Chứng minh rằng “cảnh vượt thác trong “người lái đò sông đà” và cảnh cho chữ trong “chữ người tử tù” của nguyễn tuân đều là những “cảnh tượng xưa nay chưa từng có" – Ngữ văn 12 Dàn ý Chứng minh rằng “[.]
Trang 1Chứng minh rằng: “cảnh vượt thác trong “người lái đò sông đà” và cảnh cho chữ trong “chữ người tử tù” của nguyễn tuân đều là những “cảnh tượng xưa
nay chưa từng có" – Ngữ văn 12 Dàn ý Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có"
I Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về nhà văn Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò sông Đà
- Nguyễn Tuân đã khắc họa nên một cảnh tượng có một không hai - cảnh vượt thác của người lái đò sông Đà
II Thân bài
1 Khái quát về tác phẩm và cảnh vượt thác
- Tác phẩm được in trong tập tùy bút sông Đà (1960)
- Bố cục gồm ba phần:
Phần 1 (từ đầu đến gậy đánh phèn): Sự dữ dội, hung bạo của sông Đà
Phần 2 (tiếp đến dòng nước sông Đà): Cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò
Phần 3 (còn lại): Vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà
Trang 2- Được Nguyễn Tuân gọi là cảnh tượng có một không hai, “xưa nay chưa từng có”
2 Phân tích cảnh vượt thác
* Ở trùng vi thứ nhất:
- Con sông Đà:
Thạch trận với bốn cửa sinh và một cửa tử
Nước thác reo hò làm thanh viện cho đá
Sóng thác đã đánh miếng đòn hiểm độc nhất bóp chặt lấy hạ bộ
=> Không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp
- Ông lái đò:
Thạch trận dàn bày vừa xong thì con thuyền vut tới
Mặt ông lái đò méo xệch đi
Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng
=> Con thuyền thoát khỏi nguy hiểm
* Ở trùng vi thứ hai:
- Con sông Đà:
Tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn
Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá
=> Con sông Đà trở nên khôn ngoan hơn
Trang 3 Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liên xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử
=> Con sông ngày càng mưu mẹo muốn dồn người lái đò vào chỗ chết
- Ông lái đò:
Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó
Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vào từ động lái được lượn được
=> Ông lái đò đã chiến thắng con sông hung dữ
* Nhận xét:
- Cảnh vượt thác đã thể hiện tài hoa của ông lái đò: Ông chính là hình tượng con người lao động là biểu tượng cho trí dũng song toàn trong hành trình đi tìm cái đẹp của nhà văn
- Đây chính là một cảnh tượng có một không hai
tượng xưa nay chưa từng có"
I Tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút Người lái đò sông Đà và hình tượng ông lái đò:
Trang 4 Nguyễn Tuân là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, có thể coi ông là một định nghĩa về người nghệ sĩ Nét nổi bật trong phong cách của ông
là ở chỗ luôn nhìn sự vật ở phương diện văn hóa và thẩm mĩ, nhìn con người
ở phẩm chất nghệ sĩ và tài hoa Ông thường có cảm hứng mãnh liệt với cái cá biệt, phi thường, dữ dội và tuyệt mĩ
Người lái đò sông Đà là bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi Người lái đò sông Đà cho ta diện mạo của một Nguyễn Tuân khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời này
Hình tượng người lái đò sông Đà trong quá trình vượt thác là hình tượng trung tâm của tác phẩm…
II Vẻ đẹp hình tượng nhân vật người lái đò sông Đà trong quá trình vượt thác:
* Giới thiệu chân dung, lai lịch:
Tên gọi, lai lịch: được gọi là người lái đò Lai Châu
Chân dung: “tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”, “cái đầu bạc quắc
thước… đặt lên thân hình gọn quánh chất sừng chất mun”
*Vẻ đẹp của người lái đò sông Đà trong quá trình vượt thác :
– Vẻ đẹp trí dũng: Khắc họa trong tương quan với hình ảnh sông Đà hung bạo, hùng vĩ: Nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật một cuộc chiến không cân sức: một bên là thiên nhiên bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song với sóng nước, với thạch tinh nham hiểm; một bên là con người bé nhỏ trên chiếc thuyền con én đơn độc và
vũ khí trong tay chỉ là những chiếc cán chèo
– Cuộc giao tranh với ba trùng vi thạch trận
Cuộc vượt thác lần một: Sông Đà hiện lên như một kẻ thù nham hiểm, xảo quyệt Trước sự hung hãn của bầy thạch tinh và sóng nước, ông lái đò kiên cường bám trụ “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình” Trước đoàn quân liều mạng sóng nước xông vào (…), ông
đò “cố nén vết thương vẫn kẹp chặt lấy cái cuống lái, mặt méo bệch đi”
nhưng vẫn kiên cường vượt qua cuộc hỗn chiến, vẫn cầm lái chỉ huy “ngắn gọn mà tỉnh táo” để phá tan trùng vi thạch trận thứ nhất
Trang 5 Cuộc vượt thác lần hai: Dưới cây bút tài hoa, phóng túng, con sông Đà tiếp tục được dựng dậy như “kẻ thù số một” của con người với tâm địa còn độc ác
và xảo quyệt hơn Ông lái đò “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”
⇒ Trước dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá, ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên dòng thác như cưỡi trên lưng hổ Khi bốn năm bọn thủy quân cửa
ải nước xô ra, ông đò không hề nao núng mà tỉnh táo, linh hoạt thay đổi chiến thuật, ứng phó kịp thời “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” để rồi “những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”
+ Cuộc vượt thác lần ba: Bị thua ông đò ở hai lần giao tranh trước, trong trùng vi thứ ba, dòng thác càng trở nên điên cuồng, dữ dội Chính giữa ranh giới của sự sống và cái chết, người đọc càng thấy tài nghệ chèo đò vượt thác của ông lái thật tuyệt vời Ông cứ “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa… vút qua cổng đá”,
“vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”… để rồi chiến thắng vinh quang Câu văn “thế là hết thác” như một tiếng thở phào nhẹ nhõm khi ông lái đã bỏ lại hết những thác ghềnh ở phía sau lưng
– Nguyên nhân chiến thắng:
Thứ nhất, đó là chiến thắng của sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống
Thứ hai, đây là chiến thắng của tài trí con người, của sự am hiểu đến tường tận tính nết của sông Đà
Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có" (mẫu 1)
Nhà văn Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Trước cách mạng, ông được biết đến với tư cách là một nhà văn lãng mạn nổi tiếng với những sáng tác “Vang bóng một thời” “Thiếu quê hương”… , sau cách mạng, cảm hứng nghệ thuật được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống mới, ông trở thành một nhà văn kháng chiến, một nhà văn cách mạng, say sưa tìm kiếm, khám phá và ngợi ca vẻ đẹp của non sông gấm vóc và vẻ đẹp của con người Việt Nam trong lao động và chiến đấu: “Tùy bút Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ
