1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Cảm nhận về nhân vật thị trong vợ nhặt

44 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 411,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cảm nhận về nhân vật Thị trong Vợ nhặt Bài giảng Ngữ văn 12 Vợ Nhặt Dàn ý Cảm nhận về nhân vật Thị trong Vợ nhặt I Mở bài Giới thiệu tác giả Kim Lân là cây bút chuyên viết Truyện ngắn, ông am hiểu sâu[.]

Trang 2

- Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt

- Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, Thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo

- Lần thứ hai:

Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”

Khi nghe tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ cùng về”, Thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để Thị bấu víu lấy sự sống

- Nhận xét: cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với Thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô đẩy

3 Phẩm chất

- Có khát vọng sống mãnh liệt:

Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì Thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ

Trang 3

Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, Thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để

Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào Thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo

đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu

Sáng hôm sau, Thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực

Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt Thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn

- Nhận xét: cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người

Trang 4

- Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hy vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng

- Nêu cảm nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích

xã hội cũ Dù có số lượng tác phẩm hạn chế, thế nhưng hầu như tác

Trang 5

phẩm nào của Kim Lân cũng hay và có nhiều giá trị, là cơ sở xếp nhà văn vào một trong 9 tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Điểm sáng và đáng lưu ý nhất trong các tác phẩm của Kim Lân

ấy là giọng văn nhẹ nhàng, tình cảm, các tác phẩm của ông chủ yếu tập trung làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người, hướng đến một lối thoát nhân văn cho những kiếp người lầm than khốn khổ, chứ không tập trung tái hiện hiện thực khắc nghiệt đau thương của xã hội cũ Vợ nhặt là một trong số những tác phẩm nổi tiếng và xuất sắc nhất của Kim Lân, đặt trong bối cảnh đất nước những ngày đau thương nhất - nạn đói năm

1945 Nhân vật vợ Tràng là một trong những kiếp người khốn khổ tột cùng, cái đói đã khiến thị tàn tạ, xơ xác, để nên xấu xí trong mắt người đời, thế nhưng khi tìm hiểu sâu về nhân vật này ta mới phát hiện ra ở thị cũng có những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý

Nhân vật thị là một người đàn bà không tên, không tuổi, không quê

quán, gốc gác, không gia đình, và cũng chẳng ai biết thị từ đâu đến, cả cuộc đời trước khi gặp Tràng của thị dường như chẳng có gì để nhắc người ta nhớ đến Cái hoàn cảnh khốn khổ của thị, chính là hoàn cảnh chung của rất nhiều người nông dân trong nạn đói năm 1945, tại cái thời điểm mà kiếp người rẻ rúng như cọng rơm cọng rác nhặt ngoài đường Không chỉ nghèo khó, không lai lịch, tên tuổi mà trên người thị còn

mang đủ những bất hạnh của một người đàn bà, thị không có một nhan sắc xinh đẹp, và cái đói khổ nó lại càng làm cho cái nhan sắc xấu xí ấy thêm phần thảm hại, người ta bắt gặp thị trong bộ ““áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người ngợm “gầy xọp”, “trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, rồi “cái ngực gầy lép nhô lên” và “hai con mắt trũng hoáy” Bấy nhiêu những nét vẽ ấy cũng đủ để thấy bản thân thị cũng đang bước dần những bước cuối đến cái nghĩa địa của cuộc đời như nhiều số phận khốn khổ khác trong nạn đói kinh hoàng

Trang 6

Đã không có một ngoại hình hấp dẫn, nhưng cách nói năng, hành động của thị cũng khiến người ta mang nhiều phản cảm Khi nghe anh Tràng

hò mấy câu đùa cho khuây khỏa, nghe thấy có cái ăn thị đã cong cớn, mỉa mai, rồi cũng chẳng biết ngại ngần thị sấn tới tranh đẩy xe với

