Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Trêng §¹i Häc Ngo¹i Th¬ng TiÕp tôc hoµn thiÖn chÝnh s¸ch th¬ng m¹i quèc tÕ cña viÖt nam nh»m ®¸p øng yªu cÇu héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ Chuyªn ngµnh Kinh tÕ thÕ giíi vµ quan hÖ[.]
Cơ sở khoa Học về việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam
Cơ sở lý luận của việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quèc tÕ
1.1.1 Nh÷ng lý luËn chung
1.1.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế
Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, đóng vai trò chủ đạo trong phân phối và lưu thông hàng hóa Trong đó, khi hoạt động trao đổi vượt ra khỏi biên giới quốc gia, nó được gọi là ngoại thương hoặc kinh doanh quốc tế.
Thương mại được hiểu rộng rãi là tất cả các hoạt động kinh doanh diễn ra trên thị trường, bao gồm các công đoạn từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi Theo quan điểm của Uỷ ban về Luật Thương Mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL), thương mại là hoạt động phát sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, bất kể có ký hợp đồng hay không Các mối quan hệ này bao gồm tất cả các giao dịch từ sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ, xây dựng công trình, tư vấn, chế tạo, cấp phép, đầu tư sản xuất đến các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, cũng như các hình thức vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường thủy, đường sắt hoặc đường bộ.
Trong Luật Thương Mại Việt Nam 1997, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa hẹp, không phải tất cả các doanh nghiệp và chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh hợp pháp đều được coi là thương nhân Sự bảo hộ và tạo điều kiện trong môi trường pháp lý của luật này chủ yếu áp dụng cho các hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ, như quy định tại Điều 5, Khoản 3, 4, 5.
Thương mại trong Luật Thương mại Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng sau khi sửa đổi theo quyết định của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam vào ngày 14/06/2005, nhằm bao gồm mọi hoạt động mục đích sinh lời Đó là hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận Khái niệm này giúp làm rõ về phạm vi và bản chất của hoạt động thương mại trong môi trường pháp lý Việt Nam, đồng thời thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế và nội địa một cách hiệu quả.
Thương mại quốc tế được hiểu là hoạt động mua bán, phân phối hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia, đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa cung và cầu về hàng hóa, dịch vụ từ cả về số lượng, chất lượng đến thời gian Đây là định nghĩa phổ biến nhất giúp làm rõ đặc trưng và vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế toàn cầu.
Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hoá, dịch vụ được đi kèm với việc trao đổi các yếu tố sản xuất (ví dụ: lao động, công nghệ…)
TMQT được hiểu là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa (bao gồm hàng hóa hữu hình và vô hình) giữa các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có quốc tịch khác nhau Quá trình này diễn ra dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá và sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán Mục đích chính của TMQT là tạo lợi nhuận cho các chủ thể kinh doanh thông qua các hoạt động thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân công lao động toàn cầu Phân công lao động quốc tế giúp các quốc gia khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường thế giới, đồng thời ảnh hưởng đến phân công lao động trong nước, tác động trực tiếp đến các ngành tham gia vào thương mại quốc tế và lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thương mại quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế nội địa, tối ưu hóa sử dụng nguồn tài nguyên, lao động và vốn Vai trò của thương mại quốc tế trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc lớn vào chính sách thương mại quốc tế mà quốc gia đó xây dựng và triển khai.
1.1.1.2 Khái niệm về chính sách thương mại quốc tế
Các nhà quản lý kinh tế vĩ mô luôn chú trọng đến việc điều chỉnh mức độ can thiệp của Chính phủ vào hoạt động nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế tổng thể và chính sách thương mại Họ tìm kiếm những biện pháp phù hợp và hiệu quả nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Việc xây dựng và thực thi các chính sách này đóng vai trò cốt lõi trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định của nền kinh tế quốc gia.
