trong những tác phẩm phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa trước đây, người nông dân khi phải đi làm lính biên thú phương xa để bảo vệ cương thổ của nhà vua, họ ra đi với tâm trạng và thái độ “bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa” thì ở đây, người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu lại hoàn toàn khác Họ tự giác, tự nguyện đứng lên chiến đấu để bảo vệ giang sơn, tổ quốc, ấy là nét đẹp bản chất nhất trong hành động của người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc Đến đây không chỉ vẻ đẹp trong tâm hồn mà ngay cả vẻ đẹp trong hành động của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước cũng đã được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa lên một cách rõ rệt Từ cái động lực tinh thần tự nguyện gánh vác trách nhiệm lịch sử
mà đã tạo ra cho họ sức mạnh vô cùng lớn Họ đã hành động, đứng lên chống giặc ngoại xâm Không chờ bày bố mà chỉ “ngoài cật có một manh áo vải nào dại mang bao tấu, bầu ngòi, trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ” Hình ảnh người nông dân được hiện lên trong tác phẩm khiến cho chúng ta vừa cảm thấy tự hào và xen lẫn niềm xót xa Những người nghĩa sĩ dường như đóng vai trò là hiện thân của cả một sức mạnh dân tộc Đối mặt với kẻ thù lớn mạnh với
“đạn nhỏ, đạn to”, “tàu thiếc, tàu đồng” với đội quân xâm lược nhà nghề, vậy mà
vũ khí để họ dùng chống lại chỉ là “một manh áo vải", “một ngọn tầm vông”, chỉ
có “lưỡi dao phay” và chỉ là những “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi” Thử hỏi rằng đem những thứ đó ra đối chọi với súng đạn của thực dân khác nào bước chân vào chỗ chết Cái sự thật phũ phàng đó như phô bày ra trước mắt ta thật xót đau biết mấy Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kì nghiệt ngã ấy Tấn bi kịch này đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỉ
Trang 9Nhưng cũng chính từ cái tấn bi kịch này mà đà làm sáng ngời lên vẻ đẹp hình tượng của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước Bằng sự ngoan cường, lòng yêu nước nồng nàn, họ đã làm nên được những điều phi thường, chính họ đã cất lên được bản anh hùng ca chiến tranh của dân tộc Bất chấp sự hiểm nguy, bất chấp
sự chênh lệch, sự đối lập của hoàn cảnh chiến đấu, họ vẫn quyết chiến và quyết thắng, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp lại sự thiếu hụt, chênh lệch của mình với kẻ thù Hoàn cảnh chiến đấu chênh lệch là vậy nhưng vì những người nghĩa sĩ chiến đấu bằng chinh tinh thần sự quyết chiến không sợ hi sinh nên hiệu quả chiến đấu lại vô cùng lớn
Chỉ với những vũ khí thô sơ như:
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đeo dùng bằng lười dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh
Chỉ với những vũ khí thô sơ, nhưng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc đã tạo nên được những điều kì diệu Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân hiện lên với một vẻ đẹp rực rỡ hào quang của chủ nghĩa yêu nước, dường như đã làm lu mờ đi cái thời
kì đen tối của lịch sử mất nước hồi nửa cuối thế kỉ XIX
Cảm xúc chủ đạo của bài Văn tế là cảm xúc bi tráng, lời văn rắn rỏi, âm điệu sôi sục, dồn dập Nghệ thuật đối đã phát huy hiệu quả cao nhất của nó Tất cả hợp thành một âm hưởng chiến trận hào hùng, phấn khích của một thiên anh hùng ca tuyệt diệu Ngòi bút tác giả hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của người nghĩa sĩ nông dân, với những tư tưởng cực kì lớn lao mà tác giả đã phát hiện ra trong hành động tự nguyện giết giặc cứu nước của họ
Bài văn tế như bức tượng đài bằng ngôn từ, tạc khác nên hình tượng những người nghĩa sĩ nông dân hào hùng mà bi tráng, tượng trưng cho tinh thần yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm của cha ông ta Bức tượng đài ấy là dấu mốc thể hiện cả một bi kịch lớn của dân tộc - bi kịch mất nước, và báo hiệu một thời kì lịch sử đen tối của dân tộc ta - thời kì một trăm năm Pháp thuộc Nhưng thật hào hùng, trong cái bi kịch lớn ấy, tinh thần bất khuất của nhân dân Nam Bộ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung vẫn ngời sáng bởi cái lí tưởng cao đẹp của nghĩa sĩ cần Giuộc họ sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn, vì dân tộc
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 3)
Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ, nhà văn hàng đầu ở Nam Bộ thời kì văn học Trung đại, là ngôi sao sáng của văn học dân tộc Ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, thể hiện lí tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước sâu sắc Trong hệ thống tác phẩm đó ta không thể không nhắc đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông
Trang 10Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sáng tác trong hoàn cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm lược ta, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Cần Giuộc nổ ra và giành thắng lợi bước đầu Sau đó giặc phản công dữ dội, 20 nghĩa sĩ bị giết chết Bấy giờ, tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiểu viết 1 bài văn tế để đọc trong lễ truy điệu của các nghĩa sĩ Cần Giuộc
Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu luận bàn về lẽ sống chết: “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ/ Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ” Tác giả vẽ ra bối cảnh thời đại với nhiều biến cố, bão táp: giặc được trang bị vũ khí tối tân, đã tàn sát biết bao người dân Nam Bộ Chính trong hoàn cảnh ấy đã thử thách tấm lòng của con người đối với đất nước Người dân Nam Bộ đã không nề hà sống chết, đem thân mình chiến đấu chống lại kẻ thù Họ sẵn sàng từ bỏ, hy sinh những gì quý giá nhất (tài sản, tính mạng) để đổi lại danh tiếng, tiếng thơm lưu truyền với muôn đời Qua
đó đã làm sáng tỏ chân lí của thời đại: Chết vinh còn hơn sống nhục
Phần tiếp theo của tác phẩm, chân dung hình tượng người nghĩa sĩ nông dân hiện lên vừa mộc mạc, giản dị nhưng đồng thời cũng vô cùng anh dũng kiên cường Trước khi giặc ngoại xâm đến họ vốn chỉ là những người nông dân vô cùng thuần phác, họ sống cuộc đời bình dị, “cui cút làm ăn” với biết bao lo toan, bộn bề của cuộc sống Họ chỉ biết đến nơi làng quê nghèo, mà chưa từng biết đến thế giới ngoài kia Quanh năm suốt tháng những người nông dân ấy bận rộn với công việc nhà nông: “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” còn những việc “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó” Nhưng khi giặc xâm lược đến bờ cõi, đến sự bình yên vốn có, họ sẵn sàng đứng lên, trong họ có sự chuyển biến lớn về nhận thức và tình cảm Trước hết đó là sự chuyển biến trong tình cảm Họ đã nghe ngóng “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng” - tin giặc đến phong thanh họ đã nghe từ lâu Không chỉ nghe họ còn ngửi thấy cả mùi đấu tranh: “Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm” và cuối cùng họ đã nhìn thấy tận mắt
sự xâm lược, độc ác của kẻ thù: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ” Đến lúc này họ đã có những chuyển biến rõ ràng về nhận thức, nếu ban đầu trong những người nông dân ấy vẫn còn có niềm tin vào triều đình, trông chờ vào quân đội “như trời hạn trông mưa” thì đến đây họ đã có nhận thức rõ ràng về nền độc lập và danh dự của tổ quốc; về
