Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu – Ngữ văn 12 Dàn ý Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu I Mở bài – Giới thiệu về vị trí của Tố Hữu trong dòng thơ ca cách mạng – Nêu vấn đề Một[.]
Trang 1Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu – Ngữ văn 12
Dàn ý Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu
I Mở bài:
– Giới thiệu về vị trí của Tố Hữu trong dòng thơ ca cách mạng
– Nêu vấn đề: Một trong những đặc điểm làm nên phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu là tính dân tộc đậm đà Bài thơ "Việt Bắc" là một minh chứng tiêu biểu cho tính dân tộc của hồn thơ Tố Hữu
II Thân bài:
1 Giải thích khái niệm "tính dân tộc" trong văn học:
Tính dân tộc là sự thế hiện những đặc điểm mang tính truyền thông của cuộc sống
và phẩm chất tâm hổn dân tộc Tính dân tộc thểhiện ở cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
2 Phân tích tính dân tộc trong bài thơ "Việt Bắc":
o về nôi dung: Thơ Tố Hữu đã phản ánh đậm nét hình ảnh, con người Việt Nam,
Tô quốc Việt Nam trong thời đại cách mạng, đã đưa những tư tưởng và tình cảm cách mạng hòa nhập và tiếp nối với truyền thống tinh thần, tình cảm, đạo lí của dân tộc Đề cập đến đề tài chiến tranh, bài thơ "Việt Bắc" hướng cảm xúc đến nghĩa tình thủy chung cách mạng của con người Việt Nam trong kháng chiến, đó là một phẩm chất có ý nghĩa truyền thống của dân tộc Bài thơ đã làm sống lại vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, vẻ đẹp của cuộc sống chiến đấu gian khổ nhưng
âm áp tình người, vẻ đẹp của lịch sử cách mạng Việt Nam một thời không quên
o Về nghê thuật: Tố Hữu sử dụng đa dạng các thể thơ, nhưng đặc biệt thành công trong các thể thơ truyền thống Thơ lục bát kết hợp giọng cổ điển và dân gian, thể hiện những nội dung tình cảm cách mạng có gốc rễ từ truyền thống tinh thần dân tộc, làm phong phú cho thể thơ lục bát dân tộc Bài thơ sử dụng cách nói "mình – ta" và lối đối đáp của ca dao dân ca, tạo nên một giọng thơ ngọt ngào thương mên, qua đó thể hiện những vấn đề có ý nghĩa trọng đại của dân tộc
o Về ngôn ngữ: Bài thơ sử dụng từ ngữ và lối nói quen thuộc của dân tộc, những so sánh ví von truyền thống nhưng lại biểu hiện được nội dung mới của thời đại Bài thơ có sự chuyển đổi linh hoạt về ngôn ngữ, giọng điệu, tạo nên hiệu quả biểu đạt cao Chất thơ mang đậm sắc màu núi rừng và cuộc sống của những người dân Việt Bắc
o Nhạc điêu: thể hiện chiều sâu tính dân tộc của nghệ thuật thơ Tố Hữu Phát huy tiếng nhạc phong phú của các câu thơ, diễn tả nhạc điệu bên trong của tâm hổn, một thứ nhạc tâm tình mà ờ bề sâu của nó là điệu cảm xúc dân tộc, tâm hổn dần tộc Giai điệu thơ vừa ngọt ngào sâu lắng khi diễn tả tình cảm gắn bó thủy chung, vừa sôi động hào hùng thể hiện cuộc chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của dân tộc, vừa tha thiết thành kính với hình ảnh Đàng và Bác Hồ kính yêu…
Nhận xét, đánh giá:
Trang 2+ Tính dân tộc và ý nghĩa, giá trị của bài thơ "Việt Bắc" trong thơ ca dân tộc: Bài thơ vừa đánh dấu một giai đoạn lịch sử của dân tộc, vừa nêu bật phẩm chất truyền thống của con người Việt Nam trong chiến tranh
+ Tính dân tộc và sự thể hiện phong cách thơ Tố Hữu: Sự gắn bó tha thiết giữa hồn thơ Tố Hữu và ấn tượng thơ của ông
- Giới thiệu đôi nét về tác giả Tố Hữu, tác phẩm Việt Bắc
- Nêu nhận định trong thơ Tố Hữu đậm chất dân tộc
b) Thân bài:
* Giải thích như thế nào gọi là tính dân tộc
- Tính dân tộc được hiểu là một đặc tính nhưng đồng thời cũng là thước đo giá trị của một tác phẩm văn học Những tác phẩm văn chương lớn từ trước cho đến nay
Mà những tác phẩm vừa mang tính nhân loại, vừa mang tính dân tộc sâu sắc
- Trong văn học, tính dân tộc được thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật
Về nội dung, một tác phẩm mang tính dân tộc phải thể hiện được những vấn đề nóng bỏng liên quan đến vận mệnh dân tộc, thể hiện được khát vọng, tình cảm và ý chí của một dân tộc Về hình thức, tác phẩm đó tiếp thu một cách sáng tạo tinh hoa văn hóa của dân tộc Nếu hiểu như thế thì thơ Tố Hữu mang phong cách nghệ thuật
+ Bài thơ đã làm sống lại vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, vẻ đẹp của cuộc sống chiến đấu gian khổ nhưng ấm áp tình người, vẻ đẹp của lịch sử cách mạng Việt Nam một thời không quên
- Về nghệ thuật:
+ Sử dụng thể thơ lục bát truyền thống kết hợp giọng cổ điển và dân gian, thể hiện những nội dung tình cảm cách mạng có gốc rễ từ truyền thống tinh thần dân tộc, làm phong phú cho thể thơ lục bát dân tộc
+ Bài thơ sử dụng cách nói "mình - ta" và lối đối đáp của ca dao dân ca, tạo nên một giọng thơ ngọt ngào thương mến, qua đó thể hiện những vấn đề có ý nghĩa trọng đại của dân tộc
- Về ngôn ngữ:
Trang 3+ Bài thơ sử dụng từ ngữ và lối nói quen thuộc của dân tộc, những so sánh ví von truyền thống nhưng lại biểu hiện được nội dung mới của thời đại
+ Bài thơ có sự chuyển đổi linh hoạt về ngôn ngữ, giọng điệu, tạo nên hiệu quả biểu đạt cao Chất thơ mang đậm sắc màu núi rừng và cuộc sống của những người dân Việt Bắc
- Nhạc điệu: thể hiện chiều sâu tính dân tộc của nghệ thuật thơ Tố Hữu
+ Phát huy tiếng nhạc phong phú của các câu thơ, diễn tả nhạc điệu bên trong của tâm hồn, một thứ nhạc tâm tình mà ở bề sâu của nó là nhạc điệu cảm xúc dân tộc, tâm hồn dân tộc
+ Giai điệu thơ vừa ngọt ngào sâu lắng khi diễn tả tình cảm gắn bó thủy chung, vừa sôi động hào hùng thể hiện cuộc chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của dân tộc, vừa tha thiết thành kính với hình ảnh Đảng và Bác Hồ kính yêu…
* Nhận xét, đánh giá:
- Tính dân tộc và ý nghĩa, giá trị của bài thơ "Việt Bắc" trong thơ ca dân tộc: Bài thơ vừa đánh dấu một giai đoạn lịch sử của dân tộc, vừa nêu bật phẩm chất truyền thống của con người Việt Nam trong chiến tranh
- Tính dân tộc và sự thể hiện phong cách thơ Tố Hữu: Sự gắn bó tha thiết giữa hồn thơ Tố Hữu và ấn tượng thơ của ông
c) Kết bài
- Nêu cảm nghĩ của bản thân về tính dân tộc trong bài thơ "Việt Bắc"
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 1)
Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình - chính trị, mang đậm khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn và màu sắc dân tộc Và có thể nói “Việt Bắc” - khúc hát ân tình của con người kháng chiến với quê hương đất nước, với nhân dân và cách mạng là một trong số những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu Đọc
“Việt Bắc” chúng ta sẽ thấy rõ những biểu hiện của tính dân tộc
Trước hơn hết, tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu được thể hiện ở mặt nội dung bởi lẽ bài thơ đã tái hiện một cách chân thực, sâu sắc, đậm đà tính dân tộc ở cảnh sắc, phong cảnh quê hương, đất nước và những nét đẹp truyền
thống của con người Việt Nam Bài thơ “Việt Bắc” đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đậm đà tính dân tộc, mang bản sắc riêng của thiên nhiên đất nước Việt Nam qua bức tranh tứ bình Đó là cảnh sắc mùa đông với sắc đỏ của những bông hoa chuối rừng:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Trang 4Có lẽ chỉ với một câu thơ thôi nhưng tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên Tây Bắc mùa đông thật sinh động Trên cái nền xanh bạt ngàn, vô tận của cây rừng, ngời lên sức sống mãnh liệt chính là sắc đỏ điểm xuyết của những bông hoa chuối Sắc xanh và sắc đỏ quyện hòa vào nhau như làm cho bức tranh càng thêm sinh động, ấm áp
Đó là bức tranh xuân với những hương, những sắc đậm sắc thái của núi rừng Tây Bắc:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Dường như trong những ngày mùa xuân, cả một rừng mơ bung nở sắc trắng tinh khôi, trẻ trung và mơ mộng Sắc trắng ấy trong những ngày xuân cũng chính là vẻ đẹp viên mãn, tràn đầy sức sống và đặc trưng cho mảnh đất nơi đây