Tràng, “liếc mắt, cười tít” Tuy nhiên sau bữa đẩy xe phụ, mà không được cái ăn, khi gặp lại Tràng thị đã sưng sỉa, chỉ thẳng vào mặt Tràng

mà mắng “Điêu, người thế mà điêu” Khi nghe thấy anh Tràng đãi ăn

“hai con mắt trũng hoáy của thị sáng lên”, điệu dáng đon đả, đổi hẳn thái

độ Và rồi thị cúi đầu ăn một chặp 4 bát bánh đúc không thèm chuyện trò

gì, ăn xong thì lấy đôi đũa quệt ngang miệng, thở “hà” Quả thực trước giờ chưa từng thấy người đàn bà nào trước mặt một người đàn ông lạ mới gặp hai lần mà có thể thoải mái, thậm chí đến mức vô duyên, trơ trẽn, hành động táo bạo và bất chấp vì miếng ăn như thị Nạn đói nó khiến cho tâm hồn và nhân cách con người trở nên rẻ rúng, thiểu não quá Nhưng đến khi xét kỹ lại, nhìn lại những hành động của nhân vật thị một cách nhân văn hơn, ta mới nhận ra rằng, thực tế khi đứng trước cái chết, cái đói, và đứng trước viễn cảnh hàng triệu người đang chết như ngả rạ trước mặt khó ai có thể bình tĩnh và cư xử một cách bình thường nổi Ai mà không sợ chết, thị cũng sợ chết, và ngay lúc này đây khi gặp Tràng khi phải đối diện với lưỡi hái của tử thần mà lại bắt được cọng rơm cứu mạng, thì những khao khát được sống sót của thị bùng cháy Thị bất chấp tất cả để có được miếng ăn, vứt bỏ hết liêm sỉ, nhân cách chỉ vì được sống, quyết không buông bỏ cuộc sống dễ dàng Không chỉ có khao khát sống mãnh liệt mà bản thân thị còn có những khao khát được hạnh phúc, được có một mái ấm, một tấm chồng để nương tựa những lúc khó khăn như này Thành thử ra chỉ với một câu nói nửa đùa nửa thật “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”, mà thị đã không ngần ngại nhận lời, trở thành người vợ mặt dày, mày dạn theo không Tràng Đối với thị bây giờ cỗ bàn, đám rước đám hỏi chẳng còn quan trọng, miễn sao là có được một chỗ trú chân, một gia đình và qua được cái đói thì mọi chuyện đều có thể cho qua hết Thế là thị đã nên vợ nên chồng với Tràng bằng những niềm hy vọng mới mẻ,

Trang 7

thị mong rằng cái người trước mắt đã có thể sảng khoái mà đãi mình 4 bát bánh đúc, thì hẳn sau chung sống hắn cũng sẽ tử tế với mình, được nhiêu đó cũng đủ mãn nguyện rồi Như vậy bên cạnh ý nghĩa nhân văn trong sự kiện thị theo không Tràng, thì Kim Lân cũng phản ánh một hiện thực đau xót của xã hội lúc bấy giờ: giá trị con người dường như đã

xuống đến mức âm, thậm chí còn không bằng cọng rơm cọng rác, để đến nỗi những người làng trông thấy Tràng dẫn vợ về họ còn cho đó là “của nợ”

Những tưởng thị trời sinh đã đanh đá, chỏng lỏn và sưng sỉa nhưng khi nhìn thấy dáng vẻ của thị sau khi làm vợ Tràng ta mới nhận ra rằng, sự

vô duyên, ghê gớm của thị chỉ là một cái vỏ bọc bảo vệ thị trong nạn đói, thực tế rằng thị cũng là một người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp được giấu kín sau dáng vẻ tàn tạ, khốn khổ kia Trên đường trở về nhà với Tràng, thị bỗng trở nên “e thẹn, rón rén”, đầu cúi xuống, cái nón

tà nghiêng nghiêng che nửa đi khuôn mặt đang ngại ngùng, đúng với dáng vẻ của một cô dâu khi bước về nhà chồng Gặp phải cảnh trêu chọc của đám trẻ con, ánh nhìn ái ngại của những người làng, thị thấy khó chịu, tủi cho phận mình là một người vợ theo không, thành thử ra thị càng trở nên bối rối “ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả chân kia”, nom đến thương vô cùng Khi đến nhà Tràng khung cảnh xác xơ, tiêu điều của một căn nhà tạm, không có bàn tay người đàn bà săn sóc, không khỏi khiến thị thất vọng, buồn lòng, bởi có lẽ thị đã hy vọng về một ngôi nhà tươm tất, đủ đầy hơn, để cuộc đời thị từ đây bớt khổ sở Nhưng cảnh trước mắt kém quá xa so với những gì thị tưởng tượng, tuy nhiên thị không vì thất vọng mà phàn nàn với Tràng, thị bỗng trở thành một người đàn bà nhẫn nhịn và tế nhị “cái ngực gầy lép nhô hẳn lên, rồi nén một tiếng thở dài” Thị đã cất hết cái thất vọng, buồn bã của mình vào lòng, không để Tràng biết, quyết tâm cùng người chồng mới cưới xây dựng gia đình, phấn đấu vượt qua cái nghèo cái khó Khi ra mắt mẹ chồng, thị