Trang 6giỏi”… Dù ở giai đoạn sáng tác nào, văn Nguyễn Tuân cũng đem đến cho người đọc sự cuốn hút đặc biệt bởi ngòi bút tài hoa uyên bác Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân, truyện ngắn Chữ người tử tù ( trong tập Vang bóng một thời- sáng tác trước cách mạng) và Người lái đò sông Đà ( trong tùy bút Sông Đà- sáng tác trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc 1958) là hai thành công nổi bật, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả ở hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng Đặc biệt là cảnh cho chữ và cảnh vượt thác được xem là những áng văn đẹp hiếm có trong văn học Việt Nam Qua đó không những giúp ta cảm nhận được sự tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân mà còn thấy được những nét mới trong phong cách nghệ thuật của ông
Cảnh cho chữ nằm ở phần cuối truyện ngắn Chữ người tử tù Câu chuyện là cuộc gặp gỡ giũa hai con người trong một tình huống vô cùng hi hữu: Một bên là Huấn Cao có tài viết chữ nhanh và đẹp, văn võ song toàn nhưng lại là kẻ phản nghịch lãnh án tử hình; một bên là viên quản ngục-kẻ thực thi pháp luật đang giam giữ Huấn Cao nhưng lại là người có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, yêu quý cái Đẹp Trên bình diện xã hội, họ đối lập nhau, nhưng trên bình diện nghệ thuật , họ đều là
những con người chân chính yêu và trân trọng cái đẹp Sự gặp gỡ giũa hai con người ấy trong chốn lao ngục ấy tạo ra một tình huông đầy kịch tính và kịch tính càng được đấy đến cao trào khi quản ngục bỗng nhận được công văn khẩn và biết sáng sớm mai Huấn Cao đã bị giải ra pháp trường Liệu cái sở nguyện thiết tha của viên quản ngục là có được chữ Huấn Cao để treo trong nhà có thực hiện được không? Liệu tấm lòng biệt nhỡn liên tài của ông có được Huấn Cao thấu hiểu? Liệu con người tài hoa Huấn Cao trước khi từ giã cõi đời có kịp để lại cho đời những dòng chữ cuối cùng? Đặt trong dòng cốt truyện, trong kết cấu của tác phẩm, cảnh cho chữ có vai trò “cởi nút”, giải tỏa mọi liên tưởng của người đọc Từ đây, nổi bật lên cái đẹp tài hoa, cái đẹp khí phách, cái đẹp nhân cách của nhân vật , nổi bật quan niệm thẩm mỹ của nhà văn Nguyễn Tuân về cái đẹp
Thư pháp ( nghệ thuật viết chữ đẹp) là một thú chơi tao nhã mang nét đẹp của văn hóa phương Đông Nó thường diễn ra trong thư phòng hoặc trong khung cảnh sơn thủy hữu tình, trời trong gió mát, có trà, có rượu, có hoa…Vậy mà cảnh cho chữ ở đây lại diễn ra trong đêm khuya , ngay trong nhà giam “tăm tối chật hẹp, ẩm ướt , tường đâỳ mạng nhện, nền đầy phân chuột phân gián” , trái ngược với những cái tăm tối bẩn thỉu ấy, nổi bật lên “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc, khói tỏa ra như đám cháy nhà, tấm lụa trắng tinh, chậu mực thơm” giữa đêm khuya bí mật “chỉ còn văng vẳng có tiếng mõ trên vọng canh” …thật đúng là một hoàn cảnh, thời gian, không gian “xưa nay chưa từng có”
Tư thế của người cho chữ và nhận chữ lại càng “chưa từng có” hơn nữa: Người cho chữ là kẻ tử tù chỉ sáng sớm mai đã ra pháp trường, cổ vẫn “đeo gông , chân
Trang 7vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ vuông tươi tắn trên tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ” Tù nhân trở thành người làm chủ tình thế ban phát cái đẹp răn dạy quản ngục Những thứ gông xiềng quái ác ấy càng tô đậm lên vẻ đẹp hiên ngang, hành động nghĩa hiệp, thiêng liêng của người cho chữ Tương phản với
tư thế, hành động này là người được nhận chữ: viên quản ngục lại “khúm núm” vái lại tù nhân, thầy thơ lại gầy gò thì “run run bưng chậu mực”
Trong cảnh này có rất nhiều điều trái với trật tự thông thường, : nhà giam – nơi ngự trị của bóng tối, cái xấu, cái ác trở thành nơi để sáng tạo nghệ thuật- sản sinh
ra cái đẹp; người tù vượt lên sự trói buộc của gông xiềng trở thành người nghệ sĩ với niềm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt, ông hiện lên một cách uy nghi, đĩnh đạc, đường hoàng Đó chính là sự lên ngôi của cái đẹp giữa chốn ngục tù, là chiến thắng của cái Đẹp, cái cao thượng, cái thiên lương trong lành đối với những cái xấu, cái ác, cái thấp hèn
Hai con người ở những vị trí đối kháng trở thành hai người bạn tri âm Cái đẹp đã đưa họ đến với nhau, không còn ranh giới giữa phạm nhân và quan coi ngục mà là một tấm lòng đáp lại một tấm lòng Vì thực sự coi nhau là tri âm, cho chữ xong, Huấn Cao còn đỡ quản ngục dậy và nói với ông những lời khuyên chân thành, tâm huyết: “…”Thầy Quản nên tìm về quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi” Ngục quan cảm động, chắp tay vái người tù:” Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Thái độ của Huấn cao thể hiện vẻ đẹp văn hóa và tinh thần nghĩa hiệp sáng ngời của một tấm lòng tri âm, lời khuyên của Huấn Cao mang ý nghĩa sâu sắc: “Cái đẹp không thể chung sống với cái ác, cái xấu, cái gốc của chữ nghĩa chính là thiên lương, người nghệ sĩ say mê cái đẹp trước hết phải giữ được thiên lương” Trước lúc giã từ cõi đời, Huấn cao đã để lại lời di huấn ấy với niềm thiết tha mong mỏi con người còn sống sáng ra lẽ đó Niềm mong mói ấy không phải chỉ có thời của ông mà đến hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị Đó cũng chính là quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Tuân về sự thống nhất giũa “tâm” và “tài”, giữa “thiện” và “mĩ” Đoạn văn đã thể hiện tài nghệ của
Nguyễn Tuân trong việc dựng cảnh , tạo không khí, giọng văn trang trọng, cổ kính, vận dụng khai thác triệt để thủ pháp tương phản để dựng nên một cảnh tượng đúng
là “xưa nay chưa từng có” Cảnh cho chữ là một trong những áng văn đẹp hiếm có của văn học Việt nam hiện đại, là một điểm sáng góp phần không nhỏ làm nên thành công cho tác phẩm Chữ người tử tù Cảnh cho chữ đem đến một kết thúc có hậu, giúp người đọc thêm yêu mến một nét đẹp trong văn hóa dân tộc, cảm phục trước một tài năng, nhân cách cao đẹp, gieo vào lòng người một niềm tin bất diệt vào chiến thắng của thiên lương
Trang 8Ông đò trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một người lao động, là hình ảnh của con người Tây Bắc trong công cuộc lao động, xây dựng cuộc sống mới , đồng thời cũng là một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh Để hiểu được tài nghệ siêu phàm của ông đò, trước hết chúng ta phải nói đến sông Đà- đối tượng mà ông chinh phục-một con sông mang đậm nét đẹp trữ tình và hung bạo Tác giả đã miêu tả ông đò trong thề tương phản với thế lực thiên nhiên hùng hậu sông Đà- một nhân vật vô cùng sống động- mang diện mạo và tâm địa của thứ kẻ thù số một đối với con người diện mạo đó được thể hiện rõ nét qua địa thể hiểm trở:Bờ đá, ghềnh, xoáy nước, như tiếng rống của ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng tre nứa nổ lửa… Đáng gờm hơn cả là tâm địa của nó qua cách bày binh bố trận nham hiểm với vô số những boong-ke chìm, pháo đài đá nổi, ba lớp trùng vi thạch trận Để chinh phục một đổi thủ cao tay như thế, đòi hỏi ở người lái đò một sự từng trải, dày dặn kinh nghiệm, một bản lĩnh gan dạ can trường, một sự thông minh khôn khéo và đặc biệt là tài năng siêu việt “Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu, và những đoạn xuống dòng Trên sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi”……