Và nếu như sắc trắng làm nên nét đẹp của mùa xuân thì âm thanh của tiếng ve, sắc vàng chính là những nét đẹp riêng mỗi độ hè về:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Thiên nhiên ở đây được vẽ, được cảm nhận bằng cả màu sắc và âm thanh - màu vàng của rừng phách, của nắng hè và âm thanh của tiếng ve Tất cả những điều đó dường như đang cộng hưởng, quyện hòa vào nhau Chữ “đổ” được tác giả sử dụng thật độc đáo và giàu giá trị, nó gợi sự căng tràn, ăm ắp của nguồn sống, gợi lên cả bước chuyển của thời gian
Để rồi, kết thúc bức tranh tứ bình ấy chính là bức tranh mùa thu đẹp đẽ, êm đềm,
mơ mộng với ánh trăng vàng - ánh trăng hòa bình đang chiếu rọi khắp núi rừng
Mùa thu trăng rọi hòa bình
Không chỉ tái hiện bức tranh thiên nhiên đậm đà bản sắc dân tộc mà “Việt Bắc” còn vẽ nên hình ảnh những con người Việt Nam với những vẻ đẹp truyền thống từ ngàn đời Đó là những con người vất vả, lam lũ, chịu thương, chịu khó Chắc hẳn, đọc bài thơ “Việt Bắc” người đọc sẽ không thể nào quên được hình ảnh những
“người mẹ nắng cháy lưng, địu con lên rẫy” và cả những con người suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, vẫn luôn miệt mài với công việc, mỗi mùa mỗi việc, khi thì
“dao gài thắt lưng”, xuân về họ lại cẩn mẫn, tỉ mỉ “đan nón chuốt từng sợi giang”
Trang 5và khi hè đến họ lại lên núi hái măng Thêm vào đó, những con người trong bài thơ
là những con người thủy chung, tình nghĩa, luôn đồng cam, cộng khổ và san sẻ cùng nhau Vẻ đẹp ấy của họ thể hiện rõ nét qua “câu hát ân tình”, qua hình ảnh san sẻ cùng nhau trong những năm tháng kháng chiến khó khăn, thiếu thốn:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng
Và cuối cùng, tính dân tộc ở phương diện nội dung được thể hiện ở tình nghĩa của cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến - đó cũng chính là mạch cảm xúc xuyên suốt toàn bộ bài thơ
Cùng với nội dung, tính dân tộc của bài thơ còn được thể hiện rõ nét ở hình thức nghệ thuật Trước hết, bài thơ được viết theo thể thơ lục bát - một thể thơ truyền thống của dân tộc, điều này đã tạo nên âm hưởng vừa thống nhất vừa biến hóa cho bài thơ, làm cho câu thơ lúc thì dung dị, dân dã, gần với ca dao, lúc lại cân xứng, trau chuốt đến độ nhuần nhị, cổ điển Đồng thời, bài thơ cũng được viết theo lối kết cấu đối đáp quen thuộc của văn học dân gian với cặp đại từ “mình” - “ta” để ướm hỏi, trả lời, làm cho mạch cảm xúc và sự phát triển của chủ đề bài thơ cũng trên cơ
sở ấy Đặc biệt, tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật của bài thơ được thể hiện
rõ nét ở ngôn ngữ Trong bài thơ, tác giả đã rất tài tình khi sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân để tái hiện lại cuộc kháng chiến và những con người
kháng chiến cũng như vẽ nên khung cảnh về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn Đồng thời, ngôn ngữ trong bài thơ rất giàu hình ảnh và nhạc điệu - “người mẹ nắng cháy lưng”, “rừng che bộ đội rừng vây quân thù”, “chày đêm nện cối đều đều suối xa”, Và đặc biệt, tác giả đã sử dụng cặp đại từ nhân xưng “mình” - “ta” biến hóa linh hoạt với những lối biểu cảm, ngữ nghĩa phong phú vốn có của nó
Tóm lại, bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà, điều đó thể hiện rõ nét trên cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bài thơ
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 2)
Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc Ông là một tượng đài về thể thơ lục bát Nhắc tới ông, người đọc liền nghĩ ngay tới “Việt Bắc” - một bản tình
ca dạt dào cảm xúc để lại trong lòng người đọc một cảm xúc khó diễn tả được Mỗi
Trang 6câu thơ như vẽ ra một khung cảnh rất đỗi bình dị của quê hương, đất nước, con người mà nơi ấy ân nghĩa, sự thủy chung như làm điểm nhấn nổi bật trên tất cả Bài thơ “Việt Bắc” cũng thể hiện tính dân tộc sâu sắc
“Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10/1954, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu để về xuôi Bài thơ được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó
Tính dân tộc được thể hiện ở hai phương diện, nội dung và hình thức Trước hết về mặt nội dung bài thơ thể hiện ở những khía cạnh sau, hình ảnh chiếc “áo chàm” rất đỗi giản dị, tự nhiên:
“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
“Áo chàm” là hình ảnh hoán dụ cho người dân Việt Bắc anh hùng nhưng chân thực Câu thơ như đang ca ngợi tình người của con người Việt Nam Từ những con người xa lạ không quen biết, chiến tranh đã kéo đẩy họ lại gần với nhau để giờ đây
kỉ niệm tưởng chừng ngắn ngủi như lại dài đằng đẵng ấy vô thức còn đọng lại trong tâm trí của họ Bài thơ là cuộc đối thoại “mình - ta” vừa ngọt ngào, vừa sâu lắng:
"Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Khoảng thời gian 15 năm xảy ra biết bao nhiêu biến cố, thăng trầm của lịch sử để cho tình nghĩa giữa chiến sĩ và người dân Việt Bắc ngày một gắn bó keo sơn
Bên cạnh đó, hình ảnh chiến sĩ cách mạng hiện lên cũng rất chân thực, mang đậm tính dân tộc Trong giờ phút chia ly, họ bịn rịn không nỡ rời xa:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Trang 7Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Chỉ một cái “cầm tay” nhưng sao khó nói nên lời tới vậy Cầm tay như truyền thêm
cả sức mạnh, cả hơi ấm của người ở lại cho người ra đi Họ một lòng một dạ thủy chung son sắt:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
Hình ảnh “mình” lặp đi lặp lại mang dụng ý của tác giả Người chiến sĩ và người dân Việt Bắc họ như hòa quyện lại làm một không phân biệt rạch ròi được Ân nghĩa sâu nặng giữa họ không thể đong đếm Rời xa Việt Bắc người chiến sĩ mang trong mình bao nỗi nhớ, nhớ về thiên nhiên hùng vĩ, nhớ về tình người Việt Bắc Tuy nhiên họ vẫn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời
Song song với hình ảnh con người, hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Việt Bắc cũng hiện lên cũng mang đậm tính dân tộc Bức tranh tứ bình đã được ngòi bút của
Tố Hữu tô vẽ thêm thắt một cách sinh động và hấp dẫn, lôi cuốn:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Con người và thiên nhiên như hòa quyện lại với nhau Thiên nhiên làm nền cho sự xuất hiện của con người Nếu như câu lục là thiên nhiên thì câu bát là sự xuất hiện của con người Tưởng chừng như hai hình ảnh này không liên quan đến nhau
nhưng không phải như vậy Mà con người tô điểm cho thiên nhiên thêm đẹp, thêm rực rỡ hơn Con người xua đi cái lạnh giá của thiên nhiên, hòa mình vào với thiên nhiên để làm những công việc thường ngày nhưng hết sức đẹp đẽ, nên thơ
Trang 8Việt Bắc trong thơ Tố Hữu còn hiện lên với những địa danh lịch sử hào hùng, tráng lệ: Tân Trào, Hồng Thái, Ngòi Thia sông Đáy, sông Lô, Núi Hồng…
Có thể thấy, cảnh và người trong bài thơ Việt Bắc hiện lên rất thân thương giản dị
mà giàu tình người, đậm đà tính dân tộc sâu sắc
Tính dân tộc thể hiện sâu sắc nhất ở mặt hình thức Một là, thể thơ lục bát truyền thống với kết cấu lời đối đáp của đôi trai gái, giữa kẻ ở lại và người về xuôi Lục bát là thể thơ dân tộc nó đã quá quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng ngôi xưng “mình-ta” để bộc lộ hết tâm tư tình cảm của mình:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Tính dân tộc còn được thể hiện ở phương diện ngôn ngữ, nhạc điệu: Ngôn ngữ vừa giản dị, gần gũi với đời thường lại dễ thuộc, dễ nhớ kết hợp với nhạc điệu uyển chuyển, nhẹ nhàng có lúc thủ thỉ, tâm tình, lúc thì đằm thắm mượt mà lúc lại ngọt ngào êm dịu
Trám bùi để rụng, măng mai để già”
Ngoài ra, hình ảnh thơ cũng thấm nhuần tính dân tộc Ta từng bắt gặp nhiều hình ảnh giản dị trong thơ của các nhà thơ khác nhưng với thơ Tố Hữu ta lại thấy nó rất
tự nhiên, thoải mái lại rất tinh tế: Hình ảnh “trám bùi”, “măng mai” “trăng”,
“nắng”, “bản” gần gũi biết bao!!