đã rất phải phép mà chào bà cụ Tứ, khi tưởng cụ không nghe thấy thị đã

Trang 8

chào thêm lần nữa, dáng điệu khép nép, ngại ngùng, thực sự thị đã lột xác trở thành một nàng dâu hiền lành, e ấp, khác hẳn với dáng bộ của người đàn bà đanh đá, chua ngoa ở chợ tỉnh

Sau đêm tân hôn, thị lột xác trở thành một người phụ nữ của gia đình, đảm đang tháo vát, gánh lấy cái trách nhiệm thu xếp nhà cửa, đem đống quần áo rách ra sân hong, gánh nước, quét sân, gom rác đem vứt, rồi dọn cơm, Không khí gia đình trở nên hòa hợp vui vẻ và có nhiều hy vọng hơn cả Đặc biệt khi đối diện với nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn bứ nơi

cổ họng của bà cụ Tứ, “đôi mắt thị tối lại” nhưng vẫn “điềm nhiên và vào miệng”, không nói năng hay tỏ thái độ gì Cách cư xử tế nhị ấy của thị, đã bộc lộ một nét tính cách khác của thị ấy là sự thấu hiểu và cảm thông cho người mẹ già thương con, thị hiểu rằng vì nghèo quá không có

gì đãi con nhân ngày tân hôn thế nên bà cụ tội nghiệp mới cố kiếm một nồi cháo cám Và trong không khí gia đình vui vẻ ấy, thị không muốn phá hỏng nó, khiến cho bà cụ trở nên bối rối Cuối cùng cảnh thị kể việc

ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế mà đi phá kho thóc của Nhật đã bộc lộ những suy nghĩ và hướng nhìn mới của thị,

người đàn bà bà này không cam chịu cuộc đời đói kém, và có lẽ trong một mai thị sẽ cùng chồng là Tràng đi phá kho thóc, theo cách mạng để giải phóng cuộc đời, tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn

Nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là nhân vật đại diện cho hàng triệu kiếp người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm

1945 Tuy nhiên sống trong cảnh khốn khổ cùng đường nhưng thị vẫn giữ cho mình được những vẻ đẹp tâm hồn quý giá, tiêu biểu nhất ấy là niềm khao khát được sống, khao khát hạnh phúc, niềm hy vọng vào một tương lai mới tốt đẹp hơn Bộc lộ rõ nét tư tưởng nhân văn, nhân đạo mà tác giả muốn truyền tải trong tác phẩm của mình

Trang 9

Nhân vật tự sự chúng ta thường thấy trong các tác phẩm văn học thường được đặt tên cụ thể, những nhân vật vô danh vì họ chỉ lướt qua tác phẩm hoặc do dụng ý không đặt tên của tác giả nhưng không vì thế mà hình ảnh của họ trở nên mờ nhạt Nhân vật người vợ nhặt xuất hiện không nhiều nhưng ấn tượng để lại vô cùng ấn tượng, ghi đậm chủ đề của

truyện Người đàn bà này xuất hiện trước cái lúc Tràng đẩy xe thóc, tuy nhiên ấn tượng chỉ đến hôm gặp lại Tràng ngay trước cổng chợ mới là điểm nhấn Khi này cô ta chẳng biết từ đâu ập đến mắng xối xả Tràng:

“Điêu! Người thế mà điêu!” Chính cuộc sống túng nghèo đẩy con người

ta vào ngõ cụt, ngôn ngữ của cô ta cũng thô lỗ, sỗ sàng không chút nể nang Tràng có chút ngạc nhiên bởi nay trông Thị khác hôm trước, người sọp hẳn đi nhưng một lúc hắn cũng nhớ ra ngay cô ta Tràng cười hiền

Trang 10

lành thể hiện sự hối lỗi bèn mời cô ta ăn trầu xã giao nhưng cô ta lại càng tấn công: “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng thấy thế vui vẻ mời bánh đúc, cô ta liền sà vào ăn bốn bát liền Từ đó mới thấy người đàn bà này thật tội nghiệp, chính vì nạn đói đã khiến cô ấy đánh rơi đi nhân cách của mình, đói nên đầu gối phải bò