kẻ thù – những kẻ đi xâm lăng thì không có lí do để tồn tại dưới ánh sáng chính nghĩa và hơn thế họ nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” Sự chủ động của họ thật oai phong, lẫm liệt đầy dũng khí Trong trận đánh Tây họ không được trang bị binh pháp, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ, trang bị của họ hết sức thô sơ chỉ là những vật dụng sinh hoạt và lao động hàng ngày: “Ngoài cật có một manh áo vải” “trong tay cầm một ngọn tầm vông” “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”,… Ngược lại, địch được trang bị vũ khí
Trang 11tối tân, hơn nữa chúng còn được rèn luyện vô cùng tinh nhuệ: “đạn nhỏ đạn to”
“tàu đồng súng nổ” Sự tương quan lực lượng hai bên đã thấy rõ, nhưng người nghĩa sĩ nông dân vẫn “Đạp rào lướt tới”, “coi giặc cũng như không”, “Xô cửa xông vào liều mình như chẳng có”, “Đâm ngang chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh”,… Không hề sợ hãi trước uy lực của kẻ thù Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh, nhịp điệu nhanh, gấp gáp tác giả đã vẽ lên khung cảnh chiến trường ác liệt, đồng thời cũng ánh lên vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ: hiên ngang, kiên cường, dũng cảm, bất khuất
Những vũ khí hiện đại của kẻ thù đã khiến biết bao nghĩa sĩ ngã xuống, gây nên niềm tiếc thương cho toàn thể dân tộc Tiếng khóc của tác giả, của người thân và của toàn thể non sông dân tộc cho sự hi sinh anh dũng của những con người quả cảm, đó cũng là sự khóc thương cho số phận của người nhà, từ nay sẽ rơi vào vòng
nô bộc của kẻ thù Đồng thời tác giả cũng bộc lộ niềm cảm phục sâu sắc đến những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tay, ở với man di rất khổ” Đoạn thơ không chỉ bày tỏ lòng tiếc thương trước những người đã mất mà còn khẳng định những điều bất tử với thời gian và hướng tới sự tiếp nối của thế hệ tương lai Bởi vậy câu thơ có bi thương, xót xa nhưng không phải là bi lụy, yếu đuối
Những vần thơ cuối cùng đã khẳng định sự bất tử của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc trong sự tiếc thương và cảm phục của những người còn lại Đồng thời biểu dương công trạng xả thân vì nghĩa lớn của các nghĩa sĩ Đặc biệt trong câu:
“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiêng dân; cây hương nghĩa
sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” vừa thể hiện được nỗi xót thương
và lòng tưởng nhớ những người đã mất vừa tôn vinh công trạng của họ trong sự so sánh ngầm với triều đình
Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, đặc biệt ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ Xây dựng hình tượng nghệ thuật – nghĩa sĩ nông dân chân thực, chi tiết, sinh động, lần đầu tiên người nông dân được xuất hiện đầy đẹp
đẽ, trang trọng đến vậy Kết hợp hài hoà các chi tiết thể hiện tình cảm cảm xúc của người viết, tăng chất trữ tình cho bài văn tế, đồng thời giúp dễ dàng đi vào lòng người đọc
Bằng ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã khắc họa thành công bức tượng đài bi tráng, bất tử về người nghĩa sĩ nông dân Đồng thời qua tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã bày tỏ lòng cảm phục cũng như nỗi tiếc thương trước những công trạng và sự hi sinh bất khuất của họ
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 4)
“Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì mới càng thấy sáng” đó là lời nhận xét của
Trang 12cố thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho cuộc đời và thơ văn Đồ Chiểu Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ mù lòa nhưng tâm ông vẫn luôn sáng Nhắc đến ông người ta không quên nhắc đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất cho thể loại văn tế để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Tác phẩm thể hiện lòng biết ơn, sự xót thương, cảm phục của tác giả dành cho những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc anh dũng, quả cảm quên mình vì nước Để phân tích bài văn một cách bao quát và độc đáo nhất ta chọn con mắt nhìn và điểm nhìn từ tinh thần yêu nước của người nông dân
Những người nông dân họ vốn là những con người thuần phác của nhà nông nhưng nay vì lòng yêu nước thương nòi, lòng căm thù giặc sâu sắc mà họ trở thành những chiến binh anh dũng đã hy sinh trong trận chiến rằm tháng 11 năm 1861 _ thời điểm cam go của những ngày đầu chống Pháp
Tại vì sao mà lại như vậy? Bởi “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” câu tứ tự hai
vế tuy ngắn gọn nhưng khái quát được hoàn cảnh, tình thế của đất nước lúc bấy giờ Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta chúng đánh chiếm, thi hành những chính sách áp bức bóc lột nặng nề đẩy nhân ta vào cảnh lầm than cùng cực Câu văn trên đã cho ta thấy sự dã man của thực dân Chúng có vũ khí tối tân, sức công phá dữ dội, súng nổ vang rền mặt đất Điều đó khiến cho ta nhớ tới tội ác của giặc Pháp được nhà thơ tố cáo trong bài “Chạy giặc”:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dác bay Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”
Tiếng súng vô tâm vô tình của quân giặc không bỏ sót một ai, không trừ một cảnh vật nào Tất cả trở nên hoang tàn, xơ xác, lũng loạn sau “tiếng súng Tây” Giặc thì như vậy chúng hiện đại hơn ta rất nhiều về trang thiết bị, về vật chất, số lượng binh lính còn ta chỉ có một tấm lòng, một truyền thống yêu nước mãnh liệt của người nông dân, của những con người Việt Nam Nghệ thuật tiểu đối được sử dụng rất thành công đối rất chỉnh, rất chuẩn: Mười năm <> một trận, công (vật chất)<> nghĩa (tinh thần), chưa ắt còn danh nổi như phao<> tuy là mất tiếng vang như mõ
đã khẳng định tinh thần quyết tâm đánh giặc, làm nền để người nông dân xuất hiện Tiếng khóc “hỡi ôi” quen thuộc mở đầu cho bài tế Tiếng khóc lớn bày tỏ nỗi niềm đau xót, khóc thương cho linh hồn của những nghĩa sĩ đã hy sinh oanh liệt
Nhà thơ đã hồi tưởng và khắc họa lại hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc những người nông dân thuần phác thôn quê có một tinh thần yêu nước quật khởi với cụm từ “Nhớ linh xưa” Trước tiên họ là con người của ruộng đồng, của nông nghiệp, lam lũ mưu sinh “Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó” đúng như Hoài Thanh nhận xét “Biết bao yêu thương trong một chữ cui cút” Nhà thơ bày tỏ lòng
Trang 13thương cảm đối với con người hiền lành, dáng dấp vất vả đến tội nghiệp Họ là những con người chất phác, thuần nông ngoài việc đồng áng “chỉ biết ruộng trâu”, không gian giao tiếp bó hẹp “ở trong làng bộ” với công việc của nhà nông “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm” Nào họ có biết chi đến việc binh đao, giáo mác “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhưng” rồi “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó” Biết bao cái chưa biết ấy thế mà khi giặc xâm lăng nhũng nhiễu, triều định chống cự yếu ớt họ can đảm bỗng chốc trở thành những người nghĩa sĩ anh hùng cứu nước
Lúc đầu họ cũng trông cũng mong vào sự phản công của triều đình Nhưng trước bối cảnh nguy kịch, triều đình bạc nhược để cho con dân của mình thốt lên “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa” Điển tích “tiếng phong hạc” lấy ở câu “Phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh” để chỉ nỗi lo âu, hồi hộp, sợ hãi trước sự tấn công hung bạo của kẻ thù Là con là dân
họ chỉ biết mong chờ vào quan phụ mẫu của mình mong cho đất nước được bình yên để họ an tâm lập nghiệp nhưng chỉ là mòn mỏi trong chờ đợi mươi tháng vời vợi Và tất nhiên họ không thể dương con mắt nhìn đất nước rơi vào tay giặc Trước đó họ chỉ ghét chúng bởi “mùi tinh chiên vấy vá” tức chỉ mùi hôi tanh của giặc Pháp với hình ảnh so sánh rất độc đáo “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”