Tóm lại, bài thơ “Việt Bắc” - đỉnh cao của văn học Việt Nam và cũng là bài thơ để đời của Tố Hữu “Việt Bắc” là khúc ca về thiên nhiên, con người Việt Bắc, là tiếng hát ân nghĩa thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc, là
Trang 9tình yêu, tình thương của Tố Hữu dành cho Việt Bắc Bằng ngôn ngữ giản dị, gắn liền với đời thường kết hợp với thủ pháp nghệ thuật như lặp từ, hoán dụ đã lột tả được nỗi nhớ da diết của tác giả với mảnh đất đầy kí ức và kỉ niệm Song song với
đó, thể thơ lục bát kết hợp một cách nhuần nhuyễn đã đưa đẩy cảm xúc của Tố Hữu lên đỉnh cao để có thể sáng tác ra được một bài thơ tuyệt vời đến như vậy Và
“Việt Bắc” là một bài thơ thể hiện đậm đà tính dân tộc
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 3)
Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra ở Thừa Thiên Huế Ông là đại biểu xuất sắc của thơ ca cách mạng và kháng chiến
Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội sau chín năm kháng chiến gian khổ, trường kì Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khăng khít, nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ và chiến sĩ cách mạng Cũng như và hơn hẳn nhiều bài thơ khác, bài thơ Việt Bắc mang tính dân tộc rất sâu đậm Qua đoạn trích học trong SGK Ngữ văn 12, ta sẽ thấy được điều đó
Tính dân tộc chính là tất cả những đặc điểm thuần Việt, gần gũi với tâm hồn người Việt Nam Ở bài thơ này, tính dân tộc biểu hiện trên nhiều phương diện như: kết cấu, hình ảnh, thể thơ, giọng điệu
Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc thể hiện trước hết ở kết cấu đối đáp kiểu ca dao giao duyên
Rất nhiều bài ca dao xưa thường dùng kiểu đối đáp để diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình:
- Mình nói với ai mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ, thấy con mình bò
- Mình nói với ta mình chửa có chồng
Ta đi qua ngõ mình bồng con ra
Kiểu kết cấu đối đáp trong ca dao giao duyên là một kiểu kết cấu độc đáo để nhân vật trữ tình có thể vừa kể lể sự việc bộc lộ cảm xúc, thể hiện thái độ tình cảm với
Trang 10“đối phương” hoặc đối tượng được nói tới Đây cũng là kiểu kết cấu tạo ra những khả năng vô hạn cho nhân vật trữ tình một “diện mạo” như ý muốn
Tố Hữu đã vận dụng kiểu kết cấu tuyệt vời ấy trong một bài thơ mà mục đích của
nó không phải để nói tới tình yêu của chàng - nàng, anh - em mà là một bài thơ ngợi ca mối quan hệ khăng khít gắn bó giữa chính phủ cách mạng và quê hương cách mạng với nhân dân Việt Bắc
thương, tình cảm ân nghĩa thủy chung giữa cán bộ cách mạng và mảnh đất Việt Bắc Mình - ta cùng nhớ về những ngày tháng đồng cam cộng khổ: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, nhớ những ngày tháng reo ca lớp học i tờ; nhớ những ngày liên hoan ngân núi rừng; nhớ những tiếng mõ rừng chiều, nhớ tiếng chày đêm nện cối, nhớ người mẹ nắng cháy lưng, cô em gái hái măng một mình, nhớ người đan nón, nhớ những đuốc sáng từng đoàn quân điệp điệp trùng trùng tiến bước nhau ra trận địa Các tiếng mình - ta, các tiếng gọi, hỏi, đáp cứ liên tiếp, xoắn xuýt lấy nhau, gối lên nhau, liên tiếp như những đợt sóng cảm xúc không ngừng nghỉ Mình về mình có nhớ không
Trang 11Kiểu kết cấu đối đáp mình - ta được Tố Hữu vận dụng một cách độc đáo, sáng tạo
Nó tạo nên giọng điệu tâm tình ru vỗ lúc như thủ thỉ, tâm tình, lúc lắng sâu vào nỗi nhớ, niềm thương, lúc trào dâng như những đợt sóng cảm xúc ào ạt, dạt dào Sử dụng kiểu đối đáp trong ca dao, người đọc cứ tự nhiên bước vào tác phẩm mà
không bị vướng cản bởi câu chữ, ngôi từ Giọng điệu ru vỗ tha thiết của bài thơ cứ
tự nhiên khiến hồn người đọc hòa chung vào dòng cảm xúc của “mình-ta” lúc nào không hay
Có thể nói, đối đáp đã trở thành một kiểu kết cấu mở, có khả năng bộc lộ, mời gọi cảm xúc hết lớp này đến lớp khác tưởng chừng như không có điểm dừng Đây là kiểu kết cấu giúp cho nhân vật trữ tình có khoảng rộng để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mình Và với mỗi người Việt Nam luôn tìm thấy cho mối liên hệ rất gần gũi khi bắt gặp kiểu kết cấu đối đáp này khi thưởng thức bài thơ Việt Bắc như họ
đã từng được nghe trong những bài ca dao, từ thuở xa xưa
Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc còn biểu hiện ở thể thơ lục bát và tiết tấu mềm mại, nhịp nhàng của câu thơ
Thể thơ lục bát là thể thơ gắn bó với dân tộc Việt Nam, được người Việt Nam sử dụng phổ biến nhất Thể thơ này thường có tác dụng đặc biệt khi diễn tả tình cảm tha thiết, những nỗi nhớ triền miên, dai dẳng, và khi bộc lộ nghĩa tình sâu nặng giữa các đối tượng và chủ thể trữ tình Bởi vậy, ta không hề ngạc nhiên khi ca dao, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm đều rất thành công khi sử dụng thể thơ này
Tố Hữu đã sử dụng thể thơ lục bát như một cách đắc địa, và đặc biệt thành công khi diễn tả nghĩa tình sâu sắc của cán bộ cách mạng với quê hương kháng chiến Giả sử Tố Hữu dùng thể thơ ngũ ngôn, lục ngôn, hay thơ tám chữ trong bài thơ này thì chắc chắn cái vị ngọt ngào tình nghĩa của con người Việt Bắc, cái đằm thắm nhớ thương của những cán bộ cách mạng sẽ thật khó thể hiện
Người đọc cảm nhận được nỗi xúc động, nghẹn ngào thực sự của “người đi - kẻ ở”:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta xưa trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
Trang 12Những câu thơ lục bát khoa thai, nhịp nhàng đã có tác dụng đặc biệt trong việc khơi gợi cảm xúc của người đọc Người đọc tự nhiên hòa nhịp cùng dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình, sống với nó, cùng thổn thức với nó Từ rừng nứa, bờ tre, mái đình, cây đa; từ hoa chuối, hoa mơ, Ngòi Thia, sông Đáy đến Phủ Thông, đèo Giàng, tất cả đã làm cho con người nhớ thương da diết Những hình ảnh ấy đã
ăn sâu vào tâm khảm, trở thành “cõi nhớ” trong lòng mỗi người, đã từng gắn bó với Việt Bắc
Chính thể thơ lục bát đã quyết định giọng điệu, tiết tấu của bài thơ Tiết tấu của mỗi câu thơ trong Việt Bắc viết nhịp nhàng, thường có nhịp 2/2/2; 3/3; 2/2/2/2; 4/4 Chẳng hạn:
- Ở đâu u ám quân thù (2/2/2)
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi (4/4)
- Mình đi mình lại nhớ mình (2/2/2)
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu (4/4)
Nhịp thơ cũng chính là nhịp điệu cảm xúc, giúp cho những kỉ niệm được gợi dậy, vang ngân trong lòng người đi - kẻ ở và trong cả người thưởng thức Những cặp lục bát bắt vần, thả nhịp đều đặn thiết tha Cứ mỗi cặp lục bát lại điểm một nốt nhạc cảm xúc “có nhớ” Những tiếng ấy lại liên hồi xô đuổi, dồn dập như những đợt sóng thương nhớ cồn cào:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Việt Bắc hiện ra trong bức tranh toàn cảnh: con người nhiều dáng vẻ, không gian rộng lớn, thời gian bốn mùa được chắt lọc, dồn nén nổi bật sắc thái núi rừng Việt Bắc Một cặp lục bát vẽ một bức tranh “hoa cùng người” Bốn cặp lục bát kết thành
bộ tự bình cân xứng cổ điển
Trang 13Bức tranh thiên nhiên được dệt bằng nỗi nhớ Nỗi nhớ thấm đượm trên từng dáng người, từng màu hoa Bức tranh được dệt bằng màu sắc của núi rừng tươi đẹp Cảnh làm nền cho con người xuất hiện, bóng dáng con người lặng lẽ là điểm sáng sinh động trên các phòng thiên nhiên tươi thắm, hữu tình Hoa và người hòa quyện vào nhau làm cho cảnh thêm tươi sáng Bức tranh mùa đông đặc trưng bởi hoa chuối đỏ tươi, giữa thảm rừng trên đèo cao tỏa nắng, bóng dáng con người xuất hiện với nét riêng của vùng cao Hình ảnh “dao gài thắt lưng” tô đậm một nét rất đặc trưng của người Việt Bắc Bức tranh mùa xuân được dệt bằng thảm hoa mơ và dáng người đan nón mềm mại đang “chuốt từng sợi giang” Bức tranh mùa hạ thêm long lanh bởi tiếng ve cùng hình ảnh lặng lẽ của “cô em gái hái măng một mình”
