1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Dẫn luận ngôn ngữ là gì

11 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 85,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI KHOA NGÔN NGỮ TRUNG QUỐC BÀI TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ CHỮ VIẾT VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA CHỮ VIẾT Sinh viên thực hiện An Thị Mai Anh Lớp TR27[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

KHOA NGÔN NGỮ TRUNG QUỐC

BÀI TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ : CHỮ VIẾT VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA CHỮ VIẾT

Sinh viên thực hiện : An Thị Mai Anh

Lớp : TR27.12

Mã sinh viên : 2722235689

Giáo viên hướng dẫn :

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

“ Dẫn luận ngôn ngữ ” là gì ? Đây thực sự là môn học vô cùng mới mẻ đối với tân sinh viên như em Mới đầu nghe qua thì thực sự là kì lạ , khó hiểu , tuy nhiên sau quá trình học tập và sự giải thích của giáo viên em đã hiểu được “ dẫn luận ngôn ngữ ”là gì và vai trò của nó đối với một sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ như em Với những gì bản thân tiếp thu được và cách hiểu đơn giản của bản thân , thì em hiểu “ dẫn luận ngôn ngữ ” chính là môn học giúp sinh viên nắm rõ kiến thức cơ bản , cốt yếu về ngôn ngữ học và thực hiện một số kỹ năng phân tích , miêu tả , lập luận , nghiên cứu về ngôn ngữ

Trong một cuộc sống xã hội ngày càng phát triển , nhu cầu giao tiếp thông tin ngày càng phức tạp hơn Người xưa đã sớm biết sử dụng những công cụ vật chất thô sơ hoặc dấu hiệu để hỗ trợ trí nhớ , để thông báo thông tin ,tin tức cho nhau ( một sợi dây thắt nút , một vài hòn đá hoặc xếp chồng theo những kiểu dáng nhất định , khắc lên đá , lên xương , gốm những đường nét nông sâu ) nhưng đều có tác dụng thông báo tin tức theo những quy ước giữa các thành viên trong một cộng đồng lúc bấy giờ

Trước khi biết cách ghi lại vỏ âm thanh của ngôn ngữ từ được thuận tiện , các cộng đồng dân cư cổ xưa đều tìm cách ghi lại nội dung ý nghĩa của ngôn từ , chủ yếu bằng cách vẽ những biểu đạt giao tiếp không qua lời nói Bằng cách này , những người tuy không dùng chung một ngôn ngữ nhưng nếu gần nhau về mặt văn hóa , đều có thể hiểu được đại khái nội dung mà hình vẽ muốn thông báo Trong quá trình hình thành , các hệ thống cổ xưa đều phải trải qua giai đoạn “ hình vẽ diễn ý ”

ấy Và nó vẫn có những hạn chế trong một thời gian dài Để giảm bớt và đi tới chỗ loại trừ những sự nhầm lẫn mơ hồ, không rõ ràng , trong việc dùng hình vẽ làm công cụ hỗ trợ cho ngôn ngữ Qua kinh nghiệm thực tiễn , người xưa dần đi tới chỗ đơn giản hóa cách vẽ , ổn định hình dạng vật thể trong hình vẽ với những

từ ngữ nhất định Cuối cùng mỗi hình vẽ được biểu thị cho một từ nhất định , có hình dạng nhất điịnh , có âm đọc biểu thị một khái niệm Và từ đó chữ viết đã thực

sự định hình dưới dạng sơ khai – chữ hình vẽ VÌ vậy em đã đã chọn đề tài “ Sự ra đời và phát triển của chữ viết ” là chủ đề mà em muốn giới thiệu trong bài viết này

Trang 3

NỘI DUNG

I Khái niệm và vai trò của chữ viết

1.1 Chữ viết là gì ?

Chữ viết là hệ thống kí hiệu dùng để ghi lại ngôn ngữ , là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các kí hiệu hay các biểu tượng Chữ viết dựa trên ấn tượng

về thị giác dùng để chỉ những tín hiệu nào liên hệ với các hình thái của ngôn ngữ 1.2 Vai trò của chữ viết