Trong nền thương mại tự do, hoạt động kinh tế tuân theo các quy luật khách quan như cung, cầu và giá cả Các quy luật này hoạt động ngoài ý muốn của con người và giúp các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận từ các nguồn tài nguyên hiện có Ví dụ, Nhật Bản có thể nhập khẩu gạo giá rẻ từ Việt Nam thay vì sản xuất trong nước, trong khi lại xuất khẩu ô tô để thu lợi nhuận cao hơn.
Trong thương mại quốc tế, hoạt động của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu cần được Nhà nước quản lý nhằm ngăn chặn hành vi trốn thuế, gian lận thương mại và nhập khẩu quá mức gây suy giảm sản xuất trong nước cũng như ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, chính trị, xã hội Chính sách thương mại của các quốc gia hiện nay thường vừa khuyến khích xuất khẩu qua việc hướng tới thị trường quốc tế, vừa hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững Mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, trình độ phát triển lực lượng sản xuất cùng quan điểm và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia.
Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, luật lệ, quy định và biện pháp hành chính, kinh tế mà chính phủ các quốc gia áp dụng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, nhằm thúc đẩy hoạt động trao đổi, mua bán giữa các quốc gia Chính sách này nhằm tạo ra lợi ích chung cho xã hội bằng cách quản lý và thúc đẩy quan hệ thương mại xuyên biên giới một cách hiệu quả và bền vững.
Chính sách thương mại quốc tế (TMQT) của một quốc gia là phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước đó Khi trở thành thành viên của WTO, các quốc gia phải xây dựng và thực hiện chính sách TMQT phù hợp với các hiệp định quốc tế, nguyên tắc và nguyên tắc đối xử quy định trong WTO Chính sách TMQT được hiểu là “cấu trúc toàn diện các luật lệ, quy định, hiệp định quốc tế và kết quả đàm phán mà chính phủ chấp nhận nhằm đảm bảo tiếp cận thị trường có ràng buộc pháp lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.” Theo quy định của WTO, các nước thành viên cần tuân thủ 4 nguyên tắc cơ bản trong chính sách TMQT của mình.
- Không phân biệt đối xử
- Cạnh tranh tự do và lành mạnh
- Đảm bảo tính minh bạch, có thể dự đoán
Chính sách thương mại “dựa trên luật lệ” nhằm thiết lập các quy định thương mại quốc tế minh bạch và dự đoán được, từ đó thúc đẩy các nhà sản xuất tiếp cận thị trường dễ dàng hơn Ngoài ra, chính sách này còn thể hiện sự ưu đãi đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự hội nhập và phát triển kinh tế của họ trong cộng đồng quốc tế.
Chính sách thương mại “dựa trên kết quả” đang nhận được sự quan tâm từ nhiều chính phủ nhằm đạt các mục tiêu chính trị và kinh tế, như cải thiện cán cân thanh toán thiếu hụt hoặc tạo nhiều việc làm cho người lao động Để đạt được điều này, các chính sách thương mại cần thiết phải đưa ra các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ xuất khẩu, hướng tới các hành động đơn phương và mạnh mẽ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ngày càng nhiều nước tham gia WTO đã khiến số trường hợp sử dụng các chính sách thương mại dựa trên kết quả giảm rõ rệt Tuy nhiên, dưới áp lực từ các nhóm lợi ích trong nước và các vấn đề kinh tế ngày càng gay gắt, chính phủ các quốc gia thường phải cố gắng cân bằng và hài hòa lợi ích nội bộ với các cam kết quốc tế.
Cơ sở thực tiễn của việc phải tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại của Việt Nam
1.2.1 Thực tế kinh tế của Việt Nam đã có nhiều thay đổi
Chương trình đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đem lại nhiều thành tựu đáng kể Quá trình này giúp chuyển đổi nền kinh tế trì trệ, lạm phát cao và cô lập của những năm 1980 thành một nền kinh tế mở, tăng trưởng bền vững và ổn định vào những năm 1990 và đầu thế kỷ XXI.