Sự am hiểu kỹ càng về đối tượng chính là một yếu tố quan trọng giúp cho ông có được tư thế chủ động trong cuộc chiến với sông Đà Cảnh vượt thác chính là tâm điểm nóng nhất, một trận thủy chiến vô cùng ác liệt, gay cấn, đầy không khí chiến trận, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của ông đò: người lao động- nghệ sĩ tài ba Mở đầu đoạn miêu tả cảnh vượt thác đã mang đạm không khí trận mạc:“Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới Phối hợp với đá, thác nước reo hò làm thanh viện cho đá” Cảnh hỗn chiến ác liệt diễn ra “ mặt nước hò la vang dậy, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo, sóng nước như thể quân liều mạng xông vào mà “đá trái” mà “ thúc gối vào bụng và hông thuyền… Có lúc chúng đội cả thuyền lên”… Sóng thác đã đánh miếng đòn hiểm độc nhất bóp chặt lấy hạ bộ” khiến cho ông đò đau điếng mặt méo bệch đi Nguy hiểm là vậy nhưng ông lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân kẹp chặt cuống lái , bình tĩnh “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi
sóng” vẫn nghe tiếng chỉ huy ngắn gọn , tỉnh táo, của người cầm lái, con thuyền thoát khỏi nguy hiểm vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất Thế nhưng trận chiến chưa dừng ở đó mà mỗi lúc càng quyết liệt hơn Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và phải thay đổi chiến thuật Nhờ kinh nghiệm già dặn của mình, ông đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, nắm vững quy luật phục kích của lũ đá nơi ái nước nguy hiểm này: Trùng vi thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử hơn đánh lừa con thuyền, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá” Ông lái đò bắt đầu cuộc tấn công bằng cách “nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi” ông cho con thuyền “phóng nhanh vào cửa sinh mà lái miết một đường chéo
Trang 9về phía cửa đá ấy” Bọn tướng đá, đứa thì “ông tránh mà rảo bơi chèo lên”, đứa thì
bị “ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” Cuối cùng ông thắng còn bọn
đá tướng thất bại thảm hại “tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng” Đến trùng vi thứ
ba, bên phải bên trái đều là “luồng chết cả” Đã vậy, còn bố trí luồng sống ngay giữa bọn đá hậu vệ”
Ông lái đò mưu trí “phóng thẳng con thuyền, chọc thủng cửa giữa đó” rồi đưa thuyền “vút qua cổng đá cánh mở cánh khép” “Chiếc thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước , vừa xuyên vừa tự động lái lượn được”Thế là hết thác Thật là tài tình hết chỗ nói Tài nghệ lái đò vượt thác như ông cũng được xếp vào bậc siêu phàm xưa nay chưa từng có! Đọc đến đây ta mới có cảm giác vỡ òa, thở phào nhẹ nhõm
Đoạn văn huy động sức mạnh của quan sát, tưởng tượng, liên tưởng, các phép nhân hóa, so sánh, tương phản được vận dụng linh hoạt, ngôn ngữ phong phú, giàu tính tạo hình, vận dụng kiến thức nhiều nghành nghệ thuật, đặc biệt là quân sự, võ thuật, tác giả tạo nên một cảnh chiến trận giàu kịch tính, tạo cảm giác mãnh liệt Sông Đà hùng hậu, hung bạo, lắm mưu nhiều kế, ông đò bé nhỏ giữa muôn trùng sóng nước nhưng có trí lực, tài nghệ phi thường
Hàng loạt những động từ mạnh thể hiện sự cuồng nộ của sông Đà: ”rống lên”, ” nhổm dậy”, “vồ lấy”, ”đánh khụy”, ” quật”, “túm lấy” , “thúc gối”, “đá trái”, “đội” , ”lật ngửa”, “bóp chặt”…;đối chọi với chúng, ông đò trong thể cưỡi hổ tung
hoành:”nắm chặt”, ”kẹp chặt”, “ghì cương”, ”phóng nhanh”, “lái miết”, “đè sấn”,
“chặt đôi”, “phóng thẳng”, “xuyên nhanh”, “chọc thủng”… Mật độ động từ dày đặc diễn tả nhiều hành động liên tiếp dồn dập, mạnh mẽ khiến người đọc như nghẹt thở để rồi thở phào nhẹ nhõm khi kết thúc Cảnh vượt thác có thể xem là đoạn hay nhất trong bản anh hùng ca ngợi ca trí dũng tuyệt vời của con người lao động Khám phá sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ, con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ
Cả hai hình tượng nhân vật: Huấn Cao và ông đò đều là những con người tài hoa nghệ sĩ Cho dù họ ở những thuộc những giai đoạn, tầng lớp khác nhau, làm
những công việc khác nhau nhưng đều là đối tượng của cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân Huấn Cao trong cảnh cho chữ hiện lên với vẻ đẹp của tài thư pháp, của thiên lương, khí phách; thì ông đò trong vượt thác lại được thể hiện qua tài nghệ tay lái tài hoa điêu luyện
Sự uyên bác của Nguyễn Tuân được thể hiện qua việc vận dụng vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực : văn hóa, lịch sử, địa lý, điện ảnh hội họa, quan sự, võ thuật
Trang 10… hai cảnh trên đều đem đến cho người đọc những kiến thức bổ ích một cách thú
vị Đặc biệt có cảm hứng đối với những cảnh tượng tạo cảm giác mãnh liệt Ông là nhà văn của những tình cảm lớn, những cảm giác mạnh, trong hai cảnh đã phân tích đều truyền đến cho người đọc những rung cảm mãnh liệt Thủ pháp tương phản thường được vận dụng để tô đậm những cảnh tượng gây ấn tượng dữ dội Trong cảnh cho chữ ông Huấn đã cho chữ trong hoàn cảnh ngục tù tăm tối , trong cảnh vượt thác ông đò bé nhỏ chinh phục sông Đà hung bạo Vốn ngôn ngữ phong phú, chuẩn xác, giàu giá trị tạo hình, gợi cảm câu văn được gọt dũa cẩn trọng Ngôn từ trong văn ông biến hóa khôn lường Ông được mệnh danh là thầy phù thủy của ngôn ngữ ở cả hai cảnh trong hai tác phẩm đã khẳng định tài nghệ đó của ông
Trong cảnh cho chữ ông tìm cái đẹp vang bóng một thời đã lùi vào quá khứ, ở các bậc siêu phàm, trong cảnh vượt thác ông đã phát hiện và ngợi ca cái đẹp trong đời sống thực taị của đất nước, nhân dân lao động Ngày trước ông đem cái tài hoa uyên bác để chống đối, phủ nhận thực tại đen tối, giờ đây, ông dùng nó để kiếm tìm và khẳng định những vẻ đẹp trong xã hội mới-“đúng chất vàng mười” Trước đây ông tuyệt đối hóa cái phi thường, nay ông phát hiện sự thống nhất giữa cái phi thường và bình thường Ngôn ngữ trước đây cổ kính, đài các, giọng văn ngang tàng, kiêu bạc, nay hiện đại, gắn với đời thường Sự thay đổi đó làm cho văn
Nguyễn Tuân vẫn tài hoa uyên bác mà không ngông ngạo, tài hoa uyên bác mà đôn hậu tin yêu
Hiện thực cuộc sống thay đổi đem dến cho nhà văn cái nhìn mới, nguồn cảm hứng mới, đặc biệt là dưới đường lối lãnh đạo của Đảng, xác định nhiệm vụ của người cầm bút Tình yêu với quê huơng đất nước, niềm lạc qua tin tưởng vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới hòa vào niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật Tất cả tạo nên một Nguyễn Tuân tài hoa nghệ sĩ – niềm tự hào của Văn học Việt Nam và sáng tạo nên những tuyệt tác xưa nay chưa từng có
Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có" (mẫu 2)