Thị là một người vô gia cư, nạn đói đã quật cô lưu lạc đến đây xa quê hương sống bờ sống bụi Thân hình gầy sọp, hai con mắt trũng hoáy, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo rách tả tơi như tổ đỉa Ngày đó, hiện trạng của nạn đói vô tình mai một con người ta, Thị chính là một nạn nhân ở đó, thoi thóp từng ngày, từng giờ Trên đường theo Tràng về nhà, mọi người chẳng ai tin trong lúc nạn đói ở lúc đỉnh điểm thế này Tràng sẽ có được vợ nên nhìn hắn với ánh mắt dò xét, tò mò khiến cô ta bối rối, ngượng ngùng kéo nón che mặt Nếu trước đó Thị sỗ sàng, để mặc liêm sỉ của mình chỉ cần được ăn thì đến lúc này lòng tự trọng trong

cô hồi sinh rõ rệt Họ nói chuyện với nhau rất vui vẻ, Tràng trả lời rất hồn nhiên, trẻ con và tác giả miêu tả nhiều ở nụ cười của anh Lúc này mới thấy được ở Thị dần bộc lộ nét tính cách đẹp, đáng quý

Về đến nhà Tràng, khi đảo mắt nhìn toàn bộ thấy hoang sơ, trống trải cô bất giác thở dài giấu đi nỗi thất vọng Ở trong cô lúc này cũng chẳng còn cách nào khác, đi thì sẽ chẳng có nơi để đi, đành đưa mắt làm ngơ, ở lại Khi cụ Tứ - mẹ Tràng về cô ta lễ phép chào: “u đã về ạ!” Vẻ đẹp của một người phụ nữ dịu dàng, từ tốn toát lên ở Thị ngay lúc này Cô có chút e ngại, nhìn lại bản thân mình đầy tủi hổ khi nhìn thấy cụ Tứ ngồi

đó im lặng không nói lời nào, sau đó thì cụ cũng chấp cho hai người lấy nhau, không khí nhẹ nhàng hơn

Một cuộc sống mới tại nhà Tràng, sáng sớm cô cùng mẹ chồng dậy sớm quét dọn, sắp xếp nhà cửa ngăn nắp, gọn gàng Quần áo của Tràng cũng

Trang 11

được đem phơi, nước đổ đầy ẳng Đến bữa ăn sáng, mắt tối sầm lại Thị cầm trên tay bát cháo cám của mẹ, tuy thất vọng nhưng cô không dám

để lộ điều đó sợ mẹ phật lòng nên đã cố nuốt vào Trong sự tĩnh lặng, lo

âu bởi tiếng trống thúc đòi thuế thì Thị lên tiếng: “Trên mạn Thái

Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy” Lúc này lời nói của Thị đã nhân lên thêm niềm hy vọng, ánh sáng ở tương lai về niềm tin Cách mạng sẽ giải phóng cuộc đời, cái nghèo của họ

Sau tất cả, hình ảnh người vợ nhặt hiện lên tuy nghèo khó, rách rưới nhưng sâu thăm cô là một người phụ nữ dịu dàng, chân thành, cởi mở, một người vợ hiền dâu thảo Kim Lân thông qua miêu tả thành công nhân vật thị tác giả đã tái hiện được hiện thực tối tăm của xã hội nông thôn Việt Nam

Trang 12

tự trọng giữa nạn đói Ý kiến khác lại khẳng định: Đó là một người phụ

nữ có khát vọng sống, có ý thức về phẩm giá của mình

Hai ý kiến đánh giá về người vợ nhặt nhìn qua có vẻ mâu thuẫn, đối lập hoàn toàn thế nhưng mỗi ý kiến lại là một cách nhìn nhận riêng mà khi kết hợp những đánh giá ấy, ta lại thấy được chân dung con người, tính cách người vợ nhặt hoàn chỉnh nhất

Trước hết, về ý kiến đánh giá thứ nhất cho rằng người vợ nhặt là người đàn và liều lĩnh, thiếu tự trọng Đánh giá này dựa trên những lời nói, hành động thực tế của người vợ nhặt trong tác phẩm Người vợ nhặt vì đói nghèo mà trơ trẽn đòi anh Tràng trả công bằng những bát bánh đúc,

để chạy trốn cái đói, cái chết người đàn bà ấy đã chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ về làm vợ

Điều gây bất ngờ nhất là cách người vợ nhặt đồng ý làm vợ anh Tràng quá dễ dàng chỉ với vài câu bông đùa và bốn bát bánh đúc Chị ta chấp nhận giao cuộc sống và tương lai của mình cho một người đàn ông mới quen và có lẽ hoàn cảnh người đàn ông ấy cũng không khá khẩm hơn mình bao nhiêu Ngay cả khi chứng kiến gia cảnh nghèo khó, tồi tàn của

mẹ con Tràng người vợ nhặt vẫn ở lại mà không bỏ đi, chị ta đã chấp nhận đánh cược với số phận để thay đổi cuộc sống Hành động này

chẳng phải quá mức liều lĩnh với một con người ham sống như chị ta hay sao?