Những cố gắng cải cách liên tục trong suốt thời kỳ 1986 đến nay đã mang lại những tiến bộ đáng kể trên cả hai phương diện:
Thứ nhất, Việt Nam đã thiết lập được những yếu tố cơ bản hệ thống kinh tế định hướng thị trường, bao gồm:
- Hệ thống giá cả tự do
- Khu vực tư nhân năng động, tuy chưa phát triển mạnh nhưng đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế
- Chế độ ngoại thương mở cửa, tích cực hội nhập với nền kinh tế bên ngoài
Vào thứ hai, Việt Nam đã nhanh chóng thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô toàn diện cùng với các biện pháp cơ cấu then chốt nhằm kiểm soát lạm phát Nhờ đó, lạm phát đã giảm nhanh chóng chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, đẩy lùi mức tăng giá từ mức đỉnh 774,7% của năm trước.
Tỷ lệ đóng góp của các ngành kinh tế tại Việt Nam đã có sự biến động đáng kể qua các giai đoạn; từ 67,5% vào năm 1991, giảm xuống còn 12,7% năm 1995, và tiếp tục giảm nhẹ còn -0,6% vào năm 2000, rồi tăng trở lại 0,8% năm 2001 Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt trung bình 7,51% trong giai đoạn 2001-2005, năm 2006 còn đạt 8,17%, thể hiện mức tăng trưởng khá cao so với các quốc gia khác Đặc biệt, ngành công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng trung bình 10,18% trong cùng giai đoạn, cao hơn nhiều so với ngành nông-lâm-thuỷ sản chỉ 3,28% Cơ cấu kinh tế của Việt Nam cũng có xu hướng tích cực khi tỷ lệ của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 23,96% xuống 38,12% năm 2001, rồi lên đến 40,97% năm 2005 và 41,52% vào năm 2006.
2006 [bảng 1.3] Kết quả này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mạnh sang CNH, H§H
Các biện pháp tự do hoá đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân bổ lại nguồn lực hiệu quả Việt Nam đã phối hợp hài hòa giữa các chính sách tài chính và đổi mới hệ thống nhằm hướng tới mục tiêu ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế.
Bảng 1.2: Tốc độ tăng GDP theo ngành của Việt Nam (%) Năm Tốc độ tăng (tính theo giá so sánh)
Tổng số Nông,lâm, thuỷ sản
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2006-2007 Việt Nam và thế giới, tr71
Bảng1.3 Cơ cấu kinh tế Việt Nam (tính theo giá thực tế) (%)
Năm Cơ cấu (tính theo giá thực tế)
(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2006-2007 Việt Nam và thế giới, tr 71)
Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ chỗ bị bao vây cô lập, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập với nền kinh tế bên ngoài
Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Thương mại đã được ban hành và không ngừng sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế Luật Sở hữu trí tuệ, do Quốc hội khóa 11 thông qua, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Nhờ các bộ luật này, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp cũng đã có những bước phát triển đáng kể, mở ra nhiều cơ hội hợp tác và mở rộng thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường trong và ngoài nước, Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế để duy trì thành quả phát triển kinh tế Thời hạn thực hiện các cam kết quốc tế sắp đến, đặt ra yêu cầu phải chủ động hội nhập và đáp ứng các tiêu chuẩn chung của khu vực và thế giới Để vượt qua khó khăn, khắc phục thách thức và thúc đẩy phát triển bền vững, Việt Nam phải đẩy mạnh cải thiện chính sách thương mại giúp tăng cường sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế một cách hiệu quả.