Đó là một cái lẽ tự nhiên Cách dùng từ thật sáng giá phù hợp tâm lí và suy nghĩ của người nông dân Sự căm ghét được đẩy lên mức độ cao hơn khi “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp”, “Ngày xem ống khói chạy đen sì” mà “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ” Sự nhức nhối đến tận cùng, sự căm thù đến tột độ phải đến câu sau mới lên đến đỉnh cao “Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó” Điển tích, điển cố, từ ngữ Hán Việt đặc biệt thành ngữ “treo dê bán chó” được tập trung để thể hiện ý chí quyết tâm chống giặc, con mắt tinh tường của nhân dân Mặt nạ “khai hóa”,
“truyền đạo” của giặc Pháp bị bóc trần phơi bày dã tâm cướp nước ta của chúng Truyền thống và tinh thần của dân tộc cùng với tội ác của giặc Pháp đã thôi thúc họ đứng lên đấu tranh với tất cả tấm lòng của người con Việt Nhà thơ cảm phục trước tinh thần và việc làm của họ điều đó đối lập hoàn toàn với thực lực của người nông dân Họ không đợi ai đòi ai bắt mà tự nguyện chiến đấu “phen này ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” hàng loạt các động từ vị ngữ chỉ hành động thể hiện quyết tâm hăm hở, khí thế hào hùng tiếp nối hào khí Đông A của thời đại nhà Trần Họ “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” chiến đấu khi trong tay là những vật dụng thô sơ, là những công cụ lao động thường ngày của nhà nông là manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay Họ không phải dòng dõi nhà binh, không được tập luyện, không có tổ chức, không có hiệu lệnh, đội ngũ, kỷ luật, vũ khí lại thô sơ Chính những “cái không” ấy làm nổi bật lên “cái có” vô giá tiềm ẩn trong con người Cần Giuộc Bởi họ có ý thức quyết tâm đánh giặc, có một tinh thần yêu nước không đổi, có một lòng căm thù giặc đến vô
Trang 14cùng Điều đó đã làm nên sức mạnh vô song để họ đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, không sợ đạn to đạn nhỏ mà liều mình xông vào như chẳng có, rồi kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho quân giặc khiếp sợ Giọng điệu hào hùng, sục sôi qua cách ngắt nhịp, nhịp điệu gấp, dồn dập cùng với những động từ mạnh
“đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược” và một giọng văn đanh thép, hùng tráng để thể hiện cái hiên ngang, quật cường với thái độ căm thù giặc như muốn ăn gan, uống máu quân thù
Niềm thương tiếc của nhà thơ dành cho những người nghĩa sĩ đã khuất được thể hiện bằng cụm từ mở đầu “Khá thương thay” ở đoạn ba Sang đoạn kết từ “Ôi” xuất hiện bày tỏ lòng xót thương và lời cầu nguyện của người đứng tế Giọng điệu
bi ai trùng xuống đến thống thiết đau buồn Tác giả thương xót cho những người dân phải chịu khó, chịu khổ “ăn tuyết nằm sương” làm “xiêu mưa ngã gió” Ông khẳng định ý chí quyết tâm của dân tộc thà “về theo tổ phụ cũng vinh” chứ chẳng chịu khom lưng uốn gối làm nô lệ Đằng sau tiếng khóc lớn, tiếng khóc ròng xót thương là mong muốn, ước nguyện của tác giả Ông mong cho đất nước được thái bình, dân đen thoát cảnh lầm than cơ cực, mong cho dân tộc sạch bóng quân thù
Dù bị mù không thể ra trận chinh chiến nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn cùng với các lãnh tụ nghĩa quân họp bàn bày mưu đánh giặc Đến khi giặc đánh chiếm Nam
Kì ông ở lại Ba Tri chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc ông nhưng con người kiên trung ấy khảng khái chối từ, giữ trọn tấm lòng son với dân tộc
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là bài văn thành công nhất cho thể loại văn tế của Nguyễn Đình Chiểu Bài văn đã có những đóng góp mới mẻ nền văn học dân tộc cùng với nghệ thuật đắt giá được sử dụng tài tình Thứ nhất những đóng góp mới: hình tượng người nông dân Việt Nam lần đầu tiên đi vào trong văn học với những nét thuần phác nhất có điệu bộ, dáng dấp, tính cách, cảm xúc và tình cảm rõ ràng
Đề tài gắn liền với thực tế mang tính thời sự lúc bấy giờ của đất nước Đáng chú ý
là sự chuyển biến của tư tưởng trung quân theo hướng gia tăng chất hiện thực, giảm bớt “khẩu khí” lí tưởng Tác phẩm đã đưa văn học giai đoạn này trở thành vũ khí đấu tranh chống quân thù, chống tư tưởng đầu hàng và bọn phản động tay sai bán nước Thứ hai là những thủ pháp nghệ thuật đắt giá được sử dụng thành công Bài văn tế được viết theo thể phú Đường luật có vần, có độc vận Từ ngữ biểu cảm trực tiếp, gọi tên các trạng thái đa dạng như buồn thương, sầu tủi khi thì tự hào Hệ thống các từ láy gợi hình gợi cảm được dùng linh hoạt: Cui cút, leo lét, não nùng, dật dờ Ngôn ngữ bình dị, đậm màu sắc thôn dã của vùng đất Nam Bộ: Cui cút, vấy
vá, rơm con cúi, dao phay Kết hợp tài tình những điển tích điển cố, ước lệ tượng trưng như: Tiếng phong hạc, mùi tinh chiên, mối xa thư, chém rắn đuổi hươu Nghệ thuật tiểu đối đặc trưng của thể loại văn tế được thể hiện rõ nét qua các câu văn cùng với kết cấu ngôn ngữ phủ định trùng điệp: “Nào đợi/ chẳng thèm/ nào phải/ chẳng qua/chẳng đợi/không chờ ” nghệ thuật tương phản hai cấp độ được sử dụng thành công là “Hỏa mai gươm đeo / Chi nhọc quan quản chẳng sợ thằng
Trang 15Tây / Kẻ đâm ngang bọn hè trước súng nổ.” Giọng điệu linh hoạt lúc thì hùng oai, sục sôi khi diễn tả cái hiên ngang, lúc thì bi ai, thống thiết khi nói về sự mất mát, đau buồn
Chính những điều đó đã khắc họa được hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc những con người anh dũng dám hy sinh vì nghĩa lớn với một lòng nồng nàn yêu nước “Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” Tinh thần
ấy, con người ấy trở thành hình tượng đẹp, đáng nể phục và là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam Nếu như trước khi thực dân Pháp xâm lược thơ văn của Đồ Chiểu chủ yếu là thể loại truyện thơ dài với nhân vật tiêu biểu là Lục Vân Tiên để truyền bá đạo lí và tư tưởng làm người thì ở giai đoạn sau năm 1858 thơ văn Đồ Chiểu là lá cờ đầu cho văn thơ chống Pháp đầu thế kỉ XIX, cổ vũ lòng yêu nước Bài văn tế đã góp phần để Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng thực sự tỏa sáng theo cách của riêng mình trong bầu trời văn nghệ của dân tộc
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 5)
Những người nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa đã đứng dậy chống Pháp và lựa chọn cho mình một cái chết thật oanh liệt: “thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời
ai cũng mộ” Có thể nói, bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là “khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang” theo như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, cuộc khởi nghĩa của những người nông dân Cần Giuộc
đã đi vào thất bại Họ phải ngã xuống giữa những chiến trường trong cảnh da ngựa bọc thây, xác phàm vội bỏ Họ là những người thất thế, quả thực là như vậy Nhưng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho họ sống lại trong những hình tượng mang đầy khí phách và hiên ngang Những tấm gương đại nghĩa vằng vặc như trăng sao đã hiển hiện trong bài văn tế với âm hưởng của một khúc ca bi tráng Người nghĩa quân Cần Giuộc chỉ là những nông dân hiền lành, quanh năm côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung… Ấy thế mà khi giặt đến, họ liền trở thành những người dũng sĩ Ở họ, nhà thơ nhấn mạnh tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tự giác tham gia đánh giặc: “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.”