Và bức tranh mùa thu ấn tượng bởi ánh trăng thu hòa bình yên ả cùng tiếng hát ân tình thủy chung ngọt ngào Chính thể thơ lục bát đã làm nên linh hồn bộ tranh tứ bình Việt Bắc Nói sao cho hết những cảm xúc, nỗi nhớ niềm thương của con
người được gửi gắm vào đó
Bên cạnh đó, cấu trúc tiểu đối đồng loạt ở các câu hát đã tạo ra một bè trầm của âm hưởng thương nhớ trong lòng người đi, kẻ ở Cấu tạo đối vừa tô đậm ý cho từng vế vừa mở ra ý ở ngoài lời Những câu thơ cùng với tiết tấu của nó đã tạo ra ý nghĩa ở ngay khoảng trống giữa các từ, các câu hay giữa các đoạn thơ
Có thể nói rằng, tính dân tộc là đặc điểm nổi bật ở Việt Bắc Chính đặc điểm này
đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ Tính dân tộc của bài thơ đã giúp nhà thơ
chuyển tải được tư tưởng hiện đại, tiên tiến Đây là một tác phẩm thành công nhất của Tố Hữu, một tác phẩm đã ngợi ca những ngày hào hùng vẻ vang của dân tộc, những ngày mà toàn dân nô nức ra trận, những ngày mà mảnh đất Việt Bắc in dấu bao thời khắc, chiến công hào hùng, tươi đẹp của dân tộc Tất cả đều được tái hiện trong một hình thức đặc biệt phù hợp mà Tố Hữu đã lựa chọn và sử dụng Rõ ràng, bài thơ Việt Bắc đã mang tinh thần và tư tưởng của thời đại nhưng người ta có thể ngân ngợi như những bài ca dao
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 4)
Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một thành tựu quan trọng của thơ ca kháng chiến chống Pháp Bài thơ được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10 năm 1954 nhân một sự kiện lịch sử: Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu
Trang 14về thủ đô Hà Nội Từ điểm xuất phát ấy bài thơ thể hiện tình gắn bó thắm thiết giữa người ra đi và người ở lại, giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người cán bộ với Việt Bắc quê hương của cách mạng, với đất nước và nhân dân, với Đảng và Bác Hồ, với cuộc kháng chiến đã thành kỉ niệm sâu nặng trong tâm hồn
Như thế nghĩa là trong niềm vui thắng lợi và đón nhận cuộc sống thanh bình nhà thơ vẫn không quên tình nghĩa gắn bó trong những năm gian khổ đã qua và coi đây
là cội nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cho những ngày hiện tại và tương lai Có thể nói, bài thơ Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu
xa của nó là tình cảm quê hương đất nước, là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thuỷ chung của dân tộc
Trước hết với kiểu kết cấu đối đáp rất đậm đà tình nghĩa của bài thơ Việt Bắc là tình yêu với thiên nhiên đất nước được biểu hiện cụ thể qua sự gắn bó với núi rừng Việt Bắc trong nỗi nhớ của người cán bộ sắp về xuôi Cảnh Việt Bắc hiện ra những
vẻ đẹp hiện thực và thơ mộng, thi vị gợi rõ nét độc đáo của Việt Bắc so với nhiều miền quê khác của đất nước Việt Bắc đó là hình ảnh: "Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương", hình ảnh bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, là những "rừng nứa bờ tre, sông Đáy" là tiếng mõ trâu về trong rừng chiều, tiếng "Chày đêm nện cối đều đều suối xa"
Nhưng có lẽ nổi bật nhất là nỗi nhớ của Tố Hữu về Việt Bắc là sự hòa quyện với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình:
Ta về mình có nhớ ta
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Qua đó có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện ra với những vẻ đẹp phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời tiết, từng mùa Gắn với cảnh tượng ấy là con người giản
dị, người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình họ đã góp phần tạo ra sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến Chính tình nghĩa gắn bó và san sẻ cùng nhau chịu đựng gian khổ thiếu thốn, cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề, khó khăn giữa nhân dân với bộ đội và cán bộ tất cả càng làm cho hình ảnh Việt Bắc sáng ngời trong hồi tưởng của
Trang 15nhà thơ Việt Bắc - đó là hình ảnh những mái nhà "Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son", hình ảnh người mẹ "Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô", là những ngày tháng đồng cam cộng khổ:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Có thể nói âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình yêu đồng chí với đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời
Theo dòng hồi tưởng của Tố Hữu bài thơ dẫn ta vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với những hình ảnh hào hùng, những hoạt động sôi nổi, những âm thanh náo nức, phấn chấn Ở đây bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ sử thi hiện đại bởi vì chỉ cần miêu tả khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc, Tố Hữu đã nêu bật khí thế chiến đấu vô cùng mạnh mẽ của dân tộc
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Dân tộc ấy đã vượt qua bao gian khổ hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Nhưng Tố Hữu không thể miêu tả diễn biến của cuộc kháng chiến mà chỉ còn đi sâu vào lý giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh tình nghĩa thủy chung: "Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi" nhất là sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, của sự hòa quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên Tất cả tạo thành hình ảnh "đất nước đứng lên"
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Trang 16Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng
Đặc biệt bằng những lời thơ trang trọng mà tha thiết Tố Hữu đã đi sâu nhấn mạnh, hình ảnh và vai trò của Việt Bắc như là quê hương của cách mạng, căn cứ vững chắc của cuộc kháng chiến Trong những năm đen tối trước cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa "mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù" cho đến xác định như chiến khu kiên cường nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi sản sinh nhiều địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc
Mình về có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa
Trong những năm tháng kháng chiến gian lao Việt Bắc là nơi có "cụ Hồ soi sáng",
có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công để kiên định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những câu thơ mang sắc thái ca dao dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân tộc
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa
Từ tình cảm yêu mến, gắn bó với cảnh và người Việt Bắc từ niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Tố Hữu
vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp của Việt Bắc ngày mai trong khung cảnh xây dựng cuộc sống mới hòa bình, phồn vinh
Ngày mai rộn rã sơn khê
Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng
Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng
Phố phường như nấm như măng giữa trời
Trang 17Những hình ảnh ấy là mơ ước, khát vọng và cũng là tình nghĩa mà những người cán bộ kháng chiến muốn đền đáp nơi từng là cội nguồn của cách mạng, nơi đã cưu mang, che chở họ trong những ngày đầy gian nan hi sinh
Đặc biệt ở những dòng cuối cùng của bài thơ người đọc càng hiểu sâu thêm sự sắc sảo, nhạy bén của bài thơ Tố Hữu khi hướng về ngày mai, nhà thơ không quên, một nét đẹp trong đạo lý truyền thống của dân tộc đó là tình nghĩa thuỷ chung, có mới mà không nới cũ, luôn nghĩ đến nhau và vì nhau giữa miền xuôi và miền
ngược, giữa cán bộ và nhân dân của mình