1.2.2 Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay là một xu thế không thể tránh khỏi, giúp các nước tận dụng cơ hội phát triển và hạn chế những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa Quá trình toàn cầu hóa mang lại nhiều cơ hội tiềm năng cho các quốc gia, mở ra khả năng mở rộng thị trường và thu hút đầu tư Tuy nhiên, mức độ khai thác những cơ hội này phụ thuộc vào chính sách phù hợp và các bước đi đúng đắn trong lộ trình hội nhập Việc xây dựng chiến lược hội nhập phù hợp với điều kiện nội bộ và bối cảnh quốc tế là yếu tố then chốt để đạt được lợi ích tối đa từ quá trình toàn cầu hóa.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia không thể đứng ngoài xu hướng này Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27.11.2001 về hội nhập kinh tế quốc tế nhấn mạnh việc chủ động thúc đẩy hội nhập, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đồng thời đảm bảo an ninh quốc gia, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, đặt ra những thử thách lớn cho nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng là điều cần thiết để thúc đẩy phát triển Việc hội nhập giúp Việt Nam tận dụng các cơ hội thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức và đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế đất nước Đồng thời, hội nhập quốc tế phù hợp với quy luật phát triển chung của nhân loại, góp phần vào thành công của công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việt Nam tận dụng lợi thế của nước đi sau để thu hút lao động có chi phí thấp và tận dụng các công nghệ mới nhất nhằm "đi tắt đón đầu" trong xu hướng phát triển công nghệ hiện đại Với tư cách là nước đang phát triển và chuyển đổi kinh tế, Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi theo các qui định của Tổ chức Thương mại thế giới, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hoạt động kinh tế và hội nhập quốc tế.
Khi hội nhập vào kinh tế thế giới, đặc biệt là trở thành thành viên của WTO, Việt Nam được hưởng chính sách bình đẳng trong quan hệ quốc tế Với tư cách pháp nhân đầy đủ, Việt Nam có quyền tham gia xây dựng quy định và các quy tắc chung trên thị trường toàn cầu, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững Việc này giúp nâng cao vị thế và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế.
Việt Nam đang chuyển từ thế bị động sang chủ động trong các hoạt động kinh tế và đối ngoại, nâng cao vị thế trong Quan hệ Thương mại Quốc tế Mở cửa hội nhập giúp mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, tìm kiếm nguồn cung cấp đầu vào cho sản xuất trong nước, đồng thời thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ Đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nội lực và ngoại lực tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy phát triển đất nước và thực hiện Chiến lược Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư, đặt ra yêu cầu loại bỏ dần các rào cản và sự phân biệt đối xử trong hoạt động trao đổi thương mại; điều này giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu, nâng cao hiệu quả đầu tư, và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế.
- Giảm thuế theo lộ trình cam kết quốc tế
- Xóa bỏ những hàng rào phi thuế quan
- Mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ
- Bãi bỏ trợ cấp cho hàng xuất khẩu
- Giành cho nhau sự đối sử công bằng theo chế độ MFN, NT
Chính sách thương mại quốc tế (TMQT) cần thực hiện công khai, minh bạch để loại bỏ các rào cản bất hợp lý như cấm nhập khẩu nhưng vẫn cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, cùng với các quy định phức tạp về đầu mối nhập khẩu, tỷ lệ nội địa hóa hay tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc Các biện pháp kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật cần được xây dựng hợp lý về mặt sinh, lý, hóa học để đảm bảo chất lượng sản phẩm đến người tiêu dùng Việt Nam cần điều chỉnh chính sách và hoạt động thương mại quốc tế theo hướng tự do hóa và mở cửa hơn, đối mặt với thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Quá trình này đòi hỏi chúng ta phải thay thế cơ chế quản lý cũ bằng cơ chế mới và hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế cuộc cách mạng đổi mới toàn diện để phù hợp với yêu cầu toàn cầu hóa.
1.2.3 Nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp, của hàng hoá trong bối cảnh hội nhập
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về cả lượng và chất, thúc đẩy sự chuyển mình mạnh mẽ theo cơ chế thị trường Môi trường sản xuất và kinh doanh ngày càng hoàn thiện, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Việt Nam.