Trong cuộc sống chúng ta chữ viết giữ vai trò quan trọng và vô cùng to lớn m Đầu tiên , chữ viết là đại diện cho lời nói Chữ viết hình thành đã bù đắp được những hạn chế về mặt không gian và thời gian của lời nói Giúp cho thông tin được truyền bá một cách xa rộng hơn , con người có thể giao tiếp với nhau dù khoảng cách xa ngàn dặm , các thế hệ sau biết về thế hệ trước , tìm hiểu ngược dòng thời gian

Thứ hai , ngôn ngữ chính là phương tiện ghi lại , lưu trữ thông tin , phương tiện giao tiếp bổ sung dựa trên kênh nhận thức thị giác Chức năng ghi lại ngôn ngữ của chữ viết đã giúp giảm thiểu nhân vật lực trong việc truyền bá , phát tán âm thông tin , tăng độ chính xác và phạm vị phát tán thông tin khi hạn chế hiện tượng sai lệch khi thông tin được truyền đạt qua nhiều lần giữa con người với con người Ngoài ra , một điều mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng , chữ viết cũng như ngôn ngữ đều góp phần kích tích sự sáng tạo , tư duy của con người Chữ viết là một thực thể và thường phản ánh qua thị giác ( bên cạnh chữ nổi cho người kiếm thính ) Điều đó giúp con người có thể cụ thể hóa , biểu đạt tư duy của bản thân và nhận ra những thiếu sót trong tư duy và bổ sung , trải chuốt cho đầy đủ và logic nhất

Trang 4

Cuối cùng , trải qua hàng ngàn năm và phát triển , chữ viết bị ảnh hưởng và phản ánh , thúc đẩy một phần văn hóa của một dân tộc, một nhóm người Chính chữ viết giúp cho nền văn học viết của các dân tộc phát triển hơn và góp phần thống nhất , hình thành ngôn ngữ dân tộc , xác định chuẩn ngôn ngữ của các dân tộc

II Nguồn gốc của chữ viết và quá trình phát triển

2.1 Hệ thống biểu tượng tiền kí tự

Những hệ thống chữ viết đầu tiên không tự xuất hiện Chúng bắt nguồn từ các tập quán cổ xưa của hệ thống biểu tượng , các hình vẽ mô tả sự vật cụ thể Những hệ thống này không thể coi là chữ viết , nhưng chúng có rất nhiều đặc điểm liên hệ với chữ viết sau này , vì vậy có thể gọi là hệ thống tiền ký tự ( nguồn gốc của chữ viết ) Chúng là các hệ thống biểu tượng khá đơn giản dễ nhớ và gi lại ý , cho phép truyền đạt thông tin nhất định Những hệ thống này xuất hiện ở thời kì đồ đá mới khoảng thiên niên kỉ 7TCN Đáng chú ý có hệ biểu tượng Vinca có những cải tiến

về biểu tượng đơn giản ở đầu thiên niên kỷ 7TCN, dần tăng tính phức tạp trong nền thiên niên kỷ tiếp theo và lên đỉnh cao là những bản ghi Tartaria vào thiên niên

kỷ 5TCN Những biểu tượng được sắp xếp theo hàng lối chặt chẽ, giúp chúng ta liên tưởng ngay đến văn bản Các ký tự tượng hình của cận đông thời cổ đại dường như không bắt nguồn từ những hệ thống biểu tượng trên Vì vậy, khó có thể kết luận rằng hệ thống chữ viết đã kết thừa biểu tượng tiền chữ ở thời điểm nào

Phát minh chữ viết đầu tiên cùng lúc với sự ra đời của thời kỳ đồ đồng ở cuối thời

đồ đá mới thiên niên kỷ 4TCN Người ta tin rằng hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người ra đời cuối thiên niên kỷ 3TCN Người ta tin rằng hệi thống chữ viết đầu tiên của loài người ra đời cuối thiên niên kỷ 3TCN tài vùng Sumer(Lưỡng Hà) ở dạng chữ hình nem cổ xưa ở triều đại Ur thứ ba

Sự phát triển của chữ tượng hình Ai cập song song với những kí tự vùng Lưỡng Hà

và không nhất thiết là độc lập với nhau Hệ thống tiền ký tự của người Ai Cập tiến hóa thành những ký tự tượng hình cổ xưa vào khoảng 3.200 năm trước TCN và phổ biến rộng rãi ở giữa thiên niên kỷ 3TCN

