ISSN 1859 1531 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96) 2015, QUYỂN 2 67 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN DÒNG CHẢY LƯU VỰC SÔNG VU GIA, TỈNH QUẢNG NAM BẰNG MÔ HÌNH SWAT ASSE[.]
Trang 1ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2 67
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN DÒNG CHẢY LƯU VỰC SÔNG VU GIA, TỈNH QUẢNG NAM BẰNG MÔ HÌNH SWAT ASSESSING INFLUENCE OF CLIMATE CHANGE ON THE FLOW OF VU GIA RIVER
BASIN, QUANG NAM PROVINCE BY SWAT MODEL
Kiều Thị Hòa, Phạm Phú Song Toàn
Trường Cao đẳng Công nghệ, Đại học Đà Nẵng; kieuhoa310387@gmail.com; ppstoan@gmail.com
Tóm tắt - Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã có những
ảnh hưởng rõ rệt đến lưu vực sông Vu Gia – một trong hai con sông
lớn của tỉnh Quảng Nam, vì vậy việc áp dụng mô hình hóa hiện đang là
một hướng tiếp cận mới nhằm giải quyết và dự báo các vấn đề phát
sinh trong lĩnh vực môi trường Nghiên cứu này bước đầu áp dụng mô
hình SWAT nhằm đánh giá các tác động của khí hậu lên dòng chảy
sông, cung cấp thông tin cho việc định hướng quản lý và quy hoạch lưu
vực sông, góp phần vào phát triển bền vững cho lưu vực Trong nghiên
cứu này, dữ liệu đầu vào cho mô hình được lấy từ năm 2001 – 2010
Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được dựa trên lưu lượng thực
đo tại trạm thủy văn Thành Mỹ với chỉ số NSI lần lượt là 0,78 và 0,91
Kết quả này cho thấy SWAT có thể ứng dụng để đánh giá diễn biến
dòng chảy sông Vu Gia dưới tác động của biến đổi khí hậu
Abstract - In recent years, climate change has greatly impacted
on the Vu Gia river basin, Quang Nam province; therefore the application of model is a new approach to solve and forecast environmental problems This study applies SWAT model to assess impacts of climate condition on the flow of Vu Gia river This provides information for the orientation of management and planning for the river basin to contribute to the sustainable development of the basin In this research, input data of SWAT model is collected from 2001 to 2010 Model calibration and validation results are based on observed flow at Thanh My hydrological station with NSI of 0.78 and 0.91 respectively It can
be seen that SWAT model can be applied to assess Vu Gia river’s flow changes under the impact of climate change
Từ khóa - mô hình SWAT; biến đổi khí hậu; dòng chảy; GIS; lưu
vực sông Vu Gia
Key words - SWAT model; climate change; flow; GIS; Vu Gia river basin
1 Đặt vấn đề
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã, đang và sẽ ảnh hưởng
lên mọi mặt của tự nhiên và xã hội Nó sẽ gây ra biến
động lên mọi thành phần trên trái đất, trong đó có tài
nguyên nước – một nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng
đối với con người Ở nước ta nói chung, tỉnh Quảng Nam
nói riêng, việc đánh giá tác động biến đổi khí hậu chưa
thực sự được tính toán và lồng ghép vào các quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, việc áp dụng một công
cụ hỗ trợ hiệu quả để ước lượng mức độ ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu nhằm đưa ra các phương án thích ứng
với nó trong tương lai là thực sự cần thiết
Một số ứng dụng của mô hình SWAT trong nghiên cứu
tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới và trong nước như:
- Muttiah và Wurbs (2002) đã dùng SWAT để mô
phỏng tác động của khuynh hướng biến đổi khí hậu vào
giai đoạn năm 2040 - 2059 lên 7300 km2 diện tích lưu vực
sông San Jacinto ở Texas Báo cáo cho thấy theo kịch bản
biến đổi khí hậu thì dòng chảy trung bình sẽ cao hơn bởi
vì sự gia tăng lũ lụt [1]
- Nguyễn Ý Như, Nguyễn Thanh Sơn (2009) đã sử
dụng mô hình SWAT để đánh giá tác động tiềm năng của
thay đổi sử dụng đất đối với sự hình thành dòng chảy
dưới số liệu mưa thực tế ở lưu vực sông Bến Hải [2]
Bài báo này nhằm nghiên cứu sự biến đổi dòng chảy trong
lưu vực sông Vu Gia theo kịch bản biến đổi khí hậu B2 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường 2012 bằng mô hình SWAT
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Mô hình SWAT
Mô hình SWAT (Soil and Water Assessment Tools) là
bộ mô hình vật lý, do tiến sỹ Dr Jeff Arnold thuộc Trung
tâm Phục vụ nghiên cứu nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ xây dựng từ những năm 90 của thế kỷ 20 Mô hình được xây dựng để mô phỏng ảnh hưởng của việc quản lý
sử dụng nguồn đất và nước của hệ thống lưu vực sông trong một khoảng thời gian xác định Mô hình SWAT sẽ trực tiếp tính toán các quá trình tự nhiên liên quan tới chuyển động của nước, lắng đọng bùn cát, tăng trưởng mùa màng, chu trình chất dinh dưỡng,… dựa vào các thông số
dữ liệu đầu vào Trong SWAT, lưu vực nghiên cứu được chia thành các tiểu lưu vực theo địa hình và mạng lưới thủy văn, sau đó mỗi tiểu lưu vực lại được chia nhỏ thành các đơn vị thủy văn (HRUs – Hydrological Response Units) – mỗi HRU có những đặc điểm riêng về đất và sử dụng đất Trong số các mô hình thủy văn, SWAT là một sự lựa chọn thích hợp để ứng dụng tính toán cho những lưu vực rộng lớn, nhưng số liệu đo đạc lại hạn chế [3]
Hình 1 Các bước chạy mô hình trong SWAT
Hiệu quả mô phỏng của mô hình được đánh giá theo các mức độ [4]:
0,75 < NSI ≤ 1 : Rất tốt;
0,65 < NSI ≤ 0,75 : Tốt;
0,50 < NSI ≤ 0,65 : Thỏa mãn; NSI < 0,50 : Không thỏa mãn, lúc đó phải xem xét lại cách hiệu chỉnh các thông số của
mô hình cũng như số liệu đầu vào
Trang 268 Kiều Thị Hòa, Phạm Phú Song Toàn Ngoài ra, còn dùng thêm hệ số tương quan R2 để xem
xét mức độ phù hợp của mô hình, nếu hệ số R2 càng tiến
về 1 thì chứng tỏ sự tương quan cao giữa kết quả mô
phỏng và giá trị thực đo, giá trị này được tính toán dễ
dàng trong Microsoft Excel
2.2 Số liệu được sử dụng trong mô hình
2.2.1 Dữ liệu bản đồ
Bản đồ mô hình số hóa độ cao (DEM) của lưu vực:
Được lấy từ trang web http://www.gdex.cr.usgs.gov của
USGS/NASA với độ phân giải không gian 30 m Độ cao
khu vực nghiên cứu được chia thành 8 nhóm: 1 - 235 m,
235 - 415 m, 415 - 567 m, 567 - 719 m, 719 - 881 m, 881
– 1065 m, 1065 - 1297 m, 1297 – 2196 m (Hình 2)
Bản đồ độ dốc: Được suy ra từ bản đồ DEM của lưu
vực Độ dốc của lưu vực sông Vu Gia được chia thành 3 nhóm
như sau: 0 – 16,75%; 16,75 – 39,65%; trên 39,65% (Hình 3)
Bản đồ sử dụng đất của lưu vực năm 2010 (Hình 4):
Từ bản đồ sử dụng đất tỉnh Quảng Nam của Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Quảng Nam, sau khi xử lý dữ liệu, phân
tích và mã hóa các loại hình sử dụng đất theo yêu cầu của
mô hình SWAT ta có được bản đồ sử dụng đất của lưu vực
sông Vu Gia với 7 loại hình sử dụng đất: AGRL – Đất
nông nghiệp, FRSE – Rừng thường xanh, FRST – Rừng