Ý kiến thứ hai cho rằng người vợ nhặt là người phụ nữ có tự trọng, có ý thức về phẩm giá Thông qua những biểu hiện của chị vợ nhặt với anh Tràng ở chợ huyện ta chỉ thấy chị ta vô duyên, trơ trẽn liều lĩnh Thế

Trang 13

nhưng từ khi theo Tràng về nhà, sự thay đổi của chị ta đã mang đến

những cảm nhận vô cùng khác biệt với ấn tượng ban đầu

Khi theo anh Tràng về nhà, người đàn bà không còn tỏ ra trơ trẽn, chỏng lỏn mà tỏ ra vô cùng biết điều, đúng mực Trước những lời đàm tiếu, trêu đùa của người dân xóm ngụ cư, chị ta có bực mình nhưng chỉ làu bàu trong miệng Khi gặp bà cụ Tứ chị ta cũng tỏ ra rất đúng mực của một người con dâu mới Ý kiến đánh giá này đã thể hiện sự cảm thông, trân trọng đối với những giá trị tốt đẹp tiềm ẩn bên trong người vợ nhặt

Nhìn nhận một cách toàn diện nhất về nhân vật, ta có thể thấy người vợ nhặt đanh đá, chỏng lỏn chỉ là cách chị ta phản kháng lại với xã hội đen tối Sự vô duyên, thiếu tự trọng lúc ban đầu là do chị ta quá đói, quá khổ, cũng vì ham sống mà chị ta có những hành động thiếu tự trọng Xét đến cùng, người vợ nhặt cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của nạn đói, cảnh ngộ bi thảm đã khiến chị ta trở nên liều lĩnh, chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ

Sống trong cái dữ dội của nạn đói, bị đẩy vào hoàn cảnh bi thảm nhưng người vợ nhặt vẫn có những biểu hiện ý tứ, chuẩn mực đầy tự trọng: ngượng nghịu khi bị người dân xóm ngụ cư nhìn soi mói trên đường về nhà Tràng; đến nhà Tràng, chị ta cũng chỉ ngồi mớm ở mép giường

Qua sự thay đổi của người vợ nhặt, ta có thể thấy người đàn bà ấy có khát vọng sống, khát khao hạnh phúc âm thầm mà mãnh liệt Đó cũng là những khát vọng chính đáng của con người dẫu bị đặt vào hoàn cảnh éo

le nhất Hai ý kiến đánh giá về người vợ nhặt đã mang đến cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về nhân vật, con người trong nạn đói

Trang 14

phẩm làm toát lên tấm lòng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ Vẻ đẹp ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật người “vợ nhặt” trong tác phẩm Vợ Nhặt

Trong cảnh đói nghèo người chết như ngả rạ, người ta chỉ nghĩ tới cái sống của bản thân mình còn lo lắng chứ chưa nói tới lo cho những người xung quanh Trong tác phẩm, Tràng xấu, xấu là xấu trai, nhưng được cái tốt bụng và dễ gần Xóm làng nghĩ Tràng không thể có vợ, vì với cái thời đói đến ăn cám hay ánh sáng vào đêm là thứ xa xỉ vậy người vừa nghèo vừa xấu thì ai dám gởi thân ?

Xóm tản cư nheo nhóc và hoang tàn Đông thì có đông nhưng xóm làng như vẻ không người, chỉ là những cái bóng nhếch nhác lê gót trên những con đường quanh co Xác chết nhiều hơn thực thể di động Bóng đen gần như chiếm lĩnh cả, mặt trời vẫn sáng đó, nhưng đôi mắt của dân chúng ở đây cứ tối sầm sầm lại

