ISSN 1859 1531 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 7(92) 2015 51 GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ ĐIỀU KHIỂN TRONG QUY TRÌNH PHỤC HỒI ẮC QUY AXIT CHÌ APPLICATION OF MORNITORING AN[.]
Trang 1ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 7(92).2015 51
GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ ĐIỀU KHIỂN
TRONG QUY TRÌNH PHỤC HỒI ẮC QUY AXIT CHÌ
APPLICATION OF MORNITORING AND CONTROL SYSTEM
TO LEAD-ACID BATTERY REFURBISHMENT PROCESS
Đoàn Anh Tuấn 1 , Nguyễn Dương Tuấn 2
1 Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
2 Công ty CP Đầu tư & Phát triển Năng lượng Mặt trời Bách khoa
Tóm tắt - Việc phục hồi và xử lý ắc quy đã qua sử dụng, đặc biệt
là ắc quy axit chì đang trở nên thông dụng vì nhu cầu ngày càng
tăng; đồng thời, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế và môi
trường Do đó, việc đầu tư vào công nghệ để giảm chi phí cũng
như thời gian cho các quá trình phục hồi và xử lý là cần thiết để
tăng năng suất và hiệu quả Trong nội dung nghiên cứu này, giải
pháp ứng dụng hệ thống giám sát và điều khiển nhằm tối ưu quá
trình phục hồi cho trạm xử lý và phục hồi ắc quy chì đã qua sử
dụng được thử nghiệm Với việc ứng dụng hệ thống đề xuất, trạm
phục hồi có thể giảm thiểu được chi phí hoạt động, tối ưu thời gian
phục hồi cũng như tăng hiệu suất phục hồi cho ắc quy so với
phương pháp thủ công truyền thống
Abstract - Lead-acid battery has been popularly used in Vietnam
due to its advantages of low cost, diversity in capacity and application, especially in vehicles Hence, it is necessary to focus
on battery refurbishment technology to reduce cost, as well as environmental problems caused by solid waste from those batteries In the current project, in order to improve the process of battery refurbishment, a monitoring-control system has been developed for a pilot refurbishment station It is expected that it can help to reduce operating cost, optimize the time to control and monitor the process of refurbishment, as well as improve the performance of battery
Từ khóa - phục hồi ắc quy; điều khiển - giám sát; chất thải rắn; ắc
quy cũ; ắc quy chì Key words - battery refurbishment, control - monitoring; solid waste, used battery; lead-acid battery
1 Đặt vấn đề
Ắc quy axít chì là loại ắc quy phổ biến và thông dụng
Với đặc thù giá rẻ, dễ sử dụng, công suất lớn và phong phú
về chủng loại cũng như chất lượng, ắc quy axít chì được sử
dụng trong mọi lĩnh vực kinh doanh, sản xuất: công nghiệp,
dân dụng, nông, lâm, ngư nghiệp, vận tải… Tại Việt Nam,
ngành sử dụng ắc quy nhiều nhất có thể kể đến là ngành
giao thông vận tải với gần 28 triệu mô tô, xe gắn máy và
1,5 triệu ô tô các loại [1]
Trong ắc quy axít chì, thứ liệu - phế liệu chì là độc chất
kim loại nặng tiềm tàng, là tác nhân gây hại sức khoẻ cho
con người nhưng khó nhận thức trực quan, khó phát hiện
Bên cạnh đó, việc tồn trữ, vận chuyển và xử lý trái phép ắc
quy axít chì đã qua sử dụng với số lượng từ hàng chục tấn
đến hàng trăm tấn khá phổ biến và gây nên nguy cơ ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng Thực tế, ắc quy thường có tuổi