Tính dân tộc là đặc điểm nổi bật ở Việt Bắc Chính đặc điểm này đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ Tính dân tộc của bài thơ đã giúp nhà thơ chuyển tải được tư tưởng hiện đại, tiên tiến Đây là một tác phẩm thành công nhất của Tố Hữu, một tác phẩm đã ngợi ca những ngày hào hùng vẻ vang của dân tộc, những ngày mà toàn dân nô nức ra trận, những ngày mà mảnh đất Việt Bắc in dấu bao thời khắc, chiến công hào hùng, tươi đẹp của dân tộc Tất cả đều được tái hiện trong một hình thức đặc biệt phù hợp mà Tố Hữu đã lựa chọn và sử dụng Rõ ràng, bài thơ Việt Bắc đã mang tinh thần và tư tưởng của thời đại nhưng người ta có thể ngân ngợi như những bài ca dao
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 5)
Tố Hữu là một trong những cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, có thể nói cả đời thơ Tố Hữu là sự cống hiến không ngừng nghỉ cho sự
nghiệp cách mạng dân tộc Bởi vậy mà phần lớn những tác phẩm của nhà thơ
thường hướng đến những tư tưởng, lẽ sống lớn, hay những sự kiện lớn lao của đất
Trang 18nước, đặc biệt hơn cả là những tác phẩm ấy được Tố Hữu thôi hồn dân tộc vào trở nên sâu sắc, cân đối và bất tử với thời gian Việt Bắc là một sáng tác như vậy Đánh giá về tính dân tộc đậm đà trong Việt Bắc, có ý kiến cho rằng tính dân tộc là một trong những phẩm chất vốn có ở bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Vậy trước tiên tính dân tộc trong văn học là gì? tính dân tộc là một thuộc tính của văn học phản ánh của đời sống mỗi dân tộc, mang lại cho tác phẩm văn học một bản nhạc dân tộc độc đáo, không thể trộn lẫn Với khái niệm như trên có thể khẳng định, "Việt Bắc" có đầy đủ các tiêu chí để trở thành một thi phẩm đậm đà tính dân tộc, trên tất
cả các mặt từ nội dung, đến nghệ thuật
Trước nhất về đề tài Việt Bắc đề cập tới một sự kiện chính trị lớn lao của dân tộc,
đó là vào thời điểm chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi hiệp định Giơnevơ
về Đông Dương được ký kết, hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng
và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới Tháng 10 năm 1945 những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố Hữu đã sáng tác Việt Bắc Như vậy sự ra đời của Việt Bắc gắn bó với lịch sử dân tộc, mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ghi dấu thời kỳ chuyển mình của đất nước mở ra một trang sử huy hoàng cho dân tộc Việt Nam, cho nên có thể thấy tính dân tộc trong Việt Bắc thể hiện ngay ở đề tài
Thứ hai về nội dung bài thơ Việt Bắc đã tái hiện vẻ đẹp ấn tượng của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc qua đó nhằm tôn vinh Vẻ đẹp thơ mộng và hùng vĩ của tổ quốc
ta trong Việt Bắc có đoạn Tố Hữu viết
"Ta về mình có nhớ ta,
Ta về ta nhớ những hoa cùng người,
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi,
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng,
Ngày xuân mơ nở trắng rừng,
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang,
Ve kêu rừng phách đổ vàng,
Nhớ cô em gái hái măng một mình,
Trang 19Rừng thu trăng rọi Hòa Bình,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Thiên nhiên Việt Bắc thật đẹp đẽ, hài hòa biết bao, cảnh sắc thiên nhiên thay đổi, biến đổi theo từng mùa, phong cảnh mỗi mùa đều mỹ lệ mà thanh nhã có nét đặc biệt riêng không thể trộn lẫn Mùa xuân khoác lên mình tà áo choàng màu trắng tinh khiết, trắng của hoa mơ Sắc trắng của hoa mơ đem đến cho không gian mùa xuân một vẻ đẹp thanh tao, thuần khiết mà vẫn giữ được cái trong trẻo, thoáng đãng, phóng khoáng rất đặc trưng của thiên nhiên vùng sơn cước và khi mùa xuân qua, hạ tới Việt Bắc lại khoác lên mình một phong thái mới, một khí chất riêng Vẫn là tiếng ve kêu quen thuộc báo hiệu hè về, nhưng không chỉ có vậy về Việt Bắc còn gây ấn tượng bởi màu vàng của rừng phách, hãy tưởng tượng chỉ 1 phút chốc cả không gian như bùng nở bởi sắc vàng uy quyền của hoa phách, ta mới thấy hết được cái bạt ngàn hùng vĩ và khác biệt của nơi đây, và đây là vẻ đẹp của mùa thu Việt Bắc Thu đẹp mê hồn, huyền bí trong những đêm trăng mờ ảo, nhưng trong Việt Bắc là đặc sản của nơi đây, đó là ánh trăng của hòa bình, tĩnh lặng, bình yên là thứ ánh sáng dịu nhẹ mang theo hơi thở của nhịp sống thanh bình của hi vọng, niềm tin Nếu như xuân nồng nàn, thuần khiết, hạ bạt ngàn kiêu sa, thì vẻ đẹp của mùa thu mang thiên hướng thanh nhẹ, tinh tế như lấy đi mọi thứ vội vã, ồn
ào của cuộc sống thường nhật Chuyển sang cảnh sắc những ngày mùa đông, cả rừng Việt Bắc bạt ngàn trong sắc xanh, điểm xuyết trên nền cây lá là màu đỏ rực rỡ của những bông hoa chuối rừng, điểm nổi bật là mùa đông ở Việt Bắc không lạnh lẽo giá băng mà thật ấm áp, long lanh và căng tràn sức sống Đó là điểm rất riêng,
có lẽ chỉ ở Việt Bắc thiên nhiên đẹp như vậy Thế nên mới khiến con người nhung nhớ, chẳng lỡ rời xa Ngòi bút của Tố Hữu như tập trung tối đa những từ ngữ đẹp nhất, kết tinh cho vẻ đẹp độc đáo, đa dạng, hút mắt của thiên nhiên Việt Bắc Tái hiện khơi gợi và làm sống dậy vẻ đẹp tự nhiên của đất nước qua từng lời thơ, con chữ, một lần nữa tính dân tộc đậm đà được thể hiện rõ trong Việt Bắc
Tính dân tộc của thi phẩm đặc sắc này còn được thể hiện qua sự ngợi ca tự hào của tác giả, về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Tố Hữu đã gợi nhắc lại lịch sử hào hùng một cách vừa hiện thực, vừa lãng mạn, sự kết hợp này vừa khéo hài hòa lại cân đối, ngôn từ thơ như thổi bùng ngọn lửa tự hào của độc giả về Tổ quốc Việt Nam
Trang 20"Những đường Việt Bắc của ta,
Đêm đêm rầm rập như là đất rung,
Quân đi điệp điệp trùng trùng,
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan,
Dân công đỏ đuốc từng đoàn,
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay,
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày"
Trong không gian của núi rừng hùng vĩ, chất chứa đầy những hiểm nguy, rình rập Quân ta ngày đêm chuẩn bị cho cuộc chiến, những cuộc hành quân trong đêm dài khí thế của quân và dân ta, được tái hiện thật hoành tráng, oai hùng với lực lượng đông đảo, khí phách hiên ngang, tinh thần quả cảm và dũng khí ngất trời Những bước chân tiến quân bỗng chốc trở nên phi thường, có sức mạnh vô song, có khả năng nghiền nát cả đất đá, rung chuyển cả đất trời Đây không chỉ là một cuộc hành quân ở Việt Bắc, mà còn thực sự mang theo không khí, linh hồn, khí chất của
cả dân tộc Việt Nam Một dân tộc đứng lên như vũ bão, thác đổ mà không một kẻ thù nào đánh bại được, như thông qua cuộc hành quân mang vẻ đẹp huyền thoại trong Việt Bắc, Tố Hữu đã ngầm ca ngợi, tôn vinh cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Từ đó khơi gợi lòng yêu nước, yêu tổ quốc, hay gợi niềm tự hào về đất nước của mỗi người Làm được điều này, một lần nữa khẳng định tính dân tộc
là một phẩm chất vốn có ở Việt Bắc
Bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng Tố Hữu không quên ngợi ca vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam Đó là những con người chăm chỉ cần cù Chịu thương chịu khó trong lao động họ đã góp một phần sức của mình vào công cuộc kháng chiến anh hùng của tổ quốc hình ảnh người mẹ bất chấp mệt nhọc địu con lên rẫy làm nương để bắp hiện lên thật cảm động chân thực qua ngòi bút của
Tố Hữu
"Nhớ người mẹ nắng cháy lưng,
Địu con lên rẫy bé từng bắp ngô"
Con người nơi đây rất chân thành, giản dị và chất phát, cuộc sống tần tảo nhưng dường như chưa bao giờ họ hết yêu lao động, miệt mài, cần mẫn và kiên trì hơn ai hết "Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang", "Nhớ cô em gái hái măng một mình", thêm nữa xuyên suốt tác phẩm Tố Hữu còn làm nổi bật sự thủy chung,
Trang 21nghĩa tình của con người Việt Bắc Cũng là vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam ta, đó là những khi nhân dân đồng cam cộng khổ, chia sẻ khó khăn, hoạn nạn với cách mạng
"Thương nhau chia củ sắn lùi,