hỗn giao, RICE – Đất trồng lúa, UCOM – Đất thương mại,
URBN – Đất dân cư, WATR – Mặt nước
Bản đồ thổ nhưỡng của lưu vực (Hình 5): Được
lấy từ Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Quảng Nam ở
định dạng của phần mềm Map Info Tiến hành biên tập lại
bản đồ và mã hóa các loại đất theo bảng mã của SWAT,
ta được bản đồ thổ nhưỡng của lưu vực sông Vu Gia như
Hình 5, gồm 5 loại đất: Jd – Đất phù sa chua, Ao – Đất
xám trên phù sa cổ, Ah – Đất xám mùn trên núi, Ap – Đất
xám có tầng loang lổ, WATER – Mặt nước
Hình 2 Bản đồ số hóa độ cao lưu vực sông Vu Gia
Hình 3 Bản đồ độ dốc lưu vực sông Vu Gia
Hình 4 Bản đồ sử dụng đất lưu vực sông Vu Gia
Hình 5 Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Vu Gia
2.2.2 Dữ liệu thuộc tính
Dữ liệu khí tượng: Vì số liệu thống kê về khí tượng ở lưu vực sông Vu Gia không được đầy đủ, nên trong nghiên cứu này số liệu thời tiết được thu thập tại 6 trạm khí tượng (Hình 6) từ năm 2000 – 2010, kết hợp cả dữ liệu thực đo thu thập được từ Đài khí tượng thủy văn Trung Trung Bộ và dữ liệu thời tiết toàn cầu (http://globalweather.tamu.edu/) Vị trí các trạm khí tượng của lưu vực sông Vu Gia được thể hiện như ở Hình 6 và Bảng 1
Dữ liệu thủy văn tại trạm thủy văn Thành Mỹ được
sử dụng để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình: Giai đoạn hiệu chỉnh từ năm 2001 – 2005 và giai đoạn kiểm định từ năm 2006 -2010
Kịch bản biến đổi khí hậu: Nghiên cứu này đã kế thừa kịch bản biến đổi khí hậu B2 từ “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường [5] Số liệu về sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa của kịch bản B2 được thể hiện ở Bảng 2, Bảng 3
Hình 6 Vị trí các trạm khí tượng
Trang 3ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2 69
Bảng 1 Tọa độ địa lý các trạm khí tượng và dữ liệu thu thập
TT Tên trạm Vĩ độ(o) Kinh độ(o) Dữ liệu thu thập
Nhiệt độ, lượng mưa, bức xạ mặt trời, độ ẩm và tốc
độ gió
Bảng 2 Mức tăng nhiệt độ theo thời kỳ trong năm ( o C) so với
thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản B2 của tỉnh Quảng Nam [4]
Bảng 3 Mức tăng lượng mưa theo thời kỳ trong năm (%) so với
thời kỳ 1980 -1999 theo kịch bản B2 của tỉnh Quảng Nam [4]
2.3 Xây dựng các kịch bản để chạy mô hình
Bài báo này sẽ áp dụng mô hình SWAT cho 2 kịch
bản như sau:
Kịch bản 1: Đây là kịch bản hiện trạng với dữ liệu
đầu vào cho mô hình gồm các bản đồ như Hình 2, Hình 3,
Hình 4 và Hình 5, Hình 6; dữ liệu khí tượng ở các trạm khí
tượng như Bảng 1 và dữ liệu thủy văn tại trạm Thành Mỹ
từ năm 2000 -2010 Kịch bản này nhằm đánh giá sự phù
hợp giữa kết quả mô phỏng của mô hình SWAT và kết quả
thực đo, từ đó hiệu chỉnh và kiểm định mô hình để tìm ra
bộ thông số hiệu chỉnh mô hình phù hợp với việc mô phỏng
dòng chảy cho lưu vực sông Vu Gia trong tương lai
Kịch bản 2: Kịch bản này với dữ liệu đầu vào như
sau: Dữ liệu không gian gồm các loại bản đồ được giữ
nguyên như trong kịch bản 1; dữ liệu khí tượng được sử
dụng dữ liệu theo kịch bản biến đổi khí hậu trung bình
(B2) Kịch bản 2 nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí
hậu đến dòng chảy lưu vực sông Vu Gia trong tương lai
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Phân định ranh giới lưu vực
Mô hình SWAT 2012 chạy trên giao diện ArcMap