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con Tàu (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Tây Bắc đã được xem như một mảnh đất hứa cho văn chương nghệ thuật, bởi vùng núi ấy không chỉ để lại nhiều ân tình mà còn khiến cho các nhà văn, nhà thơ có được những nguồn cảm hứng bất tận Nếu như Nguyễn Huy Tưởng đã có cho mình
Trang 11cuốn tiểu thuyết "Bốn năm sau", Tô Hoài ghi dấu ấn với VCAP, Nguyễn Khải viết nên "Mùa lạc" thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mảnh đất này với tập "Tùy bút Sông Đà" mà linh hồn là bài kí "Người lái đò Sông Đà" Thưởng thức bài kí, người đọc không khỏi ấn tượng với vẻ đẹp của một chiến binh sông nước đã vượt bao trùng vi thạch trận như một người nghệ sĩ tài hoa trên mặt trận vượt thác leo ghềnh
Vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật ấy đã được ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn Tuân khắc họa sống động, chân thực qua cảnh vượt thác có một không hai: " "
"Nếu Xuân Diệu xem tình yêu là tôn giáo thì Nguyễn Tuân xem cái đẹp như là tôn giáo của mình" (Gs Trần Đình Sử) Thật vậy, Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, suốt đời đi tìm cái đẹp Ông sáng tác nhiều thể loại, song thành công nhất vẫn
là thể tùy bút "Người lái đò sông đà" trích trong tập tùy bút "Sông Đà", xuất bản năm 1960, là kết quả của chuyến đi thực tế đến miền Tây Bắc năm 1958 của
Nguyễn Tuân, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người nơi đây
Bằng ngòi bút tài hoa và quan niệm duy mĩ về cái đẹp, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng ông lái đò, một hình tượng nghệ thuật độc đáo và hấp dẫn Hình ảnh người lái đò được nhà văn xây dựng qua công việc lao động thường nhật Nguyễn Tuân không đặt cho nhân vật của mình một cái tên cụ thể, mà lấy nghề nghiệp để gọi, từ đây có thể thấy nhà văn không chỉ nói đến người lái đò mà còn hướng tới những con người lao động khác ở Tây Bắc nói riêng, và khắp mọi miền
tổ quốc nói chung, những con người sống rất âm thầm, giản dị nhưng mỗi ngày đều không ngừng cống hiến cho đất nước Hình ảnh ông lái đò hiện lên với một vẻ ngoài in hằn mùi sông nước, gắn liền với nghề nghiệp của ông "tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh ra như kẹp lấy một cái bánh lái tưởng tượng, giọng nói ào ào như thác lũ sông Đà, nhãn giới vòi vọi như nhìn về một bến xa nào đó " đặc biệt trên ngực ông có nhiều "củ nâu" đó là vết tích của những ngày tháng chiến đấu vật lộn với sông Đà, mà Nguyễn Tuân đã dí dỏm ví nó như là "những huân chương lao động siêu hạng"
Ông lái đò không phải là người an phận ngược lại ông thích đương đầu với hiểm nguy, khó khăn, với những pha hành động gay cấn, thế nên ông thích đi qua những ghềnh thác khó nhằn của con sông Đà Dù tuổi đã cao, nhưng ông luôn mang một tâm hồn trẻ khỏe, hiếu chiến, bản tính mạnh mẽ, can trường, niềm tin yêu cuộc
Trang 12sống, cùng sự gắn bó với nghề nghiệp và con sông Đà hùng vĩ, công việc của ông nghiễm nhiên trở thành niềm đam mê bất diệt, là niềm vui trong cuộc sống lao động vốn vất vả của ông sông Đà trong lòng ông lái đò như một bản thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc lòng, đồng thời nắm vững "binh pháp của thần sông thần núi", như một vị tướng tài vận dụng xuất sắc binh pháp Tôn Tử "biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng", lại cũng như một người nghệ sĩ chuyên nghiệp nắm rõ cái mặt trận nghệ thuật đầy cam go của mà ông đã theo đuổi gần hết đời người Chỉ bằng những nét khắc họa như vậy, hình ảnh ông lái đò của Nguyễn Tuân đã để lại một dấu ấn sâu sắc, ấn tượng trong lòng độc giả
Đoạn trích về cuộc vượt thác đã tập trung khắc họa hình tượng ông lái đò tài hoa, trí dũng trong trận thủy chiến qua ba trùng vi thạch trận trên sông đà Trước hết, ở trùng vi đầu tiên, đối diện với trận địa được dàn bày sẵn của sông Đà, người lái đò
đã quả cảm nghênh chiến Trận địa ấy gồm bốn cửa tử, duy nhất một cửa sinh nằm lập lờ bên phía tả ngạn Ở đây nước phối hợp với đã reo hò làm thanh viện, bọn đã thì giống như những hình nhân bặm trợn, chúng "bệ vệ, oai phong, lẫm liệt, một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào." Bằng các từ ngữ: Reo hò,
bệ vệ, oai phong lẫm liệt, thách thức người đọc đã cảm nhận được không khí trận chiến gay cấn, hồi hộp và đầy kịch tính Đó chính là biệt tài phù thủy ngôn ngữ của Nguyễn Tuân
Thác đá sông Đà rất khôn ngoan, chúng không chỉ đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến Trước đó cũng đã dùng âm thanh của thác ghềnh để khiêu khích "giọng gằn mà chế nhạo", có lúc lại "rống lên như tiếng của một ngàn con trâu mộng" Còn giờ đây, chúng lại nhờ "nước thác làm thanh viện cho đá" Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế vô cùng hiểm hóc, lại có sự chuẩn bị công phu sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã "ùa vào mà bẻ gãy cán chèo",
chúng "liều mạng vào sát nách mà đá trái", "thúc gối vào bụng và hông thuyền", có lúc "đội cả thuyền lên" Một loạt động từ được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên
Trang 13Bị tấn công bất ngờ với không ít chiêu trò nhưng người lái đò vẫn không hề nao núng, ngược lại, ông bình tĩnh chiến đấu với trận địa sông Đà Với chiến thuật phòng ngự để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, "ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng" Đây là kinh nghiệm quý báu trên chiến trường sông nước, bởi giữ được thăng bằng cho thuyền thì mới đi được vào đúng luồng nước Lúc này sông Đà lại chuyển thế đánh mới, nó bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật
"túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra." Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thế đánh miếng đòn hiểm độc nhất "cả cái luồn nước
vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò." Dính miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, tưởng như "một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầu sóng" Đòn đau khiến ông đò "mặt méo bệch đi" Đó là cái méo bệch vốn do cái lạnh của nước làm nhăn nheo lại thêm miếng đòn đau làm ông khách sông Đà mặt như tím tái, ngây dại Phép điệp động từ "đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm" gợi lên đòn tấn công dồn dập, quyết hành hạ người lái đò, khiến ông phải bỏ cuộc Nhưng ông đò nén đau, bằng kinh nghiệm dạn dày và sự can trường, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh Qua cách miêu tả tiếng hô chỉ huy ngắn gọn, đầy bản lĩnh của người cầm lái, Nguyễn Tuân đã không giấu được lòng ngưỡng mộ và cảm phục trước bản lĩnh kiên cường, sự dũng mãnh, bình thản của người lái đò
Nếu như ở trùng vi thứ nhất, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả thế trận một chiều từ sông Đà thì ở đoạn tiếp theo, nhà văn tập trung miêu tả thế trận của ông khách sông Đà ở sự thông minh, linh hoạt và tài nghệ vượt thác dũng mãnh, phi thường