Kinh nghiệm của một số nước trong việc hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế theo yêu cầu hội nhập
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản bằng cách nghiên cứu quá khứ nhiều hơn hiện tại Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là một quốc gia bị tàn phá nặng nề và thiếu tài nguyên, nhưng ngày nay đã trở thành một siêu cường kinh tế Trong giai đoạn 1955-1973, Nhật Bản đã tận dụng mọi cơ hội thương mại quốc tế để phát triển kinh tế và duy trì mức sống cao Chính sách thương mại và đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng, có tính chất sống còn trong sự phục hồi và phát triển của Nhật Bản sau chiến tranh.
1.3.1.1 Mục tiêu của chính sách TMQT của Nhật Bản Nhật Bản là một nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên, núi rừng chiếm 2/3 diện tích của cả nước, diện tích đất có thể trồng trọt chỉ chiếm có 15% Khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác hầu như không có gì Nhật Bản xác định chỉ thông qua nhập khẩu mới có được nguyên vật liệu và kỹ thuật để tạo đầu vào cho sản xuất trong nước Để có ngoại tệ nhập khẩu thì phải đẩy mạnh xuất khẩu Bởi vậy Nhật Bản đã đưa ra mục tiêu chủ yếu của chính sách thương mại là mở rộng quan hệ với các nước, trước hết tăng cường nhập khẩu nguyên vật liệu để phát triển sản xuất trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu nhằm thu được ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu Quan điểm phải xuất khẩu để phát triển kinh tế đã được dân chúng, doanh nghiệp thấm nhuần và thể hiện rõ trong mỗi chính sách của Nhật Bản đối với từng sản phẩm Quá trình liên tục này bao gồm các khâu: nhập khẩu-phát triển sản xuất trong nước-xuất khẩu-nhập khẩu trở lại được coi là đặc trưng cơ bản của mô hình phát triển kinh tế Nhật Bản
1.3.1.2 Những điều chỉnh chính sách TMQT của Nhật Bản Để thực hiện mục tiêu trên, chính sách TMQT của Nhật Bản đã từng áp dụng:
- Chính sách thay thế nhập khẩu:
Mặc dù nhiều quốc gia cho thấy chính sách thay thế nhập khẩu quá mức dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp và lãng phí tài nguyên, Nhật Bản lại là một trong những quốc gia thành công trong việc đẩy mạnh chính sách này.
Chính sách thay thế nhập khẩu của Nhật Bản bắt đầu với việc lựa chọn các ngành hàng có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh để thúc đẩy phát triển trong nước Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nguồn lao động rẻ và dồi dào trở thành lợi thế duy nhất của Nhật Bản trong việc phát triển sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều nhân công như hàng dệt, gốm sứ Nhật Bản sớm nhận thức vai trò quan trọng của ngành công nghiệp nặng và hóa chất, đặc biệt là luyện kim, chế tạo máy và hóa dầu, để tạo ra lợi thế cạnh tranh mới trong tương lai Chính phủ đã tập trung vào phát triển các ngành này nhằm thúc đẩy nền kinh tế bền vững và cạnh tranh toàn cầu.
Nhật Bản đã có những chính sách can thiệp để hỗ trợ, thúc đẩy những ngành này phát triển, đó là:
Chính sách tài chính ưu đãi với lãi suất thấp được thực hiện thông qua các ngân hàng của Chính phủ, trong đó ngân hàng phát triển Nhật Bản (JDB) đóng vai trò chủ đạo Chính sách này giúp giảm hoặc miễn thuế thu nhập cho các doanh nghiệp, đồng thời cung cấp vay ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu, thúc đẩy phát triển kinh tế và công nghiệp địa phương.