10.1 được sử dụng để phân chia lưu vực sông Vu Gia
thành 25 tiểu lưu vực và 771 đơn vị thủy văn (HRU), diện
tích toàn bộ lưu vực là 454046,4 ha với cửa ra lưu vực tại
xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Hình 7 Bản đồ phân chia lưu vực, tiểu lưu vực sông Vu Gia
3.2 Diễn biến lưu lượng dòng chảy theo kịch bản 1
Sau khi phân tích đơn vị thủy văn, các file đầu vào của SWAT được nhập vào với số liệu khí tượng từ năm 2000
- 2010 tại trạm Thành Mỹ, trong đó năm 2000 được dùng
để “warm-up” mô hình (chỉ chạy mô hình chứ không cho
ra kết quả) Kết quả lưu lượng dòng chảy tại Thành Mỹ theo mô phỏng của SWAT từ năm 2001 – 2010 sẽ dùng cho việc hiệu chỉnh và kiểm định mô hình
Việc hiệu chỉnh mô hình được thực hiện tự động bằng công cụ SWAT-CUP 2012 theo phương pháp SUFI2 (Sequential Uncertainty Fitting, version 2) với việc sử dụng lưu lượng dòng chảy (LLDC) thực đo theo tháng tại trạm Thành Mỹ giai đoạn 2001 – 2005 Công cụ SUFI2 sẽ tiến hành thực hiện các vòng lặp để hiệu chỉnh nhằm tìm
ra bộ thông số mô hình mà có chỉ số NSI tốt nhất
Sau hiệu chỉnh, thu được chỉ số NSI là 0,78 và hệ số
R2 = 0,871 (Hình 8) và bộ thông số chính của mô hình sau hiệu chỉnh thu được như ở Bảng 4 Như vậy, kết quả hiệu chỉnh mô hình đạt loại tốt
Hình 8 Sự tương quan giữa lưu lượng mô phỏng và thực đo sau hiệu chỉnh tại trạm Thành Mỹ (2001 - 2005) Bảng 4 Bộ thông số hiệu chỉnh mô hình
Cửa
ra lưu vực
Trang 470 Kiều Thị Hòa, Phạm Phú Song Toàn
Để đánh giá hiệu quả của bộ thông số hiệu chỉnh mô
hình thu được như trong Bảng 4, tiến hành kiểm định mô
hình bằng cách sử dụng LLDC thực đo tại trạm Thành Mỹ
giai đoạn 2006 - 2010 để so sánh với kết quả lưu lượng do
SWAT mô phỏng sau khi hiệu chỉnh Kết quả thu được
chỉ số NSI đạt 0,91 và hệ số R2 = 0,916 (Hình 9)
Hình 9 Sự tương quan giữa lưu lượng mô phỏng và thực đo trong
giai đoạn kiểm định mô hình tại trạm Thành Mỹ (2006 - 2010)
Từ kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình ở trên, ta
thấy kết quả mô phỏng đạt loại tốt
Mô hình SWAT thích hợp để tính toán cho các lưu
vực rộng lớn nhưng số liệu đo đạc lại hạn chế [3], cụ thể
là tại cửa ra lưu vực không có trạm thủy văn tuy nhiên dữ
liệu khí tượng đầu vào của mô hình ở 6 trạm khí tượng có
mối quan hệ với dữ liệu thủy văn trong toàn lưu vực Vậy
nên, ta có thể sử dụng bộ thông số hiệu chỉnh mô hình ở
Bảng 4 để áp dụng vào mô hình SWAT nhằm:
Lấy dữ liệu LLDC tại cửa ra lưu vực trong giai
đoạn 2001 – 2010
Mô phỏng dòng chảy lưu vực sông Vu Gia theo
kịch bản 2
3.3 Diễn biến lưu lượng dòng chảy theo kịch bản 2
Trong kịch bản 2, sẽ đánh giá mức độ tác động của
biến đổi khí hậu (sự thay đổi về lượng mưa và nhiệt độ)
đến lưu lượng dòng chảy của sông so với kịch bản hiện
trạng (kịch bản 1) như thế nào
3.3.1 Dòng chảy mùa khô
Mùa khô ở lưu vực sông Vu Gia từ tháng I – VIII hàng
năm, so với mùa khô giai đoạn nền 2001 – 2010, lượng dòng
chảy có xu thế giảm trên toàn bộ lưu vực ở tất cả các năm
trong giai đoạn 2020 – 2059 và không giống nhau trong từng
thời đoạn 10 năm của thế kỷ 21 Lượng giảm lớn nhất là
40,66 m3/s vào những năm 2020 – 2029 và lượng giảm nhỏ
nhất là 24,36 m3/s vào những năm giữa thế kỷ 21
Hình 10 Sự thay đổi lưu lượng trung bình mùa khô so với
giai đoạn nền 2001 - 2010 tại cửa ra lưu vực