Ở trùng vi thứ hai ngày, dường như sau khi bị người lái đò hạ gục, sông Đà càng thêm hung bạo hơn Nó tăng cường một "tập đoạn cửa tử" gồm vô số cửa tử chực chờ mai phục hòng đón lõng, bắt chết chiếc thuyền trong khi cửa sinh thì bố trí lệch qua bờ hữu ngạn, cố gắng triệt được thoát của ông đò Sông Đà tiếp tục dùng thanh thế của mình để tung ra đội quân hùng hậu: "Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá" Cách so sánh liên tưởng độc đáo, ví dòng thác như một loài thú dữ, mang sức mạnh ghê gớm, đáng phải dè chừng Dòng sông trở thành
"sông đá" khiến dòng chảy như càng tăng thêm vẻ bạo liệt, cuồng nộ
So với trùng vi thứ nhất thì trùng vi này khó khăn hơn, nhưng không vì thế mà trấn
áp được tinh thần của ông lái đò Với kinh nghiệm mười năm trên chiến trường
Trang 14sông nước, ông lái đã "nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, thuộc quy luật phục kích của lũ đá" Ông đò cũng tự triết lý với mình "cưỡi lên thác sông Đà là cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ", vì thế "không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật." Ở trận này, ông lái đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh Như một vận động viên đua ngựa,
"nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng" Sông Đà lúc này như ngựa bất kham nhưng ông đò vẫn cố gắng chế ngự, rồi bất ngờ ông tăng tốc "phóng nhanh", "lái miết về phía cửa đá" với tốc
độ di chuyển mau lẹ, nhịp độ dồn dập, tinh thần sung sức, không hề lưỡng lự mà tận dụng tốt thời gian có hạn Nhưng sông Đà cũng không phải dạng vừa, nó xua
"bốn năm bọn thủy quân bên bờ trái xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử" Ông đò đã cảnh giác sẵn và biết được trận địa mai phục nên "đứa thì ông tránh
mà rảo bơi chèo", "đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến" Hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông đò: Nắm, ghì, phỏng, lái, tránh, ráo, đè, chặt Chính nhờ sự mưu trí và tài năng ấy, ông đò đã vượt qua hết các cửa tử Một trùng vi với bao nhiêu cạm bẫy mà chỉ với vài ngón đòn, ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá, đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt "tiu nghỉu, xanh lè thất vọng" Qua
đó, ta thấy được vẻ đẹp trí dũng song toàn của người lái đò thăng hoa trên mặt trận vượt thác, mà thấp thoáng trong sự chủ động, hiên ngang ấy, ta dường như thấy được vẻ đẹp hào hùng của vị Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa thần nhổ tre đánh giặc
Trùng vi thứ ba là cơ hội cuối để Sông Đà thử thách tài nghệ của ông lái đò, là hiệp đấu cuối cùng giữa hai bên lực lượng Trùng vi này ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế "trên đe dưới búa" làm cho người lái đò phải đối mặt với thế "tiến thoái lưỡng nan", nhưng "trong cái khó lại ló cái khôn", ông lái
đò đã biến chiếc thuyền sâu bơi chèo thành một mũi tên, còn ông giống như một cung thủ Trận này phải dùng chiến thuật "đánh nhanh thắng nhanh" Ông đã nhanh chóng "phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế
Trang 15là hết thác" Một loạt các động từ lại được sử dụng để miêu tả cách đánh của ông đò: "Phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh, lái được, lượn được " phối hợp phép điệp "cánh mở, cánh khép", "cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng", âm thanh "vút vút" tạo nên sự thần tốc trong cách đánh Cuối cùng cách đánh nhanh thắng nhanh đã giúp người lái đò vượt trùng vi đầy phi thường Quả đúng như Phan Huy Đông đã từng nhận định, "Đọc Người lái đò sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ" Đến đây, người lái đò đã khiến nhà văn, khiến người đọc và có lẽ là cả đội quân đá trên sông Đà phải hoàn toàn tâm phục khẩu phục Ông đã bộc lộ hết tài năng của mình, thể hiện một trình độ chèo lái điêu luyện, dạn dày, siêu phàm như đua tài cùng tạo hóa Ông thực sự là một tay lái ra hoa, một nghệ sĩ chèo đò vượt thác, thậm chí làm xiếc trên con thuyền Vượt qua ba cửa ải mà chỉ cần sơ sẩy là phải trả giá bằng tính mạng, lái đò chính là hiện thân của người lao động đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt, vật lộn với thiên nhiên để giành lại sự sống
Đọc hết đoạn vượt thác đầy cam go, gay cấn, ta cứ cảm tưởng mình vừa coi một bộ phim hành động nghẹt thở, hồi hộp đến từng phút giây, mà ông lái đò chính là nhân vật chính Với lối dựng cảnh đặc sắc, giàu giá trị tạo hình, cách kể chuyện kịch tích, các phép liên tưởng tưởng tượng độc đáo, đầy bất ngờ và thú vị, các biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, sử dụng ngôn ngữ ở nhiều lĩnh vực kiến thức như điện ảnh, võ thuật, thể thao, NT đã làm nổi bật hình ảnh một người lái đò với sức mạnh, trí thông minh và lòng quả cảm đã xuất sắc chế ngự con sông đà hung bạo, hiểm ác Cuộc chiến đấu giữa ông lái đò và con sông Đà chính là tiêu biểu cho cuộc chiến giữa thiên nhiên dữ dội và con người kiên cường, hiên ngang Ngôn ngữ sống động, biến hóa phong phú, những câu văn co duỗi nhịp nhàng, giàu hình ảnh và sắc thái, mà nói như nhà thơ Phạm Tiến Duật là những câu nói "tỉa tót mà vẫn mạch lạc" Có thể thấy, NT là một nhà văn sẵn sàng đua tài với tạo hóa, mà gặp cảnh vượt thác ngoạn mục, li kì, ngòi bút ông được dịp thăng hoa với nghệ thuật, phô bày tất cả những gì đặc sắc nhất
Đoạn trích như tạc một bức phù điêu sống động về người lái đò – "chất vàng
mười" đích thực giữa thiên nhiên điệp trùng Ca ngợi người lái đò chính là ca
người vẻ đẹp của con người lao động Tây Bắc Qua hình tượng nhân vật trong tác phẩm có thể hình dung trên các miền đất thiên nhiên hung dữ có hàng nghìn hàng
Trang 16vạn những con người quả cảm và nghệ sỹ như người lái đò dòng sông cuối trời Tây Bắc, họ vẫn luôn hiện diện thầm lặng và chiến đấu trên khắp mọi vùng đất tổ quốc Việt Nam Đó cũng là những con người đối mặt với thiên nhiên hung dữ, tận dụng sức mạnh thiên nhiên làm lên cuộc sống và tham gia chiến đấu chống kẻ thù ở miền Nam, như Dì Tư béo, Ông lão bán rắn, Phường săn cá sấu trong "Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi hay Chín Kiên, ông Sáu già trong "Rừng U Minh" của Nguyễn Văn Bổng
Huy-gô đã từng nói: "Bình thường là cái chết của nghệ thuật" Có lẽ đó là điều mà Nguyễn Tuân sợ nhất Con người ấy luôn muốn đề cao bản ngã của mình, "không
để mình giống ai và cũng không ai bắt chước được mình" (Phan Cự Đệ) Với tùy bút Người lái đò sông Đà và việc khắc họa chân thực, sống động cảnh vượt thác,
NT vượt qua được quy luật nghiệt ngã của sự sáng tạo nghệ thuật, vượt lên trên cái bình thường để cho hình tượng ông lái đò cùng con sông Đà hùng vĩ mãi mãi bất tử trong lòng người yêu văn Nguyễn Tuân thực sự là một tài năng lớn, là một nhân cách lớn mà như Nguyễn Minh Châu đã từng ngợi ca: "Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ."
Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có" (mẫu 3)
Nguyễn Đình Thi gọi “Nguyễn Tuân là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật” Quả vậy, khi đọc “Người lái đò sông Đà”, người đọc sẽ ấn tượng bởi tài hoa của ông lái đò, nhất là khi đọc đến cảnh vượt thác - một cảnh tượng có một không hai Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo Tác phẩm được in trong tập tùy bút sông
Đà (1960) Văn bản trong sách giáo khoa gồm có ba phần Phần một (từ đầu đến gậy đánh phèn) miêu tả sự dữ dội, hung bạo của sông Đà Phần hai (tiếp đến dòng nước sông Đà) là cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò Phần cuối cùng là vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà Và cảnh vượt thác nằm ở phần thứ
Trang 17hai của tác phẩm với ba trùng vi chiến trận nối tiếp nhau làm nổi bật rõ tài năng của ông lái đò
Không khí chiến trận đã xuất hiện ngay từ câu văn mở đầu: “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…” Ở vòng thứ nhất, con sông Đà bố trí thạch trận với “bốn cửa tử, một cửa sinh” Mặt hòn đá nào trông cũng “ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó” Khi “thạch trận dàn bày vừa xong thì cũng là lúc con thuyền vụt tới” Câu văn đã cho thấy được một tâm thế sẵn sàng đương đầu với chiến trận của ông lái đò Nhưng thác đá sông Đà rất khôn ngoan, nó không đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến Trước đó chúng đã dùng âm thanh của thác khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo” Còn giờ đây chúng lại nhờ “nước thác làm thanh viện cho đá” Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế vô cùng hiểm hóc Sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông
thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Bị tấn công nhưng ông lái đò không hề nao núng hay hoảng sợ Ông đã đề ra chiến thuật phòng ngự để giữ sức cho vòng đấu tiếp theo Chính vì vậy “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi
sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật “túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra” Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò” Dính phải miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, còn “mặt méo bệch đi” Nhưng ông lái đò vẫn nén đau, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh Trong vòng đấu thứ hai, sông Đà tăng thêm nhiều cửa tử hơn, “bố trí cửa sinh lệch
về phía hữu ngạn” nhằm lừa con thuyền rơi vào cửa tử Nguyễn Tuân còn phải bình luận về chiến trận lúc bấy giờ: “Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” Nhưng với kinh nghiệm nhiều năm vượt thác, ông lái đò đã không mắc bẫy “Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này” Như một vị huấn luyện viên
Trang 18giàu kinh nghiệm, ở trận này ông lái đò quyết định đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh Ông “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông
đò ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”… tốc độ di chuyển mau lẹ Nhưng đúng là một đối thủ đáng gờm, con sông Đà đáp trả chẳng hề thua kém
“Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử” Vẫn còn nhớ mặt kẻ thù quen thuộc, ông lái đò “tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” Cuối cùng, những cửa tử đã bị bỏ lại hết phía sau, chỉ nghe thấy tiếng thác đá không ngừng khiêu khích
Cao trào nhất là ở vòng cuối cùng, lúc này con Sông Đà với tinh thần không còn gì
để mất đã quyết định tung ra mọi món đòn hiểm nhất của mình Ở vòng này ít cửa hơn nhưng bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế “trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” nhưng vào “cái khó lại ló cái khôn” - ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên còn ông giống như một cung thủ đã “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng “Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế là hết thác” Vậy là cuối cùng, ông lái đò đã chiến thắng trước con sông đà hung dữ
Đoạn văn cảnh vượt thác được Nguyễn Tuân miêu tả thật tài tình với ngôn ngữ giàu hình ảnh Nhà văn đã biến cuộc vượt thác trở thành một cuộc chiến đầy gay cấn và khốc liệt khiến cho người đọc cảm thấy hồi hộp khi đọc Đặc biệt với việc
sử dụng nhiều động từ mạnh để diễn tả sự cuồng nộ của con sông Đà Mật độ động
từ dày đặc diễn tả nhiều hành động liên tiếp dồn dập, mạnh mẽ khiến người đọc như nghẹt thở để rồi thở phào nhẹ nhõm khi kết thúc
Tóm lại, cảnh vượt thác của ông lái đò chính là một cảnh tượng độc đáo, hấp dẫn người đọc đến từng câu từng chữ Nguyễn Tuân đã thành công khi khắc họa cảnh tượng độc đáo này để làm nổi bật nên sự tài hoa của người lái đò sông Đà
Trang 19Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có" (mẫu 4)
Nguyễn Tuân là một người đam mê “chủ nghĩa xê dịch” Trên hành trình tìm đến vùng cao Tây Bắc, ông đã cho ra đời tùy bút Sông Đà, trong đó nổi bật lên chính là
“Người lái đò sông Đà” Khi đọc tác phẩm này, có lẽ không người đọc nào quên được cảnh vượt thác của ông lái đò - một cảnh tượng độc nhất vô nhị
Người lái đò sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960) Tác phẩm gồm ba phần chính: Phần một (từ đầu đến gậy đánh phèn) miêu tả sự dữ dội, hung bạo của sông Đà Phần hai (tiếp đến dòng nước sông Đà) là cuộc sống con người trên sông
Đà, hình tượng người lái đò Phần cuối cùng là vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà Cuộc vượt thác có một không hai nằm ở phần hai của tác phẩm nhằm tô đậm chất tài hoa của ông lái đò Đối với Nguyễn Tuân lúc này, người nghệ sĩ chính là những con người lao động bình dị nhưng lại có chất nghệ sĩ trong chính nghề nghiệp của mình Và cảnh tượng ông lái đò vượt qua con thác đã thể hiện thành công điều đó
Thác đá sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả: “Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” Quả vậy, trong vòng thứ nhất, con sông
Đà bố trí chiến trận với “bốn cửa tử, một cửa sinh” Nhà văn còn miêu tả: “Mặt hòn đá nào trông cũng “ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó” Đối chọi với thác đá là “thạch trận dàn bày vừa xong thì cũng là lúc con thuyền vụt tới” Câu văn đã cho thấy được một tâm thế sẵn sàng đương đầu với chiến trận của ông lái đò Nhưng thác đá sông Đà rất khôn ngoan, nó không đánh trên mặt trận giáp lá
cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến Trước đó chúng đã dùng âm
thanh của thác khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo” Còn giờ đây chúng lại nhờ
“nước thác làm thanh viện cho đá” Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế vô cùng hiểm hóc: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá” Sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Bị tấn công nhưng ông lái đò không hề nao núng hay hoảng sợ Ông đã đề ra chiến thuật phòng ngự để giữ sức cho vòng đấu tiếp theo Chính vì vậy “ông đò hai tay giữ mái
Trang 20chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và
sử dụng đòn vật “túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra” Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất
“cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò” Dính phải miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, còn “mặt méo bệch đi” Nhưng ông lái đò vẫn nén đau, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh
Ở vòng vây thứ hai, sông Đà tăng thêm nhiều cửa tử hơn, “bố trí cửa sinh lệch về phía hữu ngạn” nhằm lừa con thuyền rơi vào cửa tử Nguyễn Tuân còn phải bình luận về chiến trận lúc bấy giờ: “Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” Đối diện với thế trận mới, ông lái đò không tỏ ra nao núng Người lái đò với kinh nghiệm hơn mười năm vượt thác tràn đầy tự tin “Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này” Như một vị huấn luyện viên giàu kinh nghiệm, ở trận này ông lái đò quyết định đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh Ông “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”, ông “phóng