Trang 15

Cái tin Tràng có vợ khiến cho khắp xóm làng ấy bao trùm lên một vẻ khác Ấy vậy mà Tràng có vợ thường thay cho cái im ỉm thụ động, chắc không ai dạy nhưng chúng biết bớt vận động là bớt bầu bạn với đói Nhưng Tràng lấy vợ ! Bản năng làm chúng tò mò Chúng nhốn nháo cả một đoạn Rồi còn trêu Tràng với câu “chông vợ hài” Đường dài quanh

co, sự dài ấy như trêu chọc cái e thẹn ban đầu của đôi uyên ương Nghĩ chữ uyên ương cũng không hợp trong hoàn cảnh này, khi người ta hay dùng chữ mĩ miều đó cho những đám cưới linh đình Đường về nhà chồng với xác chết cạnh đường đủ gần để nhìn thấy sự phân hủy hoặc cứ văng vẳng bên tai tiếng khóc tang gia; thiết nghĩ ngày cưới cũng đáng nhớ thật

Tình yêu luôn là trò phiêu lưu Vì rằng chúng ta không biết sẽ gặp ai, hoặc chi chúng ta không biết sẽ đi về đâu Như vết thương ở miệng, mỗi ngày một bào mòn đến cùng kiệt sức khỏe Người vợ nhặt của Tràng trước hết là người có cùng cảnh ngộ người vợ nhặt chỉ là một con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không quê hương, không gia đình, không nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm chị chỉ được gọi bằng

“thị” - một cách gọi phiếm định dành cho chị và tất cả những người phụ

nữ có cảnh ngộ và số phận đáng thương và tội nghiệp như chị Không những vậy, chân dung của người phụ nữ ấy hiện ra ngay từ đầu là những nét không mấy dễ nhìn: đó là hình ảnh của người đàn bà gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo thì rách như tổ đỉa Hình ảnh này phần nào cũng phác họa con người và cuộc đời của thị

Về tính cách của người vợ nhặt thì có chút thay đổi Trước khi trở thành

vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh: Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen ra đẩy xe bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng Lần gặp thứ hai, thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước mặt Tràng Đã vậy, thị còn chủ động đòi ăn Khi được Tràng mời ăn bánh đúc, thị đã cúi gằm ăn

Trang 16

một mạch bốn bát bánh đúc Ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng và khen ngon… Tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người

Nhưng khi trở thành vợ Tràng, thị đã trở về với chính con người thật của mình là một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang Nó được thể hiện qua dáng vẻ bẽn lẽn đến tội nghiệp của thị khi bên Tràng vào lúc trời chạng vạng Sau một ngày làm vợ, thị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ Đó là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sống gia đình - hình ảnh của một người vợ hiền, một cô dâu thảo

Hình ảnh của thị trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, chị tỏ ra là một phụ

nữ am hiểu về thời sự khi kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc

Giang người ta đi phá kho thóc của Nhật Chính chị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ và chồng thêm niềm hy vọng vào sự đổi đời trong tương lai Những nét tính cách của thị đã làm nổi bật lên những vẻ đẹp của người phụ nữ thời xưa, trong hoàn cảnh khó khăn vẫn luôn chịu thương chịu khó

Trong tác phẩm này, mặc dù người vợ nhặt chỉ là một nhân vật bên cạnh Tràng nhưng cái người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy đã thật sự đổi đời bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng Bóng dáng của thị hiện ra tuy

không lộng lẫy nhưng lại gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình Phải chăng thị đã mang đến một làn gió tươi mát

Trang 17

Cảm nhận về nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Bài viết tham khảo

(Mẫu 5)

Vợ nhặt” - một nhan đề khiến người đọc không khỏi tò mò và cuốn hút

“Vợ nhặt” - một việc làm có lẽ sẽ hạ thấp phẩm giá của người phụ nữ vì chỉ có đồ vật bị rơi người ta mới nhặt lên Thế nhưng, ở đây, nhà văn Kim Lân đã dùng sự xót thương và lòng đồng cảm của mình để dựng lên một người “vợ nhặt” rất đức hạnh, đảm đang qua tác phẩm cùng tên của ông Ông cũng là một trong những người được sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo khó, nên hơn ai hết, ông cũng hiểu nỗi khổ cực khi miếng ăn không đủ no, quần áo không đủ ấm Vì vậy, nhà văn đã mượn nhân vật của mình để gửi gắm bao tâm tư, tình cảm vào đó

“Vợ nhặt” là một câu chuyện khá hài hước nhưng cũng đầy thê lương về tình cảnh thảm hại của nạn đói năm 1945 Chính cuộc sống cùng cực, bi thương đã làm nên người vợ nhặt Và ngay chính người chồng trong hoàn cảnh này cũng có thể được gọi là “chồng nhặt” Họ nhặt được nhau một cách rất tình cờ, rất ngẫu nhiên giữa những ngày đói khủng khiếp