thọ không cao, nên sẽ nhanh chóng bị loại thải sau một thời
gian sử dụng Với nhu cầu sử dụng rất lớn thì lượng ắc quy
phế thải hàng năm là một con số khổng lồ Tuy vậy, tại Việt
Nam hiện nay, việc thu hồi và xử lý ắc quy phế thải chưa
hiệu quả Hoạt động thu hồi và xử lý ắc quy hiện tại chủ
yếu là thủ công nhỏ lẻ
Ắc quy chì được sử dụng sau một thời gian dài có thể dẫn
đến nhiều hư hỏng do các nguyên nhân chủ quan từ bất cẩn
về vận hành của người sử dụng, như: làm nứt vỏ, lỏng ốc vít,
sờn dây cáp nối tải … và những nguyên nhân khách quan
như đóng cặn bùn, thực chất là chì sulfate (PbSO4) bám vào
các thanh chì cũng như đọng lại dưới đáy của ắc quy làm
giảm dung lượng thông qua việc làm tăng nội trở của ắc quy
Quá trình gây hư hại này nếu không được phát hiện sớm
thông qua việc bảo trì, kiểm tra định kì có thể làm giảm tuổi
thọ của ắc quy, hoặc dẫn đến việc phải thay mới ắc quy
Hiện nay, trên thế giới, ngoài phương pháp truyền
thống thống như: phục hồi bằng nước cất, hai phương pháp đang được sử dụng và chứng tỏ được tính hiệu quả, cũng như bảo vệ môi trường là công nghệ dòng điện tuần hoàn
và sử dụng chất phụ gia hữu cơ
Công nghệ dòng điện tuần hoàn dựa trên cơ chế phản
ứng điện hóa giữa các bản cực chì và dung môi trong ắc quy khi có dòng điện biến thiên tuần hoàn chạy qua, đã được chứng minh có khả năng làm giảm lượng chì sulfate bám trên các thanh [2] Tuy nhiên, nhược điểm của công nghệ này là công nghệ có bản quyền phải nhập khẩu, đòi hỏi nhiều dòng sản phẩm khác nhau cho các loại ắc quy khác nhau
Công nghệ sử dụng chất phụ gia hữu cơ: sử dụng thuần
túy tác dụng hóa học có khả năng tác động mạnh đến quá trình lọc sulfate trong ắc quy axít chì, giúp tăng khả năng khôi phục ắc quy Các chất phụ gia này hầu hết được chế xuất từ các chất hữu cơ Hiện nay, một số đơn vị tại Việt Nam đã bắt đầu thực hiện việc phục hồi và bảo dưỡng định
kỳ bằng phương pháp này vì chi phí hợp lý Tuy nhiên, nếu chỉ dùng hóa chất phục hồi định kỳ, dung lượng ắc quy có tăng nhưng rất chậm và cần thời gian lâu mới thấy được hiệu quả Để tăng được hiệu quả, ắc quy sau khi đưa phụ gia vào cần được nạp xả để phát huy tác dụng trước khi tái
sử dụng Tuy vậy, quá trình nạp (sạc) thủ công khá phức tạp, mất nhiều thời gian và nhất thiết cần sự giám sát để tránh hư hỏng ắc quy
Từ những lý do trên, để có một quy trình phục hồi ắc quy chì loại khởi động hiệu quả, phù hợp với điều kiện hiện
có tại Việt Nam, ngoài việc lựa chọn công nghệ phù hợp với chi phí vừa phải, quy trình vận hành cũng cần phải được tối ưu, đặc biệt là giám sát trong quá trình sạc phục hồi Giải pháp tự động sẽ giảm thiểu thời gian đo đạc và ghi nhận bằng thủ công, nâng cao hiệu quả lao động, cũng như giảm thiểu chi phí vận hành
Trang 252 Đoàn Anh Tuấn, Nguyễn Dương Tuấn
Bài báo này trình bày trạm phục hồi ắc quy chì loại khởi
động với quy trình được tối ưu về chi phí và công nghệ
được thử nghiệm Điểm khác biệt trong quy trình này là hệ
thống giám sát điều khiển, nhằm tự động hóa và tối ưu các
quá trình trong khi phục hồi Ngoài ra, hệ thống lưu trữ dữ
liệu và xuất báo cáo sẽ góp phần đáng kể trong việc thống