nhanh”, “lái miết”… tốc độ di chuyển mau lẹ Nhưng đúng là một đối thủ đáng gờm, con sông Đà đáp trả chẳng hề thua kém “Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử” Vẫn còn nhớ mặt kẻ thù quen thuộc, ông lái đò “tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” Cuối cùng, những cửa tử đã bị bỏ lại hết phía sau, chỉ nghe thấy tiếng thác đá không ngừng khiêu khích
Đến vòng trận cuối cùng, con sông Đà tung ra đòn quyết định Ở vòng này ít cửa hơn nhưng bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế “trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” Dù vậy, vị thuyền trưởng ấy vẫn vững vàng chỉ huy sáu bơi “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa”, chọc thủng hàng phòng ngự của quân địch Lúc này đây con thuyền “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế là hết thác” Kết thúc trận thủy chiến với phần thắng nghiêng về ông lái
đò Khi đọc đến người đọc như được thở phào nhẹ nhõm vì chiến thắng của người lái đò sông Đà
Trang 21Để có thể khắc họa một cách sinh động cảnh vượt thác của Nguyễn Tuân đã sử dụng tài năng của một bậc thầy ngôn từ với việc kết hợp những từ ngữ chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: văn chương, thể thao, quân sự, võ thuật… Cùng với đó là việc sử dụng nhiều động từ mạnh để miêu tả sự hung bạo của con sông cũng như tài năng của ông lái đò
Cảnh vượt thác trong “Người lái đò sông Đà” đã trở thành một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có” góp phần tô đậm chất tài hoa nghệ sĩ của người lái đò sông Đà Còn Nguyễn Tuân đích thực là một nhà văn của cái đẹp
Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có" (mẫu 5)
Có quan điểm cho rằng: “Nguyễn Tuân là cái định nghĩa về người nghệ sĩ” Khi đọc tùy bút “Người lái đò sông Đà” chắc hẳn người đọc sẽ cảm thấy ấn tượng với cảnh vượt thác được nhà văn gọi là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”
Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” là kết quả của hành trình bền bỉ và sáng tạo về vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và con người Tây Bắc Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo Tác phẩm được in trong tập tùy bút sông Đà (1960) Truyện gồm ba phần chính: Phần một (từ đầu đến gậy đánh phèn) miêu tả sự dữ dội, hung bạo của sông
Đà Phần hai (tiếp đến dòng nước sông Đà) là cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò Phần cuối cùng là vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà
Bằng sự tài hoa và uyên bác, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ một dấu ấn không thể mờ phai về con sông miền Tây Bắc vừa hung bạo vừa trữ tình Và nổi lên trên thác dữ
là vẻ đẹp của một chiến binh miền sông nước với “tay lái ra hoa” đã vượt bao trùng
vi thạch trận như một người nghệ sĩ trên mặt trận vượt thác leo ghềnh Cảnh vượt thác của ông lái đò nằm ở phần thứ hai trong “Người lái đò sông Đà” Cảnh vượt thác là cảnh tượng người lái đò vượt qua ba trùng vi thạch trận với bao tướng dữ quân tợn được Nguyễn Tuân khắc họa một cách sáng tạo và đầy hấp dẫn
Trang 22Bằng ngòi bút tài hoa và quan niệm duy mỹ về cái đẹp - Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lái đò sông Đà - một hình tượng nghệ thuật độc đáo hấp dẫn Ông lái đò năm nay, tuổi ngoài 70 nhưng thân hình rắn chắc như một bức tượng cẩm thạch: ngực ông đầy những củ nâu - thương tích của những lần vượt thác mà Nguyễn Tuân gọi đó là “huân chương lao động siêu hạng” Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông khuỳnh khuỳnh; nhỡn giới ông cao vời vợi, giọng ông
ồ ồ như tiếng thác trước ghềnh Ông lái đò không chỉ được khắc họa qua ngoại hình mà còn qua tài năng, tính cách Ông xem sông Đà như một thiên anh hùng ca
và thuộc lòng sông Đà, thuộc tất cả luồng lạch; nắm được binh pháp của thần sông thần đá
Ở đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân dồn hết bút lực vào miêu tả trùng vi thạch trận đầu tiên Ở trùng vi thạch trận này - thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn,
đó là “trận địa với bốn cửa tử, một cửa sinh” Ở đây nước phối hợp với đá reo hò làm thanh viện; những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt; một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Bằng các từ ngữ: reo hò, bệ vệ, oai phong lẫm liệt, hất hàm hỏi, thách thức… người đọc cảm nhận được không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp, kịch tính Đó chính là tài năng của bậc thầy phù thuỷ ngôn ngữ như Nguyễn Tuân Thác đá sông Đà rất khôn ngoan Chúng không chỉ đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến Trước
đó chúng đã dùng âm thanh của thác khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo” Còn giờ đây chúng lại nhờ “nước thác làm thanh viện cho đá” Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế
vô cùng hiểm hóc Sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Một loạt động từ được Nguyễn Tuấn huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên: ùa vào, bẻ gãy, đá trái, thúc gối, đội,…
Bị tấn công bất ngờ nhưng người lái đò vẫn bình tĩnh Với chiến thuật phòng ngự
để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật
“túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra” Không để cho ông đò có cơ hội
Trang 23xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước
vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò” Dính miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, tưởng như “một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầu sóng” Đòn đau khiến ông đò “mặt méo bệch đi” Đó là cái méo bệch vốn do cái lạnh của nước làm nhăn nheo lại thêm miếng đòn đau làm ông khách sông Đà mặt như tím tái, ngây dại Phép điệp động từ “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” gợi lên cơn đau dồn dập, hành hạ người lái đò Nhưng ông đò nén đau,
giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh
Nếu đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả thế trận một chiều từ sông
Đà thì ở đoạn văn tiếp theo nhà văn tập trung miêu tả thế trận của ông khách sông
Đà ở sự thông minh, linh hoạt và tài nghệ vượt thác dũng mãnh, phi thường
Chuyển từ thế trận phòng ngự, ông lái đò chuyển thế chủ động tấn công Ở trùng vi thạch trận thứ hai này, sông Đà tăng cường một “tập đoàn cửa tử” và cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn
So với trùng vi một thì trùng vi này khó khăn hơn Nhưng không vì thế mà ông đò nao núng Với kinh nghiệm nhiều năm chinh chiến trên chiến trường sông nước, người lái đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá” Ông đò cũng tự triết lý với mình “cưỡi lên thác sông Đà là cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”, vì thế “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật” Ở trận này ông đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh Như một vận động viên đua ngựa, ông đò
“nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”… tốc độ di chuyển mau lẹ Nhưng sông Đà cũng không phải dạng vừa Chúng xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử Ông đò đã cảnh giác sẵn nên “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo”, “đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để
mở đường tiến” Hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông đò: nắm, ghì, phóng, lái, tránh, rảo,
đè, chặt… Chính nhờ sự mưu trí và tài năng ấy ông đò vượt qua hết các cửa tử Một trùng vi với bao cửa tử, cửa sinh mà chỉ vài ngón đòn ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá, đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt “tiu