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng"
Là những ngày tháng dài tình bên, nghĩa trọn, trước sau như một
"Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Thêm nữa người dân Việt Bắc còn là những tâm hồn rất lạc quan, yêu đời, "gian nan đời vẫn ca vang núi đèo" Vậy đó con người nơi đây là vậy, gian khổ thì đã sao, với họ mỗi một ngày gắn bó với cách mạng là một ngày vui, thế nên dẫu cuộc sống còn nhiều vất vả, lam lũ họ vẫn vô tư ca vang, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng Không khó để thấy tất cả các phẩm chất, từ chăm chỉ, chịu khó, yêu lao động, đến thủy chung son sắc, lạc quan yêu đời của con người Việt Bắc đều hoàn toàn trùng khớp với những đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam xưa nay Điều
đó có nghĩa là Việt Bắc đã rất thành công trong việc tái hiện lại và tôn vinh cái hồn của dân tộc, thông qua hình ảnh con người nơi đây, cũng chính điều đó làm cho khoảng cách giữa độc giả và tác phẩm trở nên gần gũi hơn, sự đồng điệu bắt đầu từ đây, tính dân tộc đậm đà cũng từ đây mà được bộc lộ rõ nét
Về hình thức Việt Bắc sử dụng thể thơ lục bát, thể thơ truyền thống của dân tộc, hơn nữa lục bát của Việt Bắc gần giống với lục bát của ca dao kết hợp với lối nói tiểu đối tạo cho bài thơ thêm âm hưởng thiết tha, da diết như len sâu vào lòng người Tố Hữu cũng khéo léo khi vận dụng cách nói đối đáp, giao duyên rất phổ biến trong ca dao dân tộc Việt Nam, để bộc lộ những tư tưởng, tình cảm tâm sự Bên cạnh đó tác giả đã cực kỳ tinh tế, khéo léo khi vận dụng và kết hợp sử dụng các đại từ nhân xưng "mình, ta", mình ta lúc là hai, lúc là một, soi chiếu tình cảm lẫn nhau, quyện hòa vào nhau khiến cho nhịp thơ đong đầy tình, nghĩa, ngôn ngữ thơ cũng rất mộc mạc, đơn sơ, không cầu kỳ, độc đáo, cũng không tráng lệ phi phàm, làm mọi thứ dường như chỉ dừng lại ở mức lời ăn, tiếng nói hằng ngày Cách nói ví von, những câu thành ngữ, ca dao được sử dụng vừa hài hòa, vừa triệt
để đã tạo cho Việt Bắc một bản sắc dân tộc Việt sâu sắc, thể hiện cả trên bề mặt chữ lẫn chiều sâu Cuối cùng là cách tác giả phát huy cao độ tính nhạc của tiếng
Trang 22Việt, các câu thơ đọc rất phù hợp với mặt trái của thể thơ, của cảm xúc, nhịp thơ tự
do, tha thiết, không gò bó và rất dễ thuộc, dễ nhớ Đóng góp vào thành công ấy không thể không kể đến vai trò của hệ thống từ láy linh hoạt, phong phú, độc đáo suốt dọc chiều dài của tác phẩm Chính nhờ có điều này mà thơ Việt Bắc không thể khô khan, kích thích người đọc tiếp nhận tác phẩm Như vậy, toàn bộ hình thức của Việt Bắc là minh chứng không thể rõ ràng hơn về tính dân tộc của tác phẩm
Vậy nhận định ban đầu là một ý kiến hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở đầy khẳng định được giá trị nổi bật của Việt Bắc là tính dân tộc, cũng chính tính dân tộc này đã tạo cho Tố Hữu một phong cách sáng tác riêng mang phong cách, dấu ấn của riêng ông, không thể trộn lẫn giữa các dòng chảy của văn học hiện đại Đồng thời còn là
sự ghi nhận tài năng tài chính của Tố Hữu khi sử dụng ngôn từ để tái hiện hồn cốt dân tộc Một điều mà ít, rất ít nhà thơ làm được hoàn hảo, bởi vậy là hoàn toàn xứng đáng khi nói tính dân tộc đã làm Việt Bắc rất cao và chói sáng trên thi đàn Việt Nam
Nhìn chung tính dân tộc không phải là yếu tố độc nhất của một thi phẩm hay,
nhưng có lẽ chỉ có nó mới có thể tạo được sức sống lâu bền cho tác phẩm Nếu như tất cả các tác phẩm đều có thể dung hòa tính dân tộc sâu sắc, với cái mới, cái hay, cái độc đáo, sáng tạo của cá nhân tác giả, thì chắc chắn sẽ ngày càng có nhiều hơn nữa những bài thơ hay, làm đẹp cho đời sống hôm nay và mai sau
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 6)
"Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ điển của dân tộc" - Nguyễn Đình Thi đã nhận xét như thế về thơ Tố Hữu Đọc thơ Tố Hữu, ta thấy nhận xét của Nguyễn Đình Thi thật đúng và cảm nhận được tính dân tộc đậm đà, thấy phảng phất trong "hồn thơ" của một thời quá khứ Việt Bắc là một trong số rất nhiều bài thơ mang nét “cổ điển” như thế Đọc Việt Bắc ta cảm nhận được sức mạnh của bản sắc dân tộc ấy
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu, trước tiên thể hiện ở hình thức Có lẽ Việt Bắc là bài thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu, trong đó âm điệu lục bát đã nhuần nhuyễn, tinh diệu, đến mức mẫu mực:
Trang 23Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
Những câu thơ lục bát ấy có thể xếp bên cạnh những câu ca dao dân gian, những câu lục bát cổ điển hay nhất của ta Tiếng Việt trong những câu ấy thật bình dị mà đằm thắm, thật trong trẻo mà sâu lắng Lời thơ quyện thật chặt với những tiết tấu
co duỗi mềm mại, cất lên như những nét nhạc, những giai điệu bằng ngôn từ
Nhưng nói đến Việt Bắc có lẽ cái gây ấn tượng đậm nhất trong người đọc là cái cấu trúc độc đáo của nó Tố Hữu đã tái hiện một bức tranh hoành tráng trải ra trong một thời gian dài tới mười lăm năm (Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh) bao quát một không gian rộng, bao quát toàn bộ Việt Bắc (từ "Mái đình Hồng Thái, cây
đa Tân Trào" đến "Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà") Bài thơ muốn có xu
hướng trở thành diễn ca lịch sử (kiểu như "Ba mươi năm đời ta có Đảng sau này!) Nhưng sở dĩ nó không là diễn ca hẳn, bởi vì thi sĩ đã tìm đến một kết cấu truyền thống của lối Hát giao duyên Cả bài thơ dài như một cuộc hát đối đáp nam nữ Tựa như những khúc trữ tình trong Giã bạn hay Tiễn dặn người yêu Cả bài thơ dài chủ yếu là lời của hai nhân vật Người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng Tựa như "liền chị - liền anh" trong hát Quan họ Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng và Chính phủ kháng chiến với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một đôi trai gái Nói khác hơn, tác giả đã chọn tình yêu của đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc, với
"Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng" Chuyện chung đã hóa thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi
Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách tâm tình hoá chính là một đặc trưng của lối thơ trữ tình - chính trị của Tố Hữu Việc "dời đô" (Việt Bắc
là thủ đô kháng chiến - Tố Hữu gọi là "Thủ đô gió ngàn") đã thành câu chuyện ân tình chung thủy của người cách mạng với rừng núi chiến khu, với đồng bào, với
Trang 24quá khứ, với chính mình.Đôi trai gái xưng hô theo lối rất dân gian: Ta - mình Nỗi băn khoăn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay giã bạn là ân tình - chung thuỷ:
có nhớ chính mình chăng, có phụ chính mình được chăng? Bởi quên Ta cũng chính
là quên Mình đó Những câu hỏi thâm thúy ân tình như vậy đã giúp Tố Hữu dân gian hoá, truyền thống hoá một vấn đề của cách mạng, vấn đề của hôm nay Người con trai cũng trả lời, cũng ghi lòng tạc dạ với một tinh thần như thế
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Nhà cao chẳng khuất non xanh
Phố đông càng giục chân nhanh bước đường
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
Kết cấu đối đáp hài hoà với lối thơ lục bát giàu chất dân gian như thế đã làm cho bài Việt Bắc của Tố Hữu có cái dáng dấp của một bài hát giao duyên được viết theo lối dân gian Nó làm cho bài thơ gần gũi với tâm hồn quần chúng và dễ dàng gia nhập vào mạch văn hoá dân gian, trở thành những lời hát ru Thậm chí có thể trình bày bài thơ theo lối diễn xướng dân gian rất thích hợp
Có lẽ cũng cần phải nói thêm về phong vị cổ điển của nó Đây là một nét truyền thống khác của thơ Tố Hữu Trong bài "Kính gửi cụ Nguyễn Du", chúng ta thấy không khí lục bát thật trang trọng Thi sĩ đã dùng những thi liệu của“Truyện Kiều"
