Lý do chọn đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là một trong những thị trường tiềm năng, đang phát triển rất nóng, đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ công chúng đến Chính p
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TIỂU LUẬN MÔN HỌC PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã học phần: 420300401601
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2022
Trang 2GV PHỤ TRÁCH HỌC PHẦN: ThS ĐÀO NGUYỄN HƯƠNG DUYÊN
SV THỰC HIỆN : TRƯƠNG NGỌC TRƯỜNG ( 19507381 )
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan tiểu luận “THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN” do chính nhóm tác giả thực hiện và được tiến hành công khai, minh bạch Các số liệu và kết quả
nghiên cứu được thực hiện một cách trung thực, các thông tin tríchdẫn được ghi rõ nguồn gốc
TP.HCM, ngày 25 tháng 10 năm 2022
Tác giả khóa luận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được tiểu luận này, lời đầu tiên tác giả xin chân thành cảm ơn đến ban giám hiệu trường Đại học Công Nghiệp Tp HCM và khoa Luật đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong quá trình học tập, tìm hiểu môn học
Xin gửi lời cảm ơn đến giảng viên bộ môn – cô Đào Nguyễn Hương Duyên đã giảng dạy tận tình, chi tiết để nhóm tác giả có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài tiểu luận này
Tác giả cũng xin cảm ơn đến cơ sở khảo sát, nghiên cứu đã giúp nhóm tác giả có được những thông tin hữu ích để thực hiện bài tiểuluận
Bộ môn pháp luật về thị trường chứng khoán và ngân sách nhà nước là một môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm làm đề tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trong bài tiểu luận chắc chắn sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy, Cô để bài tiểu luận của nhóm tác giả được hoàn thiện hơn
Lời cuối cùng tác giả xin kính chúc quý Thầy, Cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Trang 6Mục lục
A PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2.1 Mục đích nghiên cứu 8
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.Phương pháp nghiên cứu 9
5 Kết cấu của tiểu luận 9
B NỘI DUNG TIỂU LUẬN 10
Chương 1 Thị trường chứng khoán và thuế thu nhập cá nhân 10
1.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam 10
Chương 2 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN KHI ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 22
2.1 CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN 22
2.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân khi đầu tư chứng khoán 22
2.3 Cơ sở tính thuế 22
2.4 Kỳ tính thuế: 23
2.5 Thuế suất 23
2.6 Cách tính thuế 24
Trang 7Chương 3 tác động của thuế thu nhập cá nhân lên thị
truòng chứng khoán 28
3.1 Tác động tích cực 28
3.2 Tác động tiêu cực 28
3.3 kiến nghị 29
C Kết luận chung 30
Trang 8A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là một trong những thị trường tiềm năng, đang phát triển rất nóng, đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ công chúng đến Chính phủ vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư cho côngchúng, tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh
tế vĩ mô Trong một ngày, lượng giao dịch chứng khoán có thể lên đến những con số khổng lồ ở các phiên, đem lại lợi nhuận vô cùng lớn cho các nhà đầu tư Do vậy, với khoản lợi nhuận đó, liệu nhà đầu
tư chơi chứng khoán có phải nộp thuế không? Chính vì vậy, tác giả
ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đề ra thì tiểu luận phải hoàn thành được những nhiệm vụ sau đây:
Làm rõ những lý luận: khái niệm, đặc điểm, chức năng, phân loại, nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Trang 9Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn việc nộp thuế thu nhập
cá nhân của nhà đầu tư Đồng thời, làm rõ nguyên nhân phát sinh vấn đề này
Từ đó, dựa vào những cơ sở trên để đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật đối với thực tiễn Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu thực trạng và kiến nghị hoàn thiện qui định pháp luật về việc nộp thuế thu nhập cá nhân của nhà đầu tư khi tham gia đầu tư trong thị trường chứng khoán Đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận thực hiện nghiên cứu trong phạm vi nghĩa rộng của “vấn
đề nộp thuế thu nhập cá nhân khi tham gia đầu tư chứng khoán ” là phân tích rõ ràng qua qui định của pháp luật về vấn đề nêu trên