Trang 24nghỉu, xanh lè thất vọng” Qua đó để thấy người khách sông Đà quả thật là Trí Dũng song toàn
Đến trùng vi cuối cùng, sông Đà còn một cơ hội cuối cùng để chiến thắng được người lái đò Trùng vi này ít cửa hơn nhưng bên trái bên phải đều là luồng chết, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ Có thể nói trận chiến này sông Đà
đã dùng thế “trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” nhưng vào “cái khó lại ló cái khôn” - ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên còn ông giống như một cung thủ đã “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng “Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế là hết thác” Một loạt các động từ lại được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của ông đò: Phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh, lái được, lượn được… sự thần tốc trong cách đánh và cách đánh nhanh thắng nhanh đã giúp người lái đò vượt trùng vi đầy phi thường
Qua phân tích trên, người đọc như được mở rộng tầm mắt trước tài năng miêu tả tài tình của nhà văn Nguyễn Tuân Cảnh tượng vượt thác vốn bình thường của những người lái đò đã trở thành một cảnh chiến trận “xưa nay chưa từng có”
Chứng minh rằng: “Cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân đều là những “Cảnh
tượng xưa nay chưa từng có" (mẫu 6)
Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà văn Nguyễn Minh Châu thật có lí khi cho rằng:
“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ” Nguyễn Tuân luôn tìm mọi cách để kiếm tìm và phát hiện cái mới lạ, độc đáo “xưa nay chưa từng có” trong hành trình sáng tạo Tuỳ bút Người lái đò Sông Đà là kết quả của hành trình bền bỉ
và sáng tạo về vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và con người Tây Bắc Bằng sự tài hoa, uyên bác, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ một dấu ấn không thể mờ phai về con sông miền Tây Bắc vừa hung bạo vừa trữ tình và nổi lên trên thác dữ là vẻ đẹp của một chiến binh sông nước với “tay lái ra hoa” đã vượt bao trùng vi thạch trận như một người nghệ sĩ trên mặt trận vượt thác leo ghềnh Điều đó được khắc hoạ thật
Trang 25ấn tượng mang cảm giác thật mãnh liệt qua cảnh tượng cuộc vượt thác có một không hai trong Người lái đò sông Đà
Cảnh tượng cuộc vượt thác sông Đà là cảnh tượng người lái đò vượt qua ba trùng
vi thạch trận với bao tướng dữ quân tợn “Xưa nay chưa từng có” cảnh tượng hiếm gặp, trước sau chưa có Thực chất của ý kiến là bàn đến tài nghệ vượt thác của ông lái đò và tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Tuân
Bằng ngòi bút tài hoa và quan niệm duy mỹ về cái đẹp – Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lái đò sông Đà – một hình tượng nghệ thuật độc đáo hấp dẫn Ông khách sông Đà tuổi ngoài 70 nhưng thân hình rắn chắc như một bức tượng cẩm thạch: ngực ông đầy những củ nâu – thương tích trên chiến trường Sông Đà mà Nguyễn Tuân gọi đó là “huân chương lao động siêu hạng”, tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông khuỳnh khuỳnh; nhỡn giới ông cao vời vợi, giọng ông ồ ồ như tiếng thác trước ghềnh Miêu tả người lái đò như vậy – Nguyễn Tuân
đã phần nào khắc họa được vẻ đẹp của con người lao động gắn bó với chiến trường sông nước
Hình tượng người lao động không chỉ khắc họa qua ngoại hình mà còn được khắc họa qua tính cách và trí thông minh Ông xem sông Đà như một thiên anh hùng ca
và thuộc lòng sông Đà, thuộc tất cả luồng lạch; nắm được binh pháp của thần sông thần đá Chính vì vậy trong trận thủy chiến đầy binh hùng tướng mạnh, phần thắng vẫn thuộc về con người Trí Dũng và Tài Hoa
Trí và dũng của ông lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân khắc họa một cách đậm nét với ba trùng vi thạch trận Trận thủy chiến này có thể gọi là một cảnh tượng hiếm gặp và khó lặp lại ở trên đời
Ở đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân dồn hết bút lực vào miêu tả trùng vi thạch trận đầu tiên Ở trùng vi thạch trận này – thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn,
đó là trận địa với bốn cửa tử, một cửa sinh Ở đây nước phối hợp với đá reo hò làm thanh viện; những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt; một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái
thuyền có giỏi thì tiến gần vào Bằng các từ ngữ: reo hò, bệ vệ, oai phong lẫm liệt, hất hàm hỏi, thách thức… người đọc cảm nhận được không khí trận chiến nóng
Trang 26bỏng gay cấn hồi hộp, kịch tính Đó chính là biệt tài phù thuỷ ngôn ngữ của
“ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Một loạt động từ được Nguyễn Tuấn huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên: ùa vào, bẻ gãy, đá trái, thúc gối, đội,…
Bị tấn công bất ngờ nhưng người lái đò vẫn bình tĩnh Với chiến thuật phòng ngự
để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật
“túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra” Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước
vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”
Dính miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, tưởng như “một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầu sóng” Đòn đau khiến ông đò “mặt méo bệch đi” Đó là cái méo bệch vốn do cái lạnh của nước làm nhăn nheo lại thêm miếng đòn đau làm ông khách sông Đà mặt như tím tái, ngây dại Phép điệp động từ “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” gợi lên cơn đau dồn dập, hành hạ người lái đò Nhưng ông đò nén đau, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh
Nếu đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả cuộc vượt thác ở thế trận một chiều từ sông Đà thì ở đoạn văn tiếp theo nhà văn tập trung miêu tả thế trận của ông khách sông Đà ở sự thông minh, linh hoạt và tài nghệ vượt thác dũng mãnh, phi thường Chuyển từ thế trận phòng ngự, ông lái đò chuyển thế chủ động
Trang 27tấn công Ở trùng vi thạch trận thứ hai này, sông Đà tăng cường một “tập đoàn cửa tử” và cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn
So với trùng vi một thì trùng vi này khó khăn hơn Nhưng không vì thế mà ông đò nao núng Với kinh nghiệm mười năm chiến trường sông nước, người lái đò đã
“nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá” Ông đò cũng tự triết lý với mình “cưỡi lên thác sông Đà là cưỡi đến cùng như
là cưỡi hổ”, vì thế “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật” Ở trận này ông đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh
Như một vận động viên đua ngựa, ông đò “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”… tốc độ di
chuyển mau lẹ Nhưng sông Đà cũng không phải dạng vừa Chúng xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử Ông đò đã cảnh giác sẵn nên “đứa thì ông tránh
mà rảo bơi chèo”, “đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến” hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông đò: nắm, ghì, phóng, lái, tránh, rảo, đè, chặt…Chính nhờ sự mưu trí và tài năng ấy ông đò vượt qua hết các cửa tử Một trùng vi với bao cửa tử, cửa sinh mà chỉ vài ngón đòn ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá, đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng” Qua đó để thấy người khách sông Đà quả thật là Trí Dũng song toàn
Ở trùng vi thứ ba, sông Đà còn một cơ hội cuối để thử thách người lái đò Trùng vi này ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, nguồn sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ Có thể nói trận chiến này sông Đà đã dùng thế “trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” nhưng vào “cái khó lại ló cái khôn” – ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên còn ông giống như một cung thủ đã “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được