để tâm tình với tác giả "Truyện Kiều", ông cũng dùng hình thức lấy Kiều, tập Kiều
để làm cho bài thơ có phong vị cổ điển Còn ở đây không riêng chúng ta đã thấy kết cấu trữ tình của bài thơ, giọng điệu tứ bình của bài có phần nghiêng hẳn về cổ
Trang 25điển Câu lục bát ở những chỗ ấy thường chặt chứ không lỏng, chữ "đúc" nhiều, chữ "nước" ít Hình thức tiểu đối được sử dụng dày và biến hoá nhịp nhàng Nhưng
có lẽ đáng nói hơn vẫn là lối vẽ thiên nhiên trong các câu thơ lục bát ấy Nói riêng đoạn "Hoa cùng người”, có thể thấy ngay, thi sĩ tạo hình theo lối xây dựng bộ tranh trữ tình - một hình thức rất phổ biến của nghệ thuật cổ điển Hoa và người soi chiếu nhau, tôn vinh lẫn nhau Còn bức tranh dường như đã tái hiện trọn vẹn đầy
đủ nhịp vận hành luân chuyển của thiên nhiên và con người Việt Bắc:
Ta về mình có nhớ ta,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Thành công của bài thơ Việt Bắc còn ở nhiều phương diện khác như: ngôn ngữ, nội dung, hình tượng nhân vật trữ tình Nhưng có thể khẳng định chất dân tộc, chất truyền thống đậm đà đã tạo nên sức sống, sức lay động lòng người cho bài thơ Và Việt Bắc cùng với những bài thơ khác của Tố Hữu đã khẳng định phong cách độc đáo của ông trong suốt chặng đường cầm bút của người nghệ sĩ cách mạng: từ hiện đại trở về với cổ điển, trở về với nét dân tộc và truyền thống
Tính dân tộc qua bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (mẫu 7)
Trong văn học, tính dân tộc được thể hiện ở cả nội dung cũng như hình thức nghệ thuật Về nội dung, một tác phẩm mang tính dân tộc phải thể hiện được những vấn
đề nóng bỏng liên quan đến vận mệnh dân tộc, đồng thời thể hiện tình cảm, khát vọng và ý chí của một dân tộc Về hình thức, tác phẩm giàu tính dân tộc đó tiếp thu một cách sáng tạo tinh hoa văn hóa của dân tộc Với cách hiểu trên thì thơ Tố Hữu mang phong cách nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc
Tính dân tộc trong bài Việt Bắc được thể hiện qua cả giá trị nội dung và nghệ
thuật Ở góc độ nội dung, tính dân tộc trong bài Việt Bắc thể hiện qua những tình cảm lớn với con người cũng như bức tranh thiên nhiên nơi Việt Bắc Tình cảm thể hiện trong bài thơ bên cạnh nghĩa tình cách mạng sâu đậm của thời đại mới – tình cảm dành cho Đảng, cho Bác thường thấy trong thơ ca viết về kháng chiến, còn là
sự hòa nhập và tiếp nối vào nguồn mạch những đạo lí ân tình thủy chung truyền thống của dân tộc
Trang 26Điều này thể hiện qua cảnh chia tay đầy lưu luyến, qua hình ảnh người Việt Bắc tuy khó khăn về vật chất nhưng giàu tình nghĩa, tràn đầy lạc quan, tin tưởng Cảnh chia tay đầy lưu luyến giữa người cán bộ về xuôi và người Việt Bắc
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”
Được xây dựng dựa trên nỗi nhớ, tác giả đã hóa thân vào nhân vật trữ tình – người cán bộ về xuôi để nhớ lại quá khứ nghĩa tình Từ đó, bộc lộ sự biết ơn, nhớ thương của nhân dân, cách mạng kháng chiến Tố Hữu tại hiện nỗi nhớ thông qua cảnh chia tay Khung cảnh ấy hiện lên đầy bịn rịn, đau đớn cũng như tiếc thương Hai nỗi nhớ của người ra đi và người ở lại
Mỗi nỗi nhớ mang một sắc thái khác nhau Nỗi nhớ của người ra đi dường như nhẹ nhàng hơn Vì họ ra đi nhưng trở về với gia đình, với sự nghiệp hoài bão của mình Còn người ở lại mang một nỗi nhớ sâu đậm hơn Bởi lẽ sau cuộc chia tay này, họ
sẽ khó có thể gặp lại nhau
Chính vì điều đó mà tác giả đã để cho người ở lại cất tiếng trước Nỗi nhớ bật lên thành lời ướm hỏi: Liệu sau này ta còn nhớ nhau “Mười lăm năm” chính là mười lăm năm cùng nhau gắn bó san sẻ biết bao vui buồn Khoảng thời gian ấy đã để lại một ký ức sâu nặng trong lòng mỗi người Tác giả dùng cặp đại từ xưng hô quen thuộc “mình – ta” nhằm thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng, khăn khít giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng, khái quát lại một giai đoạn lịch sử gian khổ gắn với Việt Bắc, đồng thời khắc sâu tình cảm “thiết tha mặn nồng” trải dài theo năm tháng
Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy “Cây – núi – sông – nguồn” là những hình ảnh thể hiện đặc trưng của Việt Bắc Các hình ảnh sóng đôi từng cặp, kết cấu lặp – trùng điệp gợi lên một tình cảm gắn bó giao hòa “Núi” và
“nguồn” là cội nguồn của thiên nhiên, gợi nhớ đến cội nguồn của kháng chiến – Việt Bắc Các từ “thiết tha”, “mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bó Chiến thắng hôm nay có được từ nền tảng của quá khứ Điệp từ “nhớ” xuất hiện cùng với
Trang 27những lời nhắn nhủ của người Việt Bắc “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” Những lời nhắn nhủ cất lên tha thiết xoáy sâu vào tâm can
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”
Đại từ phiếm chỉ “ai” tưởng chừng mông lung vô định nhưng lại hướng đến một đối tượng xác định Đó là người ở lại Nếu ở bốn câu thơ trên người ở lại “thiết tha” thì giờ người ra đi lại “tha thiết” Từ láy “bâng khuâng” gợi một tâm trạng cảm xúc mơ hồ xao động Quyến luyến nhẹ nhàng nhưng man mác
Lòng “bâng khuâng” nên bước đi “bồn chồn” Từng bước chân như ngập ngừng nửa muốn đi nửa lại muốn ở Lời người đi đáp lại cho người ở lại Tiếng lòng đáp trả tiếng lòng Hồi ức được thể hiện qua tiếng hát chia ly
“Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy nghệ thuật hoán dụ “áo chàm” gợi hình ảnh người Việt Bắc Màu áo quen thuộc của đồng bào Việt Bắc, màu bền chặt của nghĩa tình chung thủy, xuất hiện như để nói rằng ngày chia tay cán bộ kháng chiến về xuôi cả nhân dân Việt Bắc cùng đưa tiễn Tuy không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng cử chỉ “cầm tay nhau” đã nói lên cảm xúc sâu lắng ấy
“Cầm tay nhau không biết nói gì” có lẽ không còn gì để nói Bởi họ đã thấu hiểu nên chỉ cần ánh mắt, cái nắm tay đã thay cho lời nói Không khí im lặng lúc này thật đáng quý biết bao Câu thơ bỏ lửng, ngập ngừng đã diễn tả chân thực thái độ xúc động, nghẹn ngào khi phải giã từ Việt Bắc về xuôi
Ta thấy nhịp thơ ở đây cũng là chính là nhịp điệu của tâm hồn Thoáng chút ngập ngừng, bồn chồn nhớ thương bịn rịn Cuộc chia tay lịch sử còn là cuộc chia tay giữa cá nhân với cá nhân, giữa người lính và nhân dân vùng núi rừng Cái riêng cùng cái chung hài hòa, đan xen vào nhau một cách khéo léo
Trang 28Những kỷ niệm ngày xưa hiện về Đó chỉ là những kỷ niệm về những gian nan vất
vả nhưng đằm thắm nghĩa tình Cuộc sống đơn sơ bình dị nhưng lại đáng quý biết bao
“Mình đi có nhớ những ngày
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”
Giọng thơ vừa hỏi han vừa gợi nhớ theo thời gian, lan tỏa theo không gian những
kỉ niệm ngày đầu cách mạng Không gian, địa điểm thể hiện từ mờ xa “mưa nguồn, suối lũ, mây mù” đến gần gũi, xác định: “chiến khu”; rồi gợi lên sức mạnh tranh đấu khi “kháng Nhật”; trải ra mênh mang với sự trải dài của không gian
“Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già”
đầy xúc động, như thể thiên nhiên cũng mang nỗi nhớ thiết tha hòa với lòng người
ở lại “Trám, măng” – thức ăn trong ngày thiếu thốn giờ không còn cần nữa, không còn ý nghĩa khi người đã ra đi Câu thơ giản dị mà gợi ra mênh mông biết bao trống vắng Rừng núi nhớ ai hay chính người dân Việt Bắc đang nhớ mong
Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc dễ dàng nhận thấy với cách nói đảo ngữ, tương phản đối lập “hắt hiu lau xám – đậm đà lòng son” càng làm bật lên ân tình cách mạng Càng khổ cực, gian lao – bát cơm chấm muối, hắt hiu lau xám càng ngọt bùi bao kỉ niệm, đậm đà những tấm chân tình trao gửi cho nhau Nghệ thuật nhân hóa (rừng núi nhớ ai), hàng loạt điệp tự “mình, có nhớ”, nhịp ngắt đều đặn kết hợp cùng bao nhiêu hoài niệm tha thiết nhất đều mang đến những tác dụng nhất định