kê, tổng hợp, đánh giá hiệu quả của trạm phục hồi
2 Xây dựng quy trình phục hồi ắc quy tổng thể trạm
thử nghiệm
Quy trình phục hồi ắc quy tổng thể được xây dựng gồm
4 bước sau: Tiếp nhận ắc quy, Kiểm tra tình trạng ắc quy,
Phục hồi ắc quy và Đánh giá kết quả phục hồi
Bước 1 Tiếp nhận ắc quy đầu vào và kiểm tra sơ bộ
Quy trình tiếp nhận ắc quy được mô tả như Hình 1,
trong đó:
➢ Tùy theo yêu cầu để nhận dạng mà quy định về mã
số sẽ được thực hiện
Ví dụ: dung lượng-điện áp-số thứ tự, tương ứng:
K-100-12-0001
➢ Sau đó, ắc quy được kiểm tra tình trạng bên ngoài
như: vỏ, cọc chì… Nếu ắc quy bị hư hỏng phần bên ngoài
như nứt vỏ, cọc chì không còn nguyên vẹn,… sẽ không tiến
hành phục hồi; ngược lại, sẽ được đưa đi vệ sinh cọc chì để
đảm bảo tiếp xúc và truyền điện tốt trong quá trình phục hồi
➢ Dung dịch trong tất cả các ngăn của ắc quy được
kiểm tra và thêm bớt dung dịch khi cần, đảm bảo vừa đủ
che lấp các tấm bản cực
➢ Tiến hành sạc: ắc quy được sạc đầy với giải thuật
sạc phù hợp cho từng ắc quy Một trong những giải thuật
cơ bản là giải thuật sạc 3 giai đoạn: sạc với dòng điện lớn
(bulk charging mode), giai đoạn hấp thụ (absortion
charging mode) và giai đoạn sạc thả nổi (float charging
mode), với dòng sạc giới hạn là 10% dung lượng ắc quy
Hệ thống sẽ tự điều chỉnh dòng sạc và chế độ sạc phù hợp
nhằm kéo dài tuổi thọ của ắc quy
Bước 2 Kiểm tra chất lượng ắc quy
Quy trình kiểm tra ắc quy cũ được mô tả theo sơ đồ trên
Hình 2
Trong đó:
➢ Kiểm tra điện áp không tải bằng các thiết bị chuyên
dụng Nếu điện áp này không đạt giá trị điện áp tối thiểu;
chẳng hạn, giá trị này là 10,8V cho ắc quy loại 12V, ắc quy
sẽ không được phục hồi
➢ Kiểm tra tỷ trọng dung dịch trong từng ngăn bằng
các thiết bị chuyên dụng Thông thường, tỷ trọng dung dịch
phải lớn hơn 1,15 g/cm3 Tỷ trong dung dịch ở mức tối ưu
là từ 1,25-1,28 g/cm3 Nếu độ chênh lệch tỷ trọng dung dịch
giữa các ngăn lớn hơn 0,08 g/cm3, ắc quy sẽ không được
tiến hành phục hồi [3]
➢ Kiểm tra năng lượng khởi động: năng lượng khởi
động của ắc quy thường được tham khảo bằng thông số
dòng khởi động nguội (CCA) CCA được diễn giải là
cường độ dòng mà ắc quy cung cấp trong vòng 30 giây ở
0oF (-17,7oC) cho đến khi hiệu điện thế xuống dưới mức có
thể sử dụng Nếu hiệu điện thế này thấp dưới mức cho
phép, ắc quy sẽ không được tiến hành phục hồi
Tiếp nhận ắc quy đã qua
sử dụng
Tiếp nhận ắc quy đã qua
sử dụng
Dán mã số
Kiểm tra tình trạng bên ngoài
Kiểm tra tình trạng bên ngoài
Vệ sinh cọc chì
Kiểm tra mức dung dịch
Kiểm tra mức dung dịch
Tiến hành sạc
ắc quy
Tiến hành sạc
ắc quy
Chuyển ắc quy sang khu kiểm tra
Chuyển ắc quy sang khu kiểm tra
Chuyển ắc quy sang khu ắc quy hư
Chuyển ắc quy sang khu ắc quy hư
Tốt
Đạt
Không tốt
Thêm nước cất
Thêm nước cất Không đạt
Hình 1 Sơ đồ quá trình tiếp nhận ắc quy
Bắt đầu
Đo điện áp
Chuyển qua khu ắc quy hư
Chuyển qua khu ắc quy hư
Chuyển qua khu phục hồi
Đo tỷ trọng >= 1.15 g/cm 3
Đo tỷ trọng >= 1.15 g/cm 3
Kiểm tra độ lệch tỷ trọng <= 0.08g/cm 3 Kiểm tra độ lệch tỷ trọng <= 0.08g/cm 3
Kiểm tra CCA
Đo độ giảm áp
Đúng
Đúng
Đúng
Đúng
Đúng Sai
Sai
Sai
Sai Sai
Đo độ điện dẫn