Hình 11 Mức thay đổi lưu lượng trung bình mùa khô so với giai đoạn nền 2001 - 2010 tại cửa ra lưu vực
3.3.2 Dòng chảy mùa mưa
Hình 12 Sự thay đổi lưu lượng trung bình mùa mưa so với giai đoạn nền 2001 – 2010 tại cửa ra lưu vực
Ngược lại với các tháng mùa khô trong tương lai, lưu lượng dòng chảy ở các tháng mùa mưa có xu hướng tăng
ở cửa ra của lưu vực và tăng so với mùa mưa giai đoạn nền 2001 – 2010 Nguyên nhân là do vào các tháng mùa mưa thì lượng mưa có xu hướng tăng ở toàn lưu vực theo kịch bản biến đổi khí hậu B2 Mức tăng lưu lượng dòng chảy dao động trong khoảng từ 23,79% đến 33,39%, trong đó lượng tăng lớn nhất là 260,8 m3/s vào thời kỳ
2020 - 2029 và thời kỳ 2040 -2049 có lượng tăng nhỏ nhất là 185,8m3/s
Hình 13 Mức thay đổi lưu lượng trung bình mùa mưa so với giai đoạn nền 2001 – 2010 tại cửa ra lưu vực
3.3.3 Dòng chảy năm
Dưới tác động của biến đổi khí hậu làm cho lượng mưa năm có xu thế tăng trên toàn lưu vực từ 2020 – 2059, dẫn đến lưu lượng dòng chảy trung bình năm cũng có xu thế tăng theo từng thời đoạn 10 năm trong giai đoạn 2020 – 2059 so với giai đoạn nền 2001 – 2010, tuy nhiên mức tăng dao động không nhiều và khoảng từ 11,82% đến 16,12% từ năm 2020 – 2059
Trang 5ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(96).2015, QUYỂN 2 71
Hình 14 Sự thay đổi lưu lượng trung bình năm so với giai đoạn
nền 2001 – 2010 tại cửa ra lưu vực
Qua phân tích sự biến động của dòng chảy sông Vu
Gia do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (kịch bản 2) ở trên
có thể thấy rằng lưu lượng dòng chảy năm tại cửa ra lưu
vực có xu hướng tăng trong thời kỳ 2020 -2059 và sự biến
đổi khí hậu trong tương lai sẽ làm gia tăng dòng chảy lũ,
giảm dòng chảy kiệt trên lưu vực
4 Kết luận
Lưu vực sông Vu Gia đang chịu tác động mạnh mẽ của
sự phát triển kinh tế và xã hội và cả biến đổi khí hậu Vì vậy,
các ban ngành liên quan cần có những giải pháp, quy hoạch hợp lý ở lưu vực sông nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu
và hướng đến phát triển bền vững cho lưu vực
Kết quả chính của bài báo này là đã phân tích được tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước của lưu vực bằng công cụ SWAT Với kết quả đạt được này, có thể hỗ trợ
ra quyết định liên quan đến tài nguyên nước tại lưu vực này
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Philip Water Gassman (2008), A simulation assessment of the Boone river watershed: baseline calibration/validation results and issues, and future research needs, Iowa State University
[2] Nguyễn Ý Như, Nguyễn Thanh Sơn (2009), Ứng dụng mô hình SWAT khảo sát ảnh hưởng của các kịch bản sử dụng đất đối với
dòng chảy lưu vực sông Bến Hải, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 25, số 3S, tr.492-498
[3] Arnold, J.G., et al (1998), Large Area Hydrologic Modelling and
Assessment Part I: Model Development, Journal of American
Water Resources Association 34(1): 73-89
[4] D.N Moriasi, et al (2007), Model evaluation guidelines for systematic quantification of accuracy in watershed simulations, American Society of Agricultural and Biological Engineers ISSN 0001-2351, vol 50(3): 885-900
[5] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu và
nước biển dâng cho Việt Nam, NXB Tài nguyên – Môi trường và
Bản đồ Việt Nam
(BBT nhận bài: 29/07/2015, phản biện xong: 26/09/2015)