Trong khi triều đình nhu nhược, chỉ bàn những kẻ nhượng bộ, đầu hàng quân giặc thì họ đã tự mình đứng dậy Tinh thần: mến nghĩa làm quân chiêu mộ của những người dân cày thật là đáng khâm phục Cuộc chiến đấu của họ rất nhiều khó khăn với những gian nan: lực lượng địch, lực lượng ta quá chênh lệch, thiếu kĩ thuật quân sự, thiếu quân trang, vũ khí Đoàn nghĩa quân nông dân lại rất nghèo khổ, lam
Trang 16lũ Họ gần như đi thẳng đến chiến trường từ những túp lều tranh rách nát và những luống cày quen thuộc, không mũ nón, không giáp trụ và cũng chẳng gươm giáo cung tên…
Tất cả trang bị của họ đều rất thô sơ, là những đồ dùng thường ngày, quen thuộc nhưng lại khiến cho kẻ thù thích điên bát đảo Sức mạnh của họ không chỉ là sức mạnh thể lực mà đó còn là sức mạnh tinh thần Họ đã lấy danh vàng đỏ với đạo, lấy lòng dũng cảm để chống lại những chiếc tàu sắt, tàu đồng
“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đèn xì, muốn ra cắn cổ”
Lòng căm thù giặc ấy đã đem đến cho những người nghĩa sĩ sự dũng cảm và sức mạnh đến phi thường Họ tả xung hữu đột, tung hoành ngang dọc như ở chỗ không người
Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi những nghĩa sĩ nông dân bằng những hình tượng thật chói lọi và những lời văn đầy trang trọng, đẹp đẽ Nhưng ông lại không thể che dấu sự thật đau lòng… Bài văn tế còn là đời ai oán, là tiếng khóc của ông trước sự thất thế và cái chết của nghĩa quân Cần Giuộc Cái chết của họ khiến cho những người đọc chúng ta cảm thấy đau lòng Đất trời, cỏ cây cũng phải rung động:
“Đoái trông Cần Giuộc; cỏ cây mấy dặm sầu giăng, nhìn chợ Trường Bình già trẻ
hai hàng luỵ nhỏ.”
Đó còn là tiếng khóc của chính tác giả:
“Ôi thôi thôi!
Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm, đồn Lang Sa một khách đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.”
Cái bi bao trùm lên cả đoạn văn, nhưng đại bi ở đây không phải là bi thảm mà là bi tráng Đây là nỗi đau đớn vì nước nhà, vì nhân dân Đau mà không khiến cho người ta nản lòng thối chí, bi mà giục giã mọi người đứng dậy, hiên ngang chống lại kẻ thù Cuộc khởi nghĩa tuy đã thất bại, nhiều người đã phải ngã xuống nhưng chết vinh còn hơn sống nhục Họ đã để lại danh thơm muôn đời Ra đi như những tấm gương sáng, trái lại vẫn còn sống mãi và có sức động viên lớn đối với cuộc chiến sau này…
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 6)
Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của nên văn học Việt Nam Song cuộc đời ông không hề êm đẹp, năm 1849 ông phải bỏ thi để về chịu tang mẹ Trên đường đi ông bị đau mắt rồi bị mù, về sau ông ra dạy học và bốc thuốc cho dân, cuối cùng tham gia chống Pháp Chắc bởi có nhiều thời gian ở gần người dân nói chung và nông dân nói riêng nên ông thấu hiểu sự khổ cực, vất
vả nhưng lại mang vẻ đẹp bi tráng, sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của nông dân Nam
Trang 17Bộ mà ông đã viết nên một trang văn hào kiệt “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo
yêu cầu của Đỗ Quang
Bài tế gồm bốn phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn và kết Với bố cục như vậy, Nguyễn Đình Chiểu dựng lên trong mắt người đọc, người nghe một bức tượng đài bất tử về người nông dân
Ở phần lung khởi, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu lên lí lẽ sống chết Đó là đứng lên chống lại ngoại xâm bởi súng giặc làm đất rền, còn lòng dân thì trời sẽ tỏ Bằng phép đối, ông đã nói lên sự căm phẫn của nhân dân trước việc nước nhà bị xâm lăng Bên cạnh đó, ông còn so sánh cái danh về việc làm ruộng và đánh giặc việc
bỏ sức mười năm dở công vỡ ruộng, đối với một trận đánh tây, và cái danh mang lại của mười năm chưa thể nào nổi như phao của trận đánh tây đó, danh tiếng hào hùng vang xa như tiếng mõ vang hào hùng, khí thế
Cũng bởi lẽ sống chết đó, cùng với lòng yêu nước và sự căm thù giặc, căm thù những thói mọi nó giống như kiểu nhà nông ghét cỏ và sự phẫn nộ đó tột độ đến mức muốn ăn gan, muốn cắn cổ bọn giặc ngoại và một nỗi thấu hiểu “nước mất, nhà tan” làm sục sôi và giai cấp nông dân đã đứng lên khởi nghĩa Đó là những người nông dân côi cút làm ăn trước giờ chuyên cuốc, chuyên cày, bừa, còn việc quân sự như tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, họ chưa từng ngó lấy, chưa từng nhìn ấy thế mà nào phải đợi ai đến, ai bắt, họ đã tự xin ra sức đoạn kình đấu tranh
tự nguyện ngay cả khi chưa trở thành người lính
Họ là những người nông dân dũng cảm, chiến đấu không màng sống chết với hình ảnh hùng dũng không ngại sắt thép đang chĩa ra mà đạp rào lướt tới, coi giặc như không hiện hữu; không biết sợ thằng Tây nào đang bắn những đạn nhỏ đạn to, mà
xô cửa xông vào liều mình với tất cả nhưng như chẳng có Mặc dù vũ khí của họ rất thô sơ chỉ là ngọn tầm vông, những chi nài, dao tu, nón gõ nhưng vẫn lao vào địch mà đâm ngang, chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kê tàu thiếc, tàu đồng súng nổ Họ chiến đấu vì tổ quốc, vì dân tộc nên sẵn sàng bỏ lại gia đình của riêng Đây chính là nội dung của phần thích thực
Trang 18Trong phần ai vãn, Nguyễn Đình Chiểu thể hiện lòng tiếc thương đối với những người nông dân mang vẻ đẹp bi tráng và lòng yêu nước bất khuất không sợ hi sinh,
trong cuộc chiến Cần Giuộc “Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ“, bởi thế “già,
trẻ hai hàng lụy nhỏ”, “mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn kia leo lét trong lều”, “vợ yêu chạy tìm chồng” Đó là sự xót xa, đau khổ, thương tình đối với các chiến sĩ của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và toàn thể nhân dân Cần Giuộc nói chung
Đối với phần kết, một lần nữa tác giả nhấn mạnh việc sống ở đời thì phải thờ vua, giặc đến thì phải ra sức bảo vệ nước nhà như những nghĩa sĩ Cần Giuộc Những nghĩa sĩ dù đã hi sinh vẫn sẽ mãi tiếp bước cùng dân tộc trong công cuộc gìn giữ đất nước
Tóm lại, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng của một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tường đai bất
tử về những người nông dân Cần Giuộc nói riêng và toàn thể người dân Nam Bộ nói chung đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì đất nước trong thời chiến Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật tạo hình tượng nhân vật kết hợp
nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, và sinh động
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 7)
Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ, nhà văn hàng đầu ở Nam Bộ thời kì văn học Trung đại, là ngôi sao sáng của văn học dân tộc Ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, thể hiện lí tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước sâu sắc Trong hệ thống tác phẩm đó ta
không thể không nhắc đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một trong những tác phẩm
xuất sắc nhất của ông
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sáng tác trong hoàn cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm
lược nước ta, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Cần Giuộc nổ ra và giành thắng lợi bước đầu Sau đó giặc phản công dữ dội, 20 nghĩa sĩ bị giết chết Bấy giờ, tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiểu viết một bài văn tế để đọc trong lễ truy điệu của các nghĩa sĩ Cần Giuộc
Trang 19Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu luận bàn về lẽ sống chết: “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ/ Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ” Tác giả vẽ ra bối cảnh
thời đại với nhiều biến cố, bão táp: giặc được trang bị vũ khí tối tân, đã tàn sát biết bao người dân Nam Bộ Chính trong hoàn cảnh ấy đã thử thách tấm lòng của con người đối với đất nước Người dân Nam Bộ đã không nề hà sống chết, đem thân mình chiến đấu chống lại kẻ thù Họ sẵn sàng từ bỏ, hy sinh những gì quý giá nhất (tài sản, tính mạng) để đổi lại danh tiếng, tiếng thơm lưu truyền với muôn đời Qua
đó đã làm sáng tỏ chân lí của thời đại: Chết vinh còn hơn sống nhục
Phần tiếp theo của tác phẩm, chân dung hình tượng người nghĩa sĩ nông dân hiện lên vừa mộc mạc, giản dị nhưng đồng thời cũng vô cùng anh dũng kiên cường Trước khi giặc ngoại xâm đến họ vốn chỉ là những người nông dân vô cùng thuần phác, họ sống cuộc đời bình dị, “cui cút làm ăn” với biết bao lo toan, bộn bề của cuộc sống Họ chỉ biết đến nơi làng quê nghèo, mà chưa từng biết đến thế giới ngoài kia Quanh năm suốt tháng những người nông dân ấy bận rộn với công việc nhà nông: “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” còn những việc “tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”
Nhưng khi giặc xâm lược đến bờ cõi, đến sự bình yên vốn có, họ sẵn sàng đứng lên, trong họ có sự chuyển biến lớn về nhận thức và tình cảm Trước hết đó là sự chuyển biến trong tình cảm Họ đã nghe ngóng “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng” – tin giặc đến phong thanh họ đã nghe từ lâu Không chỉ nghe họ còn ngửi thấy cả mùi đấu tranh: “Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm” và cuối cùng họ đã nhìn thấy tận mắt sự xâm lược, độc ác của kẻ thù: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”
Đến lúc này họ đã có những chuyển biến rõ ràng về nhận thức, nếu ban đầu trong những người nông dân ấy vẫn còn có niềm tin vào triều đình, trông chờ vào quân đội “như trời hạn trông mưa” thì đến đây họ đã có nhận thức rõ ràng về nền độc lập
và danh dự của tổ quốc; về kẻ thù – những kẻ đi xâm lăng thì không có lí do để tồn tại dưới ánh sáng chính nghĩa và hơn thế họ nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm
Trang 20trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” Sự chủ động của họ thật oai phong, lẫm liệt đầy dũng khí
Trong trận đánh Tây họ không được trang bị binh pháp, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ, trang bị của họ hết sức thô sơ chỉ là những vật dụng sinh hoạt và lao động hàng ngày: “Ngoài cật có một manh áo vải” “trong tay cầm một ngọn tầm vông” “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”,… Ngược lại, địch được trang bị vũ khí tối tân, hơn nữa chúng còn được rèn luyện vô cùng tinh nhuệ: “đạn nhỏ đạn to”
“tàu đồng súng nổ” Sự tương quan lực lượng hai bên đã thấy rõ, nhưng người nghĩa sĩ nông dân vẫn “đạp rào lướt tới”, “coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào liều mình như chẳng có”, “Đâm ngang chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh”,… Không hề sợ hãi trước uy lực của kẻ thù Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh, nhịp điệu nhanh, gấp gáp tác giả đã vẽ lên khung cảnh chiến trường
ác liệt, đồng thời cũng ánh lên vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ: hiên ngang, kiên cường, dũng cảm, bất khuất
Nhưng vũ khí hiện đại của kẻ thù đã khiến biết bao nghĩa sĩ ngã xuống, gây nên niềm tiếc thương cho toàn thể dân tộc Tiếng khóc của tác giả, của người thân và của toàn thể non sông dân tộc cho sự hi sinh anh dũng của những con người quả cảm, đó cũng là sự khóc thương cho số phận của người nhà, từ nay sẽ rơi vào vòng
nô bộc của kẻ thù Đồng thời tác giả cũng bộc lộ niềm cảm phục sâu sắc đến những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ” Đoạn thơ không chỉ bày tỏ lòng tiếc thương trước những người đã mất mà còn khẳng định những điều bất tử với thời gian và hướng tới sự tiếp nối của thế hệ tương lai Bởi vậy câu thơ có bi thương, xót xa nhưng không phải là bi lụy, yếu đuối
Những vần thơ cuối cùng đã khẳng định sự bất tử của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc trong sự tiếc thương và cảm phục của những người còn lại Đồng thời biểu dương công trạng xả thân vì nghĩa lớn của các nghĩa sĩ Đặc biệt trong câu:
“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa
sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” vừa thể hiện được nỗi xót thương
Trang 21và lòng tưởng nhớ những người đã mất vừa tôn vinh công trạng của họ trong sự so sánh ngầm với triều đình
Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, đặc biệt ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ Xây dựng hình tượng nghệ thuật – nghĩa sĩ nông dân chân thực, chi tiết, sinh động, lần đầu tiên người nông dân được xuất hiện đầy đẹp
đẽ, trang trọng đến vậy Kết hợp hài hoà các chi tiết thể hiện tình cảm cảm xúc của người viết, tăng chất trữ tình cho bài văn tế, đồng thời giúp dễ dàng đi vào lòng người đọc
Bằng ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã khắc họa
thành công bức tượng đài bi tráng, bất tử về người nghĩa sĩ nông dân Đồng thời qua tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã bày tỏ lòng cảm phục cũng như nỗi tiếc thương trước những công trạng và sự hi sinh bất khuất của họ
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 8)
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc như một "bức tượng đài nghệ thuật sừng sững hiên ngang" mà lạ thay gót thời gian không hề tàn phá nổi Nguyễn Đình Chiểu - con người ấy đã đi xa chúng ta từ lâu lắm rồi nhưng những áng văn thơ của người còn trẻ mãi, đỏ mãi
Hỡi ơi Súng giặc đến rền Lòng dân trời tỏ
Câu thơ tứ tự mở đầu tách đôi ra làm hai vế gãy gọn nhưng sức khái quát của nó thật lớn Chỉ ngần ấy câu chữ đã vẽ lên một cách, toàn diện về những điều mà người viết muôn gửi gắm: tội ác và nghĩa cả, cái đau thương tang tóc và cái cao lớn đẹp đẽ, một bên là súng giặc mâu thuẫn với lòng dân
Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn mà danh nổi tợ pha
Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất mà tiếng vang như mỏ
Đã rõ hơn rồi, tác giả muốn nói điều gì Câu thơ phản ánh sự tương phản, giữa
"mười năm công vỡ ruộng" và "một trận nghĩa đánh Tây" - sức vùng lên mạnh mẽ, quyết liệt, mau lẹ của những người nông dân Mười năm vỡ ruộng ít ai biết đến, thế
Trang 22mà một trận nghĩa đánh Tây, những con người nghĩa sĩ đã gây được "tiếng vang như mỏ" Tứ thơ như báo trước cái anh hùng của họ, sức mạnh của họ và cả cái bi thương tất yếu nữa
Nhớ linh xưa Cui cút làm ăn Riêng lo nghèo khó
Hình ảnh những con người bình thường hiện lên, những con người sẽ làm nên lịch