Hình 2 Sơ đồ quy trình kiểm tra chất lượng ắc quy
➢ Kiểm tra độ điện dẫn của ắc quy: Nếu ắc quy có thông
số này thì sẽ tiến hành so sánh với giá trị cung cấp từ nhà sản
Trang 3ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 7(92).2015 53
xuất; ngược lại, nếu ắc quy không có thông số này đi kèm,
giá trị đo này sẽ được so sánh với giá trị sau khi phục hồi
➢ Kiểm tra điện áp suy giảm:điện áp suy giảm là điện
áp còn lại của ắc quy sau khi chịu 1 dòng tải lớn vài chục
đến vài trăm Ampere giờ (Ah) được giữ nguyên dòng phóng
trong 15 giây Điện áp sụt của ắc quy phải còn trên một giá
trị nhất định; chẳng hạn, 8,8V cho loại ắc quy 12V Nếu ắc
quy không thể duy trì mức điện áp nhỏ nhất như yêu cầu,
chứng tỏ ắc quy đã bị hỏng và sẽ không tiến hành phục hồi
Bước 3 Tiến hành phục hồi ắc quy
➢ Tiến hành sạc đầy ắc quy
➢ Để tăng hiệu quả phục hồi, hóa chất chuyên dụng để
đánh tan sulfate được sử dụng Cho hóa chất vào từng ngăn
của ắc quy theo lượng và thời gian quy định Để tăng hiệu
quả phục hồi, khi đưa hóa chất vào, nhiệt độ ắc quy không
nên quá 40oC [4, 5]
➢ Tiến hành các chu kỳ xả và sạc ắc quy, ghi nhận các
giá trị thông số kèm theo sau mỗi chu kỳ để tiến hành đánh
giá ắc quy
Bước 4 Đánh giá kết quả phục hồi
Việc đánh giá kết quả phục hồi có thể thực hiện tự động
bằng cách so sánh giá trị điện áp thấp nhất khi chịu tải giữa
trước phục hồi và sau mỗi chu kỳ để đánh giá mức độ cải
thiện của ắc quy
Quá trình phục hồi ắc quy sẽ kết thúc, nếu ắc quy thỏa
một trong hai điều kiện sau:
• Tỉ lệ phục hồi đã đạt được giá trị mong muốn ban
đầu
• Tỉ lệ phục hồi không tăng đáng kể sau mỗi chu kỳ
sạc-xả; khi đó, ắc quy đã đạt đến giới hạn phục hồi
Ngoài ra, để kiểm chứng việc phục hồi, giá trị điện dẫn
của ắc quy có thể được kiểm tra và so sánh với giá trị trước
khi phục hồi
3 Hệ thống giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu
trạm phục hồi
Trong quy trình trên, người vận hành trạm cần phải tuân
thủ tất cả các bước tiến hành, đảm bảo việc phục hồi hiệu
quả và an toàn Hệ thống điều khiển, giám sát và thu thập
dữ liệu trạm phục hồi được phát triển để hỗ trợ người vận
hành kiểm soát được tất cả các bước trong quy trình
3.1 Mô tả hệ thống
Trong trạm phục hồi thử nghiệm này, 11 thiết bị thu
thập dữ liệu được sử dụng và được kết nối đến 11 bộ sạc ắc
quy chuyên dụng, Hình 3
Sơ đồ kết nối mạng hệ thống được mô tả như trên Hình
4 Các thiết bị này sẽ truyền thông tin về máy chủ (server)
thông qua giao thức chuẩn TCP/IP
Các thiết bị sẽ được tự động nhận dạng tại server Hệ
thống sử dụng 2 server khác nhau là web server (máy chủ
chứa hệ thống web) và database server (máy chủ chứa cơ
sở dữ liệu) dùng để lưu trữ toàn bộ dữ liệu trong quá trình
hoạt động Người vận hành chỉ cần dùng trình duyệt truy
cập vào hệ thống
Ngoài ra, hệ thống được đảm bảo an ninh tốt nhờ vào
việc sử dụng tường lửa (firewall) để ngăn chặn các đợt tấn
công Thêm nữa, web server được trang bị công nghệ SSL (Secure Sockets Layer) giúp mã hóa đường truyền và xác thực server SSL đảm bảo rằng tất cả các dữ liệu được truyền giữa các máy chủ web và các trình duyệt được mang tính riêng tư, tách rời
Hình 3 Trạm sạc thử nghiệm