Ký tự của nền văn minh sông Ấn phát triển trong suốt thiên niên kỷ 3 cả ở dạng tiền chữ viết hoặc dạng chữ viết cổ xưa tuy vậy quá trình phát triển này tiến nhanh hơn khi nền văn minh đi qua giai đoạn đỉnh điểm vào khoảng 1.900 năm TCN Chữ viết của người Trung Quốc có lẽ là không cùng nguồn gốc với các nền văn minh Trung Đông Từ hệ thống biểu tượng tiền chữ viết ở cuối thời kì đồ đá mới

Trang 5

khoảng 6.000 năm TCN, chữ viết Trung Quốc ra đời khoảng 1.500 năm TCN vào thời nhà Thương

Những hệ thống chữ viết ở châu Mỹ ( bao gồm nền văn minh Maya và Olmec) cũng có những nguồn xuất xứ độc lập

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra được và chia thành 6 nhóm chữ viết cổ chính trong thời kỳ tiền sơ khai Phần lớn các hệ thống chữ viết trên thế giới ngày nay đều bắt nguồn từ Ai Cập , Lưỡng Hà hoặc Trung Quốc Có một vài ngoại lệ là hệ thống tượng ý của người Maya xuất hiện thế kỷ thứ 3TCN và các ký tự tìm thấy trên đảo Phục Sinh Sau khi được phát minh ra đời chữ viết đã tiếp tục được phát triển và hoàn thiện trong các thời kỳ tiếp theo

2.2 Chữ viết thời kỳ đồ đồng:

* Chữ viết hình nêm

Hệ thống chữ viết nguyên thủy của người Sumer bắt nguồn từ những phiến đất sét được sử dụng để chỉ tên đồ vật Cho đến cuối thiên niên kỷ 4TCN hệ thống này đã phát triển thành một phương pháp lưu lại các bản kê, sử dụng bút trâm đầu tròn ấn lên tấm đất sét theo các góc khác nhau để kí hiệu con số Cách ghi này dần được gia tố các biểu tượng ghi bằng bút trâm sắc để chỉ ra cái gì được đếm Ghi chép sử dụng bút trâm đầu tròn và bút trâm đầu sắc, theo thời gian được thay thế bằng bút trâm đầu hình nêm( vì thế nên có chữ viết hình nêm) vào khoảng 2.700 – 2.500 năm TCN Ban đầu chỉ có những kí hiệu ghi hình nhưng đã phát triển đưa vào yếu

tố ngữ âm ở thời gian thế kỷ 29TCN.Chừng 2.600 năm TCN, chữ viết hình nêm bắt đầu thể hiện âm tiết trong nhóm ngôn ngữ Sumer vùng Lưỡng Hà Cuối cùng, chữ viết hình nêm trở thành hệ thống chữ viết phổ biến ghi lại kí hiệu ghi hình, âm tiết và con số Kể từ thế kỷ 26TCN, dạng chữ viết này du nhập vào ngôn ngữ Akkadian và các ngôn ngữ khác như Hurrian và Hittile Những ký tự tương tụ còn được tìm thấy trong ngôn ngữ Ugaritic và Ba Tư cổ

*Chữ tượng hình Ai Cập cổ đại

Chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì để chế Ai Cập, đọc và viết là đặc quyền của nhóm người được giáo dục để ghi chép và giữ gìn văn bản Chỉ những người với xuất thân nhất định mới được đào tạo để trở thành người ghi chép

và giữ gìn văn bản Họ phục vụ trong đền thờ quân đội và hệ thống hành chính của nhà vua(Pharaon) Hệ thống chữ viết tượng hình Ai Cập luôn phức tạp, khó học, nhưng trong nhiều thế kỷ sau khi ra đời, chúng còn trở nên khó hơn nhiều Chú ý

Trang 6

của thực tế này là nhằm duy trì đặc quyền của những người ghi chép và giữ gìn văn bản

*Chữ viết Trung Hoa

Ở Trung Quốc, các nhà sử học biết được rất nhiều điều về những triều đại Trung Hoa đầu tiên nhờ những văn bản còn sót lại Từ thời nhà Thương, đa số những ghi chép này tìm thấy trên xương động vật hoặc bản ghi bằng đồng Những chữ ghi trên mai rùa, qua phương pháp xác định tuổi carbon cho thấy chúng được viết khoảng 1.500 năm TCN Các nhà sử học phát hiện rằng loại vật liệu được sử dụng

có ảnh hưởng đến văn bản được ghi chép và cách sử dụng chúng

Có những phát hiện gần đây về các mai rùa có niên đại khoảng 6.000 năm TCN như các kí hiệu tìm thấy ở Jiahu, nhưng liệu chúng ta đã đủ phức tạp để coi là chữ viết hay chưa thì vẫn còn tranh cãi Nếu những hình vẽ này được xác định là ngôn ngữ ở dạng viết thì chữ viết Trung Hoa là chữ viết cổ nhất của nhân loại, thậm chí

ra đời 2.000 năm sớm hơn chữ viết hình nêm của vùng Lưỡng Hà Hiện nay,

những bằng chứng có hệ thống về chữ viết Trung Hoa bắt đầu từ 1.600 năm TCN

*Chữ viết Ấn Độ

Những kí hiệu tìm thấy của nên văn minh sống Ấn thời đồ đồng giữa vẫn chưa giải nghĩa được Vẫn chưa rõ những kí hiệu này được xếp vào kí hiệu tiên ký tự hay đó là một dạng chữ viết biểu tượng ngữ âm của hệ thống chữ viết thời kì đồ đồng khác Thời kì đồ sắt và sự ra đời hệ thống chữ viết Alphabet chữ cái

Phoenician là hệ thống tiên chữ cái Canaanite được tiếp tục phát triển ở thời kỳ đồ sắt ( được cho là kế thừa sự chấm dứt của hệ thống này năm 1.050TCN ) Hệ thống chữ cái này đưa đến sự ra đời của chữu Aramanic và chữ viết Hy Lạp rồi thông qua người Hy Lạp dẫn đến sự ra đời của các chữ cái Tiểu Á và chữu cái Italic ( bao gồm tiếng Lantinn) vào thế kỷ 8TCN Chữ cái Hy Lạp đưa vào các kí hiệu nguyên âm Nhóm chữ viết Brahmic của Ấn Độ có lẽ hình thành từ thế kỷ 5TCN từ những tiếp xúc với chữ viết Aramaic Chữ Hy Lạp và Latin vào các thể

kỷ đầu công nguyên là phát tích của một số hệ thống ký tự Châu Âu như chữ cái Runes, chữ cái Gothic và chữ cái Cyrillic Trong khi đó, chữ viết Aramaic là khởi nguồn của chữ cái Hebrew, chữ cái cSyriac và chữ cái Arabic, chữu cái nam Ả rập mang đến sự hình thành chữ cái Ge’ez.Cũng thời gian này (thế kỷ 4 đầu Công nguyên ), chữ viết Nhật Bản ra đời từ chữu viết Trung Hoa

2.3 Chữ viết trong giai đoạn cổ trung đại của người Việt – Chữ Hán và chữ Nôm

Trang 7

Có ý kiến cho rằng chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam từ trước Công Nguyên, dựa trên suy diễn về dấu khắc được coi là chữ trên một con dao găm Tuy nhiên đó là lúc chữ Hán chưa hình thành, và trên các trống Đồng Sơn có thời kỳ 700 TCN -100TCN thì hiện diện “các chữ của người việt cổ” chưa được minh giải,và chưa có

tư liệu xác định vào thời kỳ trước Công nguyên cư dân Việt cổ đã sử dụng chữ Cho đến nay vẫn có nhiều tranh cãi về việc chữ viết đầu tiên của người Việt là loại chữ nào Người ta vẫn chưa thể đưa ra kết luận chính thức về chữ viết đầu tiên của người Việt là gì Hiện nay các nhà nghiên cứu mới khẳng định, có hai dạng văn tự chính được dùng để ghi chép tiếng Việt là chữ Hán – Nôm và chữ Quốc ngữ thuộc

họ Latinh.Chữ Quốc ngữ bắt đầu được sử dụng chính thức trên thực tế tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX

Chữ Hán

Chữ Hán là chữ tượng ý, được viết theo các bộ thủ, theo quy tắc từ trên xuống dưới

từ trái qua phải, Chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển Cho tới hiện nay, chữ Hán Cốt( Gíap Cốt Tự), chữ viết xuất hiện vào thời nhà Ân vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh xương thủ vật và

có hình dạng rất ngắn với những vật thể quan sát được Ngoài việc là ngôn ngữ chính thống và bản địa của Trung Quốc, chữ Hán còn được du nhập và ảnh hưởng sâu rộng ở nhiều nước châu phi như: Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên

Do quá trình lịch sử từ đầu công nguyên đến thế kỷ X Việt Nam chịu sự dô hộ của phong kiến Trung Hoa, chữ Hán và Văn ngôn được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng Thời kỳ này tiếng Hán du nhập vào Việt Nam, được sử dụng như một

phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó Tuy nhiên, năm 938 sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, Việt Nam đã độc lập và không còn lệ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán Hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa nước Việt Nam xưa Từ sau thế kỷ X, tuy nhiên Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trong để ghi chép của người Việt

Chữ Nôm

Trang 8

Dù chữ Hán có khả năng biểu ý tốt nhưng trong tiếng việt không chỉ có từ chữ Hán Việt mà còn từ thuần việt, vậy nên chỉ sử dụng những chữ Hán hiện có lúc bấy giờ cũng không thể nào đáp ứng đủ và thậm chí được cho là bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ

và tình cảm của người Việt Vì vậy chữ Nôm ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán chưa đáp ứng được

Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng việt

Quá trình chữ Nôm được chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: tạm gọi là giai đoạn “ đồng hóa chữ Hán” tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ việt thường tên là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông,

đồ vật xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công Nguyên ( đặc biệt rõ nét nhất bào thế kỷ thứ VI)

Giai đoạn 2: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định Loại chữ Nôm tự tạo này sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át

cả địa vị chữ Hán Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm Truyện Kiều của Nguyễn

Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ minh họa cho thấy rõ nhất

Như vậy, có thể thấy chữ Nôm và chữ Hán có những nét khác nhau cơ bản về lịch

sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ cơ bản đều có bản sắc riêng về văn hóa 2.4 Chữ viết trong giai đoạn hiện đại của người Việt – Chữ Quốc Ngữ

Định nghĩa : Chữ quốc ngữ là loại chữ của người Việt, ghi âm viết bằng chữ Latinh ghép lại, có hình thức khác với chữ Latinh thường thấy trong tiếng anh, tiếng pháp, ở chỗ các từ có thêm nhiều dấu( sắc, huyền, hỏi , ngã, nặng,) ở trên hoặc ở dưới của chữ Những dấu hiệu ấy thể hiện đặc điểm của tiếng Việt đơn âm, có nhiều âm tiết, nhiều âm thanh điệu Tiếng Việt có 6 thanh điệu, cho nên tiếng việt phái có 5 dấu giọng thể hiệ các thanh điệu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng Ngoài ra còn có dấu hiệu thể hiện âm đọc của chữ :ă, â, đ, ô, ơ, ư Các nhà truyền giáo Châu

Âu lấy chữ cái Latinh để ghi âm tiếng Việt đã sáng tạo ra 5 thanh điệu và các chữ

có thêm dấu Nhờ những sáng tạo đặc biệt ấy, chữ Quốc ngữ ghi được hầu như

Trang 9

toàn bộ ngữ âm tiếng việt từ cách nói đến cách đọc, từ các vùng miền của đất nước (kể cả phương ngữ và thổ ngữ ) Đây là một yêu cầu rất cao về sự chính xác đến độ

lý tưởng của ngôn ngữ mà khó có thứ tiếng nào có được

Nguồn gốc và sự hình thành:

Việc chế tác chữ Latinh để biểu âm cho tiếng việt là một công việc taaph thể của nhiều linh mục dòng tên người Châu Âu Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt

Nam( giúp việc cho các linh mục người Âu) Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt-Bồ-La ( trong đó có phần về ngữ pháp tiếng việt) và cuốn phép giảng tám ngày Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp , còn cuốn phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt-Bồ-La đã khá hoàn chỉnh, nhưng cũng phải chờ đến khi nó được xuất bản năm

1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Bá Đa Lộc thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống hiện nay

Sự kiện đánh dấu vị thế chữ Quốc ngữ là khi người Pháp hoàn thành xâm chiếm Nam Kỳ vào cuối thế kỉ XIX Ngày 22 tháng 2 năm 1869, Phó Đề đốc Marie Hector Octor ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán trong các công văn ở Nam Kỳ Nghị định 82 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký ngày 6 tháng 4 năm 1878 cũng đề ra mốc trong 4 năm ( tức năm 1882) thì phải chuyển sang hẳn chữ Quốc ngữ Sang thế kỷ XX, Chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dậy ở Bắc Kỳ từ năm 1910

Việc cổ động cho học “chữ Quốc ngữ” ở toàn nước việt gắn với các phong trào cải ách trong giai đoạn 1890-1910 như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành, đã thừa nhận và cổ vũ học “chữ Quốc ngữ”, coi là phương tiện thuận lợi cho việc học hành nâng cao dân trí

Theo tư liệu trong “lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ (25/5/1938)” do Bộ Giáo dục và Đào tạo ttoor chức ngày 25/5/2008, thì hội ra đời

Trang 10

ngày 25/5/1938, đến nay ngày 29/7/1938, Thống sức Bắc Kỳ người Pháp công nhận sự hợp pháp của hội Đó là dấu mốc chắc chắn cho vị thế “chữ Quốc ngữ” Vai trò của chữ quốc ngữ

+Chữ quốc ngữ là cơ sở để mở rộng chức năng của tiếng việt, nó vươn lên thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia Nó được dùng trong hành chính, ngoại giao, giáo duc Nó là công cụ bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam

+Chữ quốc ngữ là cơ sở để tiếng việt phát triển Về mặt từ vựng, chữ quốc ngữ đã giúp tạo ra những từ mới nhằm hỗ trợ việc diễn đạt tư duy trong chiều sâu và đỉnh cao của nó Về ngữ pháp, dấu chấm câu mà chữ quốc ngữ du nhập vào Việt Nam

đã góp phần tích cực vào việc sáng tạo các câu văn tiết một cách sáng sủa, mạch lạc, điều mà chữ Nôm trước đây không có Chữ quốc ngữ đã giúp diễn đạt tư duy logic, thể hiện những tư tưởng khoa học cách trọn hoàn hảo Về mặt âm, chữ quốc ngữ giúp xác định chính âm cho tiếng việt, tạo sự thống nhất chữ viết trong toàn lãnh thổ Việt nam , cho dẫu Việt Nam có nhiều phương ngữ và nhiều dân tộc thiểu số

+Chữ quốc ngữ là cơ sở để phát triển nền quốc học lên một tầm cao mới Dù chỉ trong một thời gian ngắn, chữ quốc ngữ đã phát triển vượt bậc và làm cho nền quốc học trở nên phong phú với lượng tác phẩm đồ sộ, nhiều tác phẩm giá trị

Với lịch sử 400 năm hình thành, vận động và cải tiến, chữ quốc ngữ đã trở thành tinh thần, linh hồn của dân tộc Việt Tính linh hoạt và bảo tồn văn hóa của chúng ta

có được, phải kể đến đó là địa vị ổn định và độc tôn của chữ quốc ngữ, việc trở lại với chữ Hán, chữ Nôm mà đôi khi ta vẫn còn nghe thấy hiện nay là không còn phù hợp

2.5 Phân loại chữ viết

Những dạng cổ xưa nhất của chữ viết mng những yếu tố tượng hình và tượng ý Đa phần các hệ thống chữ viết có thể chia làm ba loại: tượng ý, tượng thanh và chia đoạn Tuy vậy, cả ba loại này đều tìm thấy ở bất kỳ hệ thống chữ viết nào với múc đôh cấu thành khác nhau và khiến việc xếp loại mỗi hệ chữ viết trở nên khó khăn

và nhiều mâu thuẫn

Ngày đăng: 17/11/2022, 05:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w