Nó thể hiện nguồn cội tình cảm sâu rộng nhất tập trung khắc họa hình ảnh một người đang bâng khuâng thương nhớ với cảm giác chưa nguôi lưu luyến trong phút chia li này
Bức tranh về con người còn hiện ra trong khúc hát của nỗi nhớ
Trang 29“Nhớ gì như nhớ người yêu
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”
Âm thanh gợi một cuộc sống đầm ấm yên vui trù phú nhộn nhịp của chiến khu Việt Bắc tuy Việt Bắc là chiến khu kháng chiến nhưng cuộc sống thanh bình vẫn hiện lên bên cạnh hoạt động của nhân dân Hiện về trong kí ức của nhân vật trữ tình là không gian bao la rộng lớn Từ căn nhà sàn đến những nương rẫy bạt ngày
từ lớp học vỡ lòng đến cơ quan, từ con suối đến cối giã trong đêm khuya
Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy đặc điểm nổi bật trong đoạn thơ này chính là âm thanh của núi rừng của chiến khu Việt Bắc Đó
là tiếng đọc bài ê a, là lời ca tiếng hát, tiếng trò chuyện liên hoan còn là tiếng của cuộc sống lao động- tiếng mõ đuổi trâu về, tiếng chày cối giã gạo Nếu chỉ đọc đoạn thơ, người đọc khó nhận ra đây là một vùng đất khó khăn, phải từng giây từng phút chiến đấu với kẻ thù
Điệp ngữ “nhớ sao” không chỉ có giá trị gợi nhắc, liệt kê nỗi nhớ mà còn tô đậm nỗi nhớ cồn cào, mãnh liệt không sao quên được Chứng tỏ tấm lòng sâu nặng đối với Việt Bắc, nhân dân Việt Bắc Tác giả nói về lý tưởng cách mạng, về quá trình đấu tranh gian khó ấy bằng một cách nói giàu cảm xúc
Nhắc đến Việt Bắc không thể không nhắc đến bức tranh thiên nhiên tứ bình bốn mùa
“Ta về mình có nhớ ta
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta nhận ra thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp hiện ra qua từng cặp câu lục bát Mở đầu bức tranh tứ bình là mùa đông Nhưng mùa đông không u ám mà lại tươi đẹp đến lạ
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Câu thơ “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” mở ra một không gian rộng lớn Nghệ thuật điểm xuyết trong câu thơ đã đem lại hiệu quả ấn tượng khi làm hiện ra sống
Trang 30động trước mắt người đọc màu đỏ ấm áp, có sức lan tỏa của hoa chuối giữa bạt ngàn xanh của núi rừng
Câu thơ sau cũng như vậy, hình ảnh điểm xuyết nổi rõ hơn khung cảnh, điểm rất nhỏ nhưng sức gợi vô cùng lớn Sự lấp lánh của ánh dao phản chiếu sắc nắng khiến cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch bỗng sinh động với vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ của con người lao động Tiếp đến là bức tranh thiên nhiên của màu xuân
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Mùa xuân không hiện ra với màu vàng của hoa mai, màu hồng của hoa đào mà hiện ra với màu trắng Màu trắng tinh khiết của hoa mơ trở thành sắc màu chủ đạo của khu rừng màu xuân nên thơ Thời gian được đưa lên đầu câu thơ tạo cho ta cảm giác màu trắng lan khắp thời gian và không gian
Cách điệp âm “mơ – nở” cùng với sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên khi xuân đến Màu trắng của hoa hòa với màu trắng của sợi giang trên tay người đan nón tạo nền cho con người hiện lên với vẻ đẹp giản dị mà tinh tế
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình’
Câu thơ đầu vừa có âm thanh rộn rã, vừa có màu sắc rực rỡ của núi rừng Việt Bắc Hai yếu tố ấy đã tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên: màu vàng của rừng phách hòa cùng tiếng ve xao động – đặc trưng của mùa hè cộng hưởng cùng tín hiệu của mùa hè được thể hiện đầy ấn tượng, có gì đó bất ngờ xôn xao khó tả Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta thấy hình ảnh con người “hái măng một mình” thêm một lần nữa là vẻ đẹp trong sự thầm lặng và cần mẫn với công việc Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh ấy là một nét gợi nhớ sinh động và đầy xúc cảm
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung’
Bức tranh mùa thu với ánh sáng dịu nhẹ, huyền ảo, gợi không khí thanh bình, yên
ả Và kết lại cũng chính là hình ảnh con người thể hiện qua tiếng hát ngọt ngào dưới ánh trăng mang theo bao ước mơ tốt lành, tươi đẹp và tình cảm thiết tha ân tình, son sắt gắn bó với cách mạng
Trang 31Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy tác giả đã chọn lọc phác họa hình ảnh những con người lao động tuy xuất hiện thấp thoáng nhưng đầy sức gợi Đó là hình ảnh người đi rẫy, người đan nón, hái măng, một tiếng hát khi lao động hay trong một đêm sinh hoạt văn nghệ Nỗi nhớ khi thì hướng đến một đối tượng cụ thể “nhớ người đan nón”, “nhớ cô em gái”, khi thì hướng về một đối tượng chung chung “nhớ ai tiếng hát” song lại chứa chan niềm nhớ thương về những bóng hình gần gũi thiết thân, về những con người lao động cần cù, có tấm lòng son sắt thủy chung với cách mạng Trong mỗi khung cảnh thiên nhiên, khung cảnh sinh hoạt con người đều chan chứa tình cảm, kỷ niệm
Tính dân tộc trong bài Việt Bắc không chỉ thể hiện ở phương diện nội dung mà nó được khắc họa rõ nét hơn ở phương diện nghệ thuật Trước tiên, tinh thần dân tộc thể hiện ở cách dùng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát Thể thơ lục bát, thấm đẫm một tình thần dân tộc từ ngàn đời Đó là điệu hồn của biết bao câu ca dao, dân ca của người dân lao động
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
(Ca dao)
Chất giản dị dân dã đó còn được các tác giả trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,… Tố Hữu đã sử dụng lại thể thơ của dân tộc trong tác phẩm lớn của mình Thể thơ lục bát đã được vận dụng nhuần nhuyễn, vừa thống nhất trong một bài thơ dài vừa biến hóa đa dạng với những câu thơ dung dị, dân dã gần với ca dao
mà vẫn cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị Đây cũng là một dẫn chứng cụ thể về tính dân tộc trong bài Việt Bắc
Khi phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc, ta cũng thấy nhiều hình ảnh ước lệ quen thuộc của ca dao, dân ca được Tố Hữu sử dụng rất thích hợp với khung cảnh
và tâm trạng trong bài “Việt Bắc”, như “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”,
“Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”, “Nước trôi lòng suối chẳng trôi”,
“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn”,… Chất liệu văn học dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình Như kết cấu “bao nhiêu…bấy nhiêu” ta đã từng bắt gặp trong câu ca dao
Trang 32“Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”
Hay điệp khúc “nhớ” của Tố Hữu cũng gợi cho người đọc đến những câu ca dao về nỗi nhớ trong tình yêu
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
(ca dao)
“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”
(ca dao)
Trong câu thơ đầy mạnh mẽ khi tác giả tả đoàn dân công
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
có âm hưởng từ câu ca dao “Trông cho chân cứng đá mềm” Ngoài ra, việc sử dụng những cách diễn đạt giàu hình ảnh, nghệ thuật hô ứng như “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng – Tiếng ai tha thiết bên cồn” hay “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn – Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”, các cách chuyển nghĩa truyền thống – so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ, đã được sử dụng thích hợp, tạo nên phong vị dân gian và chất cổ điển của bài thơ
Phong vị ấy còn thể hiện ở cách dùng lối kết cấu đối đáp quen thuộc trong ca dao, dân ca
“Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
Hay
“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng
Chàng hỏi thì thiếp xin vâng
Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng.”