Firewall
User
Symbol Count Description 1
2 1 11 1 1
Firewall Ethernet User Slate Device Web server.25 Database server.27
Number of devices
Slave 1 Slave 2 Slave 3 Slave 4 Slave 5
Slave 11 Slave 10 Slave 9 Slave 8 Slave 7 Slave 6
Internet
Web Server Database Server
Hình 4 Sơ đồ kết nối mạng hệ thống
3.2 Thiết bị đo thông số và truyền dữ liệu
Trong trạm phục hồi thử nghiệm này, các thiết bị đo đếm điện áp sạc ắc quy, dòng điện sạc ắc quy và nhiệt độ
ắc quy được phát triển; đồng thời, tích hợp chức năng gửi
các thông số này về máy tính chủ trung tâm, như Hình 5
Thông số thiết bị:
✓ Điện áp hoạt động: 4,5V – 5,5V
✓ Điện áp sạc ắc quy tối đa: 28V (DC)
✓ Dòng điện sạc ắc quy tối đa: 20A
✓ Kết nối: Ethernet
✓ Báo hiệu hoạt động: qua các đèn LED và Loa
Hình 5 Thiết bị đo đếm thông số và truyền dữ liệu
3.3 Giao diện và các thông số quản lý
Giao diện chính hiển thị tất cả thông tin của hệ thống
Trang 454 Đoàn Anh Tuấn, Nguyễn Dương Tuấn
như trạng thái, giai đoạn sạc, các thông số từng thiết bị,
như: trạng thái toàn hệ thống và các giai đoạn sạc được hiển
thị trực quan qua các đèn LED, như giao diện Hình 6
Các thông tin hiển thị được chia ra theo thiết bị thực tế, hệ
thống bao gồm các module sạc và bộ bảo vệ độc lập,như Hình 7
Trong quy trình phục hồi ắc quy có sử dụng hóa chất,
nhiệt độ ắc quy cần được kiểm soát tốt Tương tự dòng điện
nạp cũng được giám sát liên tục Hệ thống sẽ tự động ngưng
sạc nếu có một trong các tham số không đúng
Mỗi ắc quy sẽ có một profile riêng với đầy đủ các tham
số cũng như các thông tin thu thập được trong quá trình
phục hồi Toàn bộ thông tin này được lưu trữ tại Database
server dùng cho công tác đánh giá và phân tích hệ thống
Các thông tin này được cập nhật tự động mỗi khi ắc quy
được phục hồi và xử lý Người vận hành chỉ cần nhập mã
số của ắc quy là có thể tìm kiếm và xem toàn bộ thông tin
về ắc quy Hình 8 thể hiện các thông tin về hồ sơ ắc quy
Hình 6 Giao diện chính của phần mềm
Hình 7 Giao diện cài đặt
Hình 8 Các thông tin về profile ắc quy
Hình 9 Đồ thị giao diện các thông số ắc quy
Hình 10 Giao diện web
Trạng thái của hệ thống được cập nhật tức thời khi có
sự cố xảy ra và cảnh báo cho người vận hành biết thông qua âm báo, hiển thị thông báo lỗi và email Qua giao diện giám sát, người vận hành có thể biết được giai đoạn sạc, ắc quy đã sạc đầy hay chưa và nhiều tham số quan trọng khác, như trên Hình 9
Người vận hành có thể truy cập vào trang web của hệ thống, Hình 10; từ đó, có thể giám sát từ xa Giao diện được thiết kế hiện đại và trực quan, nên sẽ giúp người vận hành luôn có cái nhìn tổng quan về hệ thống, rất thuận tiện cho công tác quản lý
Hệ thống thu thập dữ liệu có cơ cấu chống nhiễu sử dụng mạch lọc RC và đo nhiều lần trong thời gian ngắn sẽ cho kết quả chính xác hơn so với đo bằng tay và phải đo nhiều lần Hệ thống tự động đo và lưu lại dữ liệu kèm với thời gian, nên rất đơn giản để vận hành
4 Bàn luận
Với hệ thống giám sát, điều khiển trên, việc vận hành
hệ thống sẽ đơn giản và thuận tiện hơn Người vận hành có thể điều khiển trên giao diện trực quan và cài đặt các thông
số của hệ thống
❖ Xây dựng cơ sở dữ liệu