4.Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin như: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời tiểu luận cũng bám sát chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước Ngoài ra, tiểu luận cũng còn được sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử,…Các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt nhằm đảm bảo hiệu quả của việc nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng hầu hết ở các
chương mục của bài tiểu luận, nhằm phân tích và làm rõ những luận điểm và đi đến tổng kết, rút ra kết luận của nghiên cứu
Trang 105 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậngồm 4 chương là:
Chương 1 Sơ lược về thị trường chứng khoán
Chương 2 Thuế thu nhập cá nhân khi đầu tư chứng khoán
Chương 3 Tác động của thuế thu nhập cá nhân đối với thị trường chứng khoán và những kiến nghị
B NỘI DUNG TIỂU LUẬN
Chương 1 Thị trường chứng khoán và thuế thu nhập cá nhân 1.1 Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Thị trường chứng khoán là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ cấp
Như vậy, TTCK là thị trường thể hiện quan hệ giữa cung - cầu vốn và
là nơi chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư Giá chứng khoán chứa đựng các thông tin về chi phí vốn, hay còn gọi
là giá của vốn đầu tư TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính,
là nơi diễn ra quá trình phát hành, mua bán các chứng khoán, đó là các chứng khoán nợ và chứng khoán vốn (còn gọi là công cụ sở
hữu) TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa Thị trường tài chính bao gồm nhiều bộ phận khác
Trang 11nhau tùy theo tiêu thức phân loại Theo thời gian chu chuyển vốn, thị trường tài chính bao gồm:
- Thị trường tiền tệ: là thị trường diễn ra các giao dịch vốn ngắn hạn như thị trường ngoại hối, thị trường tín dụng ngắn hạn, thị trường chứng khoán ngắn hạn
- Thị trường vốn: là thị trường diễn ra các giao dịch vốn dài hạn như thị trường cho thuê tài chính, thị trường tín dụng trung và dài hạn, thị trường chứng khoán trung và dài hạn Chứng khoán bao gồm nhiều loại khác nhau Theo thời gian lưu hành, có chứng khoán ngắn hạn và chứng khoán dài hạn Các chứng khoán ngắn hạn thường được mua bán trên thị trường tiền tệ Các chứng khoán dài hạn như
cổ phiếu, trái phiếu thường được phát hành, mua bán trên TTCK Vì vậy trên thực tế, đôi khi người ta đồng nhất giữa TTCK với thị trường vốn
Thứ hai, việc chuyển giao vốn từ người cung sang người cầu trên TTCK sơ cấp được thực hiện chủ yếu bởi cơ chế tài chính trực tiếp
Trang 12Trên thị trường tài chính, các nguồn vốn có thể được chuyển từ
người cung sang người cầu bằng một trong hai hình thức: gián tiếp hoặc trực tiếp
- Trong kênh tài chính gián tiếp, vốn được luân chuyển từ người cungvốn qua các trung gian tài chính (như ngân hàng thương mại, công
ty tài chính…) rồi mới chuyển tới người cầu vốn Trung gian tài chínhđứng giữa người cung và người cầu vốn, tiến hành tập trung các nguồn tài chính từ những người cung vốn và trả cho họ một khoản tiền lãi nhất định; sau đó sử dụng các nguồn lực tài chính huy động được để cho những người cầu vốn vay và thu từ họ một khoản tiền lãi nhất định Trung gian tài chính được hưởng một khoản thu nhập
từ phần chênh lệch giữa thu từ cung ứng nguồn lực tài chính và chi cho huy động các nguồn lực tài chính
- Trong kênh tài chính trực tiếp, vốn hay các nguồn tài chính được chuyển trực tiếp từ người cung vốn sang người cầu vốn Trong quá trình vận động này, nguồn tài chính không dừng lại ở bất kỳ một tổ chức tài chính trung gian nào Người có nhu cầu sử dụng vốn phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn Tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp, nguồn vốn có thể chuyển tới người có nhu cầu theo 2 hình thức: tài trợ trực tiếp qua trung gian và tài trợ trực tiếp không qua trung gian
+ Tài trợ trực tiếp qua trung gian: là một hình thức luân chuyển các nguồn tài chính, trong đó ngoài người cung vốn và người cầu vốn còn xuất hiện một trung gian đứng ra tổ chức, thu xếp việc thực hiệngiao dịch tài chính giữa người cung và người cầu Ở hình thức này, nguồn tài chính không dừng lại ở trung gian (như trong tài trợ gián tiếp) song người cầu vốn (tổ chức phát hành) phải trả một khoản phí nhất định cho người trung gian ngoài chi phí sử dụng vốn, ví dụ: hoa hồng đại lý, phí bảo lãnh phát hành chứng khoán Đây là loại hình
Trang 13luân chuyển các nguồn tài chính phát sinh khá phổ biến trên thị trường.