Các ngành công nghiệp trọng điểm và các doanh nghiệp lớn nhận được nhiều ưu đãi đặc biệt để thúc đẩy phát triển kinh doanh Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản phải vay tới gần 80% vốn kinh doanh để duy trì hoạt động, trong đó các ngân hàng Nhật thường cho vay tới 95% số dư hiện có trong tài khoản Nhờ biện pháp cho vay táo bạo này, Nhật Bản đã tận dụng tối đa nguồn vốn sẵn có, đồng thời tăng nhiều lần lưu chuyển vốn trong sản xuất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Biện pháp phân phối ngoại tệ là công cụ kiểm soát hoạt động nhập khẩu ban đầu tại Nhật Bản, giúp hạn chế nhập khẩu các sản phẩm cạnh tranh với ngành công nghiệp non trẻ trong giai đoạn phát triển kinh tế Hệ thống phân phối ngoại tệ này đã chứng tỏ rõ hiệu quả trong việc hỗ trợ chính sách bảo hộ và khuyến khích sự phát triển của ngành công nghiệp nội địa, đặc biệt trong việc kiểm soát hàng hóa xa xỉ và các mặt hàng nhập khẩu hạn chế.
Chính sách kiểm soát trao đổi hàng hóa, ngoại tệ và hoạt động đầu tư của nước ngoài là giải pháp nhằm hạn chế cạnh tranh nước ngoài trên thị trường nội địa Việc quản lý chặt chẽ các giao dịch này giúp bảo vệ nền kinh tế trong nước từ những tác động tiêu cực của các yếu tố ngoại lai Điều này đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của thị trường trong nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Kiểm soát trao đổi hàng hóa tại Nhật Bản chủ yếu dựa vào các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, trong đó thuế quan và hạn ngạch là các công cụ phổ biến để điều chỉnh nhập khẩu Chính sách thuế quan của Nhật Bản trong giai đoạn này dựa trên bảy nguyên tắc cơ bản, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia và bảo vệ nền kinh tế trong nước Các biện pháp này giúp kiểm soát chặt chẽ dòng chảy hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản, đảm bảo sự cân đối và ổn định trong thương mại quốc tế.
1) Đặt mức thuế quan thấp đối với các mặt hàng sơ khai (như nguyên liệu thô và khoáng sản) và tăng thuế quan dần theo mức độ chế biến của sản phẩm
2) Đặt mức thuế quan thấp đối với hàng hoá không thể sản xuất được trong nước hoặc chỉ sản xuất được một số lượng hạn chế mà không có khả năng mở rộng sản xuất trong tương lai, và đặt mức thuế quan cao vào những hàng hoá mà tiềm năng cung cấp ở trong nước dồi dào nhưng chưa có khả năng cạnh tranh với hàng nhËp khÈu
3) Đặt mức thuế quan thấp đối với tư liệu sản xuất và mức thuế quan cao đối với hàng tiêu dùng
4) Đặt mức thuế quan cao đối với sản phẩm của những ngành công nghiệp có triển vọng và đối với sản phẩm của những ngành công nghiệp mới thiết lập
5) Đặt mức thuế quan thấp đối với cả sản phẩm và nguyên liệu thô của các ngành công nghiệp đã phát triển tôt
6) Đặt mức thuế quan đủ cao đối với sản phẩm của các ngành công nghiệp không có triển vọng, hoặc với các ngành công nghiệp đang bị suy thoái và đủ thấp đối với nguyên liệu của chúng để khuyến khích chuyển dịch lao động và vốn sang các ngành khác
7) Đặt mức thuế quan thấp đối với các mặt hàng thiết yếu, những mặt hàng nhập khẩu phục vụ cho mục đích giáo dục, văn hoá, sức khoẻ và thuế quan cao vào các mặt hàng sang trọng
Chính sách thuế quan của Nhật Bản nhằm khuyến khích nhập khẩu nguyên vật liệu thô để đảm bảo nguồn cung đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu Điều này giúp tạo ra nhiều việc làm, phát huy lợi thế về lao động của Nhật Bản Đồng thời, chính sách này còn khắc phục rõ ràng sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, qua đó nâng cao lợi thế so sánh cho các ngành chế tạo trong nước.