Dựa trên hệ cơ sở dữ liệu thu thập được, chất lượng của
hệ thống và quy trình công nghệ luôn được đánh giá chính xác và có định hướng cải tiến rõ ràng, giúp rút ngắn thời gian và chi phí
❖ Khả năng nâng cấp công suất phục hồi của trạm
Mỗi trạm sạc có một giới hạn về số lượng ắc quy phục hồi trong một đơn vị thời gian Để nâng cấp hoặc mở rộng quy mô trạm phục hồi, ngoài việc gia tăng số lượng thiết
bị, không gian, số nhân sự vận hành tại trạm cũng sẽ tăng lên để đảm bảo việc giám sát các tham số, xử lý lỗi trạng thái toàn hệ thống Do đó, việc dùng hệ thống điều khiển, giám sát và thu thập dữ liệu sẽ giúp việc nâng cấp quy mô trạm phục hồi dễ dàng, giảm thiểu nhân công sử dụng Ngoài ra, hệ thống cũng sẽ hỗ trợ thực hiện các báo cáo, phân tích nhanh và chính xác khi cần; đồng thời, hỗ trợ nhanh chóng việc quản lý hồ sơ của ắc quy khi cần cập nhật hay tìm kiếm
❖ Hạn chế rủi ro trong vận hành trạm phục hồi
Người vận hành sẽ tiết kiệm được thời gian cũng như sai số so với phương pháp đo đạc thủ công
Hệ thống cũng giúp hạn chế được nhiều rủi ro trong quá trình làm việc nhờ hệ thống cảnh báo lỗi, cánh báo bất thường
Trang 5ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 7(92).2015 55
5 Kết luận
So với những giải pháp đo đạc thủ công, hệ thống giám
sát thu thập số liệu đo đạc bằng điện tử có nhiều ưu điểm,
thuận tiện hơn cho cả quy trình phục hồi ắc quy
Giải pháp mới giúp thể hiện các thông số cần thiết trong
quá trình hoạt động theo thời gian thực; đảm bảo tự động
nhận biết loại và trạng thái ắc quy để đưa ra giải thuật phục
hồi phù hợp Ngoài ra, hệ thống còn cho phép cài đặt các
thông số hoạt động, khả năng điều khiển linh hoạt, khả
năng cảnh báo qua giao diện, qua e-mail… cũng như thể
hiện các trạng thái, dữ liệu trực quan qua các hình vẽ, biểu
đồ cùng với đó là khả năng phân tích dữ liệu và xuất dữ
liệu báo cáo Cuối cùng, không kém phần quan trọng chính
là khả năng kết nối với máy tính, giám sát và điều khiển từ
xa hệ thống qua mạng internet, GPRS, GSM
Với công cụ điều khiển và giám sát thử nghiệm này, hệ
thống trạm sạc cho phép chủ động nâng cấp và ứng dụng
các công nghệ tiên tiến nhất cho việc phục hồi ắc quy tại Việt Nam Việc ứng dụng hệ thống quản lý giám sát quá trình phục hồi ắc quy đã góp phần lớn trong việc cải thiện hiệu suất công việc và giảm thời gian lao động
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Minh Hạnh Báo Lao Động Số 68.26/03/2015 http://laodong.com.vn/giao-thong-an-toan/tren-40-trieu-moto-xe-may-khong-duoc-kiem-soat-308874.bld
[2] PulseTech, “Pulse Technology” [Online] http://www.pulsetech.net/ Content/Our-Technology/Pulse-Technology.aspx
[3] Chiasson, John, and Baskar Vairamohan, "Estimating the state of
charge of a battery", IEEE Transactions on Control Systems
Technology 13.3 (2005): 465-470
[4] Tajiri, Akihiro, et al., "Battery temperature control system in electric automobile", U.S Patent No 5,490,572 13 Feb 1996
[5] Zemke, Roger A., and David B Bell., "Power management circuit and methodology for battery-powered systems", U.S Patent No 7,548,041 16 Jun 2009
(BBT nhận bài: 20/05/2015, phản biện xong: 15/06/2015)