sử ấy, họ chẳng phải là ai cả, chỉ là những con người sống sau lũy tre làng, sau rặng dừa, bụi chuối vì nghĩa lớn mà hi sinh Họ hi sinh khi "Tổ quốc cần" Và hình ảnh của họ trở nên cao đẹp từ đó Họ chỉ là những người quen lấm láp với công việc cấy cày
Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhưng, chỉ biết:
Ruộng trâu ở trong làng bộ
Việc cuốc việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó
Cuộc sống của họ lặng thầm, ngày ngày chỉ biết lăn lộn cùng miếng cơm manh áo nhưng cuộc sống nghèo đói vẫn ghì sát đất Họ chưa bao giờ hình dung nổi việc binh đao Lần đầu nghe tin giặc Pháp giày xéo họ cũng có tâm lí chung của những người "dân đen" "con đỏ", lo sợ, trông đợi rồi thất vọng
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng Trông tin quan như trời hạn trông mưa Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ Chờ mong "tin nhạn" nhưng rồi nhạn vắng bóng Họ đi từ thắc thỏm hi vọng đến vô vọng, từ lo sợ, hoảng loạn đến căm ghét - cái căm ghét trong mơ hồ
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ
Cho dù sự căm ghét chỉ được phôi thai qua ý niệm mơ hồ nhưng sự phẫn nộ đã dâng lên ngùn ngụt Họ muốn lao ra bằng tay không để "ăn tươi nuốt sống kẻ đã gây bao tội ác" Đọc tới đây, ta chợt nhớ lại lời hịch sang sảng, vang vọng một thời của Trần Quốc Tuấn "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa" (Hịch tướng sĩ) Sự day dứt, đau đớn vò xé tâm can thôi thúc con người hành động, thôi thúc con người muốn "nuốt gan uống máu quân
Trang 23thù" cho hả dạ ở Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc cũng vậy Họ bắt đầu nghĩ tới non sông đất nước và cảm thấy nhục nhã nếu như cứ để cho lũ "chó má" ấy giày xéo lên những giá trị tinh thần của dân tộc ngàn thu văn hiến
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó
Ý thức được như thế, họ đã đi đến quyết tâm làm một cuộc nổi dậy Họ vùng lên tinh thần sẵn sàng tự nguyện
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ
Họ đã hình dung ra một cuộc chiến tranh chính nghĩa Họ chẳng cần phải trốn tránh khi tiếng gọi của quê hương tha thiết đến thế Họ biết phải chiến đấu, xả thân
để giữ lấy bờ ao bụi chuối, giữ lấy mảnh đất biết mấy thân yêu gắn bó, giữ lấy những điều thiêng liêng mà họ cho là không liên quan gì đến "cha ông nó" cả Hình ảnh của họ thật đẹp, những tấm lòng của họ thật cao cả Hình ảnh ấy thật khác xa với người lính trước kia khi phải đối mặt với tiếng trống giục quân bắt bớ "bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa"
Người nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu bước vào cuộc chiến đấu vẫn mang một màu bình dị sáng trong Họ là những người "dân ấp dân lân" với những vũ khí thô
sơ, chỉ là một ngọn tầm vông, một nùi rơm, con cúi, thế nhưng họ đã dệt nên
những trang sử hào hùng, vẻ vang Họ thật cao đẹp, thật anh hùng và tràn đầy dũng khí Bên trong "manh áo chật" đáng thương, nhỏ bé lại chứa đựng bao điều lớn lao, cao cả
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia Gươm đeo dùng hằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai họ
Họ là những con người bình dị nhưng anh hùng Khi cầm cuốc làm ruộng họ là những con người hiền như đất, như khoai song khi đối mặt với kẻ thù, họ không kém phần dữ tợn Họ hòa hợp bằng tinh thần đoàn kết của người dân áo vải đất Việt Cái tinh thần đoàn kết mà trước đây Nguyễn Trãi từng ngợi ca trong Cáo bình Ngô
Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Trang 24Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ lên hình ảnh của họ - của những con người cụ thể trong công cuộc đánh Tây bằng một tâm trạng nô nức, phấn chấn
Chi nhọc quan quản gióng, trống kỳ, trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng như
không Nào đợi thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có
Kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh
Bọn hè trước lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ
Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu sung sướng vung lên như một thanh gươm trên chiến trường trước sức mạnh ồ ạt, tấn công dồn dập như vũ bão của những người nghĩa sĩ Cách ngắt nhịp ngắn gọn đã tạo nên một khí thế xông trận bừng bừng, mang hơi thở gấp gáp của cuộc hỗn chiến Trong khung cảnh ấy, tung hoành giữa chiến địa chỉ còn có người nông dân mộ nghĩa anh dũng, oai phong lẫm liệt Giọng thơ có khác nào hồn cáo của Nguyễn Trãi mấy trăm năm về trước
Ngày mười tám trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế Ngày hai mươi trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn
Nguyễn Đình Chiểu có lẽ cũng muốn lắm, để viết được những sự thất bại chồng chất của kẻ thù Nhưng ở đây ta thấy trận đánh dù có rầm rộ đến đâu đi nữa nó cũng mang tính chất của người dân cầm cuốc, cầm cày đã quen Họ thất bại là phải, bởi lẽ:
Mười ban võnghệ nào đợi tập rèn Chín chục trận binh thư không chờ bày bố
Đấy là những cơn người anh hùng nhưng rất đáng thương Nhìn hoàn cảnh đánh giặc của họ, ai mà không xót xa cho những con người cụ thể và xót xa cho cả toàn đất nước Bởi thế âm điệu thơ như mặt hồ đang nổi sóng bỗng dưng lắng xuống, đang hừng hực lửa chiến trận bỗng chốc trở nên hoang vắng lạnh lùng, mang màu sắc bi thương não nuột
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ
Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng
Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ
Trang 25Những câu thơ như câm lặng trôi trong niềm kí ức của tác giả Nhà thơ gửi một nỗi tiếc thương vô hạn cho những người đã khuất Cái chết của họ làm cho cả trời đất, cây cỏ tang thương, nhỏ lệ, cái chết nhuốm màu sầu ải lên vạn vật Cả một bầu trời
âm u, tối tăm trước sự hi sinh mất mát của những người nghĩa sĩ
Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm Đồng lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều
Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ
Những hình ảnh thương tâm ấy gặm nhấm tâm can ta, linh hồn ta đau nhức
Nguyễn Đình Chiểu đã nhân danh lịch sử mà cất tiếng khóc cho những người anh hùng hi sinh vì Tổ quốc Từ những âm thanh sầu thảm vang vọng lên qua đoạn văn, chúng ta không phân biệt được đâu là tiếng khóc của tác giả, của nhân dân, gia đình mà như nghe thấy một tiếng khóc chung của đất nước Ngòi bút của
Nguyễn Đình Chiểu đã hội tụ lại mọi nỗi đau để cất lên tiếng khóc cao cả
Sau phút giây đau thương, nức nở, lời ván đang đắm chìm trong thảm đạm bỗng tỉnh táo hẳn lên, nêu bật một quan niệm tuyệt vời về nhân sinh, về lẽ sống và cái chết
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ củng vinh
Hơn còn mà chịu chữ đầu tây, ở với man di rất khổ
Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ra một quan điểm mang tính nhân văn sâu sắc: Thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ, làm những điều nhơ bẩn, ô danh Câu thơ
"sống đánh giặc thác cũng đánh giặc" dược nêu cao như một chân lí sống rực rỡ, chói ngời Chân lí ấy đã xua tan bao cảm giác bi thương, mất mát của người nghĩa
sĩ đã dâng trọn tấm thân mình cho đất nước, quê hương
Thác mà trả nước non rồi nợ, sánh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ
Họ là những tấm gương sáng cho muôn đời con cháu mai sau Linh hồn người nghĩa sĩ trong tưởng niệm thành kính của tác giả vẫn níu lấy cuộc sống để theo
Trang 26đuổi đến cùng sự nghiệp giết giặc cứu nước, Với Nguyễn Đình Chiểu, họ vẫn sống
và được ngưỡng mộ
Ôi chết thế không thể nào chết được Không thể chết những người dân yêu nước Những con người không chịu ô danh
(Tố Hữu)
Họ đã vui vẻ hoàn thành nghĩa cả cao đẹp như một người nông dân "cày xong thửa ruộng" Cái chết của họ như một giấc ngủ trưa yên lành, bình thản Nhưng cái yên lành, bình thản ấy lại gợi nỗi đau nhức nhối trong tâm tưởng của bao kiếp người Với lối văn bình dân, giản dị, dùng nhiều thành ngữ, lời ăn tiếng nói đời thường, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng lên hình tượng người nghĩa sĩ vừa bi thương vừa hùng tráng Qua "Bức tượng đài nghệ thuật" ấy tác giả gửi gắm một quan niệm sống tốt đẹp Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc cao cả của một tấm lòng giàu tình dân, nghĩa nước
Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đã khép lại nhưng lịch sử dân tộc vẫn được mở ra Và chúng ta - những người con của đất nước phải nhớ giữ lấy giá trị ngàn đời mà bao thế hệ, bao lớp người từng xây dựng nên giang sơn, gấm vóc của ngày hôm nay Điều mà Nguyễn Khoa Điềm đã xúc động viết lên những lời thơ xiết bao ân nghĩa
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Nhưng họ đã làm nên Đất Nước
(Đất Nước)
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
(mẫu 9)
Ngày nay, đọc thơ văn Đồ Chiểu không chỉ thấy tâm huyết và tài nghệ của nhà thơ
mà còn thấy cả một thời đại lịch sử, thấy lại cả dân tộc ta trong một thời kỳ đau thương nhưng vĩ đại Văn thơ của Đồ Chiểu mãi mãi vẫn là món ăn tinh thần của người Việt Nam Vì vậy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định: “Ngòi bút là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não
Trang 27nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân … người anh hùng cứu nước”
Bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” đó đã chứng minh được điều u nêu cao một tấm lòng yêu nước, quan tâm tha thiết đến vận mệnh của dân tộc và cũng là lời thở than chua xót
Ngay sau khi được phổ biến, bài văn có tiếng vang rất lớn, nhất là trong nhân dân
Nó có giá trị mở đầu cho dòng văn học yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX Bài văn được xây dựng trên cơ sở người thật, việc thật, cho nên ý nghĩa của nó càng trở nên sâu sắc …
“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” đã làm xúc động lòng người bởi tiếng nói đầy
“thương cảm”, bởi cái hay của văn chương bình dị, lời văn man mác, lắng đọng một nỗi đau vì dân vì nước Mở đầu bài tế là lời than nghe thật chua xót:
“Hỡi ơi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”
Chỉ một câu ngắn thôi, ta cũng thấy được cả một xã hội, thấy được hoàn cảnh ly loạn lúc bấy giờ Kia là cuộc xâm lăng ào ạt, bạo tàn của kẻ thù và kia là bổn phận,
ý chí chống quân bạo tàn đó của người nông dân Nhân dân đau xót trước bao tang thương, áp bức nhưng ai có thể hiểu được ‘lòng dân” chứ Họ chỉ tin có “trời”:
“Lòng dân trời tỏ” vì chỉ có trời mới thấu hiểu được lòng dạ học, chứ cái bọn vua tôi hèn hạ khi nào biết gì, họ chỉ biết tự xưng danh mà thôi
Cuộc đời người nông dân đang bình lặng trôi qua theo bao Tháng ngày lam lũ, họ
có ngờ đâu những tai biến sẽ xảy ra
“Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao
Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất tiếng vang như mõ
Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhưng, chỉ biết ruộng trâu ở theo làng bộ
…”
Cuộc sống rất ư là giản dị trong thôn xóm, lam lũ nghèo khó Họ chỉ biết cui cút làm ăn và chỉ cần có miếng cơm manh áo Họ chỉ biết có thế, việc gươm đao cung kiếm họ chưa từng biết Thế mà họ vẫn giàu lòng yêu nước và căm thù giặc, họ
Trang 28căm thù đến mức cao độ “muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ” Điều này thể hiện rất
rõ cá tính của người nông dân
Những người nghĩa sĩ ấy chẳng phải là quân lính mà là dân cày nghèo khổ Việc đánh giặc không phải là việc của họ, mà vì lòng yêu nước căm thù giặc, chờ đợi quân quan mãi nhưng nào thấy, đành làm những việc lớn, phải “chém rắn”, “đuổi hươu”… Thực tế cho ta thấy được thái độ ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn và càng đề cao hơn vai trò của người nông dân trước “vũ đài lịch sử”
Họ – “Những người nghĩa sĩ ấy” không làm sao chịu được cảnh quân giặc giày xéo lên mồ mả tổ tiên … và họ quyết định phải đứng lên đánh chúng, đánh bằng được bọn tàn ác đó:
Mười tám ban võ nghệ nào đợi tập rèn Chín chục vạn binh thư chưa chờ bày bố
Ngoài cật một manh áo vải, Nào đợi mang bao tấu bầu ngòi, Trong tay cầm một ngọn tầm vông, Chi nài sắm dao tu, nón gõ
Bây giờ họ không cần gì hết, cũng không đợi tập rèn, trong tay có gì đánh nấy Từ những công cụ thô sơ cũng trở nên quan trọng, quý hiếm và có tác dụng đối với họ:
Súng hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, Cũng đốt xong nhà dạy đạo kia
Gươm đeo bằng lưỡi dao phay Cũng chém rơi đầu quan hai nọ
Nguyễn Đình Chiểu nói lên điều này để làm gì? Phải chăng, chính ông đang nhận thấy rõ bọn cần quyền có đầy đủ công cụ nhưng không hề lay chuyển mà người dân thì … Thái độ nhà thơ căm tức, oán trách bọn vô trách nhiệm và mến thương những người dân nghèo nhưng có lòng trung nghĩa, yêu nước Phải chăng, ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật sinh động hình ảnh người nông dân? Đúng thế Và chỉ vài câu văn cũng bật rõ phần nào lòng trung nghĩa của nhà thơ Đồ Chiểu
Trang 29Rồi cứ thế, người nghĩa quân nông dân tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu với khí thế mãnh liệt như vũ bão:
“Kẻ đâm ngang, người chém ngược
Làm cho mã tà, ma ni hồn kinh” …
Họ chiến đấu anh dũng với sức mạnh, ý chí và lòng căm thù Họ liều mạng chăng? Không! Bởi vì họ yêu nước Đọc bài tế ở đoạn này nào là:
“Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục
Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không,
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to
Liều mình như chẳng có”
Nào là:
“Kẻ đâm ngang, người chém ngược …”
Ta cứ tưởng như ngòi bút tác giả cũng đang tung hoành ngang dọc cùng với nghĩa quân trên chiến trường Giọng văn hào hùng sảng khoái, nhịp điệu dồn dập, sôi nổi thể hiện rõ khí thế của trận công đồn Nào là tiếng hò, ó; tiếng đạn nổ, cùng với ngọn lửa đốt đồn giặc bốc cao, cháy sáng rực cả dòng sông Cần Giuộc… Những yếu tố này đã xây dựng thành công hình tượng của người nông dân cứu nước giết giặc Đây là một hình tượng độc đáo trong văn học cổ điển Việt Nam Và kìa! Bên cạnh những hình ảnh đó là cảnh quan quân nhà Nguyễn nhỏ bé, thấp kém Bây giờ