Cả xóm làng chìm trong nạn đói Người chết có lẽ còn nhiều hơn cả người sống Mà đôi khi người sống tưởng như đã chết Họ nằm thoi thóp, còng queo khắp lều chợ

Khi đối mặt với mẹ Tràng – mẹ chồng của thị, con người thị thể hiện rõ

sự ngoan hiền, lương thiện Thị cất tiếng chào “U đã về ạ” Chưa nghe thấy bà trả lời, thị nghĩ bà lão già cả, điếc lác nên thị cất tiếng chào lần nữa Hóa ra, thị đâu có cong cớn như cái vẻ lúc ở ngoài chợ trước mặt Tràng Thị rất lễ phép, biết điều Trong ngày đầu tiên ở nhà Tràng cũng

Trang 18

vậy Thị dậy sớm làm mọi việc: quét dọn nhà cửa sân vườn, thu dọn quần áo sạch sẽ, gọn gàng Mẹ Tràng cũng cùng thị làm vườn Những công việc đơn giản nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc khiến Tràng thấy mới lạ và thêm yêu cuộc sống này Chính bản thân Tràng cũng tự ý thức bản thân mình cũng nên góp sức vào việc thay đổi căn nhà để cuộc sống khấm khá hơn, nề nếp hơn Còn thị, với những công việc tuy đơn giản nhưng đã thể hiện phẩm chất tốt đẹp, chịu thương chịu khó của một người vợ trung hậu, đảm đang Thị chính là hình mẫu rất đẹp về người phụ nữ truyền thống của dân tộc Việt Nam

Không những thế, Thị còn là một người có tấm lòng thấu hiểu và cảm thông sâu sắc Trong bữa cơm đầu tiên, dù chỉ có rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo nhưng Thị vẫn cùng cả nhà ăn rất ngon lành Ngay cả khi ăn cháo cám cũng vậy, vị đắng xít nhưng thị vẫn điềm

nhiên và vào miệng

Khi xây dựng nhân vật người vợ nhặt, Kim Lân đã rất thành công và khiến người đọc bị cuốn hút vào câu chuyện Đồng thời qua đó, nhà văn cũng thể hiện một cách rất chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945

Ở đó, vì quá đói nên đến cái quyền cơ bản nhất và vốn có của con người

là quyền mưu cầu hạnh phúc cũng không có, khiến họ phải “nhặt” nhau

về Không mai mối, không sính lễ, không cau trầu, Thị đã theo không về nhà Tràng Có lẽ lúc đó, người ta cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn nên chẳng bận tâm để ý về việc thị làm vợ Tràng như thế nào Họ chỉ thấy lạ một điều rằng, giữa lúc đói khổ như thế này mà còn đèo bòng nhau Còn thị, thị cũng bước qua rào cản phong tục và cái lý lẽ thường tình rằng làm người con gái phải đoan trang, có giá trị… Mà thị cũng đâu có phải là không đoan trang Rõ ràng Tràng có lời mời thị về làm vợ, chứ không phải thị tự dưng chạy theo Tràng Chỉ là sự việc diễn ra quá bất ngờ và chóng vánh khiến cho ai cũng ngỡ ngàng Thế nhưng, một khi đã làm

vợ, thị đã rất chu đáo trong bổn phận làm vợ của mình Hơn nữa, thị

Trang 19

cũng không hề ca thán nửa lời với cảnh ngộ đói kém của nhà chồng Mà

có ca thán cũng đâu có nghĩa lý gì khi tất cả mọi người lúc đó đều cùng chung một hoàn cảnh

Và rồi, chính thị là người đã đưa ra cảnh tượng nhân dân đua nhau phá kho thóc của Nhật, chia cho dân nghèo Đây chính là hình ảnh đắt giá làm nên giá trị sâu sắc cho tác phẩm Cảnh tượng ấy là niềm cổ vũ cho nhân dân, cho những con người cùng khổ vùng dậy đấu tranh giải cứu chính mình Để từ nay về sau, những mảnh đời như thị không còn phải khổ nữa, cũng không có hiện tượng phải làm “vợ nhặt” nữa

Qua câu chuyện của cuộc đời người vợ nhặt đầy lam lũ, khổ cực nhưng vẫn đầy lòng nhân ái khiến người đọc liên tưởng đến những người vợ trong thời hiện đại Họ sống sung sướng, đầy đủ nhưng không phải ai cũng có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp như thị Lại một lần nữa, thị chính là tấm gương sáng về người vợ tốt cho mọi người noi theo

Thị tuy chỉ là một người vợ được Tràng “nhặt” về nhưng chính thị đã mang lại nguồn sống mới, niềm hi vọng mới cho Tràng và cả mẹ Tràng, chính thị đã làm tăng sức hấp dẫn và giá trị cho tác phẩm Tất cả các nhân vật trong đó đều chịu chung một số phận nghèo đói, thê lương, cùng chung một ách thống trị và tất nhiên cũng cùng chung một niềm nung nấu là sẽ đứng lên đấu tranh, phá kho thóc của bọn Nhật, để cứu chính mình và chia cho dân nghèo

Cảm nhận về nhân vật Thị trong Vợ nhặt – Bài viết tham khảo

Trang 20

(Mẫu 6)

Vợ nhặt là tác phẩm đặc sắc, tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Kim Lân Nội dung truyện kể về anh Tràng ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò thuê Giữa trận đói kinh hoàng nuôi thân còn khó, thế mà bất ngờ, anh dám đèo bòng thêm cô vợ nhặt Kim Lân đã sáng tạo ra tình huống nhặt vợ rất độc đáo, đồng thời vận dụng ngôn ngữ bình dân tự nhiên, mộc mạc để khắc họa tính cách của từng nhân vật Từ bà cụ Tứ đến anh Tràng và người vợ nhặt, nhân vật nào cũng sinh động và chân thực

Ngay cái tên truyện là Vợ nhặt cũng gợi cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị Nhân vật vợ nhặt được tác giả miêu tả rất tinh tế, phù hợp với diễn biến tâm trạng ở từng tình huống khác nhau Chị đã đem lại niềm vui ấm áp và hạnh phúc gia đình cho mẹ con Tràng trong cảnh ngộ mấp

mé giữa sự sống và cái chết Vì thế nhân vật này chứa đựng ý nghĩa

nhân văn sâu sắc, góp phần hoàn thiện giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

Trước khi trở thành vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen ra đẩy xe

bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng Lần gặp thứ hai, thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước mặt

Tràng Đã vậy, Thị còn chủ động đòi ăn Khi được Tràng mời ăn bánh đúc, Thị đã cúi gằm ăn một mạch bốn bát bánh đúc Ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng và khen ngon… Trong đói khát cùng cực, thị gần như đánh mất đi nhân cách, sự tế nhị của con người

Trang 21

Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dài chấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng Tiếng thở dài thất vọng

vì hoàn cảnh của Tràng cũng chẳng có gì khá hơn thị Tràng đau chỉ nghèo mà còn có mẹ già, còn phải lo toan, biết có cưu mang thị nổi hay không, hay có thể sẽ khiến cuộc đời của thị thêm khổ Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đáng thương

Ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái ấm gia đình thực sự, bởi thế thị quyết định gắn kết với tràng, trở thành một phần trong gia đình, bất chấp ngày mai ra sao

Sau đêm tân hôn, người phụ nữ ấy có sự thay đổi hoàn toàn về tâm trạng

và tính cách Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa

Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua Thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đầy đủ sự thay đổi tuyệt vời ấy: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực

không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh” Câu văn này đã ghi lại cảm xúc chân thật của Tràng trước sự đổi thay tích cực của vợ Phải chăng tình yêu đích thực với sức nhiệm màu diệu kì đã có sức cảm hóa với thị

Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng Thị vẫn vui vẻ, bằng lòng Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy” Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ

về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm” Qua

Trang 22

đó, ta thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là Người truyền tin cách mạng

Nhân vật người vợ nhặt được Kim Lân đặt vào tình huống hết sức độc đáo, từ đó nhân vật bộc lộ tâm trạng, cách hành xử của bản thân Nhân vật được tập trung khắc họa ở cử chỉ, hành động qua đó làm bật lên vẻ đẹp của người vợ nhật

Bằng ngòi bút tin yêu và trân trọng, Kim Lân đã dựng lên một chân

dung bất hủ của văn học Người vợ nhặt chính là nạn nhân tiêu biểu nhất của nạn đói năm 1945, nạn đói đã làm nhòe mờ nhân cách, lòng tự trọng của nhân vật Nhưng ẩn sâu trong con người ấy vẫn là một người phụ nữ đầy dịu dàng, nữ tính, biết vun vén và có khao khát hạnh phúc mãnh liệt, đồng thời cũng là người có niềm tin mãnh liệt vào tương lai

Ngày đăng: 16/11/2022, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w