+ Tài trợ trực tiếp không qua trung gian: là hình thức luân chuyển trực tiếp các nguồn tài chính giữa người cung vốn và người cầu vốn
mà không cần qua bất kỳ một trung gian nào Người cung vốn và người cầu vốn trực tiếp thỏa thuận các điều kiện giao dịch Trong hình thức này, người cầu vốn chỉ phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn để có quyền sử dụng vốn trong những khoảng thời gian nhất định Hình thức này phát sinh phổ biến trong phát hành chứng khoán nội bộ, nhà đầu tư mua chứng khoán trực tiếp từ tổ chức phát hành Thực tế phát triển TTCK cho thấy, hầu hết các hoạt động phát hành chứng khoán để huy động vốn của các tổ chức phát hành được thực hiện thông qua các hình thức tài trợ trực tiếp qua trung gian hoặc không qua trung gian
Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung là bộ phận quan trọng Do hàng hóa của thị trường này là các công cụ chuyển tải giá trị, nên bằng những giác quan thông thường nhà đầu tư khó có khả năng phân biệt được chứng khoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lý cũng như chất lượng của chúng Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhà đầu tư, đảm bảo TTCK hoạt động đúng pháp luật, công bằng, công khai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quy định hoạt động mua bán chứng khoán trên các thị trường có tổ chức phải thông qua các trung gian, đó là những nhà môi giới chứng khoán đã được cấp phép là thành viên giao dịch của thị trường đó Các nhà đầu tư muốnmua hoặc bán chứng khoán không thể đến thị trường đàm phán để mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhà môi giới chứng khoán
Trang 14Thứ tư, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo TTCK bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, trong đó TTCK tập trung là bộ phận trung tâm Ở thị trường này, mọi người đều được tự do mua và bán theo nguyên tắc hoạt động của thị trường, không có sự áp đặt giá trên TTCK Giá chứng khoán được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán.
Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục Sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán của họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của TTCK Những đặc điểm này là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa TTCK với các thị trường khác; đồng thời đó cũng là những điểm nhấn tạo ra sự hấp dẫn của TTCK đối với các tổ chức phát hành, nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán Đặc biệt đối với các tổ chức pháthành, TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn rất thuận lợi vì với đặc điểm “thị trường chứng khoán là thị trường liên tục” đã tạo điều kiện cho các nguồn vốn ngắn hạn của nhà đầu tư trở thành nguồn vốn dài hạn của tổ chức phát hành
1.1.3 Phân loại
1.1.3.1 Theo đối tượng giao dịch
- Thị trường cổ phiếu (Stock Market)
Thị trường cổ phiếu, còn gọi là TTCK vốn, là thị trường mà đối tượng giao dịch là các loại cổ phiếu của các công ty cổ phần Thị trường cổ phiếu được coi là bộ phận cơ bản và giữ vị trí quan trọng nhất của hệ thống TTCK Nói đến TTCK, người ta thường đồng nghĩa với thị trường cổ phiếu Thị trường cổ phiếu có một số đặc điểm sau:
Trang 15+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu (còn gọi là các chứng khoán vốn) như: cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông), cổ phiếu ưu đãi.
+ Người sở hữu cổ phiếu giữ vai trò là cổ đông, là đồng sở hữu một phần công ty cổ phần – tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó
+ Do cổ phiếu không có thời hạn nên để thu hồi vốn đầu tư, nhà đầu tư không thể yêu cầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu
tư khác trên thị trường cổ phiếu
- Thị trường trái phiếu (Bond Market)
Thị trường trái phiếu, còn gọi là thị trường nợ, là nơi giao dịch các loại trái phiếu Thị trường trái phiếu có một số đặc điểm sau:
+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại trái phiếu (còn gọi là các chứng khoán nợ) như: trái phiếu chính phủ và chính quyềnđịa phương, trái phiếu công ty, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng…
+ Người sở hữu trái phiếu giữ vai trò là chủ nợ của tổ chức pháthành
+ Do trái phiếu có kỳ hạn nên việc thu hồi vốn đầu tư có thể thực hiện trực tiếp tại tổ chức phát hành (nếu trái phiếu đã đến ngàyđáo hạn) Trường hợp ngược lại, nhà đầu tư phải đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường trái phiếu
- Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư (Fund Certificate Market/ Fund Stock Market)
Thị trường chứng chỉ quỹ là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ Thị trường chứng chỉ quỹ có một số đặc điểm sau:
Trang 16+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại chứng chỉ quỹ
do các công ty quản lý quỹ đầu tư phát hành
+ Người sở hữu chứng chỉ quỹ là người ủy thác cho công ty quản lý quỹ thực hiện hoạt động đầu tư tập thể theo điều lệ của quỹ.Nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với hoạt động đầu tư của quỹ
+ Tùy theo đặc điểm của từng loại quỹ đầu tư, người sở hữu chứng chỉ quỹ có thể thu hồi vốn đầu tư trực tiếp tại quỹ, hoặc đem bán chúng (chuyển nhượng quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường chứng chỉ quỹ
- Thị trường chứng khoán phái sinh (Derivatives Market)
TTCK phái sinh là nơi giao dịch các loại chứng khoán phái sinh như quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai TTCK phái sinh là thị trường mà sự ra đời vàphát triển của nó bắt nguồn từ chính việc phát hành, giao dịch các loại chứng khoán gốc Sự tồn tại và phát triển của thị trường này có
ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu hoạt động sôi động và hiệu quả hơn
Tiêu thức phân chia này giúp chúng ta có thể đánh trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như sự phát triển của TTCK nói riêng Với những nước phát triển, sự phát triển của thị
trường cổ phiếu là biểu trưng cho sự phát triển của nền kinh tế Songhành cùng với sự phát triển và hoàn thiện của thị trường, các loại chứng khoán phái sinh cũng ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu
đa dạng, đồng thời cung cấp các công cụ phòng chống rủi ro cho cácnhà đầu tư, kinh doanh chứng khoán
1.1.3.2 Theo quá trình lưu thông chứng khoán
* Thị trường sơ cấp (Primary Market)
Trang 17Là thị trường phát hành chứng khoán mới TTCK sơ cấp có vai trò tạo vốn cho tổ chức phát hành và chuyển hoá các nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng vào công cuộc đầu tư
Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
- Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán là phương tiện huy động vốn của tổ chức phát hành, là công cụ đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư
- Chủ thể giao dịch: trên thị trường sơ cấp, người bán chứng khoán là các tổ chức phát hành, người mua là các nhà đầu tư
- Kết quả giao dịch trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư cho tổ chức phát hành
- Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục
* Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Vai trò của TTCK thứ cấp là thực hiện việc chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính thực hiện chức năng điều tiết vốn đầu tư giữa các ngành, các lĩnh vực, tạo ra một sựcân đối mới cho nền kinh tế
Đặc điểm của TTCK thứ cấp:
- Trên thị trường thứ cấp, chứng khoán chỉ thuần túy là công cụđầu tư mà không tồn tại với tư cách là phương tiện huy động vốn cho tổ chức phát hành
- Chủ thể giao dịch trên thị trường thứ cấp chủ yếu là các nhà đầu tư, kinh doanh chứng khoán
Trang 18- Kết quả hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng vốnđầu tư cho nền kinh tế mà chỉ làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư.
- Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường thứ cấp là thị trường liên tục Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan
hệ hữu cơ, gắn bó với nhau, làm tiền đề cho sự phát triển của TTCK Thị trường sơ cấp có vai trò tạo hàng hóa cho TTCK, thị trường thứ cấp làm gia tăng tính thanh khoản của chứng khoán, đảm bảo cho
sự phát triển của thị trường sơ cấp
Phân chia và nghiên cứu TTCK theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá hiện trạng nền kinh tế cũng như vị thế, uy tín của tổ chức phát hành thông qua sự biến động giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp
1.1.3.3 Theo hình thức tổ chức và cơ chế hoạt động
* Thị trường chứng khoán chính thức
TTCK chính thức (còn gọi là thị trường có tổ chức) là thị trường
mà sự ra đời và hoạt động được thừa nhận, bảo hộ về mặt pháp lý Các hoạt động giao dịch của thị trường này nằm dưới sự kiểm soát
và chịu sự ảnh hưởng bởi cơ chế quản lý của Nhà nước thông qua các pháp luật chuyên ngành Thị trường có tổ chức bao gồm:
- Thị trường tập trung – Sở giao dịch
TTCK tập trung là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứngkhoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch.Đặc điểm của TTCK tập trung:
+ TTCK tập trung có địa điểm giao dịch cố định
+ Các chứng khoán được giao dịch tại TTCK tập trung phải