họ không còn ra gì nữa Thật: “Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu là tâm hồn của ông đã diễn tả thật là sinh động và não nùng cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu đã đại diện, đã thay mặt cho dân tộc, cho tình cảm dân tộc để viết ca ngợi về người chiến sĩ ấy Nhưng mặt khác, nếu như Cụ Đồ không có lòng “trung nghĩa” thì việc thay mặt cũng quả là khó Thơ văn ông thường là hồn, là tâm của ông Vì vậy, khi đối diện với những người nghĩa
sĩ, đối diện với tang thương thì làm sao nhà thơ không tuôn dòng lệ:
“Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng,
Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ”
Đang diễn ra khí thế tưng bừng của chiến trận, thế mà bỗng nhiên như có gì hụt hẫng, khựng lại Người nghĩa quân đang hăng say chiến đấu trên chiến trường
Trang 30không hề sợ cái chết những tưởng tấm lòng mến nghĩa sẽ lâu dài … thế nhưng làm sao tránh khỏi cảnh hi sinh …
Tấm lòng xót thương của tác giả càng ngày càng thương tiếc cho những người dân
ấp dân lân chỉ biết côi cút làm ăn, những khi giặc đến thì mặc dầu, chỉ có những công cụ thô sơ mà dám liều mạng giết giặc Nay họ đã ngã xuống trên chiến
trường, thì tác giả lại càng tiếc thương gấp bội Và dường như cả cỏ cây, trời đất cũng buồn bã, ảm đạm:
“Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ”
Dọc hai bờ sông cần Giuộc cỏ cây ủ rũ một màu tang, chợ Trường Bình thì già trẻ tuôn hai hàng lụy nhỏ Tất cả mọi người đầu đã khóc thương những nghĩa quân đã
bỏ mình vì nước Không làm sao ngăn được dòng nước mắt khi đi đến đâu cũng lưu giữ hình bóng họ:
“Chùa Tông Thạnh, năm canh ưng đóng lạnh Tấm lòng son gởi lại bóng trăng rằm …”
Nhìn lại cảnh vật ngày xưa thì lòng tác giả dâng lên một niềm thương tiếc, căm giận Căm giận bọn bất lương, loài ác quỷ bất nhân; thương tủi cho số phận ngắn ngủi, nhỏ nhoi của những nghĩa quân, của những người đứng lên vì đạo nghĩa Họ
đã mất đi là mất hết tất cả: mất gia đình, người thương Và gia đình họ mất đi một chỗ tựa nương
Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ Ngọn đèn khuya leo lét cháy trong lều Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng Cơn bóng xế dật dờ trước ngõ
Thật là đau khổ biết dường nào khi người con và người chồng đã ra đi để lại sau lưng những tiếng kêu xé lòng thê lương, thảm thiết Người vợ chạy tìm chồng trong không gian vô tận, trong cái dật dờ của nửa tỉnh nửa mê Hình dáng mẹ già không còn nước mắt nhưng vẫn khóc, khóc những tiếng khóc đắng cay của cõi lòng
Trang 31Cảm xúc chân thành, lớn lao của tác giả đã đem lại cho đoạn văn chất trữ tình đặc biệt, tác động mạnh vào tâm hồn người đọc Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt đề cao cái chết vẻ vang của người nghĩa quân Chính vì vậy mà ông khẳng định quan điểm sống của người nghĩa sĩ “chết vinh còn hơn sống nhục”:
Thà thác mà đặng câu địch khái
Về theo tổ phụ cũng vinh Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây
Ở với man di rất khổ
Chết như vậy mới thật sự là cái chết của người nghĩa quân, chết để được trả nợ với nước non, để đem lại danh thơm cho muôn thuở Qua những cái chết đó, tác giả đã phê phán lối sống hèn hạ của bọn “tay sai bán nước hại dân”:
“Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương
Vì ai xui đồn lũy tan tành xiêu mưa ngã gió
Sống làm chi theo quân tà đạo
Quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn
Sống làm chi ở lính mã tà, chìa rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thèm khổ …”
Điệp từ “vì ai”, “sống làm chi”, như đè nén sự căm tức, như lên án kết tội, như giày vò lũ tay sai bán nước – chính là nguyên nhân của mọi đau thương, tang tóc
… Càng phê phán lối sống tôi mọi của bọn thống trị bao nhiêu thì Nguyễn Đình Chiểu càng đề cao cái chết vinh quang của nghĩa quân bấy nhiêu Đó là ý của
Nguyễn Đình Chiểu: ông luôn muốn những người nghĩa sĩ đó mãi sống trong lòng dân tộc, đất nước Nhà thơ Đồ Chiểu một lần nữa khẳng định quan niệm sống cao đẹp của người Việt Nam thông qua những tấm gương hy sinh sáng chói Vì vậy nên đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận định một cách đúng đắn về cụ Đồ Chiểu:
“Ngòi bút … xưa kia chỉ quen cày cuốc bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” …
Kết thúc bài tế là những câu nghe như lời tâm huyết:
“Sống đánh giặc, chết cũng đánh giặc
Linh hồn theo giúp cơ bụng, muốn kiếp nguyện trả thù kia
Trang 32Người đã chết đi nhưng lòng vẫn còn đó, ý chí vẫn còn đó Phải chăng trong suy nghĩ của tác giả, linh hồn nghĩa sĩ vẫn níu chặt lấy cuộc sống để theo đuổi sự
nghiệp đánh giặc cứu nước đến cùng Có lẽ Nguyễn Đình Chiểu đã quan niệm rằng
“những cái gì chính nghĩa thì không thể nào tiêu diệt được …”
Bài văn tế đã kết thúc nhưng nó vẫn còn phảng phất mãi mùi hương mà chính dân tộc đã dâng lên cho linh hồn những người nghĩa sĩ đó
Đồng chí Phạm Văn Đồng nhận định: “Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu là tâm hồn của ông, chính ông đã diễn tả sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân Vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước …” Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đã hùng hồn chứng minh được điều đó
Bài Văn tế sẽ mãi mãi là nén hương thơm của dân tộc dâng lên những người còn trung nghĩa, những người nghĩa sĩ của đất nước anh hùng
Phân tích tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Bài văn tế không
những thể hiện được tình cảm xót thương vô hạn của tác giả và của nhân dân đối
Trang 33với các nghĩa sĩ cần Giuộc mà còn khắc họa lên vẻ đẹp chân thực, bi tráng mà rất đỗi hào hùng của những người nông dân yêu nước đánh Tây
Hỡi ôi!
Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ
Khi Tổ quốc lâm nguy, khắp đất nước đều rền vang tiếng súng Chính từ sự gian nguy, đau thương đó, tình yêu đất nước của những người nông dân bình thường mới được thể hiện, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn trong họ mới được bày tỏ cùng trời đất
Tấm lòng, tình yêu giang sơn, tổ quốc của những người nông dân bình dị càng được thể hiện một cách rõ rệt và sâu sắc hơn khi tác giả đã liên tục dùng biện pháp
so sánh đối lập trong các câu văn tiếp sau
Nhớ lính xưa:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó, Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó
Trước đây họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ là “cui cút làm ăn” Họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ trong thầm lặng Trong cuộc sống, họ có nỗi lo toan “miếng cơm manh áo” giản dị đời thường; họ chỉ quen làm lụng việc nhà nông: cày, bừa, cấy, hái, làm bạn với con trâu, với ruộng đồng Họ chưa biết đến “cung ngựa”,
“trường nhung”, chưa quen với “tập mác, tập cờ” Những người nghĩa sĩ ở đây chỉ
là những nông dân áo vải, chưa quen chiến trận, chưa được luyện rèn, chỉ vì lòng yêu chính ghét tà mà đứng lên đánh giặc
Khi mà “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng”, họ ngóng trông mệnh lệnh của triều đình: "trông tin quan như trời hạn trông mưa”
Thì ra cái bi kịch xót xa là ở chỗ này: triều đình nhu nhược, không hiểu được lòng dân yêu nước Lòng căm thù giặc của những người nông dân thì không thể kiềm chế: