1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đáp án bộ câu hỏi ôn thi xây dựng văn bản pháp luật

91 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đáp án bộ câu hỏi ôn thi xây dựng văn bản pháp luật
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 217,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề 1 Câu 1 Văn bản và vai trò của văn bản trong đời sống xã hội? Khái niệm Văn bản được hiểu là những tài liệu, giấy tờ được sử dụng trong hoạt động của các cá nhân, tổ chức xã hội, và của các cơ quan.

Trang 1

Đề 1

Câu 1 Văn bản và vai trò của văn bản trong đời sống xã hội?

 Khái niệm

Văn bản được hiểu là những tài liệu, giấy tờ được sử dụng trong hoạt động của các cá nhân, tổ chức

xã hội, và của các cơ quan nhà nước nhằm ghi nhận mục đích, hành vi hoạt động của các chủ thểtham gia các quan hệ xã hội khác nhau Dưới góc độ pháp lý, hiện nay theo Nghị định 30/2020/NĐ-

CP về công tác văn thư, văn bản là “thông tin thành văn được truyền đạt bằng ngôn ngữ hoặc kýhiệu, hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức và được trình bày đúng thể thức, kỹ thuậttheo quy định” (khoản 1 Điều 3)

(1) Văn bản là yếu tố cơ bản cùng với các yếu tố khác tạo nên cơ quan Nhà nước.

-Thiếu văn bản sẽ không bao giờ có cơ quan Nhà nước trong điều kiện hiện đại

-Không thể hình dung một cơ quan Nhà nước mà chỉ có toà nhà kiến trúc đồ sộ với đầy đủ vật liệu,trang bị tối tân, có nhiều nhân viên hàng ngày làm việc, nhưng không có hồ sơ văn bản (công văn-Trong ba yếu tố cấu tạo nên cơ quan Nhà nước (cơ quan công quyền), yếu tố công vụ có tính chấtquan trọng hơn cả Nó được coi là yếu tố tinh thần (linh hồn) của cơ quan công quyền Chính vănbản đã chính thức khai sinh ra cơ quan công quyền Kể từ ngày ký văn bản thành lập, cơ quan Nhànước mới thực sự được thành lập về phương diện pháp lý Cách thức tổ chức, cách thức hoạt động,phạm vi hoạt động của cơ quan Nhà nước phải được quy định bằng văn bản Việc bổ nhiệm, miễnnhiệm, việc thuyên chuyển nhân viên, việc ký kết hợp đồng, việc chuyển nhượng, việc gia tăng tàisản cơ quan đều phải thực hiện bằng văn bản

-Yếu tố vật chất của cơ quan có thể bị phá huỷ, sự điều hành hoạt động của cơ quan không vì thế

mà ngưng trệ, hoặc bị gián đoạn hay chấm dứt Nhân sự của cơ quan, tổ chức có thể bị thay đổi độtngột hoặc thường xuyên, hoạt động của cơ quan ít nhiều có thể bị thay đổi, có thể bị chấm dứt hoặcngưng trệ tạm thời Nhưng sự thất lạc, hay huỷ văn bản sẽ gây trở ngại một cách đáng kể cho hoạtđộng bình thường của cơ quan, tổ chức

(2) Tiêu biểu cho sự hiện diện của chính quyền, tính liên tục của quốc gia

Xét trên bình diện quốc tế, văn bản giữ vai trò tiêu biểu cho sự hiện diện của chính quyền, do đócũng tiêu biểu cho sự hiện diện của quốc gia Chính quyền quốc gia được thể hiện qua hoạt động và

sự hiện diện của bộ máy Nhà nước, được cụ thể hoá và được đại diện bằng các cơ quan Nhà nước

Vì vậy, như trên nêu, nếu như linh hồn của các cơ quan Nhà nước là văn bản, thì linh hồn của chínhquyền nhà nước cũng được thể hiện không bằng một hình thức nào khác, ngoài văn bản của các cơquan nhà nước Văn bản giữ vai trò chứng tỏ tính liên tục của quốc gia

- Văn bản một khi đã được ban hành sẽ có hiệu lực liên tục cho dù chính quyền (Chính phủ) thayđổi như Chính phủ cũ bị lật đổ, Chính phủ mới được thành lập để điều khiển bộ máy chính quyền.Tất cả những văn kiện do Chính phủ cũ ký kết với các nước khác hay tổ chức quốc tế vẫn có hiệulực đối với Chính phủ mới trừ những trường hợp thật đặc biệt Chính phủ mới phải chứng minh chođược Chính phủ cũ là phi nghĩa Sự liên tục này thể hiện qua việc tất cả những khế ước do Chínhphủ cũ ký kết với tư nhân, với hãng buôn, xí nghiệp, công ty, với các nhà kinh doanh khác cũngtương tự như trên vẫn tiếp tục thi hành đối với Chính phủ mới

- Cũng tương tự như vậy, thủ trưởng cơ quan Nhà nước, không được viện lý do mới được đề bạthoặc mới được bầu ra mà không tổ chức cho cơ quan, thực hiện các văn bản trước đây của ngườiđứng đầu cơ quan, mà mình thay thế

(3) Văn bản là bằng chứng khai sinh ra tổ chức kinh tế, xã hội

Văn bản là bằng chứng khai sinh ra tổ chức xã hội, quy định phạm vi, cách thức tổ chức, nhiệm vụcủa tổ chức xã hội, và hợp thức hoá mọi hoạt

động của tổ chức xã hội

(4)

  Quy định trách nhiệm, quyền hạn cho cá nhân

Trang 2

Sự phân công, phân nhiệm giữa các nhân viên trong cùng một cơ quan được ghi nhận trong văn bảnđược gọi là quy chế, hay nội quy cơ quan Ngay cả việc soạn thảo và ban hành công văn bao gồmhoạt động của nhiều cá nhân, từ người chuyên viên soạn thảo, đến người có trách nhiệm ký vàchuyển công văn đều phải quy định rạch ròi trong văn bản Sự cộng tác này đòi hỏi tất cả mọi ngườitham gia phải có một tinh thần trách nhiệm liên đới, mặc dù mỗi người có một quyền hạn và tráchnhiệm riêng Văn bản vừa quy định trách nhiệm, quyền hạn cho cá nhân đồng thời cũng là bằngchứng hành vi cá nhân Trong đời sống hiện đại, con người càng ngày càng có liên quan mật thiếtvới nhau trong sinh hoạt cũng như kinh doanh Văn bản là bằng chứng chứng minh sự liên kết đó,đồng thời cũng là phương tiện hợp thức hoá mọi hành vi ký kết giữa cá nhân với cá nhân, giữa cánhân với công ty, giữa công ty với công ty, giữa công ty với các cơ quan Nhà nước trong và ngoàinước.

Câu 2  Ngày 22/01/2009, UBND Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số UBND về quản lý hoạt động giết mổ, vận chuyển, chế biến, buôn bán gia súc, gia cầm trên địa

51/2009/QĐ-bàn thành phố Hà Nội Văn bản này có quy định: "Gia súc, gia cầm

UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      Độc lập - Tự do - Hạnh phúcSố: …/2022/QĐ-UBND       Hà Nội ngày 12 tháng 05 năm 2022   

QUYẾT ĐỊNH

Về việc bãi bỏ Quyết định số 51/2009/QĐ-UBND về quản lý hoạt động giết mổ, vận chuyển,

chế biến, buôn bán gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Hà Nội

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Theo đề nghị của của Sở Tư pháp

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Bãi bỏ Quyết định số 51/2009/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 của Ủy ban nhân dân Thành

phố Hà Nội quy định quản lý giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm và sản phẩm gia súc, gia cầmtrên địa bàn Thành phố Hà Nội. 

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 13 tháng 05 năm 2022.

Điều 3 Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH - HĐND - UBND Thành phố Hà Nội; Thủ trưởng các sở,

ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, thành phố, thị xã và các tổ chức,

cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

Trang 3

niệm Văn bản quy phạm pháp luật làvăn bản có chứa quy phạm

pháp luật, được ban hành theođúng thẩm quyền, hình thức,trình tự, thủ tục quy định trongLuật này

Văn bản có chứa quy phạmpháp luật nhưng được ban hànhkhông đúng thẩm quyền, hìnhthức, trình tự, thủ tục quy địnhtrong Luật này thì không phải

là văn bản quy phạm pháp luật

(Điều 2 Luật Ban hành văn bảnquy phạm pháp luật năm 2015)

Văn bản áp dụng pháp luật là vănbản chứa đựng các quy tắc xử sự

cá biệt, do cơ quan, cá nhân cóthẩm quyền ban hành, được ápdụng một lần trong đời sống vàbảo đảm thực hiện bằng sựcưỡng chế Nhà nước

Do các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền hoặc các tổ chức, cánhân được Nhà nước trao quyềnban hành, dựa trên các quy phạmpháp luật cụ thể để giải quyếtmột vấn đề pháp lý cụ thể

Ví dụ: Chánh án Tòa án căn cứcác quy định của Bộ luật dân sự

và Bộ luật tố tụng dân sự đểtuyên án đối với cá nhân tổ chứcliên quan thông qua bản án

Trang 4

Ví dụ: Nếu có tranh chấp hợpđồng mua bán đất thì dựa trêntình huống thực tế áp dụngLuật đất đai và Bộ luật Dân sự

Chứa quy tắc xử sự riêng Ápdụng một lần đối với một tổ chức

cá nhân là đối tượng tác độngcủa văn bản, nội dung của vănbản áp dụng pháp luật chỉ rõ cụthể cá nhân nào, tổ chức nào phảithực hiện hành vi gì Đảm bảotính hợp pháp (tuân thủ đúng cácvăn bản quy phạm pháp luật),phù hợp với thực tế (đảm bảoviệc thi hành) Mang tính cưỡngchế nhà nước cao

Ví dụ: Bản án chỉ rõ cá nhân nàophải thực hiện nghĩa vụ gì:

Nguyễn Văn A phải bồi thườngcho Lê Văn B 20 triệu đồng Đốitượng ở đây là cụ thể A và Bkhông áp dụng cho bất kỳ cánhân tổ chức nào khác

(Thường được thể hiện dưới hìnhthức: Quyết định, bản án,…)5

vi cả nước hoặc đơn vị hànhchính nhất định

Đối tượng nhất định được nêutrong văn bản

Thường dựa vào một văn bảnquy phạm pháp luật hoặc dựavào văn bản áp dụng pháp luậtcủa chủ thể có thẩm quyền Vănbản áp dụng pháp luật hiện tạikhông là nguồn của luật

Luật không có quy định trình tự

Trang 5

9 Các

yếu tố

cấu

thành

là quy tắc xử sự chung, có hiệu

lực bắt buộc chung, được ápdụng lặp đi lặp lại nhiều lần đốivới cơ quan, tổ chức, cá nhântrong phạm vi cả nước hoặcđơn vị hành chính nhất định, do

cơ quan nhà nước, người cóthẩm quyền quy định trongLuật này ban hành và đượcNhà nước bảo đảm thực hiện

gồm: là quy tắc xử sự đặc biệt,

áp dụng một lần đối với một tổchức cá nhân là đối tượng tácđộng của văn bản và mang tínhcưỡng chế nhà nước

Câu 2 Để đảm bảo nhất quán giữa dạy, học và kiểm tra, đánh giá; đảm bảo sự công bằng, chặt chẽ

và khách quan trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên, tránh tiêu cực trong thi cử; góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo của khoa Luật theo đúng Qui chế đào tạo của Đại học Quốc gia HàNội

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-Số: 12/KH-KLĐHQGHN Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015

 

KẾ HOẠCH

Về việc học, dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên và nâng cao chất lượng đào

tạo của khoa theo đúng quy chế đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội.

Các mục tiêu như: đảm bảo nhất quán giữa dạy, học và kiểm tra, đánh giá; đảm bảo sự công bằng,

chặt chẽ và khách quan trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên, tránh tiêu cực trong thi cử; gópphần nâng cao chất lượng đào tạo của khoa Luật theo đúng Qui chế đào tạo của Đại học Quốc gia

Hà Nội Để đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó cần:

-         Giảng viên khi kiểm tra, đánh giá cần phải bao quát các nội dung đã giảng dạy;

-         Trong đánh giá kết quả học tập đảm bảo rằng những sinh viên thực hiện các hoạt động học tậpvới cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực trong học tập sẽ nhận được những kết quả nhưnhau;

Trang 6

-         Trong quá trình kiểm tra và đánh giá sao cho kết quả thu thập được ít chịu ảnh hưởng từ nhữngyếu tố chủ quan khác/.

Trang 7

- Nghĩa rộng: văn bản là phương tiện để ghi nhận những thông tin, truyền đạt các thông tin từ chủ

thể này đến chủ thể khác bằng một ký hiệu hoặc bằng ngôn ngữ nhất định nào đó Theo cách địnhnghĩa này, các loại giấy tờ, tài liệu, sách vở, các loại bìa, hoành phi, câu đối, bia, khẩu hiệu, ápphích, băng ghi âm, băng truyền hình, bản vẽ … đều được gọi là văn bản. 

- Nghĩa hẹp: Văn bản được hiểu là những tài liệu, giấy tờ được sử dụng trong hoạt động của các cá

nhân, tổ chức xã hội, và của các cơ quan nhà nước nhằm ghi nhận mục đích, hành vi hoạt động củacác chủ thể tham gia các quan hệ xã hội khác nhau Dưới góc độ pháp lý, hiện nay theo Nghị định30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư, văn bản là “thông tin thành văn được truyền đạt bằng ngônngữ hoặc ký hiệu, hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức và được trình bày đúng thểthức, kỹ thuật theo quy định” (khoản 1 Điều 3)

b Phân loại:

Cách 1: Phân loại văn bản theo nguồn gốc phát sinh:

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh (hay còn được gọi là nguồn gốc tạo lập) người ta thường chia rahai loại công văn và tư văn. 

+ Công văn: là văn bản do Nhà nước hay các tổ chức được nhà nước ủy nhiệm ban hành nói về

việc công Công văn là giấy tờ nói về việc công Chúng do các cơ quan Nhà nước ban hành Côngvăn là văn kiện do cơ quan Nhà nước tạo lập để giao dịch, truyền tải thông tin giữa cơ quan Nhànước với nhau, giữa cơ quan Nhà nước với tư nhân, với tổ chức xã hội trong và ngoài nước

+ Tư văn: là VB do cá nhân tổ chức không đại diện cho quyền lực công ban hành

Cách 2: Phân loại văn bản căn cứ vào tính chất pháp lý và tính quyền lực nhà nước:  

Căn cứ vào tính chất pháp lý và tính quyền lực nhà nước, các văn bản do cơ quan nhà nước banhành được chia làm hai loại: văn bản pháp luật và các văn thư hành chính

- văn bản pháp luật: là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, có tính quyền lực

==> Các văn bản pháp luật mang tính chất quyền lực Nhà nước, được ban hành nhân danh Nhànước, có nội dung là ý chí của Nhà nước, bắt buộc phải thi hành đối với những đối tượng liên quan

và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước Ý chí của Nhà nước đượcthực hiện dưới hai hình thức khác nhau: Quy phạm pháp luật và mệnh lệnh cụ thể Do đó các vănbản pháp luật lại được phân chia thành các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng phápluật

- Văn bản hành chính: là VB do mọi chủ thể quản lý ban hành nhưng không có tính quyền lực NN

và tính pháp lý Nó không làm thay đổi cơ chế điều chỉnh PL mà chủ yếu có chức năng trao đổi tt

Trang 8

==> Các văn thư hành chính rất đa dạng về nội dung: Có loại chứa đựng các yêu cầu, nguyện vọngcủa người soạn thảo như đơn, công văn hành chính Có loại ghi nhận một sự kiện đã xảy ra như báocáo công tác…, có loại mang nội dung nghiệp vụ – kỹ thuật như là phiếu nhập kho, phiếu xuất kho,biên lai thu tiền…

Cách 3: Phân loại văn bản theo hình thức  

        Theo hình thức (tên loại), các văn bản thường được chia thành các văn bản quy phạm luật và cácvăn bản khác Đây là cách phân loại được nhiều người sử dụng nhất Hình thức văn bản thường là têngọi văn bản, phù hợp với nội dung bên trong của văn bản Các cơ quan, các tổ chức xã hội, cũng như

cá nhân ban hành văn bản, soạn thảo văn bản phải theo đúng hình thức văn bản Hình thức này tuỳthuộc vào nội dung của văn bản và tuỳ thuộc vào cách thức ban hành, thông qua soạn thảo văn bản.     Một tên loại văn bản không chỉ luôn gắn với một cơ quan ban hành Có thể nhiều cơ quanNhà nước cũng được ban hành một loại văn bản, vì cùng được giải quyết một vấn đề, nhưng ở cấpkhác nhau Ngược lại, có những loại chỉ được ban hành ra từ một loại cơ quan nhất định

     Theo quan điểm phố biến hiện nay, văn bản pháp luật là các văn bản làm thay đổi cơ chế điềuchỉnh pháp luật, gồm hai loại: văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật Còn cácvăn bản hành chính là các văn bản không làm thay đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật, mà chủ yếu cóchức năng trao đổi thông tin

Cách 4: Phân loại văn bản theo yêu cầu, mục đích của văn bản

Có thể phân loại thành các văn bản theo những đặc trưng sau đây: - Văn bản trao đổi - Văn bảntruyền đạt - Văn bản trình bày - Văn bản thống kê - Văn bản ban hành mệnh lệnh… - Văn bản hợpđồng dân sự, mua bán, kinh doanh… 

- Các cách phân loại khác

Ngoài ra, để phục vụ cho việc tìm ra văn bản thuận lợi cũng có thể phân loại văn bản theo một sốđặc trưng khác của chúng như: tác giả, tên gọi, thời gian hình thành văn bản, địa điểm hoặc khu vực

sử dụng, v.v… 

Cũng dựa vào tiêu chí mục tiêu, tác giả Lê Thái Ất lại phân chia ra thành: 

1 Văn bản pháp quy, tức là văn bản có chứa quy phạm pháp luật: Hiến pháp, bộ luật, luật, pháplệnh, nghị định, quyết định. 2 Văn bản hành chính, hay còn gọi là công văn hành chính: Văn thư,công điện, phiếu gửi, giấy mời, giấy triệu tập, giấy đi đường, công lệnh, giấy giới thiệu… 3 Vănbản trình bày: tờ trình, thuyết trình, báo cáo, biên bản, đơn… 4 Văn bản quảng bá: Thông báo,thông cáo, yết thị… 5 Văn bản diễn thuyết: Diễn văn, lời chào mừng, lời đáp, thông điệp. 6 Vănbản kê khai: Các loại danh sách kê khai, kế toán tài chính, kế toán vật liệu. 7 Văn bản ký kết hợpđồng: thỏa ước, hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế

Câu 2 Để từng bước nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội đạt chuẩn quốc tế Ngày 24 tháng 5 năm 2015 Đại học Quốc gia Hà Nội đã có Công văn gửi Chi nhánh điện quận Cầu Giấy - Sở Điện lực TP Hà Nội đề nghị xây dựng cho trường Trạm biến thế ĐC II, bằng nguồn kinh phí của Đại học Quốc gia

Hà Nội

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 9

-Số: 123/ĐH-ĐHQGHN Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2015

Vv: đề nghị xây dựng trạm biến thế ĐC II

 Kính gửi:

-Chi nhánh điện quận Cầu Giấy – Sở Điện lực TP Hà Nội;

Để từng bước nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Đạihọc Quốc gia Hà Nội đạt chuẩn quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội có Công văn gửi Chi nhánh điệnquận Cầu Giấy – Sở Điện lực TP Hà Nội đề nghị xây dựng cho trường Trạm biến thế ĐC II, bằngnguồn kinh phí của Đại học Quốc gia Hà Nội

Mong quý cơ quan trả lời cho biết bằng văn bản, thời hạn trả lời/

Trang 10

Yêu cầu:    

  + Yêu cầu đảm bảo tính hợp pháp

   Đây là yêu cầu đầu tiên trong quy trình soạn thảo văn bản pháp luật, và cũng là yêu cầuquan trọng trong quá trình soạn thảo các văn bản khác Trong Nhà nước pháp quyền, cách xử sự củacác chủ thể phải tuân thủ pháp luật Đặc biệt đối với các cơ quan nhà nước, các mệnh lệnh ban hànhphải thống nhất – đây là điều kiện cơ bản tạo lập nên nền pháp chế

   Khác với các loại hình văn bản khác, văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật được ban hànhphải thống nhất với các văn bản khác trong một hệ thống tạo thành một hệ thống thống nhất phápluật của quốc gia Khi soạn thảo chúng, đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến,hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật Yêu cầu này buộc nhưsoạn thảo phải xác định rõ thẩm quyền hình thức, thẩm quyền nội dung của văn bản, phân định rõranh giới cũng như mối quan hệ hữu cơ các quy định của văn bản được soạn thảo với các cơ quanquy định hiện hành của hệ thống pháp luật

  Đảm bảo tính hợp pháp của văn bản có nghĩa là trong quá trình soạn thảo, chủ thể soạn thảophải nắm vững quy định của Hiến pháp, pháp luật; văn bản soạn thảo phải phù hợp Hiến pháp, phápluật, thống nhất với văn bản cấp trên và phù hợp với văn bản các cơ quan ngang cấp, nhất quán vớivăn bản do chính mình đã ban hành Tính hợp pháp hiểu theo nghĩa chung nhất không chỉ đề cập về

nội dung, nhưng cũng đồng thời bao hàm cả thể thức và quy trình soạn thảo ban hành văn bản.     + Yêu cầu nắm vững nội dung của vấn đề cần văn bản hóa

Nội dung ở đây gồm 2 mặt Một là, nội dung văn bản được chuẩn bị ban hành phải thiết thực, đápứng được tối đa yêu cầu thực tế đòi hỏi, phù hợp với luật pháp hiện hành Hai là, nội dung này cầnphải được thể hiện trong một văn bản thích hợp Nói cách khác, phải có sự lựa chọn cần thiết trongquá trình văn bản hoá để văn bản được soạn thảo có chức năng phù hợp

 + Yêu cầu đảm bảo tính cụ thể

 Các thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được xử lý và và đảm bảo chính xác Khôngnên viết văn bản với những thông tin chung chung và lặp lại từ các văn bản khác Những văn bảnđược viết với những thông tin không chính xác hoặc thiếu cụ thể, chính là một trong những biểuhiện của tính quan liêu trong quản lý, chúng sẽ không có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động của bất

cứ cơ quan nào

  + Yêu cầu đảm bảo đúng thể thức

Thể thức được nói đến ở đây là toàn bộ các thành phần cấu tạo nên văn bản Chúng đảm bảo chovăn bản có hiệu lực pháp lý và được sử dụng thuận lợi trước mắt cũng như lâu dài trong hoạt độngquản lý của các cơ quan Cần chú ý rằng thể thức văn bản không đơn thuần là hình thức của nó Ởđây nó cũng mang tính nội dung, liên quan đến giá trị nội dung của văn bản

Một văn bản đầy đủ thể thức yêu cầu phải có các thành phần: Quốc hiệu, địa điểm, ngày tháng banhành văn bản, tên cơ quan, tên đơn vị hình thành, số và ký hiệu, tên loại và trích yếu nội dung; nộidung; chữ ký của người có thẩm quyền, con dấu hợp thức của cơ quan; địa điểm nơi văn bản đượcgửi đến (nơi nhận), v.v

Việc ban hành và soạn thảo văn bản theo thể thức nhất định là một yếu tố đầu tiên, cơ bản của kỹthuật soạn thảo Chính yêu cầu này là dấu hiệu phân biệt văn bản với các sáng tác văn học nghệthuật hay khoa học khác, mà nội dung của chúng cũng chứa đựng trong các văn bản, tức là giúp taphân biệt được ngay giữa văn bản ở nghĩa hẹp chỉ yêu cầu hoạt động cá nhân của xã hội, với vănbản ở nghĩa rộng Yêu cầu này cũng là để nhằm mục đích, người đọc, người tìm văn bản đều nhanh

và đều dễ hiểu.     

+ Yêu cầu sử dụng thuật ngữ và văn phong thích hợp

Thực tế cho thấy, nêú thuật ngữ và văn phong không được lựa chọ thích hợp cho từng loại văn bảnkhi soạn thảo thì việc truyền đạt thông tin qua văn bản sẽ thiếu chính xác Điều đó tất nhiên sẽ ảnhhưởng đến nội dung văn bản Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng lựa chọn thuật ngữ và sử dụng vănphong thích hợp trong quá trình soạn thảo văn bản sẽ có ảnh hưởng tốt đối với sự phát triển ngônngữ nước ta

+ Yêu cầu văn bản phải thích hợp với mục đích sử dụng:

Trang 11

Ví dụ, không dùng chỉ thị thay cho thông báo và ngược lại Yêu cầu này đòi hỏi phải có sự phânbiệt rõ ràng các loại văn bản trước khi lựa chọn văn bản Những yêu cầu trên thể hiện rõ nguyên tắc

về việc xây dựng và ban hành các văn bản Những yêu cầu trên đã được quy định thành nguyên tắctrong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và văn bản pháp luật nóichung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ tại Điều 5 về các nguyên tắc xâydựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Câu 2 Ngày 31/7/2009, UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số UBND về việc phê duyệt Quy hoạch kinh doanh nông sản, thực phẩm trên địa bàn Thành phố

64/2009/QĐ-Hồ Chí Minh Văn bản này có quy định: "Hoạt động kinh doanh bán buôn các nhóm hàng nông sản, thực phẩm trên địa bàn thành phố chỉ được tập trung tại ba chợ

-ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015 ;

Theo Đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp TP.Hồ Chí Minh 

QUYẾT ĐỊNH Điều 1 Bãi bỏ Quyết định số 64/2009/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch nông sản, thực

phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Điều 2 Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND Thành phố; Giám đốc các Sở; Thủ trưởng các Ban, Ngành; Chủ

tịch UBND các quận, huyện, thị xã; Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn và các tổ chức, cánhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

Trang 12

- Văn phòng Đoàn ĐBQH TPHN;

       

Câu 1  (Lý thuyết   05 điểm). Các bước soạn thảo văn bản? 

- Công việc xây dựng có thể được chia thành ba bước như sau: + Bước chuẩn bị + Bước viết dựthảo + Thông qua và công bố văn bản

Trang 13

Chuẩn bị

Đây là giai đoạn quan trọng bậc nhất quyết định chất lượng văn bản càng chuẩn bị chu đáo baonhiêu càng dễ dàng nhanh chóng bấy nhiêu cho giai đoạn viêt dự thảo Tuỳ từng trường hợp cụ thể(tức là vụ việc cụ thể ) ở bước này người soạn thảo phải tiến hành các công việc sau đây:

1 Xác định mục tiêu ban hành văn bản

Việc đầu tiên của người soạn thảo văn bản phải tự trả lời được câu hỏi: Việc đó là việc gi? Có cầnthiết phải viết thành văn ban (công văn ) hay không? Mục tiêu của văn bản luôn luôn phải duy nhất.Mỗi một văn bản một mục tiêu, tức là một việc, một vấn đề Mỗi một việc nên viết một công văn,cho dù có thể nhiều công văn gửi cho một cơ quan, cùng một ngày Thậm chí, một công việc phứctạp phải giải quyết bằng nhiều văn bản Điều cốt yếu của một công văn phải xác định rõ một mụctiêu xác định

(2) Chọn loại văn bản và hình thức văn bản

Trước khi đi vào lựa chọn quy trình soạn thảo, phải xác định hình thức của văn bản Đây là khâuquan trọng bậc nhất có tính chất quyết định đến quy trình soạn thảo văn bản Việc xác định này phải

đi từ những nguyên tắc cơ bản, xác định phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, những nguyêntắc tổ chức hoạt động của cơ quan, tổ chức

(3) Sưu tầm tài liệu, thu thập, xử lý thông tin

- Sau khi đã xác định mục tiêu và hình thức văn bản là công việc sưu tầm tài liệu, thu thập, xử lýthông tin Người soạn thảo phải thu thập tất cả những tài liệu có liên quan đến vấn đề nêu ra trongvăn bản

- Những tài liệu này gồm có: Những tài liệu nói về nguyên tắc cần phải giải quyết vấn đề trong vănbản Đó là những văn bản pháp luật quy định các hoạt động thuộc lĩnh vực cần đề cập trong vănbản Ngoài những văn bản pháp luật, người soạn thảo phải sưu tầm những tài liệu cá biệt đangnghiên cứu nói về vấn đề cần đề cập trong công văn Đó chính là những văn kiện hành chính thôngthường như báo cáo, tờ trình, biên bản, đơn từ, công văn hành chính…

(4) Trao đổi và hỏi ý kiến các bộ phận, các cơ quan có liên quan

Đây là phần công việc thường có tính chất bổ sung cho phần sưu tầm tư liệu Có thể trao đổi, hỏi ýkiến bằng điện thoại, hoặc có thể trao đổi trực tiếp có tính chất hội đàm, với đại diện bộ phận, cơquan có liên quan, nhất là cần trực tiếp gặp và trao đổi với người có nhiều hiểu biết vấn đề liên quanđến nội dung của văn bản Trong trường hợp những văn bản có quy mô, tác dụng lớn, người soạnthảo có thể đề nghị cơ quan trực thuộc có thể mở những cuộc tọa đàm, hội nghị mang tính chất khoahọc lớn

(5) Xin ý kiến lãnh đạo trực tiếp

Việc trao đổi qua lại với người lãnh đạo có thể phân thành một giai đoạn hoặc có thể từng công việcmột điều phải xin ý kiến lãnh đạo Vấn đề này hoàn toàn tùy thuộc vào kinh nghiệm và uy tínchuyên môn của người soạn thảo Nếu là công chức, viên chức mới tập sự phải trao đổi thườngxuyên để lãnh đạo kịp thời uốn nắn

Trang 14

Nói chung giai đoạn xin ý kiến lãnh đạo trực tiếp, hoắc lãnh đạo cấp cơ quan, công sở thường làgiai đoạn khó khăn nhất và phức tạp nhất trong toàn bộ các bước (quy trình soạn thảo công văn).Đây là giai đoạn quyết định việc ban hành hay không ban hành văn bản.

(6) Phần suy luận

Đây là công việc rất cần đến kiến thức, kinh nghiệm của người soạn thảo Suy luận tức là nghiềnngẫm vấn đề còn mâu thuẫn, lựa chọn phương án tối ưu trong muôn vàn phương án trước khi soạnthảo văn bản Suy luận tức là nghiền ngẫm vấn đề, tự đặt câu hỏi và tự trả lời câu hỏi đặt ra, Ngườisoạn thảo phải giải quyết tốt câu hỏi: văn bản soạn ra có thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức củamình hay không?

B Bước viết dự thảo

Giai đoạn này gồm có 4 việc như sau:

- Lập dàn ý (dàn bài văn bản) rất cần thiết đối với những văn bản quan trọng, phức tạp, đòi hỏi phảiviết dài Công việc lập dàn bài được bắt đầu bằng chia nội dung văn bản ra thành nhiều đoạn, phânđoạn, và sắp xếp chúng trước sau theo một trật tự logic thống nhất Kiểm soát dàn bài,tránh sự trùnglặp hay sót ý Đối với những văn bản đơn giản người soạn không cần lập dàn bài, nhưng những ý tứphải được hình dung sẵn trước khi bắt tay vào viết dự thảo

- Thảo văn bản

Căn cứ vào dàn bài, người soạn thảo lần lượt thể hiện văn bản bằng lời văn của mình Đến giai đoạnnày kiến thức hành văn, cú pháp rất là cần thiết Mỗi một loại văn bản thường có cách hành vănriêng

Văn bản nói chung cần dùng loại từ ngữ chính xác, thông dụng, không bóng bẩy, màu mè Côngvăn hành chính, cũng như những văn bản khác có tính hướng dẫn, cần phải thống nhất, phải có phần

mở đầu và phần kết thúc, với văn thức xã giao nghi lễ

- Kiểm soát

Sau khi đã thảo xong văn bản, việc cần thiết là kiểm soát lại, đọc lại một cách thận trọng, bổ sungthêm những chỗ thiếu sót, sửa chữa những chỗ sai lầm Trong trường hợp khi thấy dự thảo đã thànhvăn, còn nhiều khuyết tật , soạn giả nên dự thảo lại, và cần đánh số thứ tự bản sự thảo

C Bước cuối cùng là thông qua và công bố văn bản

Sau khi đã kiểm tra kỹ lưỡng bản dự thảo, người soạn thảo đem văn bản đi chế bản, in ấn, hoặcđánh máy Ở bước kỹ thuật này, soạn giả phải theo dõi một cách chặt chẽ tiến trình đánh máy, in, cóthể đọc văn bản trên máy vi tính, để sửa lỗi trực tiếp trên máy Sau khi đã có bản in, soạn giả phảikiểm tra lần cuối , tiếp tục việc sửa, in lại văn bản rồi trình lên lãnh đạo ký

Trong nhiều trường hợp văn bản phải phức tạp phải có bản thuyết trình kèm theo Quá trình soạnthảo bản thuyết trình cũng có thể được tiến hành soạn thảo như văn bản chính thức

Câu 2  Giả sử UBND Thành phố Hà Nội ban hành một công văn gửi các trường đại học, cao

đẳng về nghệ thuật trên địa bàn thành phố với nội dung là: Cấm sinh viên các trường này biểu diễn ở vũ trường, quán bar.

Trang 15

UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Theo đề nghị của của Sở Tư pháp

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Hủy bỏ Công văn của UBND thành phố Hà Nội gửi đến các trường đại học, cao đẳng về

nghệ thuật trên địa bàn thành phố với nội dung: Cấm sinh viên các trường này biểu diễn ở vũtrường, quán bar

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 13 tháng 05 năm 2022.

Điều 3.Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH - HĐND - UBND Thành phố Hà Nội; Thủ trưởng các sở,

ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, thành phố, thị xã và các tổ chức,

cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

       

 Câu 1  (Lý thuyết   05 điểm) Phân tích các yếu tố thuộc thể thức và kĩ thuật trình bày các yếu

tố đó? 

Trang 16

a Khái niệm thể thức văn bản: Thể thức văn bản là thành phần và kết cấu cần được thể hiện

trong văn bản nhằm đảm bảo hiệu lực pháp lý, đảm bảo cho văn bản có sự thống nhất, thuậntiện cho việc quản lý, sử dụng

b Các yếu tố thuộc thể thức và kĩ thuật trình bày các yếu tố thể thức văn bản: 

(1) Quốc hiệu

 Quốc hiệu hay còn gọi là tiêu ngữ được trình bày đầu tiên, ở vị trí trung tâm văn bản Quốchiệu bao gồm tên nước và chế độ chính trị của nhà nước Ngày 12/8/1976 tại công văn số1053/VP, Thường vụ Hội đồng Chính phủ quy định việc dùng tiêu ngữ mới Theo đó tiêungữ được ghi :

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 Dòng thứ nhất: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” được trình bày bằng chữ

in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng, đậm;

 Dòng thứ hai: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ từ

13 đến 14 (nếu dòng thứ nhất cỡ chữ 12, thì dòng thứ hai cỡ chữ 13; nếu dòng thứ nhất cỡchữ 13, thì dòng thứ hai cỡ chữ 14), kiểu chữ đứng, đậm; được đặt canh giữa dưới dòng thứnhất; chữ cái đầu của các cụm từ được viết hoa, giữa các cụm từ có gạch nối, có cách chữ;phía dưới có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng độ dài của dòng chữ Hai dòng chữtrên được trình bày cách nhau dòng đơn

(2) Tên cơ quan ban hành

 Cùng hàng với tiêu ngữ ở góc bên trái là tên tác giả ban hành văn bản Tên tác giả có thể là

cơ quan, tổ chức như Uỷ ban nhân dân hay cá nhân như Chủ tịch nước Nếu văn bản liêntịch thì tên tác giả sẽ bao gồm tên các cơ quan tham gia ban hành văn bản liên tịch đó

 Tên tác giả viết to, đậm nét, rõ ràng, chính xác, không viết tắt Tên tác giả có hai cách trìnhbày

+ Nếu là cơ quan có vị trí độc lập như cơ quan đứng đầu một cấp hành chính nhà nước, cơquan chủ quản một ngành thì tên tác giả được ghi một dòng độc lập Ví dụ: BỘ CÔNG AN+ Nếu cơ quan ban hành là một cơ quan trực thuộc vào một cơ quan chủ quản thì phải ghitên cơ quan chủ quản lên trên, tên cơ quan ban hành bên dưới

 Tên của cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp có thể viết tắt những cụm từ thông dụng như Ủyban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND), Việt Nam (VN),

 Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được trình bày tại ô số 2; chiếm khoảng 1/2 tranggiấy theo chiều ngang, ở phía trên, bên trái

 Tên cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp được trình bày bằng chữ in hoa, cùng cỡ chữ như cỡchữ của Quốc hiệu, kiểu chữ đứng Nếu tên cơ quan, tổ chức chủ quản dài, có thể trình bàythành nhiều dòng

 Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trình bày bằng chữ in hoa, cùng cỡ chữ như cỡ chữcủa Quốc hiệu, kiểu chữ đứng, đậm, được đặt canh giữa dưới tên cơ quan, tổ chức chủ quản;phía dưới có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài của dòng chữ vàđặt cân đối so với dòng chữ Trường hợp tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản dài có thểtrình bày thành nhiều dòng Các dòng chữ trên được trình bày cách nhau dòng đơn

(3) Số, năm ban hành, ký hiệu văn bản

Trang 17

 Số, năm ban hành, ký hiệu văn bản được trình bày ngay dưới tên tác giả, giúp cho việc đăng

ký, trích dẫn, sắp xếp, nhắc nhở công việc và kiểm tra, tìm kiếm văn bản khi cần thiết

 Số văn bản là số thứ tự ban hành của văn bản được ghi bằng số Ả rập liên tục từ số 01 bắtđầu 01 tháng giêng đến 31 tháng 12 mỗi năm Nếu số lượng văn bản cơ quan ít và tổ chứcvăn thư cơ quan tập trung thì đánh số tổng hợp chung theo một hệ thống Nếu cơ quan lớn,

số lượng văn bản nhiều hoặc tổ chức văn thư phân tán thì đánh số riêng cho từng loại vănbản và trong trường hợp này văn bản sẽ được đăng ký riêng theo từng loại

 Tiếp sau số là năm ban hành văn bản đối với văn bản quy phạm pháp luật Văn bản cá biệtkhông có yếu tố này

 Ký hiệu văn bản : ký hiệu theo quy định là chữ viết tắt của tên loại văn bản kết hợp với chữviết tắt của tên cơ quan ban hành văn bản Tên loại viết trước, tên tác giả viết sau và đượcnối với nhau bằng gạch ngang Ba yếu tố trên thường được phân cách với nhau bằng dấu /

 Tên viết tắt của cơ quan ban hành cần ngắn gọn và người ngoài cơ quan có thể dễ suy luận

ra nếu chỉ nhìn chữ viết tắt

(4) Địa danh, ngày tháng ban hành

- Địa danh, ngày tháng được trình bày dưới quốc hiệu

- Địa danh là nơi đóng trụ sở của cơ quan ban hành văn bản Nhưng địa danh cũng khác với địa chỉcủa cơ quan Địa danh không ghi chi tiết như địa chỉ cơ quan mà cần ghi phù hợp với phạm vi quản

lý của cơ quan ban hành. 

- Ngày, tháng là thời điểm vào sổ đăng ký ở văn thư ban hành văn bản Đối với ngày dưới 10 thángdưới 3 thì phải viết thêm con số 0 ở phía trước nhằm bảo đảm chính xác, chính thêm bớt, sửa chữangày

- Khi trích dẫn văn bản sẽ trích dẫn ngày này chứ không phải là ngày văn bản có hiệu lực hay ngàycông bố văn bản

- Địa danh và ngày tháng thường căn phải và in nghiêng Địa danh và ngày tháng được phân cáchbởi dấu "," và một dấu "cách" Địa danh, ngày tháng giúp cho cơ quan nhận văn bản biết được cơquan gửi đóng trụ sở ở đâu, văn bản đến nhanh hay chậm Ghi chính xác yếu tố này sẽ thuận lợi choviệc liên hệ công tác, giải quyết công việc và lập hồ sơ phục vụ tra tìm tài liệu nhanh chóng

(5).  Tên loại và trích yếu văn bản 

- Tên loại văn bản là tên gọi chính thức văn bản như: Nghị định, Nghị quyết, Quyết định v.v Têngọi văn bản nói lên tầm quan trọng của văn bản, tính chất công việc mà văn bản đề cập tạo thuận lợicho việc đăng ký, sắp xếp hồ sơ và tổ chức thực hiện Nếu xem văn bản là câu siêu dài

- Trích yếu văn bản là câu văn ngắn gọn, tóm tắt chính xác, đầy đủ nội dung chủ yếu của văn bản.Trích yếu của các văn bản có tên loại như Nghị quyết, Nghị định, được ghi phía dưới tên loại Đốivới các văn không có tên loại như công văn hành chính thì ghi dưới số và ký hiệu bắt đầu bằng chữV/v

(6).  Nội dung văn bản        

Là thành phần quan trọng nhất của văn bản Toàn bộ những sự việc, những vấn đề cần giải quyết vàquyết định được thể hiện đầy đủ trong nội dung văn bản Khi trình bày nội dung cần chú ý làm rõcác căn cứ làm cơ sở để quyết định 

Nội dung văn bản thường được chia làm 3 phần:

Trang 18

- Phần mở đầu: Nêu căn cứ, cơ sở của việc ban hành văn bản gồm có 2 nhóm căn cứ: Căn cứ pháp

lý về nội dung và căn cứ pháp lý về thẩm quyền ban hành

Căn cứ pháp lý sẽ trình bày trước căn cứ thực tế Và trong tiểu nhóm căn cứ pháp lý thì căn cứ vềthẩm quyền trình bày trước căn cứ về nội dung

- Phần thứ hai: Tuỳ theo từng loại văn bản mà nội dung được trình bày theo hai dạng: "văn điềukhoản" như Quyết định, Nghị định hay dưới dạng "văn xuôi pháp luật" như Nghị quyết, Chỉ thị,

- Phần thi hành: Bao gồm chủ thể thi hành, hiệu lực không gian, hiệu lực thời gian, xử lý văn bảnhết hiệu lực, điều khoản chuyển tiếp

(7) Nơi nhận văn bản   

Nơi nhận văn bản được ghi ở cuối góc trái văn bản Nơi nhận văn bản là tên cơ quan, tổ chức cótrách nhiệm thi hành hoặc liên quan công việc nói trong văn bản Nơi nhận là thành phần phải cótrong văn bản vì mỗi văn bản sản sinh ra đều có mục đích, có đối tượng thi hành; giúp cho văn thưgửi đúng nơi giải quyết văn bản, giúp cho cơ quan nhận thấy được trách nhiệm của mình phải làm

gì, giúp cho số lượng bản cần in, đánh máy, tiện cho vào sổ tra tìm Nơi nhận phải viết rõ ràng,chính xác

(8) Chữ ký, dấu

Ngang hàng với nơi nhận về góc bên phải là dấu và chữ ký Chữ ký là yếu tố thông tin nhằm đảmbảo cho văn bản có tính hợp pháp, có giá trị pháp lý, thể hiện trách nhiệm của người ký văn bản đốivới vấn đề mà văn bản đề cập, đồng thời chữ ký có tác dụng chống giả mạo giấy tờ Chức vụ vàthẩm quyền của người ký được ghi bằng chữ in hoa, họ tên ghi bằng chữ in thường Chữ ký giữacác lần, các văn bản phải giống nhau và không nên quá đơn giản dễ bắt chước, giả mạo Để tăng độ

an toàn có người còn sử dụng mã khoá trong chữ ký Không ký bằng mực đỏ, bút chì, mực dễ phai

Ký bao gồm nhiều loại:- Ký trực tiếp- Ký thay

Câu 2  (Bài tập tình huống  05 điểm).

HĐND thành phố H (là thành phố trực thuộc Trung ương), ra Nghị quyết dừng đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với những người không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự Nhiều tổ chức và cá nhân cho rằng Nghị quyết này vi phạm Luật Cư trú (trái luật) Trong khi đó, HĐND thành phố H lại cho rằng họ ban hành Nghị quyết này theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, do đó không thể nói rằng Nghị quyết đó trái luật Hãy đánh giá về quan điểm trên?

Giả sử Nghị quyết của HĐND thành phố H không đáp ứng đúng các yêu cầu về nội dung vănbản pháp luật thì cơ chế xử lý theo pháp luật hiện hành của Việt Nam thế nào? Soạn thảo một vănbản của cơ quan nhà nước (người) có thẩm quyền để xử lý sự việc trên

Về việc hủy bỏ Nghị quyết dừng đăng ký thường trú mới vào khu vực 

nội thành đối với những người không có nghề nghiệp hoặc có nhiều 

Trang 19

tiền án, tiền sự.

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

-Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật cư trú ngày 29 tháng 11 năm 2006

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015 ;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1 Hủy bỏ Nghị quyết dừng đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với những

người không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự

Điều 2 Nghị quyết này có hiệu lực sau 07 ngày, kể từ ngày HĐND Tp.H thông qua.

Trang 20

-   Nêu vai trò của ngôn ngữ trong chuyển tải thông tin: + Giúp thông tin truyền tải một

cách nhanh chóng, hiệu quả.+ Giúp thông tin truyền tải đi ít gặp sự sai lệch+ Truyền đạt thông tinmột cách chính xác

-   Cách hành văn trong văn bản: 

Xét riêng về phương diện kỹ thuật diễn tả, văn bản phải viểt bằng chữ, không thể nói bằng lời được

Sự kiên viết bằng chữ đặt ra vấn đề văn cách văn bản, tức là lối diễn tả ý tưởng bằng văn tự trongcác văn kiện

Mỗi loại văn có những đặc tính phù hợp dành cho mỗi loại văn bản Loại văn mô tả chú trọng đếnmàu sắc, hình nét và trạng thái, do đó câu văn dùng nhiều tính từ và trạng từ, lối văn thường bóngbảy, màu mè. 

+ Loại văn tường thuật chú trọng đến hành động, sự kiện và biến chuyển Do đó câu văn dùng nhiềuđộng từ và lời văn thường linh động, lưu loát. 

+ Loại văn Nghị luận chú trọng đến lý lẽ phải trái, sự cân nhắc hơn thiệt, do đó câu văn thường cónhững liên từ và lời văn cần đanh thép, sắc bén, rõ ràng và có lập luận. 

+ Loại văn thư tín chú trọng đến tâm tình, do đó câu văn thường có những tiếng xưng hô và lời văncần chân thực, thâm mật, thiết tha

Văn chương văn bản một khi đã xếp thành một loại riêng, tất nhiên cũng cần có những đặc tính phùhợp với bản chất văn chương văn bản Vì văn bản có rất nhiều loại nên cách thành văn cũng đượcchia theo nhiều lối văn, phụ thuộc vào mục tiêu khác nhau của văn bản, do đó câu văn và lời văn cónhững đặc tính khác nhau

-   Những yêu cầu đảm bảo tính nghiêm túc của cách hành văn trong văn bản pháp luật: 

+  Khách quan:   

Tính khách quan của nội dung hay sự việc được nói đến và lối trình bày trực tiếp, không thiên vị.Các văn bản hình thành trong bộ máy lãnh đạo và quản lý là tiếng nói của một cơ quan, một đơn vị,một tổ chức, v.v…Đó không phải là tiến nói riêng của một cá nhân nào, dù rằng các văn bản có thểđược giao cho một cá nhân hay một số cá nhân soạn thảo Trên thực tế, các cá nhân chỉ là ngườiphát ngôn thay cơ quan, tổ chức

Họ không được tự ý đưa quan điểm riêng của mình vào nội dung văn bản, mà chỉ được nhân danh

cơ quan trình bày quan điểm của người lãnh đạo và ý đồ của một tổ chức Bởi thế, các từ ngữ cótính chất trình bày tình cảm, quan điểm cá nhân là không đặc trưng cho văn phong hành chính Đặctính khách quan, vô tư này còn được gọi là đặc tính vô cá tính nghĩa là không có tính chất cá nhân,bất luận nhân vật đó là ai

Về kỹ thuật diễn tả, muốn cho lời văn có đặc tính khách, vô tư, câu văn phải tránh dùng ngôi thứnhất, ngôi thứ hai ở những tiếng xưng hô, hạn chế tối đa việc sử dụng những từ ngữ diễn tả tìnhcảm

+ Trang trọng:         

Văn bản, nhất là công văn, là tiếng nói của chính quyền, hoặc cơ quan này với cơ quan khác, hoặc

cơ quan nói với cá nhân Lời nói trong văn bản là lời nói của chính quyền, một pháp nhân có thẩmquyền sử dụng chủ quyền của quốc gia Lời nói trong công văn là lời nói có hiệu lực thi hành đốivới nơi nhận Do đó, văn bản cần có tính trang trọng, uy nghi

Trang 21

Lời văn trang trọng có tác dụng kính trọng đối với nơi nhận Việc gây thiện cảm đối với nơi nhậncũng là yếu tố cần thiết cho việc thi hành văn bản Vì vậy, không chỉ văn bản của Nhà nước màngay trong cả văn bản của tập thể, tổ chức xã hội cũng cần phải viết một cách trang trọng, để làmtăng uy tín của cá nhân cũng như tập thể, tổ chức xã hội của nơi ban hành

Về kỹ thuật nói diễn tả, muốn cho lời văn có tính trang trọng, uy nghi, câu văn nên ít sử dụng từngữ diễn tả một cách khách sáo, khoa trương, màu mè những tính từ hay trạng từ gợi ý gợi hình một

cách hoa mỹ, bay bướm chỉ thích hợp trong loại văn mô tả.    

+ Lễ độ, lịch sự:   

Hành văn phải khách quan, vô tư, trang trọng, uy nghi, nhưng phải tỏ ra lễ độ, lịch sự Cơ quancông quyền là pháp nhân, không có tình cảm, không biết sợ sệt đồng thời cũng không ra oai Côngvăn là tiếng nói của cơ quan Nhà nước không được dùng lời lẽ tỏ thái độ sợ hãi, khúm núm đối vớicấp trên hoặc lời lẽ hách dịch đối với cấp dưới, nhất là đối với nhân dân

Về kỹ thuật diễn tả, muốn cho lời văn có đặc tính lễ độ Lịch sự câu văn nên tránh tất cả các từ ngữcục cằn, thô lỗ, những ý đồ trắng trợn gây cảm xúc mãnh liệt, bất ngờ cho người đọc,

Về trường hợp sử dụng, đặc tính lễ độ, lịch sự được duy trì ở tất cả các văn kiện hành chính, kể cảnhững văn bản ban hành mệnh lệnh cho cấp dưới thi hành và quyết định khiển trách một nhân viênphạm lỗi Tuỳ theo đẳng cấp của cơ quan gửi và cơ quan nhận công văn, lời lẽ được diễn tả ở tầmmức lễ độ, lịch sự khác nhau

+ Rõ ràng, ngắn gọn và đầy đủ: 

Văn chương phải được viết rõ ràng gọn ghẽ và đầy đủ Đặc tính này nhằm mục đích để giúp chomọi người đều có thể hiểu bản văn một cách dễ dàng, chính xác, đúng như ý định muốn phổ biếncủa người soạn thảo

Công văn soạn ra là để cho nhiều người đọc và cần được hiểu đồng đều giống nhau: một chỉ thị củaTrung ương phổ biến cho các địa phương, một thông cáo cho quần chúng Ngay như một tờ trìnhcủa cấp dưới gửi lên cấp trên cũng được nhiều người đọc, hơn nữa tờ trình còn lưu lại cho nhiềungười khác, không phải chỉ những giới chức nhận tờ trình, sưu tầm, khảo cứu hay thanh tra, kiểmsoát Chính vì vậy, văn chương cần phải rõ ràng, gọn ghẽ và đầy đủ

Về kỹ thuật diễn tả, lời văn phải được rõ ràng, gọn ghẽ và đầy đủ, câu văn cần được viết cho cómạch lạc, diễn tả ý tưởng dứt khoát và sử dụng từ ngữ một cách chính xác

Về trường hợp sử dụng, đặc tính rõ ràng, gọn ghẽ và đầy đủ cần duy trì ở tất cả các bản văn hànhchính, nhất là những bản văn lập pháp, lập quy, những bản văn ban hành mệnh lệnh và những bảnvăn trình bày nhận xét, đề nghị, dự án, v.v

Câu 2  (Bài tập tình huống  05 điểm).

Năm 2008, UBND tỉnh N ban hành quy định về quản lý hoạt động lái xe ôtô chở khách

từ 10 chỗ ngồi trở lên trên địa bàn tỉnh kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 11/3/2008 Văn bản này yêu cầu tiêu chuẩn đối với người lái xe ôtô vận tải hành khách phải

“có thâm niên lái xe (tính từ ngày được cấp giấy phép lái xe) từ ba năm trở lên” Đây là quy định không có trong Luật Giao thông đường bộ 2001 và Nghị định 110/2006/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ôtô.

Theo anh (chị), quyết định của UBND tỉnh N có đáp ứng đúng các yêu cầu về nội dung vănbản pháp luật không, giải thích tại sao? Nếu không đúng thì phương thức xử lý đối với văn bản nàytheo quy định của pháp luật như thế nào?

Hãy soạn thảo một văn bản của cơ quan nhà nước (người) có thẩm quyền đề xử lý vụ việctrên. 

Trang 22

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH N

- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:     /2022/QĐ-UBND …, ngày tháng năm 2022

QUYẾT ĐỊNH BÃI BỎ QUYẾT ĐỊNH SỐ 07/2008/QĐ-UBND VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LÁI XE Ô TÔ

CHỞ KHÁCH TỪ 10 CHỖ NGỒI TRỞ LÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH N

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị định 110/2006/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô;

Theo Đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh N tại Tờ trình…

QUYẾT ĐỊNH Điều 1 Bãi bỏ Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND về quản lý hoạt động lái xe ô tô chở khách từ 10

chỗ ngồi trở lên trên địa bàn tỉnh N;

Điều 2 Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký;

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND Thành phố; Giám đốc các Sở; Thủ trưởng các Ban, Ngành; Chủ

tịch UBND các quận, huyện, thị xã; Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn và các tổ chức, cánhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

Trang 23

Mạch lạc là sự xếp đặt, ấn định vị trí từng yếu tố trong câu văn nhằm mục đích cho ý tưởng đượcdiễn tả một cách rõ ràng, gọn ghẽ và đầy đủ Liên hệ giữa những yếu tố cấu tạo nên câu văn Nếusắp đặt những yếu tố cấu tạo nên câu văn đúng vào vị trí thích ứng, mạch lạc, được nhận định mộtcách dễ dàng, mối liên hệ giữa những ý chính với những ý phụ được phân định rõ ràng, cậu vẫn sẽ

dễ hiểu và hiểu một cách chính xác Nếu sắp đặt các yếu tố trong câu văn một cách vụng về, khôngđúng cách, đúng mạch, không nhận định được một cách dễ dàng, mối liên hệ giữa ý chỉnh vớinhững ý phụ thì câu văn sẽ rườm rà, khó hiểu,

Trong trường hợp cầu ngắn hay câu trung bình, viết cho có mạch lạc là việc dễ dàng Trong nhiềutrường hợp câu dài, diễn tả ý tưởng phức tạp, viết cho có mạch lạc là việc đòi hỏi có nhiều chủ ý, cốgắng và kiên nhẫn,

Muốn viết được câu dài một cách mạch lạc người soạn thảo văn bản cần phải hội đủ hai điều kiện:

- Về phương diện nội dung, người soạn thảo phải có ý tưởng rõ rệt, dứt khoát Muốn có ýtưởng rõ rệt, dứt khoát, người soạn thảo phải năm vững và giải quyết vấn đề hành chính một cáchtrọn vẹn và rành mạch

- Về phương diện kỹ thuật diễn tả, người soạn thảo phải phân tích câu văn dài, nhận định ýchính, ý phụ quan trọng cần nhấn mạnh, ý phụ kém quan trọng không cần nhấn mạnh ý nào đangdiễn trước ý nào đáng diễn sau

Ví dụ: Theo nghị định số của Chính phủ, các công chức, viên chức khi ngoài 60 tuổi đã vềhưu vẫn có thể được trưng dụng từng năm một, với thời gian không hạn chế theo đề nghị của cơquan sử dụng, cần cử vào nhu cầu công tác, khả năng sức khoẻ và sự đồng ý của đương sự

- Về phương diện nội dung, người soạn thảo phải hiểu rõ vấn đề lưu dụng, những điều kiện

và thủ tục lưu dụng được pháp luật quy định Nếu không nắm vững vấn để lưu dụng người soạnthảo sẽ không thể nào viết được câu dài như trên

b, Dùng mỹ từ pháp: 

Mỹ từ pháp là một trong những kỹ thuật hành văn, gồm những cách thức làm cho câu văn trở nênđẹp đẽ Văn bản không cần đẹp đẽ (hiểu theo nghĩa hẹp, đẹp đẽ là chải chuốt, bay bướm hay gọtgiũa, xúc tích) mà chỉ cần rõ ràng, chính xác, dễ hiểu Như vậy, tất cả những mỹ từ có công dụnglàm cho câu văn màu mè, bóng bẩy, khoa trương hay điêu luyện, tinh vi, cầu kỳ, uyên bác đềukhông được dùng trong văn bản Những mỹ từ pháp này gồm có: điển cố, tỷ lệ, âm tỷ, hoán dụ, tá

âm, miêu tả, hội ý, hợp loại, ngoa ngữ, thậm xưng, ngụ ngữ, VV

Còn lại những mỹ từ pháp có thể được dùng trong văn chương hành chính như sau: đối xứng, điệpngữ và đảo ngữ Đổi xứng là cách xếp đặt những từ trong câu văn chia làm hai vế cân xứng nhau,công dụng của nó là làm cho cậu vẫn mang tính nhịp nhàng, dễ đọc Điều kiện để hai vế đối nhau làđối thanh ở mỗi nhịp đổi ý và ở cùng một loại tử Văn chương hành chỉnh thời xưa chịu ảnh hưởngcủa Hán văn hay dùng mỹ từ pháp đối xứng Ngày nay, thói quen này vẫn còn nhưng ngày càng ítđược sử dụng Ví dụ: chính quyền trong sạch, quân đội oai hùng, nhân dân sẽ an cư lạc nghiệp

+ Dấu phẩy(,):      0,35 điểm;

Trang 24

Dấu phẩy (,) thường có ba công dụng như sau:

- Chia nhiều từ hay nhiều mệnh đề cùng thuộc về một loại, cùng đóng một vai trò giốngnhau

- Ngăn cách thành phần phụ đặt trước chủ từ và động từ, khi cầu văn dùng mỹ từ pháp đảongữ

- Đóng khung những chữ hay mệnh đề có mục đích giải nghĩa hay nhấn mạnh cần được lưu

ý

+ Dấu chấm phẩy(;):    

Dấu chấm phẩy (;) có công dụng của một dấu phẩy nhiều hơn công dụng của một dấu chấm,dùng để chia một câu đài thành nhiều phần câu, mỗi phần cậu đã diễn hết một ý nhưng những ý này

có liên quan đến nhau Ví dụ: Về phương diện tổ chức, cơ quan công quyền giống như một tổ chức

tư nhân, không có điểm gì khác biệt; về phương diện điều hành, cơ quan công quyền khác rất nhiềumột tổ chức tư nhân

Trong văn bản cũng có trường hợp dùng dấu chấm phẩy xuống hàng vừa có tác dụng ngăncách các phần trong câu, đồng thời làm tăng tính | trang trọng của vấn đề Cách thức này thườngđược dùng trong phân thượng đế của văn bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản hành chính

+ Dấu chấm (.):    0,35 điểm;

Dấu chấm (.) dùng để chấm dứt một câu, cắt đoạn một ý Dấu chấm dùng để phân cách giữacác câu, không được dùng để phân cách các thành phần trong câu Phải cân nhắc trên cơ sở nộidung ý nghĩa, mục đích diễn đạt và kết cấu ngữ pháp của câu để quyết định việc dùng dấu chấm

Có hai cơ sở lấy làm căn cứ để xét xem một dấu chấm đã đặt đúng vị trí hay sai vị trí:

- Nội dung thông báo trong câu văn đã trọn vẹn một ý Khi chưa chọn vẹn thì chưa đặt dấuchấm;

- Tương ứng với nội dung thông báo trên, câu đã được viết với đầy đủ thành phần,

+ Dấu chấm xuống hàng (.):     0,35 điểm;

Dấu chấm xuống hàng Dấu chấm xuống hàng có kỹ thuật viết như dấu chấm, nhưng thưởngdùng để cách đoạn mạch văn Khi đã diễn tả xong một ý lớn, chuyển sang ý lớn khác nên dùng dấuchấm xuống hàng, làm cho văn bản thêm tính rõ ràng, mạch lạc Ngược lại, trong văn bản tránh hếtsức việc dùng dấu chấm xuống hàng bừa bãi, để làm bản văn rời rạc, lỏng lẻo,

+ Dấu hai chấm (:):       0,35 điểm;

Dấu hai chấm (:) dùng để báo hiệu lời trích dẫn hoặc cậu vẫn có tính liệt kê trong nội dungdiễn đạt

Trong nhiều trường hợp dấu hai chấm được đặt ở dòng trên, những lời dẫn tiếp theo đặt ởdòng dưới và viết hoa chữ cái của tử đầu tiên

Như vậy là không có nghĩa dấu hại chấm có tác dụng đánh dấu chấm câu đứt đoạn Bởi vì,nội dung của thông báo chỉ được trọn vẹn khi hợp ý cả bộ phận trước và sau dấu hai chấm

+ Dấu gạch ngang (-):       0,35 điểm;

Dấu gạch ngang (-) Trong văn đối thoại, dấu gạch ngang ở đầu dòng dùng để đổi ngôi nói.Trong văn chương hành chính, dấu gạch ngang ở đầu dòng có công dụng chỉ rõ từng chi tiết được

kể lể trong một đoạn văn

+ Dấu ngoặc đơn ( ):       0,45 điểm;

Dấu ngoặc đơn “()” dùng để đóng khung một sự giải thích hay ghi chú

+ Dấu ngoặc kép (" "):       0,45 điểm

Trang 25

Dấu ngoặc kép (") - Trong văn chương tổng quát, dấu ngoặc kép thường dùng để đóngkhung một lời nói hay một đoạn trích nguyên văn của một tác phẩm Trong văn bản hành chính,ngoài công dụng nói trên, dấu ngoặc kép còn được dùng để đóng khung lời chỉ thích hay dẫn giải.

Ngoài ra, trong văn chương hành chính những dấu chấm câu sau đây rất ít được sử dụng vì

lý do không thích hợp với đặc tính những vấn bản pháp luật:

Dấu ba chấm ( ) dùng để diễn tả ý tưởng bỏ lửng không nói hết. 

Dấu chấm hỏi (?) dùng để chỉ một câu nghi vấn

Dấu chấm than (!) dùng để chỉ một cầu than, hay chấm sau một tiếng than

Sau hết về cú pháp trong văn chương hành chính người soạn thảo công văn còn cần lưu ýnhững trường hợp viết tắt, Những chữ viết tắt bao giờ cũng viết bằng chữ viết hoa và thường là mẫu

tự đầu tiên của mỗi chữ Có hai trường hợp viết tắt như sau:

- Trường hợp viết tắt thông dụng, có tính cách không bắt buộc nhằm mục đích cho cậu vẫnđược viết ít chữ, trong khoảng giấy nhỏ hẹp, làm cho văn bản đỡ dài dòng, rườm rà khi hiểu

- Trường hợp viết tắt đã trở thành thông lệ, có tính cách bắt buộc cũng nhằm mục đích chovăn bản gọn gàng, ít chữ

Câu 2  (Bài tập tình huống  05 điểm). Ông Henrique Calisto (quốc tịch Bồ Đào Nha) là huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá Việt Nam

Căn cứ Điều 88 và Điều 91 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008;

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Cho nhập quốc tịch Việt Nam đối với: Ông Henrique Calisto quốc tịch Bồ Đào Nha

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.

Điều 3 Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Tư

pháp và cá nhân có tên tại Điều 1 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

Trang 26

 Trả lời

- Khái niệm chính sách

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách: Chính sách là những chủ trương đường lối thểhiện bằng những việc cần phải làm ngay để giải quyết những vấn đề mà chính quyền nhận thứcđược Chính sách có thể là những chủ trương đường lối rất lớn phải được thực hiện trong một thờigian rất dài hàng thiên niên kỷ, và chính sách này quan hệ đến đời sống của rất nhiều tầng lớp nhândân, nhưng cũng có những chính sách rất là ngắn hạn chỉ quan hệ đến một số ít người 

+ Theo Nghị định 36/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành vănbản quy phạm pháp luật, chính sách được hiểu là là “định hướng, giải pháp của Nhà nước để giảiquyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định” (khoản 1 Điều 2). 

+ Dưới góc độ kinh tế, có thể hình dung chính sách là tập hợp những biện pháp phân biệt đối xửkhác nhau với các nhóm xã hội khác nhau để điều chỉnh hành vi của các nhóm người trong xã hội,nhằm mục đích định hướng động cơ hoạt động của họ vào việc thực hiện mục tiêu phát triển chungcủa toàn xã hội, đảm bảo cho xã hội trở nên công bằng và phát triển

+ Theo các nhà xã hội học, chính sách được hiểu là một dạng thiết chế xã hội, hoặc nói đúng hơn,trong chính sách chứa đựng các thiết chế xã hội khác nhau. 

         - Vai trò của phân tích chính sách:      1,5 điểm;

Phân tích CS có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản Xét theo những đặc

điểm của thiết chế, trong các chính sách luôn tồn tại 2 dạng thiết chế cơ bản sau:

• Thiết chế công bố là những thiết chế được thể hiện rõ ràng trong lời văn của văn bản chính sách,gây những tác động trực tiếp nên đời sống của xã hội

• Thiết chế ngầm định là những thiết chế không được viết rõ ràng trong lời văn của chính sách, vàgây tác động gián tiếp trong xã hội

Chính việc tồn tại 2 dạng thiết chế trong các văn bản chính sách đã làm cho việc phân tích chínhsách có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình soạn thảo văn bản Khi công bố một chính sách,bao giờ cũng xuất hiện trong xã hội hai nhóm người: một nhóm được hưởng lợi nhờ chính sách; cònmột nhóm lại bị thiệt hại do chính sách Chẳng hạn, với chính sách “nhập linh kiện các thiết bị kỹthuật được miễn thuế”, thì nhóm hưởng lợi là nhà đầu tư xây dựng xưởng lắp ráp thiết bị và ngườilao động trong lĩnh vực công nghiệp lắp ráp; còn người bị thiệt là các nhà sản xuất linh kiện trongnước và người lao động trong các xí nghiệp chế tạo linh kiện Chủ trương “làm lợi” cho ai và “làmthiệt hại” đến ai là công việc của cơ quan quyết định chính sách

Với tác động lớn như vậy, việc quyết định chính sách phải do các chủ thể có thẩm quyền và nănglực thực hiện một cách chuẩn xác Quyết định chính sách thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhànước, nhưng cơ quan chuẩn bị cho quyết định chính sách bao gồm cả các cơ quan nghiên cứu, gồmnhững chuyên gia tham mưu, có chức năng nghiên cứu, điều tra để nắm được nhu cầu chính sáchcủa toàn xã hội Họ phải là người nắm được một cách tinh tế nhất, nhạy cảm nhất, ai là người đượchưởng lợi, ai là người bị thiệt hại ngay khi một chính sách được soạn thảo

         - Nội dung phân tích chính sách:      3,0 điểm

Phân tích chính sách là cơ sở hoạch định khung chính sách Phân tích chính sách là một yêu cầu

khách quan do chính yêu cầu quản lý Nhà nước hiệu quả, do chính yêu cầu phát triển của xã hội màtrong đó các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp, trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật của

Trang 27

công dân ngày càng cao Việc nghiên cứu khảo sát để hình thành chính sách thường trải qua cácbước sau đây:

       + Nhận biết vấn đề:      0,5 điểm;

Khi một vấn đề xuất hiện trong thực tiễn, sẽ được phản ánh tới cơ quan lập pháp hoặc lập quy Các

cơ quan này cần nghiên cứu bóc tách mức độ nghiêm trọng của vấn đề trong trường hợp hoặc cáctrường hợp cụ thể, để trả lời câu hỏi:

• Vấn đề có nghiêm trọng tới mức phổ biến và cần được giải quyết bằng biện pháp quản lý của nhànước hay là không cần tới biện pháp quản lý của nhà nước

• Nếu cần thiết đến các biện pháp quản lý của nhà nước, thì người phân tích chính sách phải xácđịnh đâu là những hạn chế về mặt chính sách hoặc pháp luật Những vấn đề này đòi hỏi phải lập racác liệt kê, tìm ra nguyên nhân của khiếu nại hoặc vấn đề được nêu

Tại bước này người phân tích chính sách người phân tích chính sách phải có cái nhìn không thiên

vị, nên là chuyên gia về lĩnh vực xã hội học, như chính trị học, kết hợp với nhà khoa học chuyênngành và đa ngành v.v , để tránh méo mó về nghề nghiệp

Nếu đã xác định có những hạn chế, ách tắc cần tháo gỡ, thì câu hỏi tiếp theo phải là: Có những cáchnào có thể khắc phục những hạn chế này và bằng các biện pháp nào? Biện pháp tự nguyện, cộngđồng, đạo đức, dân chủ cơ sở, qua các tổ chức xã hội, bằng biện pháp hành chính hoặc là nhữngbiện pháp khả dĩ khác không tốn kém Sau khi đã cân nhắc tất cả các biện pháp này thì mới đề cậptới biện pháp pháp lý

       + Xác định phương án giải quyết vấn đề:       0,5 điểm;

Tiếp theo giai đoạn nhận biết vấn đề nói trên là bước lựa chọn phương án giải quyết vấn đề Côngviệc đầu tiên cần làm ở giai đoạn này là định tính các quan hệ xã hội Cần xem xét về tính chất, bảnchất của các quan hệ xã hội để giải đáp được câu hỏi: Nhà nước có cần ban hành văn bản quy phạmpháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan hoặc mới phát sinh hay là không

       + Xác định khung chính sách pháp luật:      1,0 điểm;

Trong trường hợp không có biện pháp nào ngoài biện pháp lập pháp, lập quy, thì cơ quan đề xuấtphải tiến hành nghiên cứu các chính sách pháp luật cụ thể để giải quyết vấn đề này bằng đặt ra quyphạm thích hợp để điều chỉnh Người nghiên cứu phân tích chính sách phải nghiên cứu những khíacạnh thực tiễn sau đây:

• Thực tiễn quản lý bao gồm: chủ thể, đối tượng, phương thức và phạm vi quản lý, hiệu quả quản lý,kinh nghiệm quản lý trong và ngoài nước và cả kinh nghiệm quản lý trong lịch sử của nước nhà,

• Thực tiễn lập pháp gồm hình thức và biện pháp tác động về mặt pháp lý của Nhà nước về vấn đềcần tháo gỡ; đã có quy phạm nào được quy định nhằm giải quyết vấn đề này Mức độ thoả đáng,toàn diện, phù hợp với điều kiện hiện hành của quy phạm pháp luật đang hiện hành

Kết quả của phân tích chính sách tại công đoạn này là lý giải và dự kiến các giải pháp pháp luật cóthể lựa chọn để định hướng nội dung của dự thảo văn bản như biện pháp điều chỉnh, mức độ điềuchỉnh, các biện pháp và công cụ quản lý hỗ trợ khác

       + Xác định các cách thức, các biện pháp tác động của cơ quan nhà nước đối với các đối tượng cần phải điều chỉnh của văn bản:       1,0 điểm;

Trang 28

Vấn đề này đòi hỏi phân tích cụ thể các loại quyền hạn trong từng quan hệ xã hội nhằm xác địnhthái độ của cơ quan Nhà nước Có những loại quan hệ như quan hệ kinh tế, dân sự, thương mại, hợpđồng…, thì mức độ điều chỉnh, tác động can thiệp của Nhà nước phải cân nhắc kỹ để thích hợp vềmức độ, về nguyên tắc nhóm quan hệ này phải phụ thuộc vào nguyên tắc tự thỏa thuận của các bêntham gia Có những quan hệ hoặc nghĩa vụ mà tuỳ theo mức độ vi phạm cần kèm chế tài xử lý hình

sự, xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật; có những loại quan hệ là quyền hạn và trách nhiệm đốivới chủ thể quản lý, chủ thể thực hiện công quyền, loại khác lại là quyền và nghĩa vụ hoặc quyền vàlợi ích hợp pháp, v.v…

Trong giai đoạn này cũng cần phân tích, đánh giá tác động xã hội và những điều kiện tài chính, tổchức, nhân sự và những điều kiện cần thiết khác về kỹ thuật pháp lý để bảo đảm thi hành dự án vănbản quy phạm pháp luật

Câu 2  (Bài tập tình huống  05 điểm).Ngày 20/7/2015 tại Hội trường lớn Đại học Quốc gia Hà Nội mang tên cố GS Nguyễn Văn Đạo

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

       KHOA LUẬT       Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

      

Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2015

BIÊN BẢN HỘI NGHỊ  CÁN BỘ, CÔNG CHỨC,VIÊN CHỨC 

Năm học 2014-2015 Hội nghị cán bộ viên chức khoa Luật được tiến hành vào hồi 8 giờ 30 phút ngày

20/07/2015 tại Hội trường Nguyễn Văn Đạo -  Đại học Quốc gia Hà Nội

3 Đại biểu dự hội nghị

- Ông : Nguyễn Văn C - Giám đốc ĐHQGHN

-30 đại biểu là cán bộ, công chức, viên chức nhà trường. 

- Đại biểu có mặt : 30, vắng: 0 đại biểu

II/ Nội dung hội nghị

1.Bà Nguyễn Thị Quế Anh – Chủ nhiệm khoa Luật ĐHQGHN  báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ 

công tác năm học 2014 – 2015; phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp  thực hiện nhiệm vụ công tác năm học 2015 – 2016 và những nội dung liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ công chức cơ quan

Trang 29

a Nguyên tắc

- Khi phân tích chính sách định khung chính sách pháp lý cần nắm vững quan điểm thực tiễn, kháchquan, toàn diện, lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển

- Các phương án lựa chọn phải xuất phát từ thực tiễn sống của các quan hệ xã hội, nền tảng đạo đức

và truyền thống, nền tảng văn hoá ứng xử thực tại; phải từ thực tiễn mà định hướng

nhu cầu điều chỉnh pháp lý, không nên lạm dụng. 

- Người phân tích chính sách phải biết xem xét nhiều biểu hiện đa dạng để phát hiện bản chất củavấn đề và lựa chọn phương án phù hợp, tránh nôn nóng, áp đặt ý muốn chủ quan

- Nhà phân tích chính sách phải đặt vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ phổ biến, biện chứng vớicác vấn đề, các hiện tượng khác có liên quan, phân tích một vấn đề cụ thể trong các điều kiện lịch

sử cụ thể, các mối quan hệ cụ thể, tránh quan liêu, hời hợt, một chiều, phiến diện

- Trong khi hoạch định chính sách pháp lý, cần phải biết nhận ra và đánh giá đúng mức cái mới, cáitích cực trong quá trình phôi thai để bằng các quy định pháp lý mà ủng hộ, dự liệu những điều kiện,quy phạm tạo điều kiện cho cái mới phát triển

b Kỹ năng phân tích chính sách:     4,0 điểm

+ Thu thập thông tin:      0,5 điểm;

Để thu thập được thông tin, tư liệu phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu, hoạch định cơ sở pháp lý theocác nội dung nêu ở phần trên, cần sử dụng các cách thức, biện pháp cơ bản sau đây:

+ Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật Mục tiêu trực tiếp của rà soát, hệ thống hoá làphát hiện nhu cầu sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các quy định, cácvăn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, mâu thuẫn chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tìnhhình thực tiễn. 

+ Rà soát hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật chính là để tạo sự đổi mới về chất của văn bảntrên nền thống nhất hài hòa của hệ thống pháp luật hiện hành mà không phải là sao

chép các quy định hiện hành. 

+ Nghiên cứu, khảo sát thực tiễn:  0,5 điểm;

Việc tổ chức nghiên cứu khảo sát thực tiễn quản lý, thực trạng kinh tế xã hội có ý nghĩa quyết địnhcho việc hình thành cơ sở thực tiễn của văn bản. 

Nghiên cứu khảo sát thực tiễn quản lý Nhà nước là tìm hiểu khía cạnh chủ quan trong hoạt độngquản lý: chủ thể quản lý (ai đang quản lý, quản lý bằng phương thức biện pháp nào, hiệu quả củaquản lý Nhà nước có mặt nào được, mặt nào chưa được)

Khảo sát thực trạng kinh tế - xã hội sẽ cho chúng ta các thông tin có tính khách quan từ thực tiễnđời sống sinh hoạt cộng đồng

+ Xây dựng hồ sơ, sưu tầm các văn bản pháp luật có liên quan: 0,5 điểm;

Tiêu chí để sưu tầm có thể theo:

• Lĩnh vực mà văn bản mới sẽ điều chỉnh

• Cơ quan ban hành (Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố)

• Thời gian ban hành văn bản

Thông thường để sưu tầm, tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến việcchuẩn bị soạn thảo một dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định thì phạm vi văn bản cần sưu tầm thường

là luật, pháp lệnh, nghị định văn bản của cấp Bộ hiện hành Tiêu chí để sưu tầm và tập hợp văn bảnthường là căn cứ vào cơ quan ban hành kết hợp với thời gian ban hành Với tiêu chí lĩnh vực mà vănbản mới sẽ điều chỉnh thì, nên căn cứ vào vấn đề mà dự thảo mới sẽ điều chỉnh để thu thập

+ Nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng:      0,75 điểm;

Nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng thường được thể hiện trong các Nghị quyết Có nhiềuvấn đề cơ bản, quan trọng cần có sự chỉ đạo định hướng chung của cơ quan Đảng làm cơ sở choviệc hoạch định chính sách pháp luật Phương thức, biện pháp nghiên cứu chủ trương chính sáchcủa Đảng thường là sưu tầm, nghiên cứu các quan điểm, chủ trương được nêu trong các văn kiện,bài nói của lãnh tụ, nêu vấn đề xin ý kiến chỉ đạo định hướng trực tiếp về một hay một số nội dung

cơ bản, quan trọng của chính sách pháp luật Đảng uỷ địa phương v.v…

+ Xây dựng các đề tài nghiên cứu khung chính sách:        0,5 điểm;

Trang 30

Thông thường, các Tỉnh/Thành phố và các Bộ/Ngành quản lý ngành, lĩnh vực trong tình hình hiệnnay, đã và đang có những đề án về đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Các đề án này thôngthường được triển khai theo hướng nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá toàndiện thực trạng tổ chức và hoạt động quản lý của Bộ, ngành; căn cứ vào chủ trương cải cách bộ máyNhà nước theo yêu cầu đổi mới để đề ra chủ trương đúng đắn, để xây dựng phát triển các ngành,khắc phục những tồn tại trong quá trình xây dựng, kiện toàn tổ chức, trong cơ chế quản lý vận hành

và trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ Trên cơ sở đó phát hiện nhu cầu xây dựng văn bản quy phạmpháp luật

Định hướng về nội dung của các đề án này thường có các phần sau đây: Thực trạng tổ chức và hoạtđộng của Bộ, ngành trong đó nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành, phát triển, đánh giá những

ưu điểm, khuyết điểm trong quá trình tổ chức hoạt động và quản lý Nhà nước

+ Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài:       0,5 điểm;

Để tổ chức nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm nước ngoài đạt kết quả tốt, các nhà hoạch định chínhsách pháp luật cần căn cứ vào khung chính sách pháp luật đã được phân tích để có cách tiếp cậntheo phương pháp so sánh pháp luật Tiêu chí để lựa chọn nơi khảo sát có thể là:

• Các nước láng giềng trong khu vực, chú trọng việc nghiên cứu khảo sát kinh nghiệm của các nướcASEAN vì mục đích hội nhập

• Các nước có những thành công, những kinh nghiệm trong điều chỉnh pháp luật về những vấn đềtương ứng thuộc lĩnh vực mà văn bản mới sẽ quy định

• Các nước có những thành tựu hàng đầu, kinh nghiệm tiên tiến về quản lý Nhà nước đối với vấn đềtương ứng mà qua đó chúng ta có thể học hỏi để đi tắt, đón đầu trong định hướng và quản lý cácvấn đề kinh tế - dân sự

Phương thức nghiên cứu, khảo sát: cử các đoàn (gồm các thành viên ban soạn thảo) đến các nước cókinh nghiệm tốt, có thể lựa chọn và mời chuyên gia sang Việt Nam để thuyết trình hoặc bình luậncác nội dung có liên quan đến dự thảo; hoặc bằng cách sưu tầm, dịch các văn bản tương ứng và tàiliệu có liên quan làm cơ sở cho việc tham khảo nội dung của chúng Trong quá trình thực hiện, tuỳtình hình và điều kiện cụ thể mà kết hợp cả 3 phương thức nói trên trên để khai thác triệt để từng ưuđiểm của các phương thức nghiên cứu, khảo sát

+ Hình thành chính sách pháp luật:       0,75 điểm;

Trong giai đoạn tiền soạn thảo, chính sách pháp luật được thể hiện bằng việc cơ quan chủ trì soạnthảo khẳng định được sự cần thiết phải ban hành văn bản đó Các luận cứ, luận chứng để chứngminh sự cần thiết phải ban hành văn bản điều chỉnh pháp lý và các vấn đề cụ thể ở các mặt: chínhtrị, kinh tế - xã hội và pháp lý

Câu 2  (Bài tập tình huống  5,0 điểm).

 Bà Trần Thị B là cán bộ giảng dạy của khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã hoàn thành khóa đào tạo Tiến sỹ Luật tại Trường Đại học Nogoya, Nhật Bản nay trở về nước, tiếp tục công tác tại khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 31

Căn cứ Quy chế về tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học thành viên ban hành theo quyết định số 26/2014/QĐ-TTg ngày 26/3/2014 của Thủ tướng chính phủ;Căn cứ Quyết định số 85/TCCB ngày 07/3/2000 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội về việc thành lập khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội;

Xét đề nghị của Trưởng Ban Tổ chức - cán bộ Đại học Quốc gia Hà Nội

      QUYẾT ĐỊNH

      Điều 1 Tiếp nhận bà Trần Thị B, giảng viên khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội sau khi đã

hoàn thành khóa đào tạo Tiến sĩ Luật tại trường Đại học Nogoya, Nhật Bản  về nhận công tác tạikhoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội từ ngày 01 tháng 3 năm 2020

        Điều 2 Bổ nhiệm bà Trần Thị B vào ngạch Giảng viên chính.

       Điều 3 Lương và các chế độ khác của bà Trần Thị B Được thực hiện theo chế độ hiện hành         Điều 4 Chánh Văn phòng, Trưởng Ban Tổ chức - cán bộ, Chủ nhiệm khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội và bà Trần Thị B chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

Trang 32

Tùy thuộc vào mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật mà pháp luật quy định từng giai đoạn cụ thểtrong xây dựng soạn thảo Tuy nhiên ở góc độ chung nhất, có thể phân chia quy trình soạn thảo vănbản quy phạm pháp luật (sau đây xin gọi tắt là văn bản) thành các giai đoạn cơ bản như sau:

- Lập chương trình/ kế hoạch ban hành văn bản

- Soạn thảo văn bản 

- Xem xét, thông qua văn bản

- Công bố văn bản

-     Lập chương trình/ kế hoạch ban hành văn bản:     1,0 điểm;

Hoạt động phân tích chính sách phải được thực hiện ngay từ giai đoạn này, và thể hiện rõ nhấtthông qua việc: cơ quan đề xuất chương trình xây dựng văn bản phải lập luận được sự cần thiết banhành văn bản, mục tiêu và nội dung chính sách thể hiện trong văn bản đó Theo Luật BHVBQPPL,phân tích chính sách là hoạt động không thể thiếu trong giai đoạn này. 

Như vậy, chính sách thể hiện trong: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp đểthực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp;

so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việclựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu có)

Chương trình xây dựng văn bản có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính chủ động trong hoạtđộng xây dựng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trong việc quyết định chính sách vàlựa chọn thứ tự ưu tiên của việc thể chế hóa chính sách Chính vì vậy công đoạn này cần được đầu

tư nguồn lực lớn Chính sách nếu được phân tích chín muồi sẽ là điều kiện đảm bảo cho chất lượngcủa văn bản ban hành sau này

-     Soạn thảo văn bản:       1,5 điểm;

Đây là giai đoạn trọng tâm của cả quy trình xây dựng văn bản Giai đoạn soạn thảo văn bản quyếtđịnh chất lượng của chính sách về sau Nội dung chính sách, phương án tác động cụ thể - được quyđịnh đầy đủ, chuẩn xác hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào các công việc thực hiện ở giai đoạn này

Về nguyên tắc, hoạch định chính sách pháp luật được xây dựng chủ yếu trong giai đoạn tiền soạnthảo Đến giai đoạn soạn thảo, cơ quan soạn thảo chỉ có vai trò tham mưu đề xuất vấn đề và phương

án, giải quyết cụ thể (được thể hiện trong dự thảo) Đến giai đoạn thảo luận, thông qua văn bản mới

là giai đoạn chính thức (đúng thẩm quyền) của việc cân nhắc, thảo luận và cuối cùng là quyết địnhchính sách đó trong dự thảo

Tuy nhiên trong giai đoạn soạn thảo, các thành viên trong ban soạn thảo có thể nêu trở lại các vấn

đề về chính sách pháp lý để thảo luận Ở giai đoạn này có thể là các buổi thảo luận trong nội bộ Bansoạn thảo, có thể có các hội thảo để lấy thêm ý kiến về chính sách pháp luật đối với một hay một sốvấn đề nào đó hoặc nêu vấn đề hỏi ý kiến các cấp, các ngành, các cơ quan quản lý cũng như đốitượng chịu sự tác động của văn bản v.v… bằng các phương thức và biện pháp đã nêu ở trên Đặcbiệt ở giai đoạn này, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể đưa những vấn đề cơ bản, quan trọng để xin ýkiến, các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước cấp trên làm cơ sở cho việc định hướng nội dung của dựthảo về chính sách pháp luật

-     Xem xét, thông qua văn bản:       1,5 điểm;

Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với sự ra đời của văn bản pháp luật Chính sách có đượcthông qua hay không cũng thể hiện ở giai đoạn này Đối với những văn bản quy phạm pháp luậtquan trọng (luật, pháp lệnh, nghị định.v.v.) trước khi trình dự thảo lên cơ quan có thẩm quyền banhành, cơ quan chủ trì soạn thảo phải thảo luận, xem xét để quyết định dự thảo có được đệ trình lên

cơ quan có thẩm quyền ban hành hay không. 

-     Công bố văn bản:         1,0 điểm.

Văn bản quy phạm pháp luật đã được thông qua sau giai đoạn xem xét, thảo luận và quyết định tại

cơ quan có thẩm quyền ban hành Công bố văn bản chỉ là giai đoạn nhằm chính thức hóa sự hiệndiện của văn bản Tuy nhiên giai đoạn này có ý nghĩa lớn trong việc công khai, minh bạch hóa hệthống pháp luật, và đặc biệt có giá trị thực tiễn đối với các đối tượng chịu sự điều chỉnh của vănbản

Trang 33

Hiểu theo nghĩa rộng, công bố là hình thức công khai các văn bản quy phạm pháp luật – bao gồmcông bố sau khi đã thông qua; và đăng tải trên công báo Hiểu theo nghĩa hẹp, công bố là giai đoạntiếp theo sau khi văn bản đã được biểu quyết thông qua tại cơ quan (làm việc theo cơ chế tập thể) cóthẩm quyền.

Quy định về việc công khai và đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều

150 Luật BHVBQPPL

 Câu 2 Nghị quyết của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam số 422/BB-LĐBĐVN ngày 18/11/2009

quy định: “Mỗi câu lạc bộ chỉ được sử dụng một cầu thủ nước ngoài đã nhập quốc tịch thi đấu trên sân

BỘ TƯ PHÁP       CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số:…       Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2009

Về việc trả lời công văn số 1023/2009-CV/LĐBĐ của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam

        Kính gửi: Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam

Phúc đáp Công văn số 1023/2009-CV/LĐBĐ ngày 30 tháng 11 năm 2009 của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam về việc xin ý kiến về cầu thủ nhập quốc tịch Việt Nam thi đấu bóng đá tại giải

Vô địch quốc gia và giải hạng Nhất quốc gia năm 2020 và những năm tiếp theo Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Căn cứ vào Quy chế hướng dẫn áp dụng điều lệ FIFA về tư cách cầu thủ thi đấu cho đội tuyển

và để công bằng về thể lực của các cầu thủ trên sân của hai đội bóng thi đấu với nhau thì quy định trên là hợp lý và Bộ Tư pháp đồng ý với Nghị quyết số 422/BB-LĐBĐVN của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam ngày 18 tháng 11 năm 2009. 

Trang 34

Trả lời: 

-   Phải phù hợp với đường lối của Đảng

Xét yêu cầu về mặt nội dung của văn bản pháp luật thì văn bản pháp luật phải có nội dung phù hợpvới đường lối của Đảng, tức là nội dung quan trọng được quán triệt hầu hết trong các văn bản phápluật đó là việc phản ánh kịp thời đường lối, chính sách của Đảng trong từng thời kì, từng lĩnh vực.Đây là một trong các yêu cầu được nhìn dưới góc độ chính trị Một văn bản pháp luật cần thiết phải

có yếu tố chính trị bởi Việt Nam có một Đảng duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam Mà nhà nướcquản lí xã hội bằng pháp luật, do vậy phải ban hành các văn bản pháp luật Việc ban hành các vănbản pháp luật là một trong những yêu cầu để đảm bảo yếu tố chính trị Do vậy, các văn bản phápluật phải thể chế hóa đường lối chủ trương chính sách của Đảng, phải đưa các quan điểm của Đảngvào trong thực tế cuộc sống bằng pháp luật. 

Để đảm bảo sự phù hợp giữa văn bản pháp luật với đường lối, chủ trương của Đảng, yêu cầu đặt ra

là cần hiểu đúng bản chất mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định chính sáchphát triển kinh tế - xã hội và thể chế hóa đường lối đó trong hoạt động ban hành văn bản pháp luật.Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng việc đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về cáchoạt động khác nhau của Nhà nước. 

Đối với văn bản quy phạm pháp luật, yếu tố chính trị thể hiện ở sự nhất quán trong việc đưa ra cácquy định phù hợp với đường lối phát triển của đất nước của Đảng và việc thể chế hóa đường lối,chủ trương đó thành những quy định chung thống nhất trên phạm vi toàn quốc hoặc địa phương.Đối với văn bản áp dụng pháp luật, yêu cầu này được xem xét qua việc các văn bản đó kịp thời tổchức thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng cụ thể của các

cơ quan Nhà nước. 

-   Nội dung phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân

Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhân dân lao động vừa là chủ thể, vừa

là đối tượng của quyền lực Nhà nước Theo Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008thì nhân dân có quyền tham gia vào việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Do đó, nội dungcủa văn bản pháp luật phải đảm bảo ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạocủa Đảng Đồng thời nội dung văn bản phải chứa đựng yêu cầu này vì nhân dân lao động vừa là chủthể vừa là đối tượng của chủ thể quản lí. 

Phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động là việc phản ánh thực tiễn cuộc sống, nhữngmong muốn chính đáng của chính những người dân lao động trong xã hội, giúp họ nâng cao hơncác điều kiện về vật chất và tinh thần Với vai trò là chủ thể của quyền lực Nhà nước, nhân dân sửdụng pháp luật để thể hiện ý chí của mình trong việc đóng góp ý kiến và thảo luận về các vấn đềkinh tế - xã hội của địa phương, của cả nước Họ cũng chính là đối tượng chủ yếu thực thi phápluật Việc xây dựng các văn bản pháp luật có nội dung phản ánh đầy đủ, kịp thời ý chí nguyện vọngcủa nhân dân suy cho cùng chính là sự bảo đảm yếu tố phù hợp giữa nhu cầu của xã hội và chủtrương xây dựng pháp luật của Nhà nước. 

-   Nội dung phải hợp pháp

Sự hợp pháp về nội dung của văn bản pháp luật là một trong những điều kiện bắt buộc ảnh hưởngtới hiệu lực của nó Vì vậy, việc đặt ra yêu cầu này trong việc xây dựng văn bản pháp luật là điềuhết sức cần thiết Xem xét tính hợp pháp của văn bản pháp luật là việc đối chiếu các quy định trongnội dung của văn bản với nội dung của những văn bản khác mà pháp luật quy định là chuẩn mựcpháp lí bắt buộc phải theo, để đánh giá về sự phù hợp về nội dung giữa các văn bản đó Khi xem xétcác nội dung hợp pháp của văn bản pháp luật cần xem xét mối quan hệ giữa các văn bản trong hệthống văn bản pháp luật Trong phạm vi điều chỉnh nhất định, văn bản pháp luật thường không tồntại biệt lập mà luôn có mối quan hệ với nhau Vì vậy, khi soạn thảo văn bản pháp luật, cần đối chiếucác nội dung của văn bản pháp luật đang soạn thảo với nội dung của các văn bản pháp luật có liênquan để đánh giá về sự phù hợp và thống nhất giữa các văn bản này. 

* Đối với văn bản hành chính. 

Trang 35

+ Đối với những văn bản hành chính có nội dung là những quy định mang tính chất quy phạm thìnhững nội dung đó phải phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cóliên quan.

 + Đối với văn bản hành chính có nội dung là những mệnh lệnh cá biệt thì các nội dung đó, bêncạnh việc phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, thì phải phù hợpvới nội dung của văn bản áp dụng pháp luật có liên quan trực | tiếp tới văn bản hành chính đó

* Đối với văn bản quy phạm pháp luật: 

Các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật phải phù hợp và thống nhất với nội dung văn bản docấp trên ban hành Hay nói cách khác, nội dung văn bản có hiệu lực pháp lý thấp phải phù hợp vớinội dung văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. 

* Đối với văn bản áp dụng pháp luật: 

Các mệnh lệnh mà văn bản đưa ra phải phù hợp với các quy phạm pháp luật hiện hành về nội dung

và mục đích điều chỉnh Trên thực tế, văn bản áp dụng pháp luật là sự cụ thể hóa các quy phạmpháp luật vào những tình huống xác định để giải quyết những vấn đề cụ thể Do đó, để đánh giá nộidung hợp pháp của văn bản áp dụng pháp luật cần phải căn cứ vào một số văn bản quy phạm phápluật có liên quan trực tiếp đến nội dung được đề cập trong văn bản áp dụng pháp luật đó. 

-   Có tính khả thi

“Khả thi” theo từ điển Tiếng Việt có nghĩa là khả năng thực hiện Như vậy, một văn bản pháp luật

có tính khả thi là văn bản phải có khả năng thực hiện trên thực tế hay nói cách khác là những quyđịnh của nó phải có khả năng đi vào cuộc sống chứ không chỉ dừng lại trên giấy tờ Do đó, yêu cầunội dung của văn bản pháp luật phải phù hợp với các điều kiện khách quan Tính khả thi của vănbản pháp luật là mối liên hệ trực tiếp giữa tính hợp pháp và sự thỏa mãn những đòi hỏi cơ bản củađời sống xã hội. 

Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại, đòi hỏi văn bản pháp luật phải có | tính khả thi.Những văn bản có tính khả thi thì sẽ có hiệu lực thực tế cao hơn, tức là sự tác động của văn bản vàođời sống sẽ đạt chất lượng cao Sự phù hợp này phản ánh rất 

Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra với văn bản pháp luật phải có tính khả thi đó là: 

- Văn bản pháp luật phải phản ánh được những quy luật mang tính đặc thù trong từng giai đoạn,từng lĩnh vực. 

- Phải có các quy định, mệnh lệnh chi tiết cụ thể

- Tính khả thi còn được xem xét dưới góc độ KH pháp lý

-   Nội dung phải tương thích với Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết

Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển, nước ta đang trong thời kì quá độ chuyển từkinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Do đó, việc xúc tiến hợp tác với quốc tếnhư một giải pháp sống còn để phát triển đất nước Việc gia nhập các tổ chức quốc tế sẽ giúp ViệtNam tiếp cận được thị trường thương mại toàn cầu, tiếp cận những công nghệ tiên tiến, thị trườngtài chính hành đầu để tiếp thu và vận dụng cho chiến lược phát triển; nâng cao được vị thế ViệtNam trên trường quốc tế, đồng thời cải thiện được mức sống người dân Do đó, xuất phát từ điềukiện kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như xu thế của thời đại, Việt Nam phải tiến hành hội nhậpvới các tổ chức trên thế giới Khi Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức trên thế giớinhư ASEAN, APEC, ASEM, WTO., thì một vấn đề cấp bách đặt ra với chúng ta là phải tiến hànhhoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết.Tức là, chúng ta phải tiến hành rà soát, soạn thảo các văn bản pháp luật có nội dung tương thích vớicác điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết. 

Sự tương thích của văn bản pháp luật với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết chủyếu được đặt ra với các văn bản quy phạm pháp luật Vì vậy, trước hết, văn bản pháp luật phải cónội dung phù hợp, tương ứng với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Câu 2  (Bài tập tình huống  05 điểm) Giả sử UBND Thành phố Hà Nội ban hành một công văn gửi các trường đại học, cao đẳng về nghệ thuật trên địa bàn thành phố với nội dung là:

Cấm sinh viên các trường này biểu diễn ở vũ trường, quán bar.

Trang 36

 UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Theo đề nghị của của Sở Tư pháp

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Hủy bỏ Công văn của UBND thành phố Hà Nội gửi đến các trường đại học, cao đẳng về

nghệ thuật trên địa bàn thành phố với nội dung: Cấm sinh viên các trường này biểu diễn ở vũtrường, quán bar

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 13 tháng 05 năm 2022.

Điều 3.Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH - HĐND - UBND Thành phố Hà Nội; Thủ trưởng các sở,

ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, thành phố, thị xã và các tổ chức,

cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

            

Đề thi số:   13

Trang 37

Câu 1 Trình bày các căn cứ lựa chọn chính xác tên loại văn bản trong quá trình ban hành văn bản pháp luật?

 Khái niệm: Tên loại văn bản là tên gọi chính thức văn bản như: Nghị định, Nghị quyết,Quyết định v.v Tên gọi văn bản nói lên tầm quan trọng của văn bản, tính chất công việc

mà văn bản đề cập tạo thuận lợi cho việc đăng ký, sắp xếp hồ sơ và tổ chức thực hiện

 Sự cần thiết phải xác định tên loại văn bản pháp luật:

Đối với văn bản pháp luật, việc xác định một loại văn bản phù hợp để ban hành không phải do ýmuốn chủ quan của người soạn thảo quyết định mà phải dựa trên cơ sở quy định của pháp luật vàđôi khi tuỳ thuộc vào nội dung công việc mà văn bản giải quyết Trước khi soạn thảo văn bản phápluật, người soạn thảo cần phải xác định rõ loại văn bản sẽ được soạn thảo và ban hành Việc xácđịnh chính xác tên loại văn bản sẽ:

Thứ nhất, lựa chọn được quy trình soạn thảo văn bản pháp luật phù hợp

Thứ hai, xác định được mối quan hệ giữa văn bản đang soạn thảo với những văn bản pháp luật khácThứ ba, lựa chọn được cách thức thể hiện nội dung phù hợp

Mặt khác, trong chừng mực nhất định, nếu xác định được loại văn bản cần ban hành sẽ có thể xácđịnh được tính chất pháp lý của văn bản pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật hay văn bản ápdụng pháp luật

 Căn cứ lựa chọn chính xác tên loại văn bản trong quá trình ban hành văn bản pháp luật: 

tế là đủ) hay nhất thiết phải dùng quy phạm pháp luật để điều chỉnh, hoặc phải có sự kết hợpgiữa việc dùng quy phạm pháp luật với các biện pháp về xã hội, về kinh tế… 

 Dùng quy phạm pháp luật loại nào để điều chỉnh là phù hợp? Trả lời câu hỏi này phảinghiên cứu sâu sắc nội dung, bản chất, phạm vi, mức độ tác động của các loại quan hệ xãhội cụ thể Có những quan hệ xã hội chỉ cần dùng văn bản cấp Bộ, ngành ở trung ương hoặcvăn bản cấp thấp hơn để điều chỉnh Có những quan hệ xã hội bắt buộc, phải sử dụng loạivăn bản Luật hay Pháp lệnh để điều chỉnh Khi đó cần cân nhắc thẩm quyền của các cấp.Nếu quá thẩm quyền của Tỉnh/Thành phố thì phải đề xuất, thỉnh thị cấp trên

  -   Dùng loại QPPL nào để điều chỉnh: Cấp Bộ, ngành hay cấp địa phương; hoặc bắt buộc phải sử

dụng loại văn bản Luật hay Pháp lệnh mới phù hợp?:   4,0 điểm

       + Khi nào lựa chọn hình thức văn bản Luật:      1.0 điểm;

Trang 38

Quy định các vấn đề cơ bản, quan hệ thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh

tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. 

       + Khi nào lựa chọn hình thức văn bản Pháp lệnh:     1.0 điểm;

Đối với văn bản Pháp lệnh: Về nguyên tắc, pháp lệnh được ban hành để điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Quốc hội mà Quốc hội xét thấy có thểgiao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh và sau một thời gian thực hiện, trướcQuốc hội xem xét, quyết định ban hành thành Luật

Lý do để Quốc hội giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông thường căn cứ vào các tiêuchí cơ bản như: Đó là vấn đề bức xúc, cần phải dùng quy phạm pháp luật có giá trị Luật để điềuchỉnh, nhưng do điều kiện thảo luận và thông qua Luật của Quốc hội bị hạn chế Tuy là vấn đềthuộc thẩm quyền ban hành Luật nhưng do tính ổn định của loại quan hệ xã hội này chưa cao, cầnphải có thời gian để hoàn chỉnh bổ sung các quy định của quy phạm pháp luật điều chỉnh chúng.Sau một thời gian thực hiện sẽ có tổng kết quá trình thi hành làm cơ sở cho việc hoàn thiện nộidung của các quy định, nâng lên thành luật của Luật

       + Khi nào lựa chọn hình thức văn bản Nghị định:     1.0 điểm;

Trong số các văn bản dưới Luật, có các Nghị định của Chính phủ Nghị định

của Chính phủ gồm: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh,Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, quy định nhiệm

vụ quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơquan khác thuộc quyền của Chính phủ thành lập, các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiều, quyềnhạn của Chính phủ

Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thànhLuật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Việcban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Uỷ ban

Thường vụ Quốc hội Đối với những nghị định quy định về tổ chức bộ máy và các biện pháp cụ thể

để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ thì vấn đề quan trọng là phải xuất phát từ các quyđịnh của Luật tổ chức Chính phủ (Chương II) về nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của Chính phủ trên cáclĩnh vực để xác định Trường hợp có những quan hệ xã hội phát sinh từ thực tiễn quản lý, thực trạngkinh tế - xã hội mà về bản chất các quan hệ xã hội này phải dùng hình thức luật, pháp lệnh để điềuchỉnh nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh thì có thể lựa chọn hình thứcvăn bản nghị định Trước đây, Chính phủ đã có ban hành dạng

Nghị định này (ví dụ Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 về cán bộ công chức) NayLuật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật cũng cho phép Chính phủ có thể ban hành loại Nghịđịnh này nhưng quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ và hướng chung là hết sức hạn chế dần hoạt độngnày

       + Khi nào lựa chọn các hình thức văn bản khác:       1.0 điểm.

Câu 2  (Bài tập tình huống  05 điểm).

Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định số 237/QĐ-UBND ngày 27/2/2015 quy định về việc sử dụng vật liệu địa phương vào các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Cụ

Trang 39

thể, trong quyết định này bắt buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong địa bàn tỉnh chỉ được phép sử dụng vật liệu xây dựng do các đơn vị sản xuất vật liệu cấp tỉnh ở tỉnh N sản xuất, để xây dựng các công trình trên địa bàn tỉnh.

ỦY BAN NHÂN DÂN

       N, ngày    tháng    năm

QUYẾT ĐỊNH 

Về việc bãi bỏ quyết định số

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH N

Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

QUYẾT ĐỊNH

   Điều 1 Quyết định bãi bỏ Quyết định số 237/QĐ-UBND ngày 27/2/2015 quy định về việc sử

dụng vật liệu địa phương vào các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh N 

 Điều 2 Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký    

 Điều 3 Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc Sở Tư pháp; Giám đốc các Sở,

ban, ngành thuộc tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị; tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./

       

Trang 40

Đề thi số:   14

Câu 1  (Lý thuyết   05 điểm). Sự khác nhau về nội dung phần cơ sở pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật?

 Trả lời

-   Cơ sở pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật: 1,5 điểm

    + Là văn bản quy phạm pháp luật mà không thể là văn bản áp dụng pháp luật:

Nguyên tắc này cho phép hiểu việc lựa chọn thứ nhất chỉ là các văn bản quy phạm pháp luật Bởi vì,bản thân văn bản quy phạm pháp luật luôn chứa đựng các quy phạm pháp luật (là các quy tắc xử sựmẫu) được Nhà nước thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn Dovậy, việc bảo đảm để văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hợp pháp thì các văn bản phápluật đóng vai trò là cơ sở pháp lý đương nhiên phải là văn bản quy phạm pháp luật liên quan màkhông thể là văn bản áp dụng pháp luật hoặc văn bản hànhchính.      

        + Chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực vào thời điểm văn bản đó đượcban hành, hoặc văn bản đã ban hành nhưng đang trong thời gian chờ có hiệu lực pháp lý (khi soạnthảo văn bản để chi tiết hoá và hướng dẫn văn bản của cấp trên)                        

         + Chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn:

Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp việc xác lập phần cơ sở pháp lý sẽ phải viện dẫn nhiềuvăn bản liên quan với thứ bậc hiệu lực pháp lý cao thấp khác nhau Yêu cầu đặt ra là phải viện dẫncác văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn dự thảo mà không phải là văn bản cóhiệu lực ngang hoặc thấp hơn hiệu lực của dự thảo

 Các văn bản được viện dẫn làm cơ sở pháp lý phải liên quan trực tiếp về thẩm quyền và nộidung lĩnh vực mà dự thảo điều chỉnh

-   Cơ sở thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật:    1,0 điểm

          + Viện dẫn văn bản hoặc hành vi đề nghị của cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm địnhvăn bản: Những thông tin thực tiễn về nhu cầu ban hành văn bản quy phạm pháp luật thường đượcthể hiện thông qua văn bản đề nghị (tờ trình) hoặc hành vi đề nghị của cơ quan chủ trì soạn thảo.        + Có thể viện dẫn văn bản của Đảng nhằm thể hiện văn bản đó đáp ứng được đòi hỏi vềchính trị:    

(Cách thức soạn thảo phần cơ sở TT):

Đối với văn bản quy phạm pháp luật có kết cấu điều khoản, phần cơ sở thực tiễn thường được xáclập ở vị trí sau cơ sở pháp lý, với việc dùng câu bắt đầu bằng các từ “xét” hoặc “theo”

Riêng đối với dự thảo nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của

bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, phần cơ sở thực tiễn được viết bởi từ “theo”, sau từ “theo”

là hành vi đề nghị của trưởng cơ quan, đơn vị soạn thảo văn bản

-   Cơ sở pháp lý của văn bản áp dụng pháp luật:         1,5 điểm

         + Là văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản áp dụng pháp luật trực tiếp liên quan tớichủ đề: Nếu so sánh việc xác lập phần cơ sở pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật và văn bản ápdụng pháp luật sẽ thấy được những khác biệt trong việc lựa chọn các văn bản đóng vai trò cơ sởpháp lý Cụ thể, nếu các văn bản là đối tượng được lựa chọn trong phần cơ sở pháp lý của văn bảnquy phạm pháp luật luôn luôn là văn bản quy phạm pháp luật thì cơ sở pháp lý được lựa chọn trongvăn bản áp dụng pháp luật bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng phápluật.       

        + Chỉ là những văn bản đang có hiệu lực vào thời điểm văn bản đó được ban hành, trừtrường hợp đặc biệt:  Vì vậy, người soạn thảo không được viện dẫn những văn bản pháp luật đã hếthiệu lực pháp lý hoặc đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực vào thời điểm xảy ra sự việc hoặcnhững văn bản không liên quan đến công việc cần giải quyết.       

-   Cơ sở thực tiễn của văn bản áp dụng pháp luật:         1,0 điểm

Ngày đăng: 17